Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn sài gòn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sài gòn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2016

Hồ Con Rùa và giai thoại 'trấn yểm long mạch' ở Sài Gòn

Thiết kế chỉ có trụ bêtông lớn cắm xuống hồ nước hình bát quái, Hồ Con Rùa (quận 3) gắn liền với giai thoại trấn yểm long mạch của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu.

Hồ Con Rùa ở trung tâm TP HCM có tên chính thức là Công trường Quốc tế, là nút giao của các tuyến đường Phạm Ngọc Thạch, Trần Cao Vân và Võ Văn Tần. Xung quanh hồ tập trung rất nhiều nhà hàng, quán bar, cà phê nên khu vực này luôn nhộn nhịp từ sáng đến khuya.
ho-con-rua-va-giai-thoai-tran-yem-long-mach-o-sai-gon
Tượng đài do người Pháp xây dựng đầu thế kỷ 20 ở vị trí Hồ Con Rùa ngày nay. Ảnh tư liệu

Nguyên thủy vị trí Hồ Con Rùa vào năm 1790 là cổng thành Khảm Khuyết của thành Bát Quái (còn gọi là thành Quy) được xây theo lệnh vua Gia Long. Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835), vua Minh Mạng đã cho phá thành Bát Quái và xây một ngôi thành nhỏ hơn mang tên là thành Phụng (thành Gia Định). Vị trí cửa Khảm Khuyết trở thành một điểm ở ngoài thành và nối thẳng con đường ngoài mặt tây thành xuống bến sông (đường số 16 - Catinat và bây giờ là Đồng Khởi).

Sau khi chiếm được Sài Gòn năm 1859, người Pháp đã cho phá hủy toàn bộ thành Gia Định. Năm 1878, một tháp nước được xây tại vị trí Hồ Con Rùa ngày nay để phục vụ nhu cầu cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng. Đến năm 1921, tháp nước bị phá bỏ và con đường được mở rộng nối dài đến đường Mayer (nay là đường Võ Thị Sáu). 

Từ đó, vị trí này trở thành giao lộ của các tuyến đường như ngày nay.
Cũng tại vị trí này, người Pháp cho xây một tượng đài ba binh sĩ bằng đồng với hồ nước nhỏ, để đánh dấu cuộc xâm chiếm và biểu tượng của người Pháp làm chủ Đông Dương. Do đó, người dân thường gọi nó là Công trường Ba hình. Các tượng đài này tồn tại đến năm 1956 thì bị Chính quyền Việt Nam Cộng hòa phá bỏ, chỉ còn lại hồ nước nhỏ. Giao lộ cũng được đổi tên thành Công trường Chiến sĩ.
ho-con-rua-va-giai-thoai-tran-yem-long-mach-o-sai-gon-1
Hồ Con Rùa năm 1972, lúc còn con rùa bằng đồng ở giữa. Ảnh tư liệu

Sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, địa điểm Công trường Chiến sĩ trở thành vòng xoay giao thông của đường Duy Tân (nay là Phạm Ngọc Thạch) và Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần - Trần Cao Vân). Thời điểm xây Hồ Con Rùa chưa được xác định chính xác, song một số tài liệu cho là nó được xây năm 1965-1967. Người thiết kế là kiến trúc sư Nguyễn Kỳ.

Trong những năm 1970 đến 1974, Hồ Con Rùa được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trùng tu và chỉnh trang. Trong đó có việc dựng thêm và điều chỉnh 5 cột bêtông cao có dạng năm bàn tay xòe ra giống như các cánh hoa đón đỡ một nhụy hoa.

Công trình mới này còn bao gồm một vòng xoay giao thông với đường kính khoảng gần 100 mét, được trang trí bởi cây xanh và hồ phun nước hình bát giác lớn với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm và hình tượng con rùa bằng hợp kim đội trên lưng bia đá lớn. Do đó, mới có tên gọi dân gian là Hồ Con Rùa.

Ban đầu, khu giao lộ này được đặt tên là Công trường Chiến sĩ Tự do, đến năm 1972 thì đổi tên thành Công trường Quốc tế. Tuy nhiên, đầu năm 1976, tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ, dù con rùa không còn nhưng người dân vẫn quen cách gọi cũ thay vì tên chính thức.
ho-con-rua-va-giai-thoai-tran-yem-long-mach-o-sai-gon-2
Hồ Con Rùa hiện nay. Ảnh: Trung Sơn

Do có kiến trúc khá kỳ lạ, Hồ Con Rùa được gắn với giai thoại trấn yểm long mạch của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu. Theo lời thuật của tác giả Huỳnh Bá Thành trong cuốn sách Vụ án Hồ Con Rùa (Nhà xuất bản Tuổi Trẻ 1982), có giai thoại truyền miệng kể là vào năm 1967 khi tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, đã cho mời một thầy phong thủy người Hoa nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập.

Ông thầy phong thủy này khen dinh được xây trên long mạch. Con rồng này có đầu nằm ngay dinh Độc Lập (vì vậy Dinh Độc lập còn có tên gọi là Phủ Đầu Rồng) và đuôi rồng nằm tại vị trí Công trường Chiến sĩ. Tuy phát hưng vượng nhưng do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp không bền, cần phải cúng yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng không vùng vẫy, mới giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài.

Vì vậy, ông Nguyễn Văn Thiệu đã nghe theo và cho xây dựng một hồ nước có hình bát giác, phỏng theo bát quái trận đồ, một biểu tượng phong thủy thường dùng để trấn yểm của người xưa, và cho đặt một con rùa lớn đúc bằng đồng ngay chính giữa hồ. Cũng vì thế, nhiều người cho rằng kiến trúc tháp cao giống như hình một thanh gươm hoặc một cây đinh khổng lồ đóng xuống hồ nước để giữ chặt đuôi rồng, và khuôn viên hồ nước có hình bát quái, bên giữa có hình âm dương.
Vnexpress
Share:

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016

Công viên Lê Văn Tám - nghĩa trang của người giàu Sài Gòn xưa

Từng là nghĩa trang dành cho lính Pháp, sau đó là của giới thượng lưu, đến năm 1983 nơi đây trở thành công viên Lê Văn Tám ở trung tâm TP HCM như ngày nay.

Khu vực nội đô TP HCM trước đây có rất nhiều nghĩa trang với hàng trăm nghìn ngôi mộ. Đa số chúng được xây dựng vào khoảng cuối cuối thế kỷ XIX, dưới chế độ Pháp thuộc, khi quy mô của Sài Gòn - Gia Định còn rất nhỏ. Sau đó, dân cư thành phố nhanh chóng trở nên đông đúc nên chính quyền phải di dời nghĩa trang để "lấy đất xây dựng các công trình phúc lợi, giữ vệ sinh môi trường". 

Trong số những nghĩa trang, nổi tiếng và lâu đời nhất là Mạc Đĩnh Chi - nay là công viên Lê Văn Tám. Khu vực này được giới hạn bởi 4 tuyến đường Điện Biên Phủ - Hai Bà Trưng - Võ Thị Sáu và Phan Liêm ở trung tâm quận 1.
cong-vien-le-van-tam-nghia-trang-cua-nguoi-giau-sai-gon-xua

Cổng chính nghĩa trang trên đường Legrand de la Liraye (nay là Điện Biên Phủ) lúc vừa được người Pháp xây dựng ở vị trí công viên Lê Văn Tám ngày nay. Ảnh tư liệu

Theo tác giả Tim Doling (Ireland) - người có nhiều nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử Sài Gòn - TP HCM, công viên Lê Văn Tám nguyên thủy là nghĩa trang của người Châu Âu (Cimetière Européen) hay nghĩa trang Massiges. Người Sài Gòn thời đó cũng gọi là Đất thánh Tây. Về sau mang tên là nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Năm 1859, sau khi chiếm được Sài Gòn, người Pháp đã cho xây nghĩa trang này với diện tích 7,5 ha ở phía đông đường National (nay là Hai Bà Trưng). Lúc mới hoàn thành, nghĩa trang được giao cho Hải quân Pháp quản lý, chôn cất các sĩ quan và binh lính người Pháp trong cuộc chiếm đóng Sài Gòn.

Dù vậy, trong nghĩa trang cũng có một số lượng lớn các ngôi mộ của người Đức và Nga. Mãi đến cuối thập niên 1860, dân thường bắt đầu được chôn cất ở đây vì thời điểm đó Sài Gòn có rất nhiều người chết do dịch tả, sốt rét, ký sinh trùng đường ruột và kiết lỵ.

Vào khoảng năm 1870, nghĩa trang Việt Nam nhỏ (Cimetière Anamite hay Cimetière Indigène) được mở ngay tại phía bắc nghĩa trang của người Châu Âu. Đường phân chia hai nghĩa trang này được đặt tên là rue des Deux cimetières (đường hai nghĩa trang). Phải 10 năm sau, nó mới được mang tên là Mayer, sau đó là Hiền Vương và nay là đường Võ Thị Sáu.

Từ cuối thế kỷ 19, Sài Gòn bắt đầu phát triển thịnh vượng, nghĩa trang của người Châu Âu trở thành nơi an nghỉ của các chính trị gia xứ thuộc địa và các quản trị viên. Trong số đó có kiến trúc sư Marie-Alfred Foulhoux (1840-1892) và thị trưởng thành phố Sài Gòn Paul Blanchy (1837-1901).
cong-vien-le-van-tam-nghia-trang-cua-nguoi-giau-sai-gon-xua-1
Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi vào thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh tư liệu

Sự thay đổi khiến nó thành nơi chôn cất cho tầng lớp thượng lưu thuộc địa được nhắc trong một báo cáo quan trọng trên tờ Courrier Saigonnais đăng ngày 14/12/1912. Sau đó, những ngôi mộ hoành tráng của người quyền thế ở Sài Gòn ngày càng tăng, trong khi các ngôi mộ của những người lính và thủy thủ Pháp bị bỏ phế cỏ mọc um tùm.

Đầu thế kỷ 20, nghĩa trang được chia cắt thành những con đường nhỏ có trồng cây và kiểng do nhân viên thảo cầm viên Sài Gòn chăm sóc. Nghĩa trang lúc này được bao bọc bởi bốn bức tường vôi cao 2,5 m với cổng chính ở phía nam đường Legrand de la Liraye (nay là Điện Biên Phủ).

Cổng chính nằm đối diện trực tiếp cuối phía bắc của đường Bangkok, và sau năm 1920 khi đường Bangkok được đổi tên thành đường Massiges (nay là đường Mạc Đĩnh Chi), nó được biết đến với cái tên mới là nghĩa trang đường Massiges.

Nhiều nhân vật nổi tiếng của thời kỳ thuộc địa sau đó đã được chôn cất ở đây. Tuy nhiên, ngôi mộ ấn tượng nhất giai đoạn này là lăng mộ của ông Nguyễn Văn Thinh (qua đời ngày 1/11/1946) - thủ tướng đầu tiên của thời tự trị Cộng hòa Nam Kỳ (1/6/1946- 8/10/1947).

Tháng 3/1955, khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, đường Massiges được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đổi tên thành Mạc Đĩnh Chi và tên gọi này mặc nhiên cũng trở thành tên của nghĩa trang.

Trong hai thập kỷ tiếp theo, các chính trị gia cao cấp, tướng tá và thành viên nổi bật khác của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cũng được chôn tại đây cùng với số lượng nhỏ người nước ngoài như phóng viên François Sully - làm việc ở tờ Time và Newsweek (qua đời tháng 2/1971). 

Người nổi tiếng nhất được chôn cất tại nghĩa trang này là tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm và em trai - giám đốc cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu. Hai người đã bị quân đảo chính ám sát vào ngày 2/11/1963. Ngoài ra, nơi đây còn có mộ của thống tướng Việt Nam Cộng Hòa Lê Văn Tỵ, chuẩn tướng Lưu Kim Cương…
cong-vien-le-van-tam-nghia-trang-cua-nguoi-giau-sai-gon-xua-2
Một góc công viên Lê Văn Tám ngày nay, nơi từng là nghĩa trang của giới thượng lưu ở Sài Gòn. Ảnh: Vũ Hà Duy/Panoramio

Năm 1971, theo tác giả Arthur J Dommen, một phần bức tường phía tây của nghĩa trang bị đổ, kèm theo nó là những lời đồn đại đó là dấu hiệu cho thấy ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về cái chết của ông Diệm và phải làm gì đó để giải thoát cho linh hồn ông Diệm.

Những lời đồn đại về ma quỷ ở nghĩa trang chỉ thực sự bắt đầu lan truyền rộng rãi sau năm 1983, khi chính quyền TP HCM quyết định ngừng hoạt động nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi với hàng nghìn ngôi mộ cùng kế hoạch xây dựng địa điểm này thành Cung Văn hóa thiếu nhi thành phố. Tuy nhiên, về sau nơi đây được quy hoạch thành công viên cây xanh và đặt tên là Lê Văn Tám.

Theo chỉ thị của chính quyền vào lúc đó, những người có thân nhân chôn trong nghĩa trang được hướng dẫn để sắp xếp cho việc cải táng trong hai tháng, nếu không có người nhận thì được hỏa táng và di dời nơi khác. Còn lại hài cốt của những người lính Pháp được đưa về quê chôn cất.

Cũng trong đợt di dời, giải tỏa này mộ của ông Ngô Đình Diệm và em trai được chuyển về nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương). Một người em trai khác của ông Diệm là ông Ngô Đình Cẩn được chôn tại nghĩa trang sân bay Tân Sơn Nhất sau khi bị xử bắn vào năm 1965, và mộ bà thân mẫu Phạm Thị Thân cũng được quy tụ về đây. 

Hiện, công viên Lê Văn Tám có rất nhiều cây xanh phủ bóng mát đã thay thế cho nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi hoang vắng trước đây. Nơi đây cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động giải trí cũng như các hội chợ, triển lãm về sách, nông nghiệp... Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người dân địa phương mê tín không muốn đến đây vì lịch sử trước đó.

Đây cũng là nơi có dự án bãi đậu xe ngầm 100 triệu USD với quy mô chứa 2.000 xe máy, 1.250 ôtô, 28 xe buýt, xe tải và một bên là ba tầng hầm dành cho thương mại. Tuy nhiên, sau ngày động thổ vào tháng 8/2010, đến nay dự án đang “án binh bất động” vì vướng một số thủ tục và chưa biết bao giờ mới hoàn thành.
Vnexpress
Share:

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2016

Xe công cộng của người bình dân Sài Gòn xưa

Bóng dáng xe Lam không còn xuất hiện trên đường, song loại xe 3 bánh với tiếng nổ "bành bành" từng là một phần cuộc sống của người Sài Gòn xưa.


Xe Lam là phương tiện giao thông công cộng dành cho người bình dân tại miền Nam Việt Nam từ thập niên 60 để thay thế xe ngựa thồ (thổ mộ) vẫn còn được sử dụng vào khoảng thời gian đó.

Bắt nguồn từ tên gọi dòng sản phẩm Lambretta của Italya, thuở mới xuất hiện bên thùng xe chỉ dập nổi chữ Lambretta, hay Vespa nhưng về sau kèm một con số như: Lambro 150, Lambro 175, Lambro 200, Lambro 500, Lambro 550... Đây là nguyên nhân ra đời cái tên "xe Lam".

Trong một đoạn quảng cáo về xe Lam thời đó có nội dung: "Máy trước, vừa đề, vừa đạp. Đặc điểm hoàn toàn làm tại Ý Đại Lợi - Trọng tải hữu dụng 550 ký... Xe có bán tại Lambretta Việt Nam - VINACO và khắp các đại lý trên toàn quốc. Chú ý: không có xe Lam bốn bánh, chỉ có xe Lam ba bánh". 

Thiết kế của xe khá đặc biệt, chia làm hai "toa" hẳn hoi. Cabin cho tài xế ngồi phía trước và thùng nhỏ phía sau chở được 8-10 người. Càng lái xe Lam giống như ghi-đông xe gắn máy, dù chở cả chục người nhưng xe cũng vô số tay như xe hai bánh Lambretta. 
xe-cong-cong-cua-nguoi-ngheo-sai-gon-xua
Xe lam là phương tiện đi lại chủ yếu của người Sài Gòn xưa. Ảnh tư liệu


Dưới ghế của bác tài là thùng chứa máy xe. Nếu xe chết máy bác tài phải nhảy xuống đường mới mở yên được, sau đó dùng sợi dây thừng kéo cho máy nổ (giống như vận hành máy phát điện gia đình) hoặc tra dầu, chùi bu-gi cho máy xe.

Khách ngồi trên hai hàng ghế dài đặt dọc theo thùng xe, song song nhau. Nếu hai người đối diện đều "chân dài" thì bốn đầu gối thế nào cũng đụng nhau lốp cốp mỗi khi xe thắng gấp, không muốn khua thì hai cặp giò phải lồng so le vào nhau.

Chính vì kiểu xếp ghế ngồi như thế mà nhiều chàng trai, cô gái tình cờ quen biết và nhiều cuộc tình đã bắt đầu trên những chuyến xe Lam như trong lời bài hát Chuyến xe lam chiều của nhạc sĩ Vinh Sử: "Trên chuyến xe lam đông người chiều nao/ Suy mình không quen mà ngồi bên nhau/ Trời mang nhiều trớ trêu chi/ Người chưa hề biết quen gì/ Sao ngồi gần như tình nhân si/ Em xuống xe lam đi vào hẻm sâu/ Anh vội theo chân ngõ hồn xuyến xao".

Giá một chiếc xe Lam hồi thập niên 60 khoảng 30 cây vàng. Ông Lâm Quang Thành (quận 4), người từng có thâm niên hơn chục năm lái xe Lam cho biết do xe khá đắt nên không phải ai cũng có thể mua, nhưng nếu mua được thì nó mang về lợi nhuận rất nhiều. 

"Hồi đó người ta vẫn hay nói là chạy xe Lam một ngày có thể nghỉ cả tháng, nhưng đó là nói quá lên thôi. Tuy nhiên, nếu sắm được một chiếc xe Lam chạy khách có thể nuôi được cả nhà", ông Thành nói.

Thời đó, lộ trình xe Lam cũng giăng kín Sài Gòn như xe buýt ngày nay nhưng điểm khác biệt là không có trạm dừng cố định cho khách lên xuống. Ai muốn đi thì ra sát vệ đường vẫy tay đón và xe cũng dừng lại bất cứ chỗ nào cho khách xuống. 
xe-cong-cong-cua-nguoi-ngheo-sai-gon-xua-1
Xe lam tiện hơn xe buýt vì không có trạm dừng, hành khách có thể dừng bất kỳ chỗ nào. Ảnh tư liệu.


Người buôn bán có thể chất quang gánh, bao và một số thứ linh tinh trên nóc xe - điều mà xe buýt không chấp nhận. Vì vậy, dù giá vé xe Lam mắc hơn xe buýt (vé xe buýt là 2 đồng, vé xe Lam là 5 đồng) nhưng nhiều người vẫn lựa chọn vì tiện lợi.

Đến cuối năm 1968, toàn miền Nam có hơn 17.000 chiếc xe Lam, trong đó riêng Sài Gòn có 3.200 chiếc. Đến năm 1971, xe Lam là phương tiện vận chuyển quan trọng nhất Sài Gòn cũng như các tỉnh miền Nam vì hệ thống xe buýt đã ngưng hoạt động và chưa phục hồi. Theo báo chí lúc đó thì toàn miền Nam có đến hơn 30.000 chiếc, số xe Lam lưu hành gấp 7 lần taxi.

Nếu khoảng thập niên 1950 người Sài Gòn vẫn còn thấy xe thổ mộ (xe ngựa) ra vô chợ Bến Thành thì đến đầu 1960 xích lô đạp, xích lô máy là phương tiện vận chuyển thuộc hàng VIP. 

Sang đầu thập niên 1970, xe Lam cùng taxi chiếm lĩnh đường phố, kế đó là sự xuất hiện của xe buýt... Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, các phương tiện cơ giới khác bị thiếu xăng hoặc thiếu phụ tùng thay thế không sử dụng được nên xe Lam được dùng làm phương tiện phổ biến rẻ tiền.

Từ năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định 23 quy định về niên hạn sử dụng đối với các loại ôtô tải và ôtô chở người tham gia giao thông trên hệ thống đường bộ), xe Lam bị hạn chế và từ từ bị cấm hẳn.
Ngày nay, dù bóng dáng xe Lam không còn xuất hiện trên đường phố Sài Gòn, nhưng loại xe 3 bánh với tiếng nổ "bành bành" cùng mùi khói xăng đã từng trở thành một phần trong cuộc sống của người dân Sài Gòn. Trong ký ức của nhiều người, xe Lam vẫn là một chút gì đó còn lại của Sài Gòn thuở xa xưa.
Vnexpress
Share:

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2016

Dấu ấn đường Đồng Khởi ở Sài Gòn qua 150 năm


dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam


Đường Đồng Khởi năm 1890 (lúc này là Catinat) là một trong những con đường được tráng nhựa đầu tiên ở Sài Gòn. Vào thời này, phương tiện đi lại của người dân chủ yếu là xe bò, xe ngựa.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-1


Khoảng năm 1900, xe kéo đã xuất hiện.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-2


Đường Catinat trong một bức ảnh của nhiếp ảnh gia Ludovic Crespin được cho là chụp vào cuối thập niên 1910 và đầu 1920, phía trái hình là hai tiệm đổi tiền của người Ấn.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-3


Khoảng năm 1920 rất nhiều cửa hàng dịch vụ, thương mại, nhà hàng, khách sạn đã xuất hiện trên con đường được xem là quan trọng bậc nhất Sài Gòn.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-4


Đường Đồng Khởi năm 1961 (lúc này mang tên Tự Do), phía xa bên phải là khách sạn Continental. Ảnh: LIFE.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-5


Xe cộ nườm nượp trên đường Đồng Khởi (Tự Do) năm 1967-1968.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-6


Con đường sang trọng bậc nhất năm 1966, đoạn gần ngã tư Nguyễn Thiệp.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-7


Cửa hiệu, khách sạn san sát trên đường Đồng Khởi (Tự Do) năm 1969.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-8


Đầu đường Đồng Khởi (Tự Do), hướng nhìn từ Bến Bạch Đằng, bên trái là khách sạn Majestic. 

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-9


Với mức giá khoảng 600 triệu đồng một mét vuông, đường Đồng Khởi hiện có giá đắt nhất TP HCM.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-10


Sau hơn 150 năm, qua nhiều tên gọi khác nhau từ đường số 16, Catinat, Tự Do và hiện là Đồng Khởi, nơi đây vẫn là con đường sầm uất bậc nhất.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-11


Đường Đồng Khởi đoạn trước Nhà hát Thành phố, phía tay phải là khách sạn Continental - khách sạn đầu tiên của Sài Gòn.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-12


Đường Đồng Khởi hiện nay nhìn từ Bến Bạch Đằng, bên trái là khách sạn Majestic. 

Trung Sơn (tổng hợp)
Vnexpress
Share:

Con đường được mệnh danh 'cuống rốn' của Sài Gòn xưa

Dài chưa đầy một cây số nhưng tập trung những cơ sở thương mại, khách sạn, bưu điện đầu tiên của thành phố, đường Đồng Khởi (xưa là Catinat) được xem là con đường nổi tiếng nhất và là linh hồn của Sài Gòn.

Năm 1861 khi quân Pháp chiếm được Sài Gòn, con đường đã có một quá trình dài góp mặt vào sinh hoạt của cư dân. Theo nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển trong quyển Sài Gòn năm xưa, nó được biết đến nhiều vì ở đầu đường - giáp với bờ sông Sài Gòn - từng là nơi vua nhà Nguyễn đến nghỉ ngơi (nên còn được gọi là Bến Ngự).

Tuy nhiên, từ trước năm 1865, nó cùng 25 con đường khác chỉ mang số thứ tự kế tiếp nhau, từ 1 đến 26. Đến ngày 1/2/1865, Đề đốc De La Grandière mới đặt tên cho từng con đường một và đường số 16 được đặt là Catinat – tên một vị thống chế người Pháp.

Catinat được thực dân Pháp sử dụng làm trung tâm của bộ máy thuộc địa, tập trung hầu hết các cơ quan quan trọng của chính quyền. Đầu tiên, dinh Thủy sư Đề đốc, cơ quan đầu não của thực dân Pháp tại Viễn Đông được xây dựng ở góc đường Mossard - Gouverneur (nay là Nguyễn Du – Lý Tự Trọng).
con-duong-duoc-menh-danh-cuong-ron-cua-sai-gon-xua
Đường Đồng Khởi thời Pháp thuộc đã là con đường sầm uất bậc nhất Sài Gòn, được nhà báo Lucien Bodard ví như cái cuống rốn của Sài Gòn.

Tiếp đó, Nha giám đốc Nội vụ (Dinh Thượng thơ) cũng được xây, hướng ra đường Catinat, ở phía đối diện dinh Thủy sư Đề đốc. Đến đầu năm 1880, nhà thờ Notre Dame (Nhà thờ Đức Bà) được xây dựng ngay trên lộ trình con đường Đồng Khởi chạy qua.

Năm 1886, trụ sở chính Sở Bưu chính và Viễn thông (nay là Bưu điện trung tâm TP HCM) được khởi công trên khu đất đối diện với mặt trái nhà thờ, nằm giữa con đường Catinat và đường Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng). 4 năm sau, nhà hát Tây (nay là Nhà hát thành phố) được khánh thành trên giao lộ đường Bonard (nay là Lê Lợi) và Catinat, trở thành nơi biểu diễn thường xuyên của những đoàn hát từ phương Tây đến.

Vào thời kỳ này, đường Catinat được xem là bộ mặt sinh hoạt của cả Sài Gòn - thành phố thuộc địa đầu tiên ở vùng Viễn Đông. Không chỉ có trụ sở các cơ quan đầu não của chính quyền mà hàng loạt nhà hàng, khách sạn, cơ sở dịch vụ thương mại sang trọng đầu tiên của Sài Gòn cũng mọc lên trên con đường này.

Continental - khách sạn đầu tiên ở Sài Gòn hoàn thành năm 1880 - là nơi dừng chân của các viên chức, sĩ quan cao cấp của Pháp đến công tác xứ thuộc địa, là chỗ tụ hội của những du khách thập phương. Trước thế chiến thứ nhất, nơi đây từng đón tiếp hai nhân vật rất nổi tiếng trong lĩnh vực văn chương là thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore (giải Nobel văn chương năm 1913) và nhà văn Pháp lừng danh André Malraux, tác giả tiểu thuyết La condition humaine (Thân phận con người 1933).
con-duong-duoc-menh-danh-cuong-ron-cua-sai-gon-xua-1
Đường Đồng Khởi năm 1969, lúc này được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đổi tên thành đường Tự Do.


Căn phòng số 214 của khách sạn Contiental cũng từng là nơi ở của Graham Greene - người đã thai nghén và cho ra đời quyển tiểu thuyết nổi tiếng The Quiet American (Người Mỹ trầm lặng). Sau Continental, Majestic được khánh thành năm 1925 cũng thuộc loại những khách sạn kỳ cựu của Sài Gòn nằm ở góc đường Catinat và Luro (nay là Tôn Đức Thắng) nhìn ra bờ sông Sài Gòn, do một thương nhân người Hoa giàu có và nổi tiếng bậc nhất thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (chú Hỏa) xây dựng theo đồ án thiết kế của một kiến trúc sư Pháp. Rồi đến năm 1930 là sự xuất hiện của Grand Hotel Sai Gon.

Cũng trên cung đường dài chưa đầy một cây số này, một loạt các cơ sở thương mại, dịch vụ đầu tiên của Sài Gòn cũng được hình thành. Sớm nhất là Hãng tàu Denis Frère mọc lên ở đầu đường, phía bờ sông. Sau đó là hiệu thuốc đầu tiên của cả Sài Gòn nằm ở góc Catinat và Bonard (Lê Lợi), khai trương năm 1865. Rồi hiệu bán đĩa hát Ménestrel (gần nhà hàng Bông Sen ngày nay), rạp Catinat (nằm trên một con hẻm đâm ra đường Catinat), nhà hàng Brodard…

Không chỉ có các cửa hàng dịch vụ của người Pháp, Trung tâm Saigon trên đường Catinat và các đường chung quanh từ năm 1904 đã bắt đầu xuất hiện các cửa hàng thương mại kinh doanh của người Việt như: cửa hàng nhiếp ảnh của Jean-Pierre Trọng, nhà in của Nguyễn Văn Toán (Đinh Thái Sơn hay Phát Toán), nhà in Lê Phát Tân, cửa hàng bán xe đạp, làm bánh mì của nhà nhiếp ảnh Lê Văn Ba...
con-duong-duoc-menh-danh-cuong-ron-cua-sai-gon-xua-2
Đường Đồng Khởi hiện nay vẫn là con đường sầm uất và có giá đắt đỏ nhất Sài Gòn. Ảnh: Trung Sơn


Trong quyển Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca xuất bản năm 1909 tại Sài Gòn, tác giả Nguyễn Liên Phong đã mô tả khung cảnh náo nhiệt trên đường Catinat: Nhứt là đường Ca-ti-na/Hai bên lầu các, phố nhà phân minh/ Bực thềm lót đá sạch tinh/ Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều/ Máy may mấy chỗ quá nhiều/ Các tiệm tủ ghế dập dều phô trương/... Nhà in, nhà thuộc, nhà chà/ Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son/... Phong lưu cách điệu ai bằng/ Đường đi trơn láng, đèn giăng sáng lòa/ Thứ năm, thứ bảy, thứ ba/ Với đêm chúa nhựt hát nhà hát Tây...

Thời bấy giờ, người Pháp đã so sánh Catinat với đại lộ Canebière của thành phố Marseille vì tập trung những cửa hàng sang trọng nhất của thành phố, nơi dạo chơi của giới thượng lưu thuộc địa trong những ngày đầu đặt chân đến mảnh đất xa xôi này.

Còn nhà báo Pháp Lucien Bodard thì ví đường Catinat như cái cuống rốn của Sài Gòn. Đấy là nơi diễn ra mọi sinh hoạt của thế giới thuộc địa.

Năm 1954, sau khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam, đường Catinat được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đổi thành Tự Do và nơi đây vẫn là con đường sầm uất bậc nhất Sài Gòn. Sau năm 1975, một lần nữa, con đường được đổi tên thành Đồng Khởi cho đến nay. Có thể nói đường số 16 - Catinat - Tự Do - Đồng Khởi là một trong số rất ít những con đường kỳ cựu nhất, là chứng nhân của những thăng trầm trong lịch sử đất Sài Gòn.

Sau hơn 150 năm, hiện Đồng Khởi vẫn tiếp tục là một trong những con đường sầm uất và sang trọng bậc nhất và là nơi lắng nghe nhịp đập của vùng đất Sài Gòn. Điều này cũng được thể hiện khi bảng giá đất trên con đường này được xếp vào loại đắt nhất thành phố, khoảng 600 triệu động một mét vuông.
Vnexpress
Share:

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

Lý giải mỹ danh 'Hòn ngọc Viễn Đông' của Sài Gòn xưa

Từ vùng đất hoang vu, hơn trăm năm trước người Pháp muốn biến Sài Gòn thành "Hòn ngọc Viễn Đông" để cạnh tranh với các thuộc địa khác của Anh.

Vùng Viễn Đông theo địa lý gồm các nước Việt Nam, Campuchia, Lào, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Cuối thế kỷ 19, đầu 20, hầu hết các quốc gia này đều thành thuộc địa hoặc chịu ảnh hưởng của cường quốc phương Tây. Trong đó Pháp và Anh là hai nước xâm chiếm và mức độ cạnh tranh lớn nhất.
ly-giai-my-danh-hon-ngoc-vien-dong-cua-sai-gon-xua
Ngay sau khi chiếm được Nam kỳ, Pháp bắt tay vào việc xây dựng Sài Gòn. Ảnh: Tư liệu

Sự cạnh tranh của Anh, Pháp trong việc “khai hóa” các nước thuộc địa. Từ những năm 1895, Pháp tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng ở thuộc địa nhằm phát triển kinh tế. Họ đặt tham vọng vượt mặt nước Anh tại Singapore và HongKong.

Danh xưng "Hòn ngọc Viễn Đông" (La perle de l’Extrême Orient) xuất hiện để chỉ cho Sài Gòn. Đây được xem là thủ phủ của Đông Dương về kinh tế, giải trí để cạnh tranh với Singapore của người Anh.
Giai đoạn này, Sài Gòn từ thành phố hoang vu, được gọi là thị trấn giữa rừng (Prei Nokor) đã được người Pháp đầu tư xây dựng bài bản nhất so với các thành phố khác trong khu vực.

Dưới sự chỉ huy của trung tá công binh Coffyn, Sài Gòn được quy hoạch lại theo lối phương Tây. Giai đoạn này, khu vực trung tâm thành phố xuất hiện hàng loạt các công trình nổi bật còn tồn tại đến ngày nay như Nhà thờ Đức Bà, Nhà hát thành phố, Dinh thống đốc, Phủ toàn quyền...

Tuyến đường Catinat (Đồng Khởi ngày nay) được ví như trái tim của Sài Gòn khi tập trung nhiều điểm vui chơi, giải trí của thành phố. Hàng loạt nhà hàng, khách sạn mọc lên dọc trục đường đã quy tụ giới tinh hoa, giàu có về tiêu xài, hưởng thụ.

Các công trình được xây trên khu đất đẹp, cao ráo, hướng ra dòng sông uốn lượn bao quanh là rừng. Trên kênh Lớn (đường Nguyễn Huệ nay) hay kênh Xáng (đường Hàm Nghi) có những khu chợ thông thương với sông Sài Gòn tấp nập người mua kẻ bán. Một thị trấn giữa rừng dần chuyển mình phát triển.

Những thương nhân ở Ấn Độ, Trung Quốc, châu Âu, Mỹ... khi dong thuyền vượt biển qua trao đổi, buôn bán đều ấn tượng với thành phố mới nổi này. Họ neo thuyền dọc cảng Bến Nghé, Bạch Đằng lên bờ mua vải vóc, lụa là, châu báu rồi ghé những khu vui chơi sầm uất gần đó. Những thương thuyền này sau đó truyền miệng nhau tên gọi “Hòn ngọc Viễn Đông” - mỹ danh của Sài Gòn ra khắp thế giới.
ly-giai-my-danh-hon-ngoc-vien-dong-cua-sai-gon-xua-1
Tuyến xe lửa Sài Gòn - Gò Vấp năm 1910. Ảnh: Tam Thái

Giao thông đường thủy được người Pháp ưu tiên phát triển, kênh Bến Nghé – Tàu Hủ trở thành tuyến thông thương chính cho thuyền bè từ Đông Nam bộ, miền Tây vào sâu trong Sài Gòn đến vùng Chợ Lớn.
Hàng chục bến bãi bốc dỡ, chuyển hàng hóa mà tên gọi còn đến ngày nay như bến Hàm Tử, Bình Đông, Chương Dương, Vân Đồn, Bạch Đằng… Dọc theo hai kênh là đường bộ mà hiện nay là đường Võ Văn Kiệt và Bến Vân Đồn (quận 4), Bến Bình Đông (quận 8).

Ngoài tuyến đường thủy, để kết nối với khu Chợ Lớn và phía Tây Sài Gòn ngày nay, các đại lộ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Minh Khai... dần hình thành. Đặc biệt, khi xuất hiện chợ Bến Thành năm 1914, nhu cầu thông thương hàng hóa giữa khu vực trung tâm Sài Gòn và Chợ Lớn phát triển mạnh. Từ yêu cầu cấp thiết này, khu vực đầm lầy giữa Sài Gòn - Chợ Lớn được san lấp để mở đại lộ Trần Hưng Đạo ngày nay.

Năm 1885, tuyến đường sắt đầu tiên của Đông Dương dài 70 km nối Sài Gòn – Mỹ Tho cũng được xây dựng. Đây là tuyến đường sắt thứ hai do người Pháp xây dựng ở nước ngoài, sau tuyến đường 13 km ở Pondichéry (Ấn Độ) năm 1879. Ga tàu lúc đó nằm tại công viên 23/9 ngày nay, tuyến đường do nhà thầu Joret của Pháp thi công.
Tuyến đường sắt đã hút một lượng lớn khách ở Sài Gòn thời điểm đó. Chính quyền thuộc địa thu lời lớn từ dự án. Năm 1896, tổng lãi thu được từ tuyến đường sắt là 3,22 triệu francs, đến năm 1912 lãi 4 triệu francs.

Phía đông thành phố, năm 1902, cầu Bình Lợi được khánh thành đưa vào sử dụng. Cây cầu rút ngắn tuyến đường đi Thủ Đức, Biên Hòa, thông với đường thiên lý Bắc Nam (Quốc lộ 1 hiện nay) của người Việt xưa.

Nếu so sánh về hạ tầng cơ sở, cùng thời, Sài Gòn bỏ xa Bangkok và Singapore. Nhưng lúc bấy giờ, Singapore có tầm quan trọng lớn về chiến lược khi nằm trên tuyến đường biển quốc tế, nơi thông thương của thương thuyền trên thế giới. Lúc này, Singapore cũng là hải cảng lớn nhất khu vực. 

Theo Kiến trúc sư Khương Văn Mười, lúc Sài Gòn được xem là “Hòn ngọc Viễn Đông” thì thành phố có quy mô nhỏ, phạm vi chỉ gói gọn ở trung tâm Sài Gòn ngày nay. Mỹ danh này cũng sớm kết thúc vào giữa thế kỷ 20.

Do chiến tranh cũng như người dân nông thôn đổ về thành phố ngày một đông khiến nó bị quá tải. Sài Gòn xuất hiện nhiều khu ổ chuột, người dân sống nhếch nhác ven kênh rạch, điều kiện vệ sinh, an ninh kém.
ly-giai-my-danh-hon-ngoc-vien-dong-cua-sai-gon-xua-2
Kênh rạch ở Sài Gòn tràn ngập nhà ổ chuột trước năm 1975. Ảnh: Life

Còn PGS.TS Trần Đình Thiên – Viện trưởng Kinh tế Việt Nam - cho rằng, thập niên 60-70, Sài Gòn vẫn được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông" - thành phố được định danh duy nhất ở khu vực. Trong khi Singapore lúc đó chỉ là đảo quốc hoang vu, Bangkok cũng ít người nhắc đến. Những quốc gia này lấy Sài Gòn như hình tượng để phát triển theo.

"TP HCM hiện phát triển hơn nhiều so với thời Hòn ngọc Viễn Đông nhưng những bước tiến đạt được chưa tương xứng tiềm năng, chưa đáp ứng yêu cầu đua tranh với các thành phố có vị thế, chức năng tương tự trên thế giới. Những thành phố như Bangkok, Singapore, Busan... đã vượt lên, dù TP HCM có xuất phát điểm tốt hơn", ông Thiên nói.
Viện trưởng Kinh tế cho rằng, quan điểm của Việt Nam những năm gần đây đã thay đổi và đây là cơ hội để đưa cả nước và TP HCM lên đẳng cấp mới.

Theo nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP HCM lần thứ X, Bí thư Thành ủy Đinh La Thăng mong muốn đưa thành phố trở lại vị trí dẫn đầu. Ông thể hiện quyết tâm lấy lại mỹ danh "Hòn ngọc Viễn Đông" nức tiếng một thời mà quốc tế đã nói về Sài Gòn.
Vnexpress
Share:

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2016

Sài Gòn chuyện đời của phố: Kiếm sống ở Sài Gòn trước 1945

Năm 1941, một thanh niên gần tuổi đôi mươi ở làng Hướng Phương, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình vừa thi đậu sơ học yếu lược xong. Lúc đó, trong làng của anh, một số người nhắc đến Sài Gòn là nơi dễ làm ăn, dễ kiếm tiền và hấp dẫn với nhiều thú vui. 

 
Chân dung hồi trẻ của ông Lịnh và trang hồi ký cũ về những ngày kiếm sống ở Sài Gòn -  Ảnh: T.L
Anh quyết định lên đường khám phá Sài Gòn. Trong suốt hai năm ở lại thành phố này dưới thời Pháp thuộc, anh va chạm với đủ người tốt kẻ xấu, học được những bài học về giá trị của công sức lao động, giá trị của sự trung thực...

Dưới đây là một đoạn hồi ký của người thanh niên năm xưa - ông Đặng Ngọc Lịnh, viết riêng cho gia đình trước khi mất năm 2004 tại California, Mỹ. Trước khi sang Mỹ năm 1994, ông sống tại hẻm 231 đường Lê Văn Sỹ, P.14, Q.Phú Nhuận. Đọc lại phần hồi ký này, ta có thể hình dung phần nào cuộc sống, sinh hoạt, không khí làm ăn cần mẫn của vùng đất Sài Gòn bảy mươi năm trước. Trong đó, luôn có phần cho người nhập cư nào có ý chí vươn lên, thay đổi cuộc sống.

“...Tôi đi Sài Gòn bằng hỏa xa lên ở ga Minh Lễ. Tôi hằng ngày đi lang thang hết đường phố này đến đường phố khác xem ngoài cổng nhà ai có treo giấy mướn người như tôi là vào xin. Đi qua dòng tu kín phía sau nhà Bưu điện Sài Gòn có treo giấy cần một đứa vào làm cỡ tuổi tôi, vào đây xin và được việc. Lại biết trong này có Cu Cư người làng mình nữa.

Công việc của tôi như sau: Sáng 4 giờ ra giúp xà ích cho xe ra, cặp ngựa vào và lên xe ngồi với một bà phước người Pháp, mập, nói sọi tiếng Việt, ra chợ Bến Thành xách giỏ cho bà phước ấy đi các hàng trong chợ mua thực phẩm. Đầy giỏ, tôi đưa ra xe và lúc đó đã mua xong lại lên xe trở về nhà như cũ. Ngoài việc đi chợ buổi mai, cả ngày nhổ cỏ ở các bồn hoa và ngoèo xoài trong vườn tu viện. Lương tháng 10 đồng Đông Dương.

Tôi làm được độ nửa năm vẫn lương 10 đồng. Một buổi sáng tôi ngủ quên ra trễ không kịp giúp thắng xe ngựa, bị bà phước ấy cự, tôi cự lại... và thấy việc xách giỏ cho bà phước đi chợ chẳng thú gì cho tuổi bước vào thanh niên đầy hứa hẹn này. Tôi xin thôi việc.

Lại đi lang thang kiếm việc. Đến một nhà máy cà rem, có dán giấy cần người. Tôi vào xin và được việc. Làm phụ người thợ chính làm cà rem cây. Làm được ít lâu, hình như lương tháng 15 đồng Đông Dương. Sau đó không lâu, ông chủ ở Đa Kao đưa giấy lại, biểu các thanh niên trong hãng thi một bài chánh tả ngắn chữ Việt. Bốn năm thanh niên chỉ có tôi và anh Cương biết viết. Tôi, anh Cương viết bài dự thi. Qua ngày sau có xe đến và cho biết là tôi đậu, lên xe về Đa Kao làm việc khác. Ông chủ này là chủ tiệm cà rem và chỗ tôi đến là nhà hàng ăn, tức là gia đình ông chủ ở nhà sau. Ông người Việt nhưng nói tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ, có hai vợ là chị em ruột, bà nào cũng có con bồng cả. Tuy là chị em ruột nhưng ghen nhau quá cỡ. Tôi được ông chủ và hai bà chủ mến lắm vì thấy tôi khôi ngô và chất phác. Giao cho tôi hai việc rõ ràng:

Sáng độ 2 giờ ra phía trước đợi hai xích lô mối, khi hai xe này đến thì vào báo tin cho ông chủ. Ông chủ lên xích lô trước, tôi lên xích lô sau, qua nhà máy nước đá Khánh Hội. Đến đây, ông chủ đứng đợi còn tôi đến nhà người gác máy lấy chìa khóa mở cửa vào. Ông chủ ngồi bàn xem sổ sách và xem báo. Tôi ngồi một bàn nhỏ ghi chép vào sổ các xe ngựa đến nhận nước đá của hãng.

Xong việc, trời vừa sáng, tôi và ông chủ lại lên xích lô về nhà hàng ăn. Về đây ăn sáng xong là tôi phụ người bồi chính mở cửa hàng và dọn các bàn ăn. Cả ngày khách Việt, Pháp vào ăn rất đông. Nhà hàng này ở đối diện rạp ciné Đakao. Tôi phụ với anh bồi chính sẹc-via cho khách suốt ngày. Lúc khách để lại tiền lẻ cho bồi gọi là puốc-boa (pourboires), tôi phải giao cho bồi chính hưởng, tôi không được gì.

Có một buổi sáng anh bếp hàng ăn đến biểu tôi về theo. Khi về đến nhà, nó biểu tôi mở rương ra để khám, có sự chứng kiến của hai bà chủ và các người trong nhà. Tôi mở rương cho khám, chẳng có gì khác ngoài áo quần và ít tiền lẻ của tôi. Tôi hỏi tại sao khám rương tôi, tên đầu bếp nói là đêm ấy nó mất áo quần và tiền bạc, nghi tôi lấy. Thấy anh bồi chính và anh bếp đa nghi không đúng chỗ thì có ngày tính nóng trực của tôi sẽ có chuyện nên xin thôi việc.

Tôi lại đi lang thang kiếm việc. Đến nhà hàng ăn Khánh Hội, gặp hai anh em người Pháp chưa vợ là chủ nhà hàng (nó nói giỏi tiếng Việt), nhà hàng thiếu hai chỗ bồi. Tôi về rủ chú Đính về cùng làm.

Có một đêm đi qua rạp hát lớn tại đường Tự Do, chú Đính rủ tôi vào xem. Không biết đường nên chui vào lô riêng trên gác của viên Toàn quyền Đông Dương đang xem hát. Họ nghi là hai tên thích khách nên bọn lính kín và cảnh sát gác bảo vệ cho Toàn quyền bắt hai chú cháu tống vào Khám lớn mấy ngày. Truy mãi chỉ thấy là hai thanh niên vô sự xem hát vào coi cóp lạc chỗ mới tha. Chú Đính không biết có bị không, còn tôi bị mấy loi đau nhớ đời đến nay vẫn còn nhớ cảm giác đau.

Về nghỉ nhà anh chị Đạo vài ngày, tôi lại đi lang thang tìm việc. Tôi làm bồi cho vợ chồng anh Tây trên đường Tự Do, khu nhà bảy tầng. Lương tháng 40 đồng Đông Dương. Lúc đó 40 đồng đối với số người đi làm thuê là hạng cao đấy.

Tôi ở Sài Gòn độ 2 năm, khoảng 1941 - 1943. Làm ăn tiêu rồi còn dư gửi về nhà độ 200 đồng đến 300 đồng. Lúc tôi đi Sài Gòn, cha làm cái nhà ngói, còn hai mái ngói Tây ấy là do tiền tôi gửi về, lúc ấy 100 đồng Đông Dương là quý lắm”.
Phạm Công Luận
 Thanh Niên
Nguồn:http://thanhnien.vn/van-hoa/sai-gon-chuyen-doi-cua-pho-kiem-song-o-sai-gon-truoc-1945-538115.html
Share:

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Sài gòn chuyện đời của phố: Tiệm cho thuê sách, dấu ấn một thời

Ở Sài Gòn, không biết chắc khi nào có các tiệm sách, nhà sách cho thuê nhưng chắc chắn là trước 1954 đã có loại hình này rồi.
 Sách cho thuê có sức cuốn hút rất lớn với dân Sài Gòn ghiền đọc sách - Ảnh: P.C.L

Các tiệm cho thuê sách tồn tại song song với các nhà bán sách, đáp ứng rất tốt nhu cầu của người mê đọc sách nhưng ngân quỹ eo hẹp. Theo ước tính trên báo Thời Nay ra ngày 7.9.1974, đến thời điểm đó đã có khoảng 2 đến 4 ngàn tiệm cho thuê sách riêng ở Sài Gòn.

Trong một bài viết cũ thời blog còn phổ biến, một bác kể rằng trước phong trào di cư (tức năm 1954), việc cho thuê mướn sách đọc chỉ xuất hiện trước các cổng trường. Thuê bữa nay, ngày mai trả, giá chỉ vài cắc. Đến năm 1954, trên đường Nguyễn Kim có mở một tiệm cho thuê sách là dịch vụ chưa từng có ở vùng này. Tiệm cho thuê sách hiệu Thái Bình, do một phụ nữ người bắc trạc ngoài 40 làm chủ. Muốn thuê sách phải đặt tiền thế chân, khoảng 10 đồng một cuốn, tiền mướn 5 cắc.

Một tiệm cho thuê sách được cho là lâu đời có từ giữa thập niên 1950 tại Sài Gòn là tiệm Đức Hưng ở đường Trần Quang Khải, quận Nhứt. Tiệm này đáng nhớ vì có sáng kiến cắt các kỳ truyện kiếm hiệp của Kim Dung, Cổ Long, Từ Khánh Phụng đăng phơi-ơ-tông trên báo, đóng thành từng tập để cho thuê khi các truyện này chưa xuất bản thành sách, nên độc giả rất thích... Lúc đó, chỉ có khoảng 10 tiệm cho thuê sách ở cả Sài Gòn. 

Tuy nhiên, tiệm cho thuê sách lớn nhất Sài Gòn có lẽ là tiệm Cảnh Hưng, ở đầu đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu), có tới năm tầng lầu chứa sách. Chủ tiệm sách là ông Huỳnh Công Đáng, một người Việt gốc Hoa rất am hiểu về sách. Đến năm 1971, số sách ông cho thuê đã lên tới 20 ngàn cuốn, đủ các thể loại.

Ở Phú Nhuận trước đây có hai tiệm sách trên đường Nguyễn Minh Chiếu (Nguyễn Trọng Tuyển ngày nay) ngay khu chợ Lò Đúc. Tiệm Tân Dân cũ kỹ từ các dãy tủ kệ đến diện mạo từng cuốn sách giấy đen ngòm vì mồ hôi tay bao độc giả thấm qua sau bao lần đọc. Chủ tiệm là một phụ nữ lớn tuổi không lập gia đình gốc miền Bắc, luôn nở nụ cười có nét móm duyên như Đức Mẹ. Tiệm Toàn Hiệp có chủ nhân là hai vợ chồng già là dân có học cùng ba người con, ai cũng hiểu biết về sách. Anh Hai của tôi khoảng năm 1961 đang học Trường Sư phạm, mỗi buổi chiều đều phải ra sạp báo gần trường học Chánh Tâm cũ của người Tàu góc đường Trương Tấn Bửu - Nguyễn Minh Chiếu (Trần Huy Liệu - Nguyễn Trọng Tuyển) để mua báo có đăng phơi-ơ-tông truyện chưởng Kim Dung cho ba tôi. Sau đó anh vọt xe ra mướn sách ở hai tiệm trên. Rõ là nếu không thuê sách để đọc thì cả nhà tôi không thể xem được nhiều sách như vậy. Sách về mỗi ngày, từ các cuốn trong bộ Z.28 của Người Thứ Tám, truyện chưởng Kim Dung cho hai ông anh. Tiểu thuyết của Bà Tùng Long, Nghiêm Lệ Quân, Bà Lan Phương cho má tôi đọc khi ngồi sạp ở chợ. Tiểu thuyết Quỳnh Dao như Xóm vắng, Bên bờ quạnh hiu, Hải Âu phi xứ, Dòng sông ly biệt cho bà chị đang học Luật. Phần tôi thì đọc truyện tranh Lucky Luke, Xì trum, Lữ Hân Phi Lục và truyện trong tủ sách Hoa Đỏ, Hoa Xanh... Với tốc độ đọc như vậy thì mua sách là điều nan giải. Chỉ có đi thuê như mọi người.

Sau này, khi biết nhà ai có tủ sách lớn từ trước 1975, tôi biết họ thuộc gia đình trung lưu trở lên mới kham nổi. Sài Gòn tuy được nơi khác xem là thành phố mải mê “làm ăn”, “ăn chơi” thâu đêm suốt sáng nhưng nhu cầu đọc sách báo thì ai cũng biết là rất lớn và đặc biệt là giới bình dân thích xem sách xem báo không thua ai. 

Loại sách nào được ưa thích nhất ? 

Đó là truyện chưởng Kim Dung. Các bộ truyện của ông không có tác giả nào của VN so nổi về số lượng độc giả hâm mộ. Theo tác giả An Phong tường thuật trên báo Thời Nay, riêng bộ bảy tập tiểu thuyết kiếm hiệp Cô gái Đồ Long (sau này dịch tên chính xác là Ỷ thiên đồ long ký) của Kim Dung, tiệm Cảnh Hưng đã mua tới 100 bộ để cho thuê. Riêng các truyện khác như Tiếu ngạo giang hồ, Lục mạch thần kiếm, mỗi tựa mua trên 10 bộ. Xếp sau truyện chưởng là loạt tiểu thuyết gián điệp Z.28 của Người Thứ Tám. Xếp sau sách gián điệp, có lẽ khó phân loại cho chính xác. Tuy nhiên, căn cứ vào số lần mướn nhiều thì nhà văn Việt được đọc nhiều nhất là Duyên Anh, rồi đến sách của nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Tuy nhiên, có khi hạnh phúc của người này là nỗi đau của người kia. Giới nhà văn cho là mình đang bị xâm hại quyền lợi. Một nhà văn gọi đích danh nghề cho thuê sách, hay cho mướn sách tùy theo người gọi là “hút máu văn sĩ”. Một nhà văn khác in thẳng lên trang sách đầu tiên của mình, cuốn Giờ ra chơi, hàng chữ “cấm cho thuê”.

Đến năm 1971, ước tính tiệm Cảnh Hưng thu được mỗi tháng khoảng 150 ngàn đồng thời ấy, một số tiền lớn. Các tiệm cho thuê sách tồn tại đến năm 1975 thì chấm dứt. Lúc đó, ngành làm ăn này đã phát triển tới hồi thịnh nhất. Đến chiến dịch thu gom văn hóa phẩm chế độ cũ khoảng tháng 6.1975, các nhà bán lẻ sách và tiệm cho thuê sách của tư nhân ngưng hoạt động, sách bị thu gom.

Trên báo Tiền Phong ra ngày 24.6.1975, tác giả Kim Nguyên cho biết tiệm Cảnh Hưng đã nộp cho đội công tác sinh viên, học sinh Trường Trí Đức 36 ngàn cuốn sách các loại. Hai tiệm sách ở chợ Lò Đúc gần nhà tôi cũng bị dẹp. Lúc đó, người dân mới biết tiệm Tân Dân lâu nay chính là cơ sở hoạt động bí mật của chế độ mới.

Khoảng đầu thập niên 1990, loại hình kinh doanh cho thuê sách hoạt động trở lại và tồn tại cho đến ngày nay nhưng không còn trở lại thời hoàng kim như trước kia nữa.

Phạm Công Luận
(trích Sài Gòn, chuyện đời của phố, tập 3)
 Thanh Niên
Nguồn: http://thanhnien.vn/van-hoa/sai-gon-chuyen-doi-cua-pho-tiem-cho-thue-sach-dau-an-mot-thoi-669650.html
Share:

Sài Gòn chuyện đời của phố: Cô gái Sài Gòn đầu tiên mặc áo dài tân thời

Các đây 80 năm, báo Ngày Nay đã có bài phỏng vấn và đăng hình ảnh một thiếu nữ mà tác giả khẳng định là cô gái Sài Gòn đầu tiên mặc áo dài theo lối mới.
 
Bìa báo Ngày Nay có bài viết về cô gái Sài Gòn đầu tiên mặc áo dài tân thời - Ảnh: T.L 

Giữa thập niên 1930 tại Hà Nội, báo Ngày Nay, cơ quan ngôn luận chính thức của nhóm Tự Lực Văn Đoàn ra đời sau khi báo Phong Hóa bị đóng cửa. Báo lấy việc giải phóng cá nhân làm trung tâm điểm của sáng tác, tôn trọng tự do cá nhân, “Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ”. Ngay số đầu tiên ra ngày 30.1.1935, báo đã có bài cổ súy việc cải cách quần áo phụ nữ của họa sĩ Cát Tường, trong đó có bộ áo tân thời, tiền thân của chiếc áo dài hiện đại ngày nay. Ở trang 9 của số báo đầu tiên này là hình cô Nguyễn Thị Hậu, người đầu tiên mặc áo lối mới ở Hà Nội.
 
Sau đó, trên báo Ngày Nay số 5 ra ngày 10.3.1935, tác giả Chiêu Anh Kế đã có một bài phỏng vấn về thiếu nữ đầu tiên ở Gia Định mà ông khẳng định là người đầu tiên mặc áo dài tân thời.“Cô Hồng Vân là người thiếu nữ đầu tiên trong Nam mặc quần áo lối mới kiểu Le Mur (Le Mur nghĩa là bức tường - Tên gọi bộ áo của họa sĩ Cát Tường - TN). Trong một đêm chợ phiên ở Sài Gòn, người ta đã được trông thấy cô uyển chuyển trong bộ y phục màu hường, tà áo thướt tha và mềm mại”. 
 
Tác giả đến nhà riêng phỏng vấn cô Hồng Vân về việc này. Cô Hồng Vân đã trả lời rất tự tin: “... Cách nay hai năm, ai nào được trông thấy một chiếc áo “hở ngực” hay một chiếc quần “rộng ống”. Mà nếu may mắn có một thiếu nữ ăn mặc như thế, người ta đã vội cho cô ấy là gái chơi bời, lẳng lơ và trắc nết”.
 
Sài Gòn, chuyện đời của phố: Cô gái Sài Gòn đầu tiên mặc áo dài tân thời 2
Cô Hồng Vân trên báo Ngày Nay 
 
Nói về cảm giác ban đầu khi mặc loại áo tân thời thể hiện rõ đường nét cơ thể thiếu nữ trong bối cảnh lúc đó, cô bảo: “Lúc đầu cũng xốn xang thực, nhưng cái gì cũng vậy, hễ nó quen đi thì thôi... một cái áo cổ bẻ, khác màu với vạt, cổ tay xếp nếp mà bắt “jour” mà lẫn vào mấy trăm cái áo lối cũ thường dùng thì ai không ngó, không trầm trồ này kia... Giả một chị em e lệ, có tính nhút nhát thì phải toát cả mồ hôi”. Cô cho biết dầu có đẹp mấy nhưng ban đầu cũng có người khen kẻ chê: “Người khen, cố nhiên là đám thanh niên biết yêu chuộng mỹ thuật, thích cải cách. Còn người chê... tất là mấy bà già khó tính”. Mang ra một bộ quần áo khác bằng lụa mỏng màu da trời nhạt, cô chỉ một đường rách và cho biết trong đêm chợ phiên của “Hội Bài trừ bệnh lao”, một “bà già” 45 tuổi theo cô không rời và rạch một đường thẳng băng bằng dao nhọn từ trên xuống dưới. Tuy gặp chuyện không vui như vậy, cô khẳng định không nản chí mà cho rằng: “Thấy cái hay, cái phải, chị em chúng tôi cứ mạnh bạo mà không quản ngại gì cả. Tôi chắc một ngày kia, chị em bạn gái mỗi người sẽ có một kiểu áo đẹp đẽ, một mẫu riêng hợp với da người... lúc bấy giờ các cô sẽ trẻ thêm, đẹp thêm một ít nữa”. 
 
Qua bản lưu của báo Ngày Nay cách nay 80 năm, chúng ta thấy lại những suy nghĩ cởi mở của cô gái Sài Gòn - Gia Định trong trào lưu cách tân ở đất nước Việt đang thời phong kiến lạc hậu và thuộc địa. 
 
Áo dài sài gòn cải tiến 
 
Đến năm 1938 - 1939, kiểu áo dài thông dụng của miền Nam có tà áo cao tới khoảng đầu gối, cổ áo mỏng và nhỏ, gài kín lại và tay áo ráp phía trên cùi chỏ. Đến đầu thập niên 1950 tới năm 1954, giới nữ trẻ phục sức cởi mở hơn, tuy chiếc áo dài không thay đổi nhiều. Vải may áo đã mỏng hơn dịu hơn và đã có nhiều người thích may bó sát người chứ không rộng nữa. Họ bỏ khuy vải trên vạt con (vạt hò) để dùng khuy nút bóp. Họ may áo kiểu tay liền và bỏ kiểu tay ráp phùng ở vai đã có lúc thịnh hành ở miền Nam cuối thập niên 1940. Vải dùng để may thường là sa tanh trắng hay đen.
 
Cùng với áo tay liền, phụ nữ trẻ bỏ loại áo ngực dày để dùng loại gọn nhỏ kiểu phương Tây có tác dụng nâng ngực hơn. Đến năm 1954 - 1958, một số phụ nữ sang trọng diện áo dài đôi, như bộ áo cưới, gồm áo dày ở bên trong và lớp áo the mỏng có hoa, đắt tiền bên ngoài.
 
Đến năm 1958, áo dài ở miền Nam cải cách lớn như ai cũng biết, đó là kiểu áo dài của bà Trần Lệ Xuân với kiểu áo không cổ áo, hở cổ và vai, vạt hò được đắp lên tới bờ vai phải. Trong dịp lễ, bà choàng thêm bên ngoài một khăn choàng mỏng và thật dài. Chiếc áo này giúp phụ nữ giảm bớt bức bối ở vai và cổ, thể hiện được nét tròn đầy của hai bờ vai. Sau đó, áo dài tiếp tục được thay đổi: Kiểu hở cổ thì cải tiến ở cổ áo như cổ hở một phần vai hay nguyên vai, cổ hở một phần ngực hay phía trên lồng ngực và từ vai xuống trọn ức, dành cho các cô ngực nở. Còn có các cải tiến khác về cổ như cổ trái tim, cổ tròn không bâu.
 
Phạm Công Luận
(trích 'Sài Gòn, chuyện đời của phố' tập 3)
Thanh Niên
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?