Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn sài gòn xưa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sài gòn xưa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2016

Hồ Con Rùa và giai thoại 'trấn yểm long mạch' ở Sài Gòn

Thiết kế chỉ có trụ bêtông lớn cắm xuống hồ nước hình bát quái, Hồ Con Rùa (quận 3) gắn liền với giai thoại trấn yểm long mạch của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu.

Hồ Con Rùa ở trung tâm TP HCM có tên chính thức là Công trường Quốc tế, là nút giao của các tuyến đường Phạm Ngọc Thạch, Trần Cao Vân và Võ Văn Tần. Xung quanh hồ tập trung rất nhiều nhà hàng, quán bar, cà phê nên khu vực này luôn nhộn nhịp từ sáng đến khuya.
ho-con-rua-va-giai-thoai-tran-yem-long-mach-o-sai-gon
Tượng đài do người Pháp xây dựng đầu thế kỷ 20 ở vị trí Hồ Con Rùa ngày nay. Ảnh tư liệu

Nguyên thủy vị trí Hồ Con Rùa vào năm 1790 là cổng thành Khảm Khuyết của thành Bát Quái (còn gọi là thành Quy) được xây theo lệnh vua Gia Long. Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835), vua Minh Mạng đã cho phá thành Bát Quái và xây một ngôi thành nhỏ hơn mang tên là thành Phụng (thành Gia Định). Vị trí cửa Khảm Khuyết trở thành một điểm ở ngoài thành và nối thẳng con đường ngoài mặt tây thành xuống bến sông (đường số 16 - Catinat và bây giờ là Đồng Khởi).

Sau khi chiếm được Sài Gòn năm 1859, người Pháp đã cho phá hủy toàn bộ thành Gia Định. Năm 1878, một tháp nước được xây tại vị trí Hồ Con Rùa ngày nay để phục vụ nhu cầu cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng. Đến năm 1921, tháp nước bị phá bỏ và con đường được mở rộng nối dài đến đường Mayer (nay là đường Võ Thị Sáu). 

Từ đó, vị trí này trở thành giao lộ của các tuyến đường như ngày nay.
Cũng tại vị trí này, người Pháp cho xây một tượng đài ba binh sĩ bằng đồng với hồ nước nhỏ, để đánh dấu cuộc xâm chiếm và biểu tượng của người Pháp làm chủ Đông Dương. Do đó, người dân thường gọi nó là Công trường Ba hình. Các tượng đài này tồn tại đến năm 1956 thì bị Chính quyền Việt Nam Cộng hòa phá bỏ, chỉ còn lại hồ nước nhỏ. Giao lộ cũng được đổi tên thành Công trường Chiến sĩ.
ho-con-rua-va-giai-thoai-tran-yem-long-mach-o-sai-gon-1
Hồ Con Rùa năm 1972, lúc còn con rùa bằng đồng ở giữa. Ảnh tư liệu

Sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, địa điểm Công trường Chiến sĩ trở thành vòng xoay giao thông của đường Duy Tân (nay là Phạm Ngọc Thạch) và Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần - Trần Cao Vân). Thời điểm xây Hồ Con Rùa chưa được xác định chính xác, song một số tài liệu cho là nó được xây năm 1965-1967. Người thiết kế là kiến trúc sư Nguyễn Kỳ.

Trong những năm 1970 đến 1974, Hồ Con Rùa được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trùng tu và chỉnh trang. Trong đó có việc dựng thêm và điều chỉnh 5 cột bêtông cao có dạng năm bàn tay xòe ra giống như các cánh hoa đón đỡ một nhụy hoa.

Công trình mới này còn bao gồm một vòng xoay giao thông với đường kính khoảng gần 100 mét, được trang trí bởi cây xanh và hồ phun nước hình bát giác lớn với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm và hình tượng con rùa bằng hợp kim đội trên lưng bia đá lớn. Do đó, mới có tên gọi dân gian là Hồ Con Rùa.

Ban đầu, khu giao lộ này được đặt tên là Công trường Chiến sĩ Tự do, đến năm 1972 thì đổi tên thành Công trường Quốc tế. Tuy nhiên, đầu năm 1976, tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ, dù con rùa không còn nhưng người dân vẫn quen cách gọi cũ thay vì tên chính thức.
ho-con-rua-va-giai-thoai-tran-yem-long-mach-o-sai-gon-2
Hồ Con Rùa hiện nay. Ảnh: Trung Sơn

Do có kiến trúc khá kỳ lạ, Hồ Con Rùa được gắn với giai thoại trấn yểm long mạch của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu. Theo lời thuật của tác giả Huỳnh Bá Thành trong cuốn sách Vụ án Hồ Con Rùa (Nhà xuất bản Tuổi Trẻ 1982), có giai thoại truyền miệng kể là vào năm 1967 khi tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, đã cho mời một thầy phong thủy người Hoa nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập.

Ông thầy phong thủy này khen dinh được xây trên long mạch. Con rồng này có đầu nằm ngay dinh Độc Lập (vì vậy Dinh Độc lập còn có tên gọi là Phủ Đầu Rồng) và đuôi rồng nằm tại vị trí Công trường Chiến sĩ. Tuy phát hưng vượng nhưng do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp không bền, cần phải cúng yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng không vùng vẫy, mới giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài.

Vì vậy, ông Nguyễn Văn Thiệu đã nghe theo và cho xây dựng một hồ nước có hình bát giác, phỏng theo bát quái trận đồ, một biểu tượng phong thủy thường dùng để trấn yểm của người xưa, và cho đặt một con rùa lớn đúc bằng đồng ngay chính giữa hồ. Cũng vì thế, nhiều người cho rằng kiến trúc tháp cao giống như hình một thanh gươm hoặc một cây đinh khổng lồ đóng xuống hồ nước để giữ chặt đuôi rồng, và khuôn viên hồ nước có hình bát quái, bên giữa có hình âm dương.
Vnexpress
Share:

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016

Công viên Lê Văn Tám - nghĩa trang của người giàu Sài Gòn xưa

Từng là nghĩa trang dành cho lính Pháp, sau đó là của giới thượng lưu, đến năm 1983 nơi đây trở thành công viên Lê Văn Tám ở trung tâm TP HCM như ngày nay.

Khu vực nội đô TP HCM trước đây có rất nhiều nghĩa trang với hàng trăm nghìn ngôi mộ. Đa số chúng được xây dựng vào khoảng cuối cuối thế kỷ XIX, dưới chế độ Pháp thuộc, khi quy mô của Sài Gòn - Gia Định còn rất nhỏ. Sau đó, dân cư thành phố nhanh chóng trở nên đông đúc nên chính quyền phải di dời nghĩa trang để "lấy đất xây dựng các công trình phúc lợi, giữ vệ sinh môi trường". 

Trong số những nghĩa trang, nổi tiếng và lâu đời nhất là Mạc Đĩnh Chi - nay là công viên Lê Văn Tám. Khu vực này được giới hạn bởi 4 tuyến đường Điện Biên Phủ - Hai Bà Trưng - Võ Thị Sáu và Phan Liêm ở trung tâm quận 1.
cong-vien-le-van-tam-nghia-trang-cua-nguoi-giau-sai-gon-xua

Cổng chính nghĩa trang trên đường Legrand de la Liraye (nay là Điện Biên Phủ) lúc vừa được người Pháp xây dựng ở vị trí công viên Lê Văn Tám ngày nay. Ảnh tư liệu

Theo tác giả Tim Doling (Ireland) - người có nhiều nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử Sài Gòn - TP HCM, công viên Lê Văn Tám nguyên thủy là nghĩa trang của người Châu Âu (Cimetière Européen) hay nghĩa trang Massiges. Người Sài Gòn thời đó cũng gọi là Đất thánh Tây. Về sau mang tên là nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Năm 1859, sau khi chiếm được Sài Gòn, người Pháp đã cho xây nghĩa trang này với diện tích 7,5 ha ở phía đông đường National (nay là Hai Bà Trưng). Lúc mới hoàn thành, nghĩa trang được giao cho Hải quân Pháp quản lý, chôn cất các sĩ quan và binh lính người Pháp trong cuộc chiếm đóng Sài Gòn.

Dù vậy, trong nghĩa trang cũng có một số lượng lớn các ngôi mộ của người Đức và Nga. Mãi đến cuối thập niên 1860, dân thường bắt đầu được chôn cất ở đây vì thời điểm đó Sài Gòn có rất nhiều người chết do dịch tả, sốt rét, ký sinh trùng đường ruột và kiết lỵ.

Vào khoảng năm 1870, nghĩa trang Việt Nam nhỏ (Cimetière Anamite hay Cimetière Indigène) được mở ngay tại phía bắc nghĩa trang của người Châu Âu. Đường phân chia hai nghĩa trang này được đặt tên là rue des Deux cimetières (đường hai nghĩa trang). Phải 10 năm sau, nó mới được mang tên là Mayer, sau đó là Hiền Vương và nay là đường Võ Thị Sáu.

Từ cuối thế kỷ 19, Sài Gòn bắt đầu phát triển thịnh vượng, nghĩa trang của người Châu Âu trở thành nơi an nghỉ của các chính trị gia xứ thuộc địa và các quản trị viên. Trong số đó có kiến trúc sư Marie-Alfred Foulhoux (1840-1892) và thị trưởng thành phố Sài Gòn Paul Blanchy (1837-1901).
cong-vien-le-van-tam-nghia-trang-cua-nguoi-giau-sai-gon-xua-1
Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi vào thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh tư liệu

Sự thay đổi khiến nó thành nơi chôn cất cho tầng lớp thượng lưu thuộc địa được nhắc trong một báo cáo quan trọng trên tờ Courrier Saigonnais đăng ngày 14/12/1912. Sau đó, những ngôi mộ hoành tráng của người quyền thế ở Sài Gòn ngày càng tăng, trong khi các ngôi mộ của những người lính và thủy thủ Pháp bị bỏ phế cỏ mọc um tùm.

Đầu thế kỷ 20, nghĩa trang được chia cắt thành những con đường nhỏ có trồng cây và kiểng do nhân viên thảo cầm viên Sài Gòn chăm sóc. Nghĩa trang lúc này được bao bọc bởi bốn bức tường vôi cao 2,5 m với cổng chính ở phía nam đường Legrand de la Liraye (nay là Điện Biên Phủ).

Cổng chính nằm đối diện trực tiếp cuối phía bắc của đường Bangkok, và sau năm 1920 khi đường Bangkok được đổi tên thành đường Massiges (nay là đường Mạc Đĩnh Chi), nó được biết đến với cái tên mới là nghĩa trang đường Massiges.

Nhiều nhân vật nổi tiếng của thời kỳ thuộc địa sau đó đã được chôn cất ở đây. Tuy nhiên, ngôi mộ ấn tượng nhất giai đoạn này là lăng mộ của ông Nguyễn Văn Thinh (qua đời ngày 1/11/1946) - thủ tướng đầu tiên của thời tự trị Cộng hòa Nam Kỳ (1/6/1946- 8/10/1947).

Tháng 3/1955, khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, đường Massiges được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đổi tên thành Mạc Đĩnh Chi và tên gọi này mặc nhiên cũng trở thành tên của nghĩa trang.

Trong hai thập kỷ tiếp theo, các chính trị gia cao cấp, tướng tá và thành viên nổi bật khác của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cũng được chôn tại đây cùng với số lượng nhỏ người nước ngoài như phóng viên François Sully - làm việc ở tờ Time và Newsweek (qua đời tháng 2/1971). 

Người nổi tiếng nhất được chôn cất tại nghĩa trang này là tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm và em trai - giám đốc cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu. Hai người đã bị quân đảo chính ám sát vào ngày 2/11/1963. Ngoài ra, nơi đây còn có mộ của thống tướng Việt Nam Cộng Hòa Lê Văn Tỵ, chuẩn tướng Lưu Kim Cương…
cong-vien-le-van-tam-nghia-trang-cua-nguoi-giau-sai-gon-xua-2
Một góc công viên Lê Văn Tám ngày nay, nơi từng là nghĩa trang của giới thượng lưu ở Sài Gòn. Ảnh: Vũ Hà Duy/Panoramio

Năm 1971, theo tác giả Arthur J Dommen, một phần bức tường phía tây của nghĩa trang bị đổ, kèm theo nó là những lời đồn đại đó là dấu hiệu cho thấy ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về cái chết của ông Diệm và phải làm gì đó để giải thoát cho linh hồn ông Diệm.

Những lời đồn đại về ma quỷ ở nghĩa trang chỉ thực sự bắt đầu lan truyền rộng rãi sau năm 1983, khi chính quyền TP HCM quyết định ngừng hoạt động nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi với hàng nghìn ngôi mộ cùng kế hoạch xây dựng địa điểm này thành Cung Văn hóa thiếu nhi thành phố. Tuy nhiên, về sau nơi đây được quy hoạch thành công viên cây xanh và đặt tên là Lê Văn Tám.

Theo chỉ thị của chính quyền vào lúc đó, những người có thân nhân chôn trong nghĩa trang được hướng dẫn để sắp xếp cho việc cải táng trong hai tháng, nếu không có người nhận thì được hỏa táng và di dời nơi khác. Còn lại hài cốt của những người lính Pháp được đưa về quê chôn cất.

Cũng trong đợt di dời, giải tỏa này mộ của ông Ngô Đình Diệm và em trai được chuyển về nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương). Một người em trai khác của ông Diệm là ông Ngô Đình Cẩn được chôn tại nghĩa trang sân bay Tân Sơn Nhất sau khi bị xử bắn vào năm 1965, và mộ bà thân mẫu Phạm Thị Thân cũng được quy tụ về đây. 

Hiện, công viên Lê Văn Tám có rất nhiều cây xanh phủ bóng mát đã thay thế cho nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi hoang vắng trước đây. Nơi đây cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động giải trí cũng như các hội chợ, triển lãm về sách, nông nghiệp... Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người dân địa phương mê tín không muốn đến đây vì lịch sử trước đó.

Đây cũng là nơi có dự án bãi đậu xe ngầm 100 triệu USD với quy mô chứa 2.000 xe máy, 1.250 ôtô, 28 xe buýt, xe tải và một bên là ba tầng hầm dành cho thương mại. Tuy nhiên, sau ngày động thổ vào tháng 8/2010, đến nay dự án đang “án binh bất động” vì vướng một số thủ tục và chưa biết bao giờ mới hoàn thành.
Vnexpress
Share:

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2016

Xe công cộng của người bình dân Sài Gòn xưa

Bóng dáng xe Lam không còn xuất hiện trên đường, song loại xe 3 bánh với tiếng nổ "bành bành" từng là một phần cuộc sống của người Sài Gòn xưa.


Xe Lam là phương tiện giao thông công cộng dành cho người bình dân tại miền Nam Việt Nam từ thập niên 60 để thay thế xe ngựa thồ (thổ mộ) vẫn còn được sử dụng vào khoảng thời gian đó.

Bắt nguồn từ tên gọi dòng sản phẩm Lambretta của Italya, thuở mới xuất hiện bên thùng xe chỉ dập nổi chữ Lambretta, hay Vespa nhưng về sau kèm một con số như: Lambro 150, Lambro 175, Lambro 200, Lambro 500, Lambro 550... Đây là nguyên nhân ra đời cái tên "xe Lam".

Trong một đoạn quảng cáo về xe Lam thời đó có nội dung: "Máy trước, vừa đề, vừa đạp. Đặc điểm hoàn toàn làm tại Ý Đại Lợi - Trọng tải hữu dụng 550 ký... Xe có bán tại Lambretta Việt Nam - VINACO và khắp các đại lý trên toàn quốc. Chú ý: không có xe Lam bốn bánh, chỉ có xe Lam ba bánh". 

Thiết kế của xe khá đặc biệt, chia làm hai "toa" hẳn hoi. Cabin cho tài xế ngồi phía trước và thùng nhỏ phía sau chở được 8-10 người. Càng lái xe Lam giống như ghi-đông xe gắn máy, dù chở cả chục người nhưng xe cũng vô số tay như xe hai bánh Lambretta. 
xe-cong-cong-cua-nguoi-ngheo-sai-gon-xua
Xe lam là phương tiện đi lại chủ yếu của người Sài Gòn xưa. Ảnh tư liệu


Dưới ghế của bác tài là thùng chứa máy xe. Nếu xe chết máy bác tài phải nhảy xuống đường mới mở yên được, sau đó dùng sợi dây thừng kéo cho máy nổ (giống như vận hành máy phát điện gia đình) hoặc tra dầu, chùi bu-gi cho máy xe.

Khách ngồi trên hai hàng ghế dài đặt dọc theo thùng xe, song song nhau. Nếu hai người đối diện đều "chân dài" thì bốn đầu gối thế nào cũng đụng nhau lốp cốp mỗi khi xe thắng gấp, không muốn khua thì hai cặp giò phải lồng so le vào nhau.

Chính vì kiểu xếp ghế ngồi như thế mà nhiều chàng trai, cô gái tình cờ quen biết và nhiều cuộc tình đã bắt đầu trên những chuyến xe Lam như trong lời bài hát Chuyến xe lam chiều của nhạc sĩ Vinh Sử: "Trên chuyến xe lam đông người chiều nao/ Suy mình không quen mà ngồi bên nhau/ Trời mang nhiều trớ trêu chi/ Người chưa hề biết quen gì/ Sao ngồi gần như tình nhân si/ Em xuống xe lam đi vào hẻm sâu/ Anh vội theo chân ngõ hồn xuyến xao".

Giá một chiếc xe Lam hồi thập niên 60 khoảng 30 cây vàng. Ông Lâm Quang Thành (quận 4), người từng có thâm niên hơn chục năm lái xe Lam cho biết do xe khá đắt nên không phải ai cũng có thể mua, nhưng nếu mua được thì nó mang về lợi nhuận rất nhiều. 

"Hồi đó người ta vẫn hay nói là chạy xe Lam một ngày có thể nghỉ cả tháng, nhưng đó là nói quá lên thôi. Tuy nhiên, nếu sắm được một chiếc xe Lam chạy khách có thể nuôi được cả nhà", ông Thành nói.

Thời đó, lộ trình xe Lam cũng giăng kín Sài Gòn như xe buýt ngày nay nhưng điểm khác biệt là không có trạm dừng cố định cho khách lên xuống. Ai muốn đi thì ra sát vệ đường vẫy tay đón và xe cũng dừng lại bất cứ chỗ nào cho khách xuống. 
xe-cong-cong-cua-nguoi-ngheo-sai-gon-xua-1
Xe lam tiện hơn xe buýt vì không có trạm dừng, hành khách có thể dừng bất kỳ chỗ nào. Ảnh tư liệu.


Người buôn bán có thể chất quang gánh, bao và một số thứ linh tinh trên nóc xe - điều mà xe buýt không chấp nhận. Vì vậy, dù giá vé xe Lam mắc hơn xe buýt (vé xe buýt là 2 đồng, vé xe Lam là 5 đồng) nhưng nhiều người vẫn lựa chọn vì tiện lợi.

Đến cuối năm 1968, toàn miền Nam có hơn 17.000 chiếc xe Lam, trong đó riêng Sài Gòn có 3.200 chiếc. Đến năm 1971, xe Lam là phương tiện vận chuyển quan trọng nhất Sài Gòn cũng như các tỉnh miền Nam vì hệ thống xe buýt đã ngưng hoạt động và chưa phục hồi. Theo báo chí lúc đó thì toàn miền Nam có đến hơn 30.000 chiếc, số xe Lam lưu hành gấp 7 lần taxi.

Nếu khoảng thập niên 1950 người Sài Gòn vẫn còn thấy xe thổ mộ (xe ngựa) ra vô chợ Bến Thành thì đến đầu 1960 xích lô đạp, xích lô máy là phương tiện vận chuyển thuộc hàng VIP. 

Sang đầu thập niên 1970, xe Lam cùng taxi chiếm lĩnh đường phố, kế đó là sự xuất hiện của xe buýt... Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, các phương tiện cơ giới khác bị thiếu xăng hoặc thiếu phụ tùng thay thế không sử dụng được nên xe Lam được dùng làm phương tiện phổ biến rẻ tiền.

Từ năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định 23 quy định về niên hạn sử dụng đối với các loại ôtô tải và ôtô chở người tham gia giao thông trên hệ thống đường bộ), xe Lam bị hạn chế và từ từ bị cấm hẳn.
Ngày nay, dù bóng dáng xe Lam không còn xuất hiện trên đường phố Sài Gòn, nhưng loại xe 3 bánh với tiếng nổ "bành bành" cùng mùi khói xăng đã từng trở thành một phần trong cuộc sống của người dân Sài Gòn. Trong ký ức của nhiều người, xe Lam vẫn là một chút gì đó còn lại của Sài Gòn thuở xa xưa.
Vnexpress
Share:

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2016

Dấu ấn đường Đồng Khởi ở Sài Gòn qua 150 năm


dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam


Đường Đồng Khởi năm 1890 (lúc này là Catinat) là một trong những con đường được tráng nhựa đầu tiên ở Sài Gòn. Vào thời này, phương tiện đi lại của người dân chủ yếu là xe bò, xe ngựa.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-1


Khoảng năm 1900, xe kéo đã xuất hiện.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-2


Đường Catinat trong một bức ảnh của nhiếp ảnh gia Ludovic Crespin được cho là chụp vào cuối thập niên 1910 và đầu 1920, phía trái hình là hai tiệm đổi tiền của người Ấn.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-3


Khoảng năm 1920 rất nhiều cửa hàng dịch vụ, thương mại, nhà hàng, khách sạn đã xuất hiện trên con đường được xem là quan trọng bậc nhất Sài Gòn.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-4


Đường Đồng Khởi năm 1961 (lúc này mang tên Tự Do), phía xa bên phải là khách sạn Continental. Ảnh: LIFE.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-5


Xe cộ nườm nượp trên đường Đồng Khởi (Tự Do) năm 1967-1968.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-6


Con đường sang trọng bậc nhất năm 1966, đoạn gần ngã tư Nguyễn Thiệp.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-7


Cửa hiệu, khách sạn san sát trên đường Đồng Khởi (Tự Do) năm 1969.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-8


Đầu đường Đồng Khởi (Tự Do), hướng nhìn từ Bến Bạch Đằng, bên trái là khách sạn Majestic. 

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-9


Với mức giá khoảng 600 triệu đồng một mét vuông, đường Đồng Khởi hiện có giá đắt nhất TP HCM.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-10


Sau hơn 150 năm, qua nhiều tên gọi khác nhau từ đường số 16, Catinat, Tự Do và hiện là Đồng Khởi, nơi đây vẫn là con đường sầm uất bậc nhất.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-11


Đường Đồng Khởi đoạn trước Nhà hát Thành phố, phía tay phải là khách sạn Continental - khách sạn đầu tiên của Sài Gòn.

dau-an-duong-dong-khoi-o-sai-gon-qua-150-nam-12


Đường Đồng Khởi hiện nay nhìn từ Bến Bạch Đằng, bên trái là khách sạn Majestic. 

Trung Sơn (tổng hợp)
Vnexpress
Share:

Con đường được mệnh danh 'cuống rốn' của Sài Gòn xưa

Dài chưa đầy một cây số nhưng tập trung những cơ sở thương mại, khách sạn, bưu điện đầu tiên của thành phố, đường Đồng Khởi (xưa là Catinat) được xem là con đường nổi tiếng nhất và là linh hồn của Sài Gòn.

Năm 1861 khi quân Pháp chiếm được Sài Gòn, con đường đã có một quá trình dài góp mặt vào sinh hoạt của cư dân. Theo nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển trong quyển Sài Gòn năm xưa, nó được biết đến nhiều vì ở đầu đường - giáp với bờ sông Sài Gòn - từng là nơi vua nhà Nguyễn đến nghỉ ngơi (nên còn được gọi là Bến Ngự).

Tuy nhiên, từ trước năm 1865, nó cùng 25 con đường khác chỉ mang số thứ tự kế tiếp nhau, từ 1 đến 26. Đến ngày 1/2/1865, Đề đốc De La Grandière mới đặt tên cho từng con đường một và đường số 16 được đặt là Catinat – tên một vị thống chế người Pháp.

Catinat được thực dân Pháp sử dụng làm trung tâm của bộ máy thuộc địa, tập trung hầu hết các cơ quan quan trọng của chính quyền. Đầu tiên, dinh Thủy sư Đề đốc, cơ quan đầu não của thực dân Pháp tại Viễn Đông được xây dựng ở góc đường Mossard - Gouverneur (nay là Nguyễn Du – Lý Tự Trọng).
con-duong-duoc-menh-danh-cuong-ron-cua-sai-gon-xua
Đường Đồng Khởi thời Pháp thuộc đã là con đường sầm uất bậc nhất Sài Gòn, được nhà báo Lucien Bodard ví như cái cuống rốn của Sài Gòn.

Tiếp đó, Nha giám đốc Nội vụ (Dinh Thượng thơ) cũng được xây, hướng ra đường Catinat, ở phía đối diện dinh Thủy sư Đề đốc. Đến đầu năm 1880, nhà thờ Notre Dame (Nhà thờ Đức Bà) được xây dựng ngay trên lộ trình con đường Đồng Khởi chạy qua.

Năm 1886, trụ sở chính Sở Bưu chính và Viễn thông (nay là Bưu điện trung tâm TP HCM) được khởi công trên khu đất đối diện với mặt trái nhà thờ, nằm giữa con đường Catinat và đường Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng). 4 năm sau, nhà hát Tây (nay là Nhà hát thành phố) được khánh thành trên giao lộ đường Bonard (nay là Lê Lợi) và Catinat, trở thành nơi biểu diễn thường xuyên của những đoàn hát từ phương Tây đến.

Vào thời kỳ này, đường Catinat được xem là bộ mặt sinh hoạt của cả Sài Gòn - thành phố thuộc địa đầu tiên ở vùng Viễn Đông. Không chỉ có trụ sở các cơ quan đầu não của chính quyền mà hàng loạt nhà hàng, khách sạn, cơ sở dịch vụ thương mại sang trọng đầu tiên của Sài Gòn cũng mọc lên trên con đường này.

Continental - khách sạn đầu tiên ở Sài Gòn hoàn thành năm 1880 - là nơi dừng chân của các viên chức, sĩ quan cao cấp của Pháp đến công tác xứ thuộc địa, là chỗ tụ hội của những du khách thập phương. Trước thế chiến thứ nhất, nơi đây từng đón tiếp hai nhân vật rất nổi tiếng trong lĩnh vực văn chương là thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore (giải Nobel văn chương năm 1913) và nhà văn Pháp lừng danh André Malraux, tác giả tiểu thuyết La condition humaine (Thân phận con người 1933).
con-duong-duoc-menh-danh-cuong-ron-cua-sai-gon-xua-1
Đường Đồng Khởi năm 1969, lúc này được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đổi tên thành đường Tự Do.


Căn phòng số 214 của khách sạn Contiental cũng từng là nơi ở của Graham Greene - người đã thai nghén và cho ra đời quyển tiểu thuyết nổi tiếng The Quiet American (Người Mỹ trầm lặng). Sau Continental, Majestic được khánh thành năm 1925 cũng thuộc loại những khách sạn kỳ cựu của Sài Gòn nằm ở góc đường Catinat và Luro (nay là Tôn Đức Thắng) nhìn ra bờ sông Sài Gòn, do một thương nhân người Hoa giàu có và nổi tiếng bậc nhất thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (chú Hỏa) xây dựng theo đồ án thiết kế của một kiến trúc sư Pháp. Rồi đến năm 1930 là sự xuất hiện của Grand Hotel Sai Gon.

Cũng trên cung đường dài chưa đầy một cây số này, một loạt các cơ sở thương mại, dịch vụ đầu tiên của Sài Gòn cũng được hình thành. Sớm nhất là Hãng tàu Denis Frère mọc lên ở đầu đường, phía bờ sông. Sau đó là hiệu thuốc đầu tiên của cả Sài Gòn nằm ở góc Catinat và Bonard (Lê Lợi), khai trương năm 1865. Rồi hiệu bán đĩa hát Ménestrel (gần nhà hàng Bông Sen ngày nay), rạp Catinat (nằm trên một con hẻm đâm ra đường Catinat), nhà hàng Brodard…

Không chỉ có các cửa hàng dịch vụ của người Pháp, Trung tâm Saigon trên đường Catinat và các đường chung quanh từ năm 1904 đã bắt đầu xuất hiện các cửa hàng thương mại kinh doanh của người Việt như: cửa hàng nhiếp ảnh của Jean-Pierre Trọng, nhà in của Nguyễn Văn Toán (Đinh Thái Sơn hay Phát Toán), nhà in Lê Phát Tân, cửa hàng bán xe đạp, làm bánh mì của nhà nhiếp ảnh Lê Văn Ba...
con-duong-duoc-menh-danh-cuong-ron-cua-sai-gon-xua-2
Đường Đồng Khởi hiện nay vẫn là con đường sầm uất và có giá đắt đỏ nhất Sài Gòn. Ảnh: Trung Sơn


Trong quyển Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca xuất bản năm 1909 tại Sài Gòn, tác giả Nguyễn Liên Phong đã mô tả khung cảnh náo nhiệt trên đường Catinat: Nhứt là đường Ca-ti-na/Hai bên lầu các, phố nhà phân minh/ Bực thềm lót đá sạch tinh/ Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều/ Máy may mấy chỗ quá nhiều/ Các tiệm tủ ghế dập dều phô trương/... Nhà in, nhà thuộc, nhà chà/ Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son/... Phong lưu cách điệu ai bằng/ Đường đi trơn láng, đèn giăng sáng lòa/ Thứ năm, thứ bảy, thứ ba/ Với đêm chúa nhựt hát nhà hát Tây...

Thời bấy giờ, người Pháp đã so sánh Catinat với đại lộ Canebière của thành phố Marseille vì tập trung những cửa hàng sang trọng nhất của thành phố, nơi dạo chơi của giới thượng lưu thuộc địa trong những ngày đầu đặt chân đến mảnh đất xa xôi này.

Còn nhà báo Pháp Lucien Bodard thì ví đường Catinat như cái cuống rốn của Sài Gòn. Đấy là nơi diễn ra mọi sinh hoạt của thế giới thuộc địa.

Năm 1954, sau khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam, đường Catinat được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đổi thành Tự Do và nơi đây vẫn là con đường sầm uất bậc nhất Sài Gòn. Sau năm 1975, một lần nữa, con đường được đổi tên thành Đồng Khởi cho đến nay. Có thể nói đường số 16 - Catinat - Tự Do - Đồng Khởi là một trong số rất ít những con đường kỳ cựu nhất, là chứng nhân của những thăng trầm trong lịch sử đất Sài Gòn.

Sau hơn 150 năm, hiện Đồng Khởi vẫn tiếp tục là một trong những con đường sầm uất và sang trọng bậc nhất và là nơi lắng nghe nhịp đập của vùng đất Sài Gòn. Điều này cũng được thể hiện khi bảng giá đất trên con đường này được xếp vào loại đắt nhất thành phố, khoảng 600 triệu động một mét vuông.
Vnexpress
Share:

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn và hai lần bốc thăm định mệnh

Để có vị trí đắc địa xây nhà thờ Đức Bà, phía Công Giáo phải tham gia bốc thăm với nhà cầm quyền Pháp cùng phía tôn giáo khác và cả hai lần họ đều được chọn.

Ngay sau khi chiếm Sài Gòn, năm 1860 chính quyền Pháp cho lập nhà thờ để làm nơi hành lễ cho người Pháp theo đạo Công giáo. Ngôi nhà thờ đầu tiên được lập ở đường Số 5 (nay là đường Ngô Đức Kế, quận 1) - vốn là công trình bỏ hoang vì chiến tranh được tu sửa lại.

Ngôi nhà thờ đầu tiên quá nhỏ, 3 năm sau, ngày 28/3/1863, Đức cha Lefebvre (Đức cha Ngãi) tổ chức lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng một ngôi nhà thờ khác bên bờ Kinh Lớn (còn gọi là kinh Charner, nay là đường Nguyễn Huệ).

Nhà thờ được dựng bằng gỗ cách sông Sài Gòn khoảng 500 m, hoàn thành vào năm 1865 mang tên Nhà thờ Saigon. Về sau, do gỗ bị mối mọt tấn công, các buổi lễ được tổ chức trong phòng khánh tiết của Dinh Thống Đốc cũ (năm 1874 thành trường học Taberd, nay là trường chuyên Trần Đại Nghĩa).
hai-lan-boc-tham-de-co-nha-tho-duc-ba-sai-gon
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn khi khánh thành năm 1880, khi chưa có 2 ngọn tháp.

Sau khi được bổ nhiệm phụ trách giáo phận Sài Gòn, Đức Giám mục Colombert nghĩ tới việc xây ngôi nhà thờ mới kiên cố, xứng đáng với vị trí của Sài Gòn lúc bấy giờ, thay thế cho ngôi nhà thờ chính tòa cũ (nhà thờ Saigon) và được chính quyền đồng ý. 

Tháng 8/1876, Thống đốc Nam kỳ Duperré tổ chức kỳ thi vẽ đồ án thiết kế nhà thờ mới. Vượt qua 17 thiết kế khác, đồ án của kiến trúc sư J. Bourad với kiến trúc theo kiểu Roman cải biên pha trộn nét Gotich đã được chọn. Địa điểm xây dựng ban đầu được đề nghị ở 3 nơi: góc đường Lê Duẩn và Hai Bà Trưng (nay là Lãnh sự quán Pháp); khu Kinh Lớn (tại vị trí nhà thờ cũ, nay là tòa nhà Sunwah ở đường Nguyễn Huệ) và vị trí hiện nay. 

Về địa điểm được chọn (hiện là số 1 Công trường công xã Paris), do nằm ở vị trí đắc địa nên đã xảy ra tranh chấp của nhiều phía. Theo sách "Sưu tầm những họ đạo cổ xưa của Sài Gòn, Địa phận Tây Đàng Trong, năm 1992", cha Phaolô Đoàn Quang Đạt, năm 1940 khi là cha sở Họ Bà Rịa từng kể rằng, phía nhà cầm quyền Pháp muốn xây cất Nhà hát Thành Phố và một tôn giáo khác cũng muốn xây trụ sở cùng vị trí mà phía Công Giáo đã chọn. 

Sau thời gian tranh cãi, chính quyền đành phải bốc thăm công khai. Về phía Công Giáo, Đức Cha Colombert yêu cầu giáo dân toàn địa phận ăn chay cầu nguyện để có thể có được khu đất này. Đến ngày, phía Công Giáo bốc thăm trước và trúng thăm được chọn. Tuy nhiên, do có ý kiến phản đối nên việc bốc thăm phải tổ chức lại. Lần này, nhà cầm quyền Pháp giành bốc thăm trước, kế đến là phía tôn giáo kia nhưng thăm được chọn vẫn thuộc về phía Công giáo.

hai-lan-boc-tham-de-co-nha-tho-duc-ba-sai-gon-1
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn hiện nay. Ảnh: Trung Sơn

Nhà thờ Đức Bà được xây như thế nào

Để chuẩn bị cho việc khởi công xây dựng nhà thờ, Đô đốc Duperré cho đấu thầu việc xây dựng thánh đường và cũng kiến trúc sư J. Bourad là người trúng thầu, trực tiếp giám sát công trình. Ngày 7/10/1877, lễ đặt viên đá đầu tiên nhà thờ Đức Bà Sài Gòn do giám mục Isidore Colombert chủ trì dưới sự chứng kiến của phó soái Nam kỳ và các nhân vật tai mắt của Sài Gòn, diễn ra rất long trọng.  

Sau 3 năm xây dựng, ngày 11/4/1880 dưới sự chứng kiến của Thống đốc Nam kỳ Le Myre de Vilers, giám mục Colombert đã khánh thành nhà thờ Đức Bà Sài Gòn với tên nhà thờ Nhà nước do toàn bộ chi phí xây dựng và trang trí nội thất đều do chính quyền Pháp tài trợ với số tiền 2,5 triệu France Pháp, tương đương 500.000 đồng Đông Dương thời bấy giờ.

Việc xây dựng nhà thờ này cũng rất đặc biệt, toàn bộ các vật liệu từ ximăng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang, công nhân xây cất được chọn trong số thợ lành nghề người Công Giáo. Mặt ngoài công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Marseille để trần, không tô trát, không bám bụi rêu (đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi). Toàn bộ thánh đường có 56 ô cửa kính màu do hãng Lorin của tỉnh Chartres sản xuất. 

Móng của thánh đường được thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Đặc biệt, nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Sài Gòn - Gia Định lúc ấy và bây giờ.

Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Toàn bộ chiều dài thánh đường là 93 m. Chiều ngang nơi rộng nhất là 35 m. Chiều cao của vòm mái thánh đường là 21 m. Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người. 
 
Bàn thờ nơi Cung Thánh (trung tâm của nhà thờ - nơi linh mục cử hành thánh lễ) được làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối có hình 6 vị thiên thần khắc thẳng vào khối đá đỡ lấy mặt bàn thờ. Hệ thống ánh sáng tự nhiên trong nhà thờ êm dịu, mặt tiền nhìn thẳng ra sông Sài Gòn, gió thổi hun hút nên người bên trong nhà thờ luôn rất dễ chịu. Hai tháp lúc đầu không có phần cao nhọn lên mà ngang bằng giống kiểu nhà thờ Đức Bà Paris (Pháp).

hai-lan-boc-tham-de-co-nha-tho-duc-ba-sai-gon-2


Toàn bộ vật liệu xây dựng nhà thờ đều được đưa từ Pháp sang. Ảnh: Trung Sơn

Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6 m và hai tháp có 6 chuông đồng lớn nặng 28,85 tấn. Trên đỉnh tháp có đính cây thánh giá cao 3,5 m, ngang 2 m, nặng 600 kg. Tổng thể chiều cao từ mặt đất lên đỉnh thánh giá là 60,5 m.

Mặt trước thánh đường là một công viên (Công trường Công xã Paris) với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá (biểu tượng của đạo Công giáo). Trung tâm của công viên là bức tượng Nữ vương Hòa bình do nhà điêu khắc G. Ciocchetti thực hiện năm 1959 đưa từ Ý sang. Tượng cao 4,6 m, nặng 8 tấn, bằng đá cẩm thạch trắng của Ý, được tạc với chủ đích để nhìn từ xa nên không đánh bóng. Vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt vẫn còn những vết điêu khắc thô.

Sau gần 140 năm hình thành, nhà thờ Đức Bà trở thành công trình kiến trúc biểu tượng của Sài Gòn. Do nằm ở trung tâm quận 1, lại là nhà thờ Chánh tòa của Tổng giáo phận TP HCM nên đây là địa điểm người dân thường tập trung về vào các dịp lễ, Tết, nhất là Noel.

Ngày thường, khu vực quanh nhà thờ Đức Bà là địa điểm quen thuộc của nhiều bạn trẻ và cũng là nơi cô dâu, chú rể đến chụp ảnh cưới. Không chỉ người dân thành phố, nhà thờ Đức Bà còn là điểm tham quan của rất nhiều khách du lịch quốc tế. Mỗi ngày có hàng trăm đoàn khách nước ngoài đến tham quan, dự lễ tại thánh đường này.

Theo Tổng giáo phận TP HCM, nhìn bề ngoài công trình vẫn rất chắc chắn và vững chãi. Tuy nhiên, nhiều hạng mục của nhà thờ đã xuống cấp nặng, cần được sửa chữa. Vì vậy, Tổng giáo phận đang làm việc với các sở, ngành để lên kế hoạch đại trùng tu ngôi thánh đường này.

Để có kinh phí trùng tu, Giám mục Tổng giáo phận TP HCM Bùi Văn Đọc đã kêu gọi tu sĩ, giáo dân trong giáo phận quyên góp từ ngày đầu tháng 9 đến cuối tháng 12 năm nay.

Dấu ấn nhà thờ Đức Bà qua 135 năm




dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam


Nhà thờ Đức Bà lúc mới xây xong, năm 1880.

dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam-1


Khi đó nhà thờ chưa có hai ngọn tháp, giống nguyên mẫu nhà thờ Đức Bà Paris.

dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam-2


15 năm sau hai ngọn tháp được xây, mỗi cái cao 57,6 m. Có tổng cộng 6 chuông đồng lớn nặng 28,85 tấn. 

dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam-3


Khi hoàn thành, trên đỉnh tháp có đính một cây thánh giá cao 3,5 m; ngang 2 m; nặng 600 kg. Tổng chiều cao từ mặt đất lên đỉnh thánh giá là 60,5 m.

dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam-4


Nhà thờ Đức Bà năm 1901.

dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam-5


Năm 1922 không khác gì mấy.

dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam-6


Nhờ Đức Bà nhìn từ đường Tự Do (nay là Đồng Khởi), năm 1955. Ảnh: Life.

dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam-7


Nhà thờ Đức Bà nhìn từ trên cao năm 1955.

dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam-8


Một ngọn tháp bị sét đánh hỏng cây thánh giá năm 1964.

dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam-9


Cây thánh giá trên đỉnh tháp lớn và nặng đến 600 kg nên việc sửa chữa mất hơn một năm.

dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam-10


Năm 1968, nhà thờ nhìn từ hướng tượng Trương Vĩnh Ký (Petrus Ký) đặt ở công viên bên cạnh. Ông có nhiều công lao trong việc phát triển chữ quốc ngữ trên sách báo vào giai đoạn chữ quốc ngữ mới thịnh hành.

dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam-11


Nhà thờ Đức Bà năm 1969. Ảnh: Wayne Trucke

dau-an-nha-tho-duc-ba-qua-135-nam-12


Năm 1970.

Trung Sơn (Tổng hợp)

Share:

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

Những điều ít biết về vòng xoay Lăng Cha Cả ở Sài Gòn

Vòng xoay Lăng Cha Cả đông đúc hiện nay vốn là khu lăng mộ 2.000 m2 của giám mục người Pháp có công trong việc dựng nên triều Nguyễn.


Vòng xoay Lăng Cha Cả (phường 4, quận Tân Bình, TP HCM) là nút giao thông quan trọng của TP HCM. Đây là điểm giao cắt của các trục đường lớn như Cộng Hòa, Hoàng Văn Thụ, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Sỹ, Bùi Thị Xuân. Vòng xoay nổi bật với quả địa cầu hai màu xanh, đỏ, đường kính khoảng 2 mét.
lang-cha-ca-1-2920-1442025119.jpg
Khung cảnh khu vực Lăng Cha Cả năm 1970. Ảnh: Frederick P Fellers


Đây là khu vực duy nhất còn sót lại của khu lăng mộ rộng hơn 2.000 m2, nơi chôn cất và thờ cúng giám mục Bá Đa Lộc, người xưa gọi là "Cha Cả". Ông quốc tịch Pháp, sinh năm 1741, tên là Pierre Pigneaux. Sau khi được sắc phong linh mục năm 1765, ông qua Việt Nam truyền giáo và phò tá Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn.

Theo nhiều nghiên cứu, Nguyễn Ánh và Bá Đa Lộc có mối giao tình sâu nặng. Sau nhiều lần gom quân đánh nhà Tây Sơn thất bại, vua đầu tiên của nhà Nguyễn nhờ Bá Đa Lộc về nước cầu viện chính phủ Pháp. Để làm tin, Nguyễn Ánh còn gửi chiếc ấn và con trai Nguyễn Phúc Cảnh mới năm tuổi theo giám mục về Pháp. Một thỏa ước tiếp viện được ký kết, nhưng sau đó lại không được thực hiện nên Cha Cả tự lập lực lượng để cứu viện Nguyễn Ánh.

Trong trận vây thành Quy Nhơn – Thị Nại năm 1799, Bá Đa Lộc qua đời, ông được đưa về an táng ở gần nhà cũ thuộc thành Gia Định, nằm khu Vườn Xoài - Tân Sơn Nhất, phía Tây Bắc Sài Gòn.
lang-cha-ca-3-3966-1442025120.jpg
Vòng xoay Lăng Cha Cả hiện nay. Ảnh: Thành Long.


Do được trọng vọng, coi như bậc công thần nên Nguyễn Ánh cho xây khu lăng mộ Bá Đa Lộc bề thế. Dù ông này người Pháp nhưng kiến trúc mộ được xây lại theo kiểu truyền thống người Việt, kín như kiểu một cái đình với bình phong, nơi bái đường và hậu cung. Tổng thể Lăng Cha Cả gồm nhà lợp ngói, cột, vách bằng gỗ quý, ở trước có bia đá lớn ghi công đức của giám mục. Chính mộ là cái sập đá to, xung quanh đặt các cửa gỗ bao kín.

Theo nhà nghiên cứu Lý Nhân Phan Thứ Lang, lúc mất Bá Đa Lộc có thể được chôn cất tại Nha Trang (Khánh Hòa). Khi người Pháp vào Việt Nam, họ mang hài cốt giám mục về lăng tại Sài Gòn, năm 1925. Nhà nghiên cứu này cho rằng, việc làm lăng giả ở Gia Định là cách để ngụy trang nơi chôn cất chính để tránh kẻ thù trong thời loạn lạc.

Sang thế kỷ 20, khu vực quanh Lăng Cha Cả dần phát triển, nhà được xây cất nhiều, khu trung tâm Sài Gòn mở rộng ra ngoại vi. Gần đó, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, các bến xe dần mọc lên. Vị trí này cũng là nơi đóng đại bản doanh Bộ Tổng tham mưu của chính quyền Sài Gòn cũ nên dân cư tăng dần, đường xá được mở rộng. Khu lăng mộ vì thế bị thu hẹp lại thành điểm tròn nằm giữa đường.
Vòng xoay Lăng Cha Cả hiện nay Vòng xoay nổi bật với quả địa cầu hai màu xanh, đỏ, đường kính khoảng 2 mét.. Ảnh: S.H
Vòng xoay Lăng Cha Cả hiện nay nổi bật với quả địa cầu có kính khoảng 2 mét.. Ảnh: S.H


Sau năm 1975, lăng được giải tỏa để mở rộng lối đi, phục vụ phát triển đất nước. Đến năm 1983, việc cải táng hoàn tất, di cốt của giám mục Bá Đa Lộc được giao lại cho Tổng Lãnh sự Pháp đưa về nước. Khu lăng mộ biến mất nhường chỗ cho đường giao thông nên chỉ còn vòng xoay Lăng Cha Cả như ngày nay. Đầu năm 2013, TP HCM khánh thành cầu vượt bằng thép ở đây nhằm giải tỏa sức ép do lượng xe qua lại quá đông.

Ngoài công việc là nhà truyền giáo, theo vua Gia Long, giám mục Bá Đa Lộc còn biên soạn cuốn tự điển tiếng Việt mang tên Dictionarium Anamitico Latinum, hiện còn giữ ở Thư khố Hội Truyền giáo Ngoại quốc tại Paris (Pháp).

Lăng Cha Cả 45 năm trước 

Lăng Cha Cả được nhiếp ảnh gia người Mỹ Frederick P Fellers ghi lại năm 1970.


1.jpg


Toàn cảnh Lăng Cha Cả do nhiếp ảnh gia người Mỹ Frederick P Fellers chụp năm 1970.

2.jpg


Tuy là người Pháp nhưng lăng mộ Bá Đa Lộc mang kiến trúc Việt với mái ngói. Trụ lăng làm bằng gỗ quý.

7.jpg


Tấm bia ghi công trạng của giám mục Bá Đa Lộc đặt trước lăng.

3.jpg


Bàn thờ chính với phù điêu hình huy hiệu giám mục của Bá Đa Lộc.

5.jpg


Trong lăng có người ngày đêm canh giữ, hương khói.

4.jpg


Hành lang khu lăng mộ.

8.jpg


Bên trên mộ của Bá Đa Lộc, di cốt sau khi giải tỏa lăng được đưa về Pháp năm 1983.

Ảnh: Frederick P Fellers
 Vnexpress
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?