Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn Hứa Bổn Hòa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hứa Bổn Hòa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016

Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn

Người Sài Gòn xưa thường nói “Đi tàu Chú Hỷ, ở nhà Chú Hỏa” để chỉ hai nhân vật nổi tiếng: Chú Hỷ - “vua tàu thuyền” - có tàu chạy Lục tỉnh và Chú Hỏa - “vua nhà đất” - với gần 30.000 căn nhà phố khắp Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn. 
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VqzHt0CAZFo

 Tấm ảnh hiếm hoi còn để lại của Chú Hỏa - Ảnh tư liệu


"Chú Hỏa" (1845-1901) - theo cách gọi phổ biến - thành lập Công ty Hui Bon Hoa và các con, cực thịnh vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, có những đóng góp rất quan trọng trong việc xây dựng thành phố Sài Gòn.

Bởi vì không chỉ xây các dinh thự hoành tráng cho gia đình mình, Chú Hỏa còn xây những dãy phố, cùng hàng loạt công trình dân dụng dành cho cộng đồng như bệnh viện, chùa chiền, trường học…
Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn
Một dãy nhà thuộc dòng họ Hui Bon Hoa xây dựng ở góc đường Lê Công Kiều - Nguyễn Thái Bình (Q.1, TP.HCM) hiện vẫn còn nhiều nhà khá nguyên vẹn - Ảnh: HỒ TƯỜNG
Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn
Một dãy nhà thuộc dòng họ Hui Bon Hoa xây dựng ở góc đường Võ Văn Kiệt - Phó Đức Chính (Q.1, TP.HCM) hiện vẫn còn nhiều nhà khá nguyên vẹn - Ảnh: HỒ TƯỜNG
Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn
Dãy nhà phố một trệt một lầu đối diện Công viên Quách Thị Trang (trái ảnh) thời thuộc Pháp, phía sau ga xe buýt hiện nay do dòng họ Hui Bon hoa xây dựng (hiện đã bị giải tỏa, phá dỡ) - Ảnh tư liệu 
Kinh doanh thành công như vậy, giàu có như vậy, Chú Hỏa đã làm thế nào để từ “nước lã mà khuất nên hồ” như vậy?

Vô số giai thoại về cách làm giàu của Chú Hỏa

Câu chuyện quen thuộc nhất khi nói chuyện về những bước khởi nghiệp của Chú Hỏa khi mới từ Trung Quốc đến Sài Gòn lập nghiệp chính là chỉ từ hai bàn tay trắng với một gánh ve chai trên vai, Chú Hỏa đã tạo dựng nên sự nghiệp lừng lẫy khiến cho người đời sau luôn nhắc nhở.

Rất nhiều người kể rằng có xuất thân nghèo khổ, Chú Hỏa từng kiếm sống bằng nghề buôn bán phế liệu, trong một lần thu mua ve chai, Chú Hỏa nhặt được cả túi vàng nằm trong một chiếc ghế nệm cũ. Người khác nói rằng Chú Hỏa đã mua được bức tượng đúc đồng nhưng bên trong đầy vàng.

Người ta còn truyền miệng cho nhau rằng cuộc đời Chú Hỏa thay đổi khi chính quyền Pháp mở cuộc đấu giá thanh lý 20.000 máy truyền tin cũ, không còn giá trị sử dụng. Chú Hỏa đã mua lại số hàng này, và nhờ vào kinh nghiệm nhiều năm buôn phế liệu, ông đã phân loại thành công được vàng từ những máy truyền tin tưởng chừng vô giá trị.

Còn theo một số người khác, khi lê la hầu như khắp Sài Gòn - Chợ Lớn để thu mua những thứ bỏ đi của thiên hạ, Chú Hỏa đã mua trúng đồ cổ, nhờ thạo chữ Hán nên biết trong đám đồ người ta vứt ra có đồ cổ từ thời Nguyên, đời Thanh, thậm chí từ đời Hán. Do đó, từ nghề mua ve chai này, ông tạo lập được gia sản đầu tiên khi mua rẻ, bán đắt những món đồ cổ từ thời xa xưa.

Nhiều người đã tỏ ra rành rẽ hơn, kể rằng lúc đầu Chú Hỏa sống với nghề mua bán "lạc xoong", mua đồ cũ để chế biến và bán lại. Sau khi tạo được một số vốn, Chú Hỏa đã hùn hạp với một người Pháp thầu khuếch trương các tiệm cầm đồ trong Nam kỳ và mua đất cất nhà bán hoặc cho thuê...

Sau khi rã hùn, Chú Hỏa đã được chia một số tiền lớn, làm chủ các sản nghiệp đất cát khắp miền Lục tỉnh, nhiều nhất là ở Sài Gòn, Chợ Lớn...

Ảnh hưởng niềm tin tâm linh khá phổ biến trong giới người Hoa xưa nay, một giai thoại nữa cho rằng Chú Hỏa rất rành về phong thủy nên đã an táng mộ cha của ông đúng long mạch, cho nên nhờ vậy mà làm ăn trở nên phát đạt nhanh chóng.

Số người khác cho rằng Chú Hỏa vốn dòng dõi nhà Minh, do ly loạn nên tạm chôn giấu của cải để lánh thân, về sau Chú Hỏa trở lại quê nhà ở Trung Quốc, đào số của cải gia bảo ấy lên, mang sang Việt Nam làm vốn hùn hạp làm ăn với người Pháp rồi dần dà phát đạt.

Các giai thoại trên đều mang tính chất mơ hồ nhưng hầu như giai thoại nào cũng đề cập đến sự cần mẫn làm ăn, chịu khó, biết sử dụng lợi thế của bản thân mình trong quá trình kinh doanh, biết tích lũy vốn và khuếch trương công việc làm ăn ngày càng to lớn.

Trong suốt quá trình kinh doanh, Chú Hỏa còn luôn biết chia sẻ với cộng đồng cũng như giới cầm quyền đương thời qua việc hiến tặng hàng loạt công trình phúc lợi xã hội mà chức năng vẫn tồn tại đến tận ngày nay, như: Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn, Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, Trường THCS Minh Đức (quận 1), Bệnh viện Nguyễn Trãi (quận 5)…
Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn
Maternité Indochinoise (Bảo sanh viện Đông Dương, nay là Bệnh viện Từ Dũ) xây dựng trên miếng đất do dòng họ Hui Bon Hoa tặng và xây dựng; diện tích 19.123m2 trên đường Arras (nay là đường Cống Quỳnh, Q.1, TP. HCM). Kiến trúc tòa nhà hiện vẫn khá nguyên vẹn sau 79 năm (1937-2016). Con đường phía trước hiện nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, hàng cây nhỏ trên đường giờ đã thành cổ thụ - Ảnh tư liệu
Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn
Chùa Phụng Sơn trên đường Nguyễn Công Trứ (Q.1, TP.HCM) do dòng họ Hui Bon Hoa phụng cúng - Ảnh: HỒ TƯỜNG
Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn
Khách sạn Majestic do dòng họ Hui bon Hoa xây dựng và tặng TP Sài Gòn thời thuộc Pháp - Ảnh tư liệu 

Con cháu Chú Hỏa kể chuyện làm giàu của cha ông

Bài viết “Sự thật về Hui Bon Hoa và Chú Hỏa” của tác giả Chen Bickun với những tư liệu được cung cấp từ dòng dõi của Hui Bon Hoa đang sinh sống ở Paris (Pháp) cho biết về sự thật con đường làm giàu của Chú Hỏa như một chuyện cổ tích.

“Tuy làm giàu cho họ đã đành, nhưng cũng giúp ích rất nhiều cho sự mở mang thạnh vượng kinh tế miền Nam” - Vương Hồng Sển - Sài Gòn Năm Xưa, Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1969) 
Nguyên lúc mới sang Việt Nam, Chú Hỏa đã làm việc với một chủ người Pháp. Tính siêng năng và tốt bụng của Chú Hỏa đã khiến cho ông chủ Pháp thương và giúp vốn để Chú Hỏa mở tiệm cầm đồ để khởi nghiệp kinh doanh.

Tiệm cầm đồ đầu tiên của Chú Hỏa là căn nhà nằm ở góc đường Phó Đức Chính và Nguyễn Thái Bình ngày nay, còn văn phòng làm việc cho ông chủ người Pháp của ông ở trước cửa tiệm bên kia đường, trên một khu đất vẫn còn trống.

Chính khu đất trống này Chú Hỏa đã mua và xây ba căn sát nhau trên đường Phó Đức Chính, mỗi căn dành cho một người con trai.

Căn giữa đặt bàn thờ tổ tiên, Chú Hỏa giao cho người con trai lớn, còn hai căn nhà hai bên giao cho hai đứa con trai còn lại.

Ba căn nhà này về sau đã được các người con của Chú Hỏa xây dựng lại trở thành ba tòa nhà nguy nga, được dân gian xưa nay vẫn gọi là nhà Chú Hỏa, nay cả ba tòa nhà này đều được sử dụng làm Bảo tàng Mỹ thuật (97 Phó Đức Chính, P.Nguyễn Thái Bình, Q.1, TP.HCM).

Mở tiệm cầm đồ một thời gian, tích lũy được một số tiền, Chú Hỏa đổ vào ngành bất động sản bằng cách mua trước những khu đất sắp quy hoạch, chẳng hạn như ông đã mua toàn bộ vùng đất gần tiệm cầm đồ của mình vốn là vũng lầy bao quanh địa điểm mà người Pháp dự định xây chợ Bến Thành mới (tức chợ Bến Thành ngày nay).

Để thuận lợi cho việc kinh doanh, Chú Hỏa đổi tên thành Jean Baptiste Hui Bon Hoa khi trở nên giàu có.

Thành lập Công ty bất động sản Hui Bon Hoa sở hữu gần 30.000 căn nhà ở Sài Gòn (có tư liệu cho là 22.000 căn nhà). Các công trình nhà ở này đóng góp một vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ mặt thành phố Sài Gòn những năm cuối thế kỷ 19.

Với Công ty Hui Bon Hoa, Chú Hỏa nổi tiếng về sự giàu có ở Đông Dương khiến nhà cầm quyền Pháp phải kính nể.

Chú Hỏa tên Huỳnh Văn Hoa chứ không phải Hứa Bổn Hòa

Năm 1960, Vương Hồng Sển viết trong "Sài Gòn năm xưa" về Chú Hỏa: “Hui Bon Hoa, tục danh “Chú Hỏa”, mặc dầu về sau danh vọng lớn, địa vị cao, cũng không ai gọi “Ông Hỏa” bao giờ. Sớm nhập tịch Pháp nên ký âm theo Pháp ngữ làm vậy rồi gọi như vậy cho đến đời đời, không rõ theo Hán tự hà danh hà tánh?”. Nói khác đi, vào năm 1960, Vương Hồng Sển vẫn chưa rõ họ tên thật của Chú Hỏa.

Nhiều tài liệu cho rằng tên của Chú Hỏa - Hui Bon Hoa là Hứa Bổn Hòa. Có tài liệu còn khẳng định rằng: “Hiện nay, tại tòa nhà tiêu biểu của “Chú Hỏa” - nơi đang là Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM (số 97 Phó Đức Chính), ở tấm biển inox ghi lược sử tòa nhà đặt trang trọng ngay lối đi bên trái cửa chính viết: “Hui Bon Hoa tên thật là Hứa Bổn Hòa”.

Tháng 7-2006, những thành viên trong dòng họ Hui Bon Hoa từ Pháp về Việt Nam, ghé thăm nhà Chú Hỏa, ngôi nhà lừng lẫy của dòng họ này là Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM. Một thành viên trong đoàn tên Eddie Hui-Bon-Hoa (đã theo gia đình sang Pháp khi còn trong bụng mẹ) đã hé lộ tên họ thật và phần nào cuộc đời Chú Hỏa.

Gần đây hơn, năm 2014, trên trang blog “Tây Cống cố sự quán” (Căn nhà ghi chuyện cũ ở Sài Gòn), tác giả Chen Bickun công bố bài viết bằng tiếng Anh: “The True Story of Hui Bon Hoa and “Uncle Hoa’s Mansion” (Sự thật về Hui Bon Hoa và Chú Hỏa) dựa vào tư liệu do chính dòng họ Hui Bon Hoa đang sinh sống ở Paris (Pháp) cung cấp.

Theo đó, Chú Hỏa (1845-1901) tên thật là Huỳnh Văn Hoa (Huáng Wéng Húa,黄文華), vốn người làng Văn Tang, thuộc Gia Hòa Sơn, huyện Tư Minh, tỉnh Phước Kiến, nay thuộc khu vực Hạ Môn, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc.

Ông sang VN khoảng năm 1863. Sở dĩ Chú Hỏa được gọi với tên là Hui Bon Hoa vì khi nhập quốc tịch Pháp, ông vốn là tín đồ đạo Công giáo nên đã lấy tên Pháp là Jean Baptiste Hui Bon Hoa. Trong đó, Hui Bon Hoa chính là tên Huỳnh Văn Hoa của ông được ký âm theo phương ngữ Phước Kiến.

(Về sau, các con cháu của ông đều mang họ Hui Bon Hoa nhưng chỉ khác tên Pháp đứng đầu).
Năm 1901, Chú Hỏa về thăm Trung Quốc, nhưng ông đã đột ngột qua đời và được chôn cất ngay tại quê hương, hưởng dương 56 tuổi.

Như vậy, Hui Bon Hoa là cách phiên âm từ tên gốc Hán theo âm Hạ Môn (Trung Quốc) có ảnh hưởng bởi cách phiên âm của người Anh vào cuối thế kỷ 19.

Còn Hứa Bổn Hòa có lẽ là cách đoán... mò của một số người khi thấy chữ Hui Bon Hoa mà không thấy mặt chữ Hán.

HỒ TƯỜNG- Tuổi Trẻ
Share:

Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa

Nhiều người nói Chú Hỏa có hơn chục người con, hầu hết được cho đi du học tại các nước lớn như Anh, Pháp, Đức, Nhật… Sự thật như thế nào?
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vqy-1UCAZFo
Các tài liệu được dòng họ Hui Bon Hoa ở Pháp cung cấp cho hai tác giả Chen Bickun (trong bài viết tiếng Anh tựa đề là “Sự thật về Hui Bon Hoa và Chú Hỏa”) và Michel Dolinski (trong bài viết tiếng Pháp tựa đề là “Sự hữu dụng của một anh hùng Trung Hoa tại Việt Nam”) thì Chú Hỏa chỉ có ba người con trai.

Ba người con cự phách của Chú Hỏa làm rạng danh dòng họ Hui Bon Hoa

Các con của Chú Hỏa có tên tiếng Trung Quốc dĩ nhiên theo họ Huỳnh của cha, chữ lót là Trọng, nhưng tên tiếng Pháp của họ đều lấy cụm từ Hui Bon Hoa đứng sau là họ theo người phương Tây.

Do đó, ba người con trai của Chú Hỏa lần lượt là Huỳnh Trọng Huấn (Tang Huon Hui Bon Hoa), Huỳnh Trọng Tán (Tang Chanh Hui Bon Hoa) và Huỳnh Trọng Bình (Tang Phien Hui Bon Hoa).

Theo học giả Nguyễn Triệu (trong bài viết “Những Hoa kiều giàu nhất Việt Nam: Hui Bon Hoa (1845-1901) đăng trên tạp chí Văn Hóa Nguyệt San số 61, SG 1961) thì vào thời điểm năm 1961, ông Huỳnh Trọng Huấn và Huỳnh Trọng Tán đã mất từ lâu, mộ phần táng ở Biên Hòa, ngang núi Châu Thới, còn ông Huỳnh Trọng Bình lúc đó nếu còn sống đã 69 tuổi, như vậy ông Huỳnh Trọng Bình sinh vào năm 1892.

Con trai trưởng của Chú Hỏa là Huỳnh Trọng Huấn (Tang Huon Hui Bon Hoa) sinh năm 1876, lớn lên ở Hạ Môn (Phúc Kiến, Trung Quốc). Ông này đã theo cha đến Việt Nam khoảng năm 1896, lập gia đình và sống tại Sài Gòn để hỗ trợ cha mình trong việc điều hành công ty bất động sản “Cha con Hui Bon Hoa”.

Thập niên 1910, ông trở lại ở Phúc Kiến (Trung Quốc) mở Công ty địa ốc Huỳnh Vinh Viễn Đường. Khu nhà trụ sở công ty này ngày nay là một trong 10 di tích kiến trúc danh tiếng ở đảo Cổ Lãng, năm 2002 được liệt hạng di tích lịch sử kiến trúc trọng điểm của thành phố Hạ Môn, vừa là trường biểu diễn nghệ thuật, vừa là địa chỉ du lịch, phong cách xây dựng gần giống tòa nhà của ông ở Sài Gòn, nay là Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.

Huỳnh Trọng Huấn qua đời năm 1934, chôn cất ở khu vực dân gian thường gọi là “Mộ Chú Hỏa” ở P.Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương ngày nay.

Người con trai thứ của Chú Hỏa là Huỳnh Trọng Tán (Thang Chanh Hui Bon Hoa) sinh năm 1877 tại Tuyền Châu (Phúc Kiến, Trung Quốc).

Sau khi lập gia đình ở quê hương, ông này cũng theo Chú Hỏa đến Sài Gòn để hỗ trợ cha mình. Dưới sự quản lý của ông, nhiều thửa đất ở Sài Gòn, Chợ Lớn được mua khi giá đất còn thấp, một mặt xây nhà để bán và cho thuê nhà, một mặt mua bán đất đai. Hui trở thành một trong những gia đình giàu có nhất trong thành phố.

Huỳnh Trọng Tán  sống ở Sài Gòn và qua đời cùng năm với anh mình: năm 1934.

Sau cái chết của hai anh trai năm 1934, người con trai út của Chú Hỏa là Huỳnh Trọng Bình (Thang Phien Hui Ban Hoa) tiếp tục quản lý công việc gia đình và qua đời năm 1951.

Đời cháu chắt dòng họ Hui Bon Hoa tiếp nối cha ông

Sau khi ông mất, thế hệ con cháu của dòng họ Hui Bon Hoa đã kế tục quản lý và phát triển sự nghiệp kinh doanh của ông bà, cha mẹ để lại.

Học giả Vương Hồng Sển: “Đến nay (1960) các con cháu luôn luôn hòa thuận, gia tài giữ nguyên vẹn, không chia phần manh mún, chỉ cùng nhau chia lợi tức, và mỗi khi cần dùng một số tiền to tát thì người trong họ phải xin chữ ký của người trưởng huynh, khi ấy ngân hàng mới phát bạc (nay gọi là giải ngân)” (Sài Gòn năm xưa - SG,  1960).

Từ năm 1951, các thành viên gia đình và con cái của dòng họ Hui Bon Hoa đã dần dần chuyển sang các nước khác: Pháp, Mỹ… Trước ngày 30-4-1975, tất cả thành viên của dòng họ Hui Bon Hoa đã rời Việt Nam.

Tuy kể tách bạch từng người con của Chú Hỏa như vậy, nhưng trên thực tế công việc kinh doanh của Công ty “Hui Bon Hoa, cha và các con” thì luôn có sự gắn kết chặt chẽ giữa những thành viên trong dòng họ.

Ngay sau khi Chú Hỏa tạ thế (1901), các con Chú Hỏa đã sáp nhập Công ty Hui Bon Hoa của cha mình để lại với Louis Ogliatro (một người Pháp ở đảo Corse) mang tên Công ty liên doanh Ogliastro-Hui Bon Hoa quản lý các tiệm cầm đồ ở Sài Gòn.

Lĩnh vực chính của công ty liên doanh này kinh doanh cầm đồ và bất động sản. Đến năm 1919, công ty liên doanh này quản lý 25 nhà thuốc trên toàn Đông Dương, trong đó có 6 nhà thuốc ở Sài Gòn.

Trong những năm 1920, gia đình Hui Bon Hoa đã xây dựng mới ba tòa nhà nguy nga ngay trên phần đất khởi nghiệp của Chú Hỏa được bao quanh bởi các con đường: Alsace-Lorraine (nay là Phó Đức Chính), Bác sĩ Calmette, d'Ayot (nay là Nguyễn Thái Bình) và Hamelin (nay là Lê Thị Hồng Gấm, P.Nguyễn Thái Bình, Q.1, TP.HCM).

1925, Tổng công ty bất động sản Hui Bon Hoa được thành lập để quản lý gần 30.000 căn nhà phố khắp Sài Gòn – Chợ Lớn và đặt trụ sở tại tòa nhà chính giữa mang tên chữ Hoa là “Huỳnh Vinh Viễn Đường” trong 3 tòa nhà vừa xây dựng xong, tên giống với tên công ty địa ốc mà Huỳnh Trọng Huấn đã lập ở Hạ Môn (Phúc Kiến, Trung Quốc) năm 1910.

Từ đó, người ta gọi luôn 3 tòa nhà là “Nhà Chú Hỏa”. và con đường chạy ngang qua trước cửa của tòa nhà là đường Alsace Lorraine là đường Chú Hỏa.

Xã Nessa, đảo Corse (Pháp) hiện nay cũng có một con đường mang tên Hui Bon Hoa, do dòng ho Hui Bon Hoa đã tặng cho dân làng khu vực này 25.000 fr để làm con đường này (ảnh tư liệu). 
Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa
Chỉ riêng ngành bất động sản với những công trình xây dựng lớn còn tồn tại trong đời sống xã hội cũng như văn hóa của thành phố Sài Gòn mà Chú Hỏa và các con cháu của ông đã chọn làm nơi ngụ cư, xem như quê hương thứ hai của mình cho đến ngày khuất bóng.
Bên cạnh đó, các thế hệ con cháu trong dòng họ Hui Bon Hoa cũng nối tiếp con đường của cha ông mình.

Họ tổ chức nuôi cơm những người vô gia cư và xây dựng các công trình công cộng góp phần xây dựng các công trình giúp ích cho cộng đồng.

Đó là Phước Thiện Y Viện năm 1909 (nay là Bệnh viện Nguyễn Trãi), Chẩn Y Viện năm 1937 (nay là Bệnh viện đa khoa Sài Gòn), Bệnh viện Maternité Indochinoise năm 1937 (tên Việt là Bảo sanh viện Đông Dương, nay là Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ), chùa Phụng Sơn (1949), chùa Kỳ Viên (1949-1952), Thành Chí học hiệu, nay là (Trường THCS Minh Đức) …
Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa
Thành Chí học hiệu, nay là (Trường THCS Minh Đức, Q.1, TP.HCM) do dòng họ Hui Bon hoa xây dựng khi Chú Hỏa mất đã lâu - Ảnh: HỒ TƯỜNG
Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa
Maternité Indochinoise (Bảo sanh viện Đông Dương, nay là Bệnh viện Từ Dũ) xây dựng trên miếng đất do dòng họ Hui Bon Hoa tặng và xây dựng trên đường Arras (nay là đường Cống Quỳnh, Q.1, TP. HCM). tòa nhà xây dựng 1937, tức 36 năm sau khi Chú Hỏa qua đời (1901), hai người con trai đầu cũng qua đời (1934), chỉ còn con trai út (mất 1951) - Ảnh tư liệu
Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa
Bệnh viện đa khoa Sài Gòn (Q.1, TP.HCM) do người con út dòng họ Hui Bon Hoa xây dựng và hiến tặng thành phố Sài Gòn năm 1937 - Ảnh: HỒ TƯỜNG  

Tổng công ty Hui Bon Hoa còn xây nhiều trụ sở ngân hàng ở Sài Gòn – Chợ Lớn, khách sạn Palace Long Hải (nay thuộc Bà Rịa Vũng Tàu)…

Khách sạn Majestic nằm ở đầu đường Đồng Khởi do Tổng công ty Hui Bon Hoa xây dựng năm 1925, gồm 3 tầng với 44 phòng, trang bị máy điều hòa không khí đầu tiên ở Đông Dương.Tổng công ty bất động sản Hui Bon Hoa đã góp phần tạo nên diện mạo của “Sài Gòn – hòn ngọc Viễn Đông” với những dãy nhà phố nằm dọc theo mặt tiền của các con đường ở khu trung tâm mà nay là các đường Đồng Khởi, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hàm Nghi và nhiều khu vực khác khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và nhiều tỉnh ở Nam kỳ.
Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa
Khách sạn Majestic xây dựng năm 1925, khi Chú Hỏa đã qua đời 24 năm - Ảnh tư liệu
Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa
... và hiện nay, ở đầu đường Đồng Khởi (Q.1, TP.HCM) - Ảnh: HỒ TƯỜNG

- Năm 1865, ở tuổi 20, Huang Wen Hua di cư và đến Sài Gòn, xin vào làm  việc tại một hiệu cầm đồ mang tên Ogliastrocủa một người Pháp làm chủ: Louis Ogliastro.

- Năm 1887, ở tuổi 42, Huang Wen Hua xin vô quốc tịch Pháp, lấy tên là Jean Baptiste Hui Bon Hoa.

- Năm 1896, Chú Hỏa thành lập công ty bất động sản mang tên “Hui Bon Hoa và các con”, chuyên mua bán nhiều thửa đất ở Sài Gòn, Chợ Lớn cũng như nhiều nơi ở Nam kỳ. Danh tiếng Chú Hỏa lừng lẫy khắp Đông Dương. Các con của ông được du học và làm việc ở nước ngoài.

- Năm 1901, Chú Hỏa trở về Trung Quốc với vợ và mất ở đây, được chôn cất tại Tuyền Châu ở tỉnh Phúc Kiến.

Chính quyền Pháp lúc ấy đặt tên Hui Bon Hoa cho một con đường lớn chạy qua khu đất rộng lớn của ông, đến tháng 3-1955 con đường này đổi thành đường Lý Thái Tổ, địa giới quận 3 và quận 10 cho đến nay.
Đón đọc kỳ tới: Nhà chú Hỏa, "tòa nhà sang trọng bậc nhất Sài Gòn (1933)", được Tổng thống Mỹ Bill Clinton chọn khi thăm Việt Nam 
HỒ TƯỜNG - Tuổi Trẻ
 
Xem thêm:
Share:

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

4 phú hộ lừng danh đất Sài Gòn giàu cỡ nào?


Vào cuối thế kỷ 19, đất Sài Gòn - Chợ Lớn nổi lên bốn vị trọc phú có gia sản kếch xù, được mệnh danh là “Tứ đại phú hộ” mà tiếng tăm còn truyền lại đến bây giờ qua câu nói dân gian “Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Định”.
 
Huyện Sỹ - Lê Phát Đạt: Giàu hơn vua Bảo Đại

Nhân vật số một của Tứ đại phú hộ là Huyện Sỹ (1841 – 1900), người có tên khai sinh là Lê Nhứt Sỹ, sinh ra tại Sài Gòn trong một gia đình theo đạo Công giáo. Từ nhỏ ông đã được các tu sỹ người Pháp đưa đi du học ở Malaysia. Tại đây, ông đổi tên thành Lê Phát Đạt do tên cũ của ông trùng với tên một người thầy dạy.


Sau khi về nước, ông được Chính phủ Pháp bổ nhiệm làm thông ngôn, từ năm 1880 làm Ủy viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ. Dù đã đổi tên nhưng người quen vẫn gọi ông bằng tên cúng cơm, vì vậy mà cái tên Huyện Sỹ đã gắn bó với số phận của ông.


Sự giàu có nhanh chóng của Huyện Sỹ - Lê Phát Đạt bắt đầu từ một việc trớ trêu. Khi người Pháp chiếm Nam Kỳ, dân cư tản mát, nhiều ruộng đất trở nên vô chủ, bán rẻ mạt mà không ai mua. Chính quyền thuộc địa ép Lê Phát Đạt, khiến ông bất đắc dĩ phải đi vay mượn mà mua liều. Không ngờ ruộng của ông trúng mùa liên tiếp mấy năm liền, khiến ông bỗng chốc phát tài. Dù nhiều tiền của nhưng ông không tiêu xài phung phí mà còn dạy người nhà thói cần kiệm.
 Nhà thờ Huyện Sỹ

Là người mộ đạo, ông đã dùng gia sản khổng lồ của mình để xây các nhà thờ bề thế ở Sài Gòn, là nhà thờ Huyện Sỹ và nhà thờ Chí Hòa ngày nay. Người con trai của ông là kỹ sư Lê Phát Thanh cũng bỏ tiền ra xây nhà thờ Hạnh Thông Tây, nay thuộc quận Gò Vấp của TP HCM.

Các con cái của Huyện Sỹ đều là những đại điền chủ sở hữu vô số đất đai ở Nam Kỳ lục tỉnh, nhận nhiều bổng lộc từ triều đình nhà Nguyễn dù không phải người hoàng tộc. Sau này, một người cháu ngoại của Huyện Sỹ là Nguyễn Hữu Thị Lan đã trở thành hôn thê của vua Bảo Đại, được biết đến với danh xưng Nam Phương hoàng hậu. Mức độ giàu có của gia tộc Huyện Sỹ được đồn thổi là lớn hơn rất nhiều lần so với vua Bảo Đại.


Sự giàu có của Huyện Sỹ ngày nay còn được thể hiện một cách rõ nét qua các công trình xây dựng mà ông để lại. Nổi bật số đó là nhà thờ Huyện Sỹ, công trình mà ông đã hiến 1/7 tài sản cá nhân để xây dựng. Nhà được khởi công xây dựng từ năm 1902 và đến năm 1905 hoàn thành theo thiết kế của linh mục Bouttier, tiêu tốn khoảng 30 ngàn đồng bạc Đông Dương thời bấy giờ.



Huyện Sỹ - Lê Phát Đạt qua đời năm 1900, trước khi ngôi nhà thờ tâm huyết của ông được xây dựng. Sai khi vợ của ông là bà Huỳnh Thị Tài mất năm 1920, con cháu đã đưa thi hài hai ông bà về chôn ở gian chái sau cung thánh của nhà thờ Huyện Sỹ. Nơi đây cũng đặt tượng của ông cùng vợ và các con.
Ngày nay, nhà thờ Huyện Sỹ là một điểm đến thu hút khách du lịch, đặc biệt là đối với những ai muốn tìm hiểu về cuộc đời của đại gia giàu có bậc nhất Sài Gòn thời xưa.


Đỗ Hữu Phương: Tiến thân nhờ theo Pháp


Đỗ Hữu Phương (1841 - 1914), nhân vật số hai trong “Tứ đại phú hộ” sinh tại Sài Gòn, là con của Bá hộ Khiêm – một người giàu có của đất Nam Kỳ lúc đó. Ông được đánh giá là người rất khôn ngoan, có sự nghiệp gắn với chính quyền bộ máy thực dân Pháp.

Năm 1859, khi quân Pháp tiến đánh Gia Định, Đỗ Hữu Phương lui về Bà Điểm, Hóc Môn lánh thân và chờ thời. Năm 1861, ông được nhận làm cộng sự của người Pháp với sự giới thiệu của cai tổng Đỗ Kiến Phước. Sài Gòn Chợ Lớn thời đó chia làm 20 hộ. Đỗ Hữu Phương được chính quyền cho làm hộ trưởng, từ đó lần lượt leo lên nhiều chức vụ khác nhau.
Đỗ Hữu Phương (1841-1914).

Từ năm 1866 - 1868, Đỗ Hữu Phương chỉ huy hoạt động do thám phong trào chống đối Pháp và tham gia dẹp nhiều cuộc khởi nghĩa ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn và lân cận. So với những tay sai khác của Pháp, ông tỏ ra khéo léo và mềm mỏng, chủ trương tránh gây đổ máu, chuốc thù oán. Bằng sự khôn khéo của mình, ông đã thuyết phục nhiều nhân vật nổi dậy quy hàng, đồng thời xin chính phủ Pháp ân xá cho họ.

Dù vậy, Đỗ Hữu Phương tỏ ra rất không thương xót với những người nổi loạn cứng rắn. Ông đã thẳng tay trừng trị Thủ khoa Huân (Đỗ Hữu Huân) - một trong những bạn hồi thơ ấu, khi bị nhà lãnh đạo khởi nghĩa này bội tín. Bản thân Đỗ Hữu Phương đã có lần suýt chết vì sự chống trả của quân khởi nghĩa.


Với các công trạng của mình, Đỗ Hữu Phương tiếp tục thăng tiến. Đến năm 1872, ông trở thành hội viên Hội đồng thành phố Chợ Lớn và năm 1879 làm phụ tá Xã Tây Chợ Lớn cho Antony Landes.

Tận dụng chức vụ này, Đỗ Hữu Phương thường ngầm làm trung gian để giới thương gia người Hoa hối lộ cho các viên chức Pháp và bỏ túi những lợi nhuận khổng lồ. Ông giàu lên nhanh chóng, uy thế lớn đến mức quan Toàn quyền Paul Doumer cũng biết tiếng và ghé thăm. Lợi dụng cái bóng của Paul Doumer, ông thâu tóm được một diện tích đất ruộng lên đến 2.223 mẫu.


Trên đường quan lộ, Đỗ Hữu Phương vẫn thăng tiến như diều gặp gió, được thưởng tam đẳng bội tinh, thăng Tổng đốc hàm và nhận được nhiều ưu đãi khác. Năm 1881, ông gia nhập quốc tịch Pháp, các con đều được đưa sang Pháp du học.


Ông được người Pháp ca ngợi rằng: “Phương tích cực phục vụ cho sự nghiệp của nước Pháp, không chỉ với khả năng quân sự mà còn với sự hiểu biết tường tận về xứ này, đặc biệt là Chợ Lớn”. Trên thực tế, Đỗ Hữu Phương là một trong những tay sai đắc lực nhất cho các sĩ quan Pháp trong việc bình định xứ Nam Kỳ.


Ðỗ Hữu Phương mất năm 1914. Đám tang của ông được tổ chức rất trọng thể. Thi hài của ông được quàn nửa tháng mới chôn, mỗi ngày đón hàng trăm lượt khách viếng. Trâu, bò, lợn, gà được mổ liên miên để cúng và đãi khách.


Bá hộ Xường: Đại gia ngành thực phẩm

Bá hộ Xường (1842 – 1896) tên thật là Lý Tường Quan, tên tự là Phước Trai, là nhân vật thứ ba trong Tứ đại phú hộ đất Sài Gòn.



Cuộc đời và sự nghiệp của Bá hộ Xường - Lý Tường Quan được ghi chép lại rất ít, hầu hết chỉ còn lưu lại trong những giai thoại. Theo đó, Lý Tường Quan là người Minh Hương (Hoa Kiều trung thành với nhà Minh) chống lại nhà Thanh nên đến lánh nạn ở miền Nam Việt Nam.

Thông thạo cả tiếng Hoa lẫn tiếng Pháp, Lý Tường Quan trở thành thông ngôn cho Pháp và được chính quyền thực dân tin tưởng, trọng dụng.


Tuy vậy, địa vị mà nghề thông ngôn mang lại không làm Lý Tường Quan thỏa mãn. Khoảng năm 30 tuổi, ông bỏ nghề này và nhảy vào thương trường.


Lĩnh vực mà Lý Tường Quan nhắm đến là cung cấp lương thực, thực phẩm cho Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Biết tranh thủ thời cơ khan hiếm hàng hóa, lại giỏi lấy lòng quan Tây để được che chở, nâng đỡ, ông nhanh chóng trở thành đại gia số một trong lĩnh vực lương thực - thực phẩm lúc bấy giờ. Do Tường Quan còn có tên khác là Xường, lại rất giàu có, nên người dân thường gọi ông là Bá hộ Xường.


Với lợi nhận từ việc kinh doanh thịt cá, Bá hộ Xường bắt đầu mua đất xây cất biệt thự tại vùng Chợ Lớn để cho thuê và bán, gia sản lại càng được mở rộng.


Dinh thự của Bá hộ Xường rất bề thế, ngày nay tọa lạc trên đường Hải Thượng Lãn Ông, được nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố.


Một công trình khác ông để lại là khu nhà mồ cổ xây dựng năm 1896, hiện thuộc địa phận quận Tân Bình, TP HCM. Toàn bộ công trình tuy không đồ sộ nhưng rất khoáng đạt và tinh tế, là sự kết hợp của lối kiến trúc gôtich với phong cách Á Đông.


Bá hộ Xường qua đời năm 1896. Sau khi ông mất, hầu hết tài sản bị con cháu ăn xài, tiêu phí hết.


Bá hộ Định và các “ứng viên” khác

Trong câu truyền miệng trong dân gian “Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Định”, nếu ba vị trí đầu tiên của Tứ đại phú hộ được phân định rõ ràng thì vị trí thứ tư lại có nhiều “phiên bản” khác nhau. Đôi khi “Tứ Định” được thay thế bằng Tứ Hỏa, Tứ Trạch hoặc Tứ Bưởi.


“Tứ Định” ở đây chính là bá hộ Định, một thương gia có tên thật là Trần Hữu Định. Ông vốn là chủ tiệm cầm đồ rồi được chính quyền Pháp cho làm Hộ trưởng kinh doanh đất đai, xuất nhập khẩu vải sợi, phất lên thành đại gia nhờ biết nắm thời cơ những lúc hàng khan hiếm, tương tự như bá hộ Xường. Và cũng giống bá hộ Xường, sau khi bá hộ Định mất, gia sản của ông bị con cháu tàn phá tan hoang.


Trong vị trí thứ tư của Tứ đại phú hộ, “Tứ Hỏa”, thường được gọi là Chú Hỏa, là nhân vật gắn với nhiều giai thoại về sự giàu có.


Chú Hỏa (1845-1901) có tên thật là Hứa Bổn Hòa, có tổ tiên là người Hoa ở Phúc Kiến chống chính quyền mãn Thanh nên di cư sang Việt Nam. Vốn là người nhặt ve chai, Chú Hỏa đã trở nên giàu có một cách lạ kỳ.


Thiên hạ đồn rằng, khi đi nhặt ve chai Chú Hỏa đã nhặt được cả túi vàng nằm trong một chiếc ghế nệm cũ và dùng số vàng đó làm ăn rồi giàu lên nhanh chóng. Các phiên bản khác của giai thoại này thay túi vằng bằng bức tượng đúc đồng nhưng bên trong đầy vàng, hoặc những thứ đồ cực kỳ quý hiếm trong những món đồ vứt đi. 
 Khách sạn Majestic được chú Hoả xây dựng.
Rồi có cả những giai thoại cho rằng chú Hỏa an táng mộ cha đúng long mạch nên làm ăn phát đạt hay thừa hưởng cả một kho báu của nhà Minh để lại. Những giả thiết có phần thực tế hơn cho rằng Hỏa đã tích cóp để trở thành chủ đại lý ve chai, hoặc được một ông chủ người Pháp thương tình giúp đỡ, từ đó có vốn liếng để làm ăn.

Dù sự thật như thế nào thì Chú Hỏa đã chứng tỏ được mình là một nhà kinh doanh có tài. Ông là chủ nhân của công ty bất động sản Hui Bon Hoa, từng sở hữu trên 20.000 căn nhà ở Sài Gòn.


Công ty của Chú Hỏa đã xây dựng nhiều công trình có giá trị, còn tồn tại đến nay như Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM, Khách sạn Majestic, Bệnh viện Từ Dũ, Trung tâm cấp cứu Sài Gòn, khu nhà khách Chính phủ v..v.


Ngoài ra, “Tứ Trạch” trong Tứ đại phú hộ là Trần Trinh Trạch (1872-1942). Tương truyền, ông xuất thân nhà nghèo, đi làm mướn cho một điền chủ nhập tịch Pháp nên có vốn chữ nghĩa tiếng Pháp. Sau này, ông đi làm viên chức cho tòa hành chính tỉnh Bạc Liêu. Nhờ vốn kiến thức về luật pháp mà ông giàu lên nhờ thu mua tài sản điền địa của các địa chủ thất vận.

Trần Trinh Trạch được xem là một trong những đồng sáng lập Ngân hàng Việt Nam năm 1927- ngân hàng đầu tiên do chính người Việt Nam sáng lập và điều hành, trụ sở đặt tại Sài Gòn.


Người con trai thứ ba của ông chính là Công tử Bạc Liêu, một cậu ấm ăn chơi khét tiếng cả Nam Kỳ.

“Tứ Bưởi” trong Tứ đại phú hộ chính là Bạch Thái Bưởi, người được xem là nhà tư sản dân tộc tiêu biểu thời cận đại trong lịch sử Việt Nam

(Theo Kiến Thức) 

>> Huyền thoại chú Hỏa: Tỷ phú 20 ngàn nhà mặt phố Sài Gòn
>> Tỷ phú Việt giàu nhất thế kỷ 20, không có tên đại gia thời nay
>> Bạch Thái Bưởi - Chúa sông Bắc kỳ
 
Share:

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

Tỷ phú Việt giàu nhất thế kỷ 20, không có tên đại gia thời nay

Ông chủ thương hiệu xà bông Cô Ba, vua đường thủy Bạch Thái Bưởi, ông tổ nghề sơn Nguyễn Sơn Hà... là những doanh nhân Việt giàu có tiêu biểu trong những năm đầu thế kỷ 20.

Doanh nhân Trương Văn Bền

Một trong những doanh nhân nổi danh nhất thương trường Việt Nam vào những năm 1930 là ông Trương Văn Bền, chủ sở hữu thương hiệu xà bông Cô Ba nức tiếng một thời. Khi ấy, hình ảnh bánh xà bông in hình người phụ nữ Việt đẹp phúc hậu trở thành thương hiệu đình đám khắp cả nước, đánh bật hàng loạt thương hiệu ngoại.
 Đến nay, thương hiệu xà bông Cô Ba của ông vẫn được nhiều người Sài Gòn nhớ đến, và còn được bán trong hệ thống Co.op Mart.


Ông Trương Văn Bền (1883 - 1956) sinh tại Chợ Lớn (Sài Gòn) trong một gia đình có truyền thống làm nghề thủ công. Năm 25 tuổi, ông lập nhà máy ép dầu dừa, rồi nhà máy xay lúa, đồn điền cao su cỡ nhỏ và công ty khai khẩn ruộng ở Đồng Tháp Mười. Vào những năm 1940, ông chuyển sang làm ngành xà bông, lập công ty đường Rue de Cambodge (nay là Chợ Kim Biên, quận 5), lấy tên là Trương Văn Bền và các con – Dầu và Xà bông Việt Nam (Truong Van Ben & fils – Huilerie et Savonnerie Vietnam). Xà bông Cô Ba làm từ dầu dừa, xưởng của ông ở Chợ Lớn, mỗi tháng sản xuất khoảng 1.500 tấn dầu dừa và khoảng 600 tấn xà bông.

Trước ngày giải phóng, xà bông Cô Ba của vị doanh nhân này không có đối thủ trên thị trường nội địa, thậm chí đánh bật cả sản phẩm của Pháp là xà bông Marseilles. Ngoài Việt Nam, xà bông Cô Ba được dùng rộng rãi ở Lào và Campuchia, xuất khẩu qua Hong Kong, Tân Đảo (Nouvelle Caledonie) và một số các nước châu Phi. Ngay đến những năm 1990, xà bông Cô Ba vẫn tạo lập được thị phần rộng lớn trên toàn quốc, và chỉ lui về sau khi hàng loạt sản phẩm của các hãng nước ngoài đổ bộ vào Việt Nam trong khoảng 2 thập kỷ vừa qua.

Ông vua đường thủy Bạch Thái Bưởi

Bạch Thái Bưởi (1874-1932) là cái tên nổi danh nhất trong giới doanh nhân Việt 30 năm đầu thế kỷ 20. Lịch sử sẽ còn nói nhiều về ông, một nhân vật làm rạng danh cho giới doanh nhân Việt Nam với biệt danh "Chúa sông Bắc Kỳ, vua tàu thủy Việt Nam". Ông cũng là doanh nhân có tên trong danh sách 4 người giàu nhất Việt Nam thế kỷ 20.

Sinh năm 1874 trong một gia đình họ Đỗ nghèo ở làng Yên Phúc, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, tuổi thơ của ông lớn lên nhờ gánh hàng rong của mẹ vì cha mất sớm. Sau này, ông được nhận làm con nuôi, đổi thành họ Bạch, đến trường và sớm thể hiện năng lực. Năm 20 tuổi, ông làm thư ký cho một hãng buôn của người Pháp tại Hà Nội, sau chuyển sang hãng thầu công chính. Ông cũng từng được chính thống sứ Bắc kỳ chọn sang Pháp làm người giới thiệu gian hàng tại hội chợ Bordeaux.
đại-gia
Doanh nhân Bạch Thái Bười là hình mẫu điển hình cho tầng lớp thương nhân Việt giàu có, hưng thịnh trong những thập kỷ đầu thế kỷ 20.

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, người Pháp bắt đầu công cuộc khai thác thuộc địa, mở mang đường sá, xây dựng cầu cống. Bạch Thái Bưởi tìm được cơ hội trở thành đối tác cung cấp nguyên liệu cho dự án xây dựng tuyến đường sắt lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ, bắt đầu bằng việc xây cây cầu dài 3.500 m nối Hà Nội với Gia Lâm. Sau đó, ông bỏ vốn mua lại một hãng cầm đồ ở Nam Định, rồi mở hiệu cơm Tây ở Thanh Hóa, đại ký rượu ở Thái Bình và có một thời gian làm cai thầu thuế chợ từ miền Bắc đến miền Trung.

Nghiệp kinh doanh đem đến danh tiếng lẫy lừng cho doanh nhân họ Bạch bắt đầu vào năm 1909, khi ông thuê lại ba chiếc tàu của một doanh nghiệp Pháp và mở tuyến giao thông đường biển Nam Định - Hà Nội - Bên Thủy. Tháng 4/1916, Bạch Thái Bưởi chính thức lập nghiệp ở Hải Phòng với cơ ngơi đồ sộ nằm trên bờ sông Tam Bạc. Ông chính thức tuyên bố thành lập Giang hải luân thuyền Bạch Thái công ty, điều hành 17 tuyến đường thủy từ Hà Nội đến Tuyên Quang, vươn ra đến tận các nước như Hong Kong, Nhật Bản, Philippines, Trung Quốc, Singapore... Trước khi qua đời bất ngờ vì đau tim ở tuổi 58, ông được xưng tụng là "vua tàu thủy Việt Nam" khi tự thiết kế và thực hiện chiếc tàu lớn đầu tiên của Việt Nam - tàu Bình Chuẩn.

Doanh nhân Trịnh Văn Bô và 5.000 lượng vàng cho cách mạng

Trịnh Văn Bô (1914 - 1988) cùng vợ là chủ nhân của cửa hiệu buôn vải sợi Phúc Lợi đặt tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang. Cho đến giữa năm 1940, ông được xem là một trong những người giàu có bậc nhất đất Hà Thành, có bạn hàng tại các nước Đông Dương, sở hữu một nhà máy dệt và có kinh doanh cả ngành bất động sản.
đại-gia
Giàu có và cống hiến hết mình cho cách mạng là hình ảnh trọn vẹn về gia đình doanh nhân Hà thành Trịnh Văn Bô.

Tên tuổi của ông Trịnh Văn Bô được biết đến nhiều nhất qua những hoạt động từ thiện và sự đóng góp cho cách mạng Việt Nam. Là thương nhân giàu có, nhưng gia đình ông lại kinh doanh trên triết lý "Buôn bán 10 đồng thì giữ lại 7, còn lại giúp đỡ người nghèo và làm việc phúc đức". Tầng hai của hiệu buôn sầm uất Phúc Lợi từng là nơi ở của nhiều cán bộ lãnh đạo cách mạng cấp cao của Việt Nam khi chuyển hoạt động từ chiến khu về Hà Nội, trong đó có cả Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính nơi đây, Bác Hồ đã khởi thảo và hoàn thành bản Tuyên ngôn độc lập.

Sau khi Chính phủ lâm thời được thành lập, ngân khố quốc gia khi đó chỉ còn 1,2 triệu đồng tiền Đông Dương, trong đó đa phần đã rách nát, không thể tiêu dùng được. Khi "Tuần lễ vàng" được phát động, gia đình ông đã ủng hộ tới 5.147 lượng vàng, tương đương 2 triệu đồng Đông Dương cho Chính phủ. Ngoài ra, vợ chồng ông Trịnh Văn Bô còn là thành viên cốt cán trong Ban vận động "Tuần lễ vàng", khích lệ giới công thương và các tầng lớp nhân dân quyên góp được 20 triệu đồng Đông Dương và 370 kg vàng.

Ông tổ nghề sơn nước Nguyễn Sơn Hà

Nguyễn Sơn Hà sinh năm 1894 tại huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây trong một gia đình có 7 anh chị em. Cha mất khi ông mới 14 tuổi, ông phải bỏ học xin làm phụ bàn giấy cho một hãng buôn của Pháp. Sau đó do lương thấp, ông đã bỏ sang làm cho hãng sơn dầu Sauvage Cottu ở Hải Phòng.

Ước mơ tự lập một hãng sơn dầu thôi thúc người thợ học việc trẻ, nhưng khi đó sách về kỹ thuật làm sơn của phương Tây đều viết bằng tiếng Pháp. Không nản chí, ông tìm thầy dạy thêm tiếng Pháp ban đêm, học hết tủ sách của ông chủ. Để lập nghiệp, ông bán đi chiếc xe đạp lấy tiền làm vốn ban đầu, mở một cửa hàng nhỏ, bên ngoài chuyên nhận việc quét sơn, kẻ biển, quét vôi ve nhà cửa, bên trong âm thầm chế tạo thử sơn dầu.
đại-gia
Ông Nguyễn Sơn Hà được coi là ông tổ nghề sơn nước của Việt Nam.

Sản phẩm đầu tiên mà gia đình ông Nguyễn Sơn Hà tung ra thị trường là thương hiệu “Resistanco”, tiếng Pháp có nghĩa là “bền chặt”, nhưng lại không được người Pháp đánh giá cao. Sau này, ông cải tiến mẫu sơn, là gửi cho một công ty Pháp để nhờ làm đại lý phân phối. Đến năm 1920, ông mở được xưởng sơn tại Hải Phòng, rộng 7.000 m2, lấy tên là Gecko, khi mới tròn 26 tuổi.

Từ Hà Nội, Huế, Hội An, Sài Gòn, sơn Resistanco vượt biên giới sang Campuchia, Thái Lan, Lào... và được tiêu thụ nhanh đến mức làm không đủ bán. Người Pháp tìm đủ mọi cách chèn ép việc kinh doanh của gia đình, nhưng ông quyết giữ sự hưng thịnh của nền công nghiệp bản địa, khiến nhà cầm quyền phương Tây phải kinh sợ.

Lần gặp gỡ nhà yêu nước Phan Bội Châu ở Huế đã tác động sâu sắc đến doanh nhân Nguyễn Sơn Hà. Ông từng đấu tranh với Pháp, Nhật đòi mở kho tấm cám để cứu đói vào năm 1954, đứng ra lập trường Dục Anh tại số nhà 46, phố Lạch Tray để nuôi dạy các em bé mồ côi. Trong "Tuần lễ vàng", ông và gia đình đã hiến toàn bộ nữ trang với khoảng 10,5 kg cho cách mạng.

Nhiều năm sau khi con trai ông hi sinh khi đang là Đội trưởng tự vệ Hải Phòng, Nguyễn Sơn Hà trúng cử đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hải Phòng. Từ đây, ông có nhiều đóng góp cho cách mạng thông qua những sáng kiến của mình, như làm vải nhựa cách điện, sản xuất giấy than, mực in, vải che mưa, chế tạo lương khô, thuốc ho. Sau kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Sơn Hà trở về Hà Nội và tiếp tục trúng cử vào Quốc hội Việt Nam khoá khoá II, III, IV, V. Ông mất tại Hải Phòng năm 1980.

Đại gia bất động sản Hứa Bổn Hòa

Hứa Bổn Hòa (1845 - 1901) là thương nhân nổi tiếng nhất trong Tứ đại phú hộ lừng danh nước Việt thế kỷ 19 - 20. Ông là người Việt gốc Hoa, khi tổ tiên ông di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam vào đầu thế kỷ 17.

Xuất thân nghèo khổ, ông Hòa từng kiếm sống bằng nghề buôn phế liệu. Nhưng cũng từ nghề này, ông kiếm được gia sản đầu tiên khi mua rẻ, bán đắt những món đồ cổ từ thời Minh Thanh. Cuộc đời ông thay đổi khi chính quyền Pháp mở cuộc đấu giá thanh lý 20.000 máy truyền tin cũ, không còn giá trị sử dụng. Ông mua lại số hàng này, và nhờ vào kinh nghiệm nhiều năm buôn phế liệu, ông đã phân loại thành công được vàng từ những máy truyền tin tưởng chừng vô giá trị.
đại-gia
Khách sạn Majetic là một trong những công trình từng thuộc sở hữu của đại gia bất động sản Hứa Bổn Hòa.

Có tiền, ông đổ vào ngành bất động sản bằng cách mua trước những khu đất sắp quy hoạch. Nhanh nhẹn và táo bạo, ông đã đổ tiền mua toàn bộ vùng đất vốn là vũng lầy mà người Pháp dự định xây chợ Bến Thành sát cạnh. Và khi chợ Bến Thành làm xong, trong tay ông có 20.000 căn nhà phố cho thuê. Trong số hàng nghìn căn nhà của ông Hứa Bổn Hòa có những công trình rất lớn còn tồn tại đến ngày nay như Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, Khách sạn Majestic, Bệnh viện Từ Dũ, Trung tâm cấp cứu Sài Gòn, khu nhà khách Chính phủ... Với công ty Hui Bon Hoa, ông nổi tiếng về sự giàu có ở Đông Dương, là khiến nhà cầm quyền Pháp phải kính nể.
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?