Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn chú Hỏa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chú Hỏa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2016

Ông Huyện Sỹ - Người giàu nhất Đông Dương một thuở

Cuối thế kỷ 19, dân gian truyền nhau câu nói về “tứ đại phú hộ” giàu nhất Việt Nam, thậm chí cả Đông Dương lúc bấy giờ bao gồm nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định.

Tuy nhiên, người thứ tư có nhiều thay đổi, có lúc là tứ Hỏa (tức chú Hỏa - Hui Bon Hoa), có lúc là tứ Bưởi (ông Bạch Thái Bưởi). Riêng người đứng đầu là ông Huyện Sỹ không bao giờ thay đổi.

Ông Huyện Sỹ tên thật là Lê Nhứt Sỹ, sinh năm 1841, vốn quê quán ở Long An và là một gia đình theo đạo Công giáo, ông có tên thánh là Philippe. Thấy ông thông minh, lanh lợi nên các cha người Pháp đưa ông sang học ở Malaysia, nơi ông học thêm nhiều ngôn ngữ khác bên cạnh chữ quốc ngữ. Do thầy dạy cũng có tên Sỹ nên theo truyền thống Nho giáo tôn trọng “quân, sư, phụ”, ông được đổi tên là Lê Phát Đạt, cái tên mong muốn cuộc đời được phát đạt và không ngờ ứng với cuộc đời ông sau này. Khi về nước, do giỏi tiếng Pháp nên ông được gọi làm thông ngôn và tới năm 1880 được chính phủ Nam Kỳ bổ nhiệm làm hội đồng quản hạt Nam Kỳ.

Mặc dù đã đổi tên là Lê Phát Đạt nhưng dân gian vẫn gọi ông theo tên cũ là Huyện Sỹ.

Có chí làm quan, có gan làm giàu

Cơ may của ông đến nhờ làm việc cho người Pháp. Khi Pháp đưa quân vào đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa như của Thủ Khoa Huân, tình hình loạn lạc, dân chúng sợ quân Pháp nên bỏ chạy tứ tán. Pháp chiêu dụ cách mấy vẫn không có mấy người trở lại hoặc đứng ra nhận ruộng đất, thành ra ruộng đất bỏ hoang rất nhiều, được xem là đất vô thừa nhận. Người Pháp bèn tổ chức phát mại ruộng đất này nhưng không ai mua. Giá phát mại hạ xuống rất thấp, có lúc chỉ bằng 1% giá trị ban đầu mà vẫn không có người mua, vì người ta sợ Pháp và sợ sau này bị triều đình bắt tội. Bất đắc dĩ, chính quyền Pháp bèn vận động những người Việt đang làm việc phải mua đất để làm gương cho người dân mua theo.

Ông Huyện Sỹ lúc đó dành được một số tiền khá lớn, dự định mua ít nhà phố ở Sài Gòn để cho thuê. Nhân việc này ông đánh liều lấy tiền mua một số thửa đất có địa thế tốt và thuê người gieo trồng thử. Không ngờ năm đó mưa thuận gió hòa, lúa lên xanh tốt. Không cần đợi đến cuối mùa, nhận thấy lợi ích từ đầu tư vào ruộng lúa rất lớn, là người quảng giao, ông Huyện Sỹ lập tức đi vay mượn tiền của bạn bè để mua đất tiếp, mấy năm trúng mùa liên tiếp khiến tài sản ông tăng đến chóng mặt, hầu như ruộng đất khu vực Tân An, Đức Hòa, Đức Huệ đều về tay ông. Khi ruộng lúa bão hòa, lại nhận thấy xu hướng Sài Gòn sẽ sớm gia tăng dân số, mở rộng thành phố, ông lấy lợi nhuận từ lúa để mua hàng loạt khu đất rộng lớn mênh mông sát với thành phố như vùng Gò Vấp (lúc đó chỉ là đất hoang ngoại thành) để cho thuê xưởng, nhà máy, cất nhà cho thuê… Không có số liệu được ghi lại nhưng người ta ước tính chỉ riêng nhà cho thuê, ông Huyện Sỹ đã có tới hàng ngàn căn.

Như vậy, có thể nói phần lớn thành công của ông Huyện Sỹ là nhờ may mắn đã song hành nhưng cũng không thể phủ nhận được cái gan, cái liều và sự nhìn xa trông rộng của ông đã góp phần đưa ông lên thành phú hộ hàng đầu Việt Nam và Đông Dương.


Hai pho tượng ông bà Huyện Sỹ như nằm ngủ trên hai ngôi mộ.

Sống cần kiệm và làm việc thiện


Là một người được học hành tử tế và bản thân có lẽ cũng hiểu việc giàu lên của mình cũng có sự mất mát, thiệt thòi của người khác nên ông Huyện Sỹ có cách hành xử đặc biệt. Không giống nhiều phú hộ giàu xổi khác, ông treo trong nhà hai câu đối:

Cần dữ kiệm, trị gia thượng sách/ Nhẫn nhi hòa, xử thế lương đồ

Tạm dịch: Trong gia đình phải chăm chỉ và tiết kiệm/ Xử thế với người ngoài phải hòa hoãn và nhẫn nhịn.

Ông không xây dinh thự quá to lớn, ông cũng không tiêu xài xa xỉ. Các con ông đều được cho đi du học nước ngoài, khi về ông giao cho ruộng đất để kinh doanh tiếp bước gia đình. Trong các con của ông Huyện Sỹ, người con trưởng Denis Lê Phát An được ông giao cho vùng đất Hạnh Thông ở Gò Vấp và ông An đã góp phần làm cơ ngơi này ngày càng phát triển.

Các người con còn lại như Lê Thị Bính, Lê Phát Thanh, Lê Phát Vĩnh, Lê Phát Tân đều được chia đất đai và trở thành các đại điền chủ nhiều ruộng đất ở Long An, Đồng Tháp Mười…

Ông Huyện Sỹ đã bỏ tiền để xây dựng nhà thờ Chợ Đũi (sau gọi là nhà thờ Huyện Sỹ), số tiền bỏ ra rất lớn, tương truyền bằng 1/7 gia sản của ông. Sau khi hiến tặng sáu mẫu đất để xây nhà thờ Chí Hòa nhưng giáo xứ không có tiền xây, ông Huyện Sỹ đã cắt bớt một gian công trình nhà thờ Chợ Đũi rồi thêm tiền hiến tặng đó xây nhà thờ Chí Hòa.

Noi gương ông, người con trai Denis Lê Phát An cũng đã hiến tặng tiền để xây nhà thờ Hạnh Thông Tây thay cho ngôi nhà thờ nhỏ cũ kỹ và dột nát.

Một dòng họ vinh quang tột đỉnh

Người con gái thứ của ông Huyện Sỹ là Lê Thị Bính đã kết hôn với ông Nguyễn Hữu Hào, một đại điền chủ người Gò Công. Đến năm 1914, bà hạ sinh một người con gái, đặt tên là Marie-Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan, đến năm 12 tuổi gia đình cho cô Lan sang Pháp học, đến năm 1932 sau khi tốt nghiệp tú tài mới về nước. Một thời gian sau, khi đang ở Đà Lạt, cô Lan được cậu Lê Phát An gọi đến dự tiệc và ra mắt với vua Bảo Đại, cuộc gặp đó dẫn đến tình cảm phát sinh giữa hai người.

Trong hồi ký Con rồng Việt Nam, vua Bảo Đại kể lại rằng đây là cuộc hôn nhân sóng gió vì ông bị triều thần phản đối, lý do Bảo Đại theo đạo Phật còn cô Lan theo đạo Công giáo lại mang quốc tịch Pháp. Khi Bảo Đại cầu hôn, gia đình cô Lan đưa ra những điều kiện như cô Lan phải được tấn phong hoàng hậu, ngoài ra còn phải được tòa thánh cho phép đặc biệt, ai giữ đạo nấy nhưng con cái sinh ra đều chịu phép rửa tội và giữ đạo giáo luật.

Ngay sau hôn lễ, cô Nguyễn Hữu Thị Lan đã được tấn phong hoàng hậu với tước vị Nam Phương hoàng hậu. Đây là một biệt lệ đối với các chánh cung trong triều Nguyễn vì cả mười hai đời vua nhà Nguyễn trước đó, các bà chánh cung chỉ được phong tước hoàng quý phi, chỉ đến khi qua đời mới được truy phong hoàng hậu.

Tương truyền ông bà Nguyễn Hữu Hào đã tặng của hồi môn cho con gái về nhà chồng là một triệu đồng bạc Đông Dương, tương đương 20.000 lượng vàng. Người ta cũng đồn đại rằng vua Bảo Đại sau đó tha hồ ăn chơi du hí là nhờ tiền vợ. Ông còn mang tiếng là vua mà ngân khố chẳng có bao nhiêu để tiêu xài.

Ông Denis Lê Phát An sau này được Bảo Đại phong tước vương (An Định Vương), là một tước hiệu cao quý nhất xưa nay chỉ phong tặng cho những người thuộc tầng lớp hoàng tộc chứ không phải cho dân thường.

Một cõi an nhiên

Ông Huyện Sỹ mất năm 1900, lúc đó nhà thờ chưa xây xong, phải đến năm 1920 khi bà Huỳnh Thị Tài mất, lúc đó thi hài hai vợ chồng ông Huyện Sỹ mới được đưa vào an táng trong một gian phòng phía sau cung thánh tại nhà thờ Huyện Sỹ.

Được ngăn cách bên ngoài bởi một hàng rào sắt, phần mộ của hai vợ chồng nằm ở hai bên, theo phong cách cổ “nam tả, nữ hữu”. Công trình mộ toàn bộ bằng đá, chạm trổ công phu, có các phù điêu điển tích của chúa Giêsu rất sinh động. Mộ được đặt trong một khối đá cẩm thạch trắng, phía trên có tạc tượng hai vợ chồng đang nằm như ngủ. Ông Huyện Sỹ mặc áo dài đội khăn đóng, không để râu, hai tay đan lại đặt trước bụng. Bà Tài để đầu trần, tư thế cũng y như chồng. Cả hai pho tượng đều được tạc vô cùng mềm mại và sống động, những đường nét tinh tế trên từng nét mặt, thớ vải…

Ngoài hai pho tượng nằm an nghỉ, còn hai pho tượng chân dung ông bà Huyện Sỹ được đặt đối diện nhìn nhau, thần sắc tươi tỉnh. Ngôi mộ là một tuyệt tác về kiến trúc lẫn điêu khắc.

Linh mục Ernest Nguyễn Văn Hưởng, chánh xứ Chợ Đũi (nhà thờ Huyện Sỹ), cho biết khu mộ đã có nhiều thay đổi, trước đây hai bên khu mộ là hai gian phòng lễ nghi, sau này nhà thờ xây dựng bổ sung hành lang phía sau nên có thể đi vòng qua giữa hai gian cung thánh mà không cần đi ngang phòng mộ. Khu mộ luôn được nhà thờ chăm sóc kỹ càng để thể hiện lòng biết ơn với hai ông bà. Trong vài năm gần đây, ba lần các con cháu ông Huyện Sỹ từ nước ngoài về thăm mộ và đều tỏ ra vui mừng khi thấy mộ phần được giữ gìn và rất tự hào về truyền thống gia đình. Họ là những người cháu đời thứ ba, nhiều người đã lập gia đình với người nước ngoài và không nói được tiếng Việt. Có người cho biết gia cảnh họ cũng nghèo, không khá giả gì, khác hẳn với sự giàu có năm xưa của dòng tộc.
 (Theo PL TP.HCM)
>> Tỷ phú Việt giàu nhất thế kỷ 20, không có tên đại gia thời nay

Share:

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016

Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn

Người Sài Gòn xưa thường nói “Đi tàu Chú Hỷ, ở nhà Chú Hỏa” để chỉ hai nhân vật nổi tiếng: Chú Hỷ - “vua tàu thuyền” - có tàu chạy Lục tỉnh và Chú Hỏa - “vua nhà đất” - với gần 30.000 căn nhà phố khắp Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn. 
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VqzHt0CAZFo

 Tấm ảnh hiếm hoi còn để lại của Chú Hỏa - Ảnh tư liệu


"Chú Hỏa" (1845-1901) - theo cách gọi phổ biến - thành lập Công ty Hui Bon Hoa và các con, cực thịnh vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, có những đóng góp rất quan trọng trong việc xây dựng thành phố Sài Gòn.

Bởi vì không chỉ xây các dinh thự hoành tráng cho gia đình mình, Chú Hỏa còn xây những dãy phố, cùng hàng loạt công trình dân dụng dành cho cộng đồng như bệnh viện, chùa chiền, trường học…
Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn
Một dãy nhà thuộc dòng họ Hui Bon Hoa xây dựng ở góc đường Lê Công Kiều - Nguyễn Thái Bình (Q.1, TP.HCM) hiện vẫn còn nhiều nhà khá nguyên vẹn - Ảnh: HỒ TƯỜNG
Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn
Một dãy nhà thuộc dòng họ Hui Bon Hoa xây dựng ở góc đường Võ Văn Kiệt - Phó Đức Chính (Q.1, TP.HCM) hiện vẫn còn nhiều nhà khá nguyên vẹn - Ảnh: HỒ TƯỜNG
Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn
Dãy nhà phố một trệt một lầu đối diện Công viên Quách Thị Trang (trái ảnh) thời thuộc Pháp, phía sau ga xe buýt hiện nay do dòng họ Hui Bon hoa xây dựng (hiện đã bị giải tỏa, phá dỡ) - Ảnh tư liệu 
Kinh doanh thành công như vậy, giàu có như vậy, Chú Hỏa đã làm thế nào để từ “nước lã mà khuất nên hồ” như vậy?

Vô số giai thoại về cách làm giàu của Chú Hỏa

Câu chuyện quen thuộc nhất khi nói chuyện về những bước khởi nghiệp của Chú Hỏa khi mới từ Trung Quốc đến Sài Gòn lập nghiệp chính là chỉ từ hai bàn tay trắng với một gánh ve chai trên vai, Chú Hỏa đã tạo dựng nên sự nghiệp lừng lẫy khiến cho người đời sau luôn nhắc nhở.

Rất nhiều người kể rằng có xuất thân nghèo khổ, Chú Hỏa từng kiếm sống bằng nghề buôn bán phế liệu, trong một lần thu mua ve chai, Chú Hỏa nhặt được cả túi vàng nằm trong một chiếc ghế nệm cũ. Người khác nói rằng Chú Hỏa đã mua được bức tượng đúc đồng nhưng bên trong đầy vàng.

Người ta còn truyền miệng cho nhau rằng cuộc đời Chú Hỏa thay đổi khi chính quyền Pháp mở cuộc đấu giá thanh lý 20.000 máy truyền tin cũ, không còn giá trị sử dụng. Chú Hỏa đã mua lại số hàng này, và nhờ vào kinh nghiệm nhiều năm buôn phế liệu, ông đã phân loại thành công được vàng từ những máy truyền tin tưởng chừng vô giá trị.

Còn theo một số người khác, khi lê la hầu như khắp Sài Gòn - Chợ Lớn để thu mua những thứ bỏ đi của thiên hạ, Chú Hỏa đã mua trúng đồ cổ, nhờ thạo chữ Hán nên biết trong đám đồ người ta vứt ra có đồ cổ từ thời Nguyên, đời Thanh, thậm chí từ đời Hán. Do đó, từ nghề mua ve chai này, ông tạo lập được gia sản đầu tiên khi mua rẻ, bán đắt những món đồ cổ từ thời xa xưa.

Nhiều người đã tỏ ra rành rẽ hơn, kể rằng lúc đầu Chú Hỏa sống với nghề mua bán "lạc xoong", mua đồ cũ để chế biến và bán lại. Sau khi tạo được một số vốn, Chú Hỏa đã hùn hạp với một người Pháp thầu khuếch trương các tiệm cầm đồ trong Nam kỳ và mua đất cất nhà bán hoặc cho thuê...

Sau khi rã hùn, Chú Hỏa đã được chia một số tiền lớn, làm chủ các sản nghiệp đất cát khắp miền Lục tỉnh, nhiều nhất là ở Sài Gòn, Chợ Lớn...

Ảnh hưởng niềm tin tâm linh khá phổ biến trong giới người Hoa xưa nay, một giai thoại nữa cho rằng Chú Hỏa rất rành về phong thủy nên đã an táng mộ cha của ông đúng long mạch, cho nên nhờ vậy mà làm ăn trở nên phát đạt nhanh chóng.

Số người khác cho rằng Chú Hỏa vốn dòng dõi nhà Minh, do ly loạn nên tạm chôn giấu của cải để lánh thân, về sau Chú Hỏa trở lại quê nhà ở Trung Quốc, đào số của cải gia bảo ấy lên, mang sang Việt Nam làm vốn hùn hạp làm ăn với người Pháp rồi dần dà phát đạt.

Các giai thoại trên đều mang tính chất mơ hồ nhưng hầu như giai thoại nào cũng đề cập đến sự cần mẫn làm ăn, chịu khó, biết sử dụng lợi thế của bản thân mình trong quá trình kinh doanh, biết tích lũy vốn và khuếch trương công việc làm ăn ngày càng to lớn.

Trong suốt quá trình kinh doanh, Chú Hỏa còn luôn biết chia sẻ với cộng đồng cũng như giới cầm quyền đương thời qua việc hiến tặng hàng loạt công trình phúc lợi xã hội mà chức năng vẫn tồn tại đến tận ngày nay, như: Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn, Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, Trường THCS Minh Đức (quận 1), Bệnh viện Nguyễn Trãi (quận 5)…
Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn
Maternité Indochinoise (Bảo sanh viện Đông Dương, nay là Bệnh viện Từ Dũ) xây dựng trên miếng đất do dòng họ Hui Bon Hoa tặng và xây dựng; diện tích 19.123m2 trên đường Arras (nay là đường Cống Quỳnh, Q.1, TP. HCM). Kiến trúc tòa nhà hiện vẫn khá nguyên vẹn sau 79 năm (1937-2016). Con đường phía trước hiện nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, hàng cây nhỏ trên đường giờ đã thành cổ thụ - Ảnh tư liệu
Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn
Chùa Phụng Sơn trên đường Nguyễn Công Trứ (Q.1, TP.HCM) do dòng họ Hui Bon Hoa phụng cúng - Ảnh: HỒ TƯỜNG
Sự thật về Chú Hỏa và 30.000 ngôi nhà ở Sài Gòn
Khách sạn Majestic do dòng họ Hui bon Hoa xây dựng và tặng TP Sài Gòn thời thuộc Pháp - Ảnh tư liệu 

Con cháu Chú Hỏa kể chuyện làm giàu của cha ông

Bài viết “Sự thật về Hui Bon Hoa và Chú Hỏa” của tác giả Chen Bickun với những tư liệu được cung cấp từ dòng dõi của Hui Bon Hoa đang sinh sống ở Paris (Pháp) cho biết về sự thật con đường làm giàu của Chú Hỏa như một chuyện cổ tích.

“Tuy làm giàu cho họ đã đành, nhưng cũng giúp ích rất nhiều cho sự mở mang thạnh vượng kinh tế miền Nam” - Vương Hồng Sển - Sài Gòn Năm Xưa, Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1969) 
Nguyên lúc mới sang Việt Nam, Chú Hỏa đã làm việc với một chủ người Pháp. Tính siêng năng và tốt bụng của Chú Hỏa đã khiến cho ông chủ Pháp thương và giúp vốn để Chú Hỏa mở tiệm cầm đồ để khởi nghiệp kinh doanh.

Tiệm cầm đồ đầu tiên của Chú Hỏa là căn nhà nằm ở góc đường Phó Đức Chính và Nguyễn Thái Bình ngày nay, còn văn phòng làm việc cho ông chủ người Pháp của ông ở trước cửa tiệm bên kia đường, trên một khu đất vẫn còn trống.

Chính khu đất trống này Chú Hỏa đã mua và xây ba căn sát nhau trên đường Phó Đức Chính, mỗi căn dành cho một người con trai.

Căn giữa đặt bàn thờ tổ tiên, Chú Hỏa giao cho người con trai lớn, còn hai căn nhà hai bên giao cho hai đứa con trai còn lại.

Ba căn nhà này về sau đã được các người con của Chú Hỏa xây dựng lại trở thành ba tòa nhà nguy nga, được dân gian xưa nay vẫn gọi là nhà Chú Hỏa, nay cả ba tòa nhà này đều được sử dụng làm Bảo tàng Mỹ thuật (97 Phó Đức Chính, P.Nguyễn Thái Bình, Q.1, TP.HCM).

Mở tiệm cầm đồ một thời gian, tích lũy được một số tiền, Chú Hỏa đổ vào ngành bất động sản bằng cách mua trước những khu đất sắp quy hoạch, chẳng hạn như ông đã mua toàn bộ vùng đất gần tiệm cầm đồ của mình vốn là vũng lầy bao quanh địa điểm mà người Pháp dự định xây chợ Bến Thành mới (tức chợ Bến Thành ngày nay).

Để thuận lợi cho việc kinh doanh, Chú Hỏa đổi tên thành Jean Baptiste Hui Bon Hoa khi trở nên giàu có.

Thành lập Công ty bất động sản Hui Bon Hoa sở hữu gần 30.000 căn nhà ở Sài Gòn (có tư liệu cho là 22.000 căn nhà). Các công trình nhà ở này đóng góp một vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ mặt thành phố Sài Gòn những năm cuối thế kỷ 19.

Với Công ty Hui Bon Hoa, Chú Hỏa nổi tiếng về sự giàu có ở Đông Dương khiến nhà cầm quyền Pháp phải kính nể.

Chú Hỏa tên Huỳnh Văn Hoa chứ không phải Hứa Bổn Hòa

Năm 1960, Vương Hồng Sển viết trong "Sài Gòn năm xưa" về Chú Hỏa: “Hui Bon Hoa, tục danh “Chú Hỏa”, mặc dầu về sau danh vọng lớn, địa vị cao, cũng không ai gọi “Ông Hỏa” bao giờ. Sớm nhập tịch Pháp nên ký âm theo Pháp ngữ làm vậy rồi gọi như vậy cho đến đời đời, không rõ theo Hán tự hà danh hà tánh?”. Nói khác đi, vào năm 1960, Vương Hồng Sển vẫn chưa rõ họ tên thật của Chú Hỏa.

Nhiều tài liệu cho rằng tên của Chú Hỏa - Hui Bon Hoa là Hứa Bổn Hòa. Có tài liệu còn khẳng định rằng: “Hiện nay, tại tòa nhà tiêu biểu của “Chú Hỏa” - nơi đang là Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM (số 97 Phó Đức Chính), ở tấm biển inox ghi lược sử tòa nhà đặt trang trọng ngay lối đi bên trái cửa chính viết: “Hui Bon Hoa tên thật là Hứa Bổn Hòa”.

Tháng 7-2006, những thành viên trong dòng họ Hui Bon Hoa từ Pháp về Việt Nam, ghé thăm nhà Chú Hỏa, ngôi nhà lừng lẫy của dòng họ này là Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM. Một thành viên trong đoàn tên Eddie Hui-Bon-Hoa (đã theo gia đình sang Pháp khi còn trong bụng mẹ) đã hé lộ tên họ thật và phần nào cuộc đời Chú Hỏa.

Gần đây hơn, năm 2014, trên trang blog “Tây Cống cố sự quán” (Căn nhà ghi chuyện cũ ở Sài Gòn), tác giả Chen Bickun công bố bài viết bằng tiếng Anh: “The True Story of Hui Bon Hoa and “Uncle Hoa’s Mansion” (Sự thật về Hui Bon Hoa và Chú Hỏa) dựa vào tư liệu do chính dòng họ Hui Bon Hoa đang sinh sống ở Paris (Pháp) cung cấp.

Theo đó, Chú Hỏa (1845-1901) tên thật là Huỳnh Văn Hoa (Huáng Wéng Húa,黄文華), vốn người làng Văn Tang, thuộc Gia Hòa Sơn, huyện Tư Minh, tỉnh Phước Kiến, nay thuộc khu vực Hạ Môn, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc.

Ông sang VN khoảng năm 1863. Sở dĩ Chú Hỏa được gọi với tên là Hui Bon Hoa vì khi nhập quốc tịch Pháp, ông vốn là tín đồ đạo Công giáo nên đã lấy tên Pháp là Jean Baptiste Hui Bon Hoa. Trong đó, Hui Bon Hoa chính là tên Huỳnh Văn Hoa của ông được ký âm theo phương ngữ Phước Kiến.

(Về sau, các con cháu của ông đều mang họ Hui Bon Hoa nhưng chỉ khác tên Pháp đứng đầu).
Năm 1901, Chú Hỏa về thăm Trung Quốc, nhưng ông đã đột ngột qua đời và được chôn cất ngay tại quê hương, hưởng dương 56 tuổi.

Như vậy, Hui Bon Hoa là cách phiên âm từ tên gốc Hán theo âm Hạ Môn (Trung Quốc) có ảnh hưởng bởi cách phiên âm của người Anh vào cuối thế kỷ 19.

Còn Hứa Bổn Hòa có lẽ là cách đoán... mò của một số người khi thấy chữ Hui Bon Hoa mà không thấy mặt chữ Hán.

HỒ TƯỜNG- Tuổi Trẻ
Share:

Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa

Nhiều người nói Chú Hỏa có hơn chục người con, hầu hết được cho đi du học tại các nước lớn như Anh, Pháp, Đức, Nhật… Sự thật như thế nào?
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vqy-1UCAZFo
Các tài liệu được dòng họ Hui Bon Hoa ở Pháp cung cấp cho hai tác giả Chen Bickun (trong bài viết tiếng Anh tựa đề là “Sự thật về Hui Bon Hoa và Chú Hỏa”) và Michel Dolinski (trong bài viết tiếng Pháp tựa đề là “Sự hữu dụng của một anh hùng Trung Hoa tại Việt Nam”) thì Chú Hỏa chỉ có ba người con trai.

Ba người con cự phách của Chú Hỏa làm rạng danh dòng họ Hui Bon Hoa

Các con của Chú Hỏa có tên tiếng Trung Quốc dĩ nhiên theo họ Huỳnh của cha, chữ lót là Trọng, nhưng tên tiếng Pháp của họ đều lấy cụm từ Hui Bon Hoa đứng sau là họ theo người phương Tây.

Do đó, ba người con trai của Chú Hỏa lần lượt là Huỳnh Trọng Huấn (Tang Huon Hui Bon Hoa), Huỳnh Trọng Tán (Tang Chanh Hui Bon Hoa) và Huỳnh Trọng Bình (Tang Phien Hui Bon Hoa).

Theo học giả Nguyễn Triệu (trong bài viết “Những Hoa kiều giàu nhất Việt Nam: Hui Bon Hoa (1845-1901) đăng trên tạp chí Văn Hóa Nguyệt San số 61, SG 1961) thì vào thời điểm năm 1961, ông Huỳnh Trọng Huấn và Huỳnh Trọng Tán đã mất từ lâu, mộ phần táng ở Biên Hòa, ngang núi Châu Thới, còn ông Huỳnh Trọng Bình lúc đó nếu còn sống đã 69 tuổi, như vậy ông Huỳnh Trọng Bình sinh vào năm 1892.

Con trai trưởng của Chú Hỏa là Huỳnh Trọng Huấn (Tang Huon Hui Bon Hoa) sinh năm 1876, lớn lên ở Hạ Môn (Phúc Kiến, Trung Quốc). Ông này đã theo cha đến Việt Nam khoảng năm 1896, lập gia đình và sống tại Sài Gòn để hỗ trợ cha mình trong việc điều hành công ty bất động sản “Cha con Hui Bon Hoa”.

Thập niên 1910, ông trở lại ở Phúc Kiến (Trung Quốc) mở Công ty địa ốc Huỳnh Vinh Viễn Đường. Khu nhà trụ sở công ty này ngày nay là một trong 10 di tích kiến trúc danh tiếng ở đảo Cổ Lãng, năm 2002 được liệt hạng di tích lịch sử kiến trúc trọng điểm của thành phố Hạ Môn, vừa là trường biểu diễn nghệ thuật, vừa là địa chỉ du lịch, phong cách xây dựng gần giống tòa nhà của ông ở Sài Gòn, nay là Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.

Huỳnh Trọng Huấn qua đời năm 1934, chôn cất ở khu vực dân gian thường gọi là “Mộ Chú Hỏa” ở P.Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương ngày nay.

Người con trai thứ của Chú Hỏa là Huỳnh Trọng Tán (Thang Chanh Hui Bon Hoa) sinh năm 1877 tại Tuyền Châu (Phúc Kiến, Trung Quốc).

Sau khi lập gia đình ở quê hương, ông này cũng theo Chú Hỏa đến Sài Gòn để hỗ trợ cha mình. Dưới sự quản lý của ông, nhiều thửa đất ở Sài Gòn, Chợ Lớn được mua khi giá đất còn thấp, một mặt xây nhà để bán và cho thuê nhà, một mặt mua bán đất đai. Hui trở thành một trong những gia đình giàu có nhất trong thành phố.

Huỳnh Trọng Tán  sống ở Sài Gòn và qua đời cùng năm với anh mình: năm 1934.

Sau cái chết của hai anh trai năm 1934, người con trai út của Chú Hỏa là Huỳnh Trọng Bình (Thang Phien Hui Ban Hoa) tiếp tục quản lý công việc gia đình và qua đời năm 1951.

Đời cháu chắt dòng họ Hui Bon Hoa tiếp nối cha ông

Sau khi ông mất, thế hệ con cháu của dòng họ Hui Bon Hoa đã kế tục quản lý và phát triển sự nghiệp kinh doanh của ông bà, cha mẹ để lại.

Học giả Vương Hồng Sển: “Đến nay (1960) các con cháu luôn luôn hòa thuận, gia tài giữ nguyên vẹn, không chia phần manh mún, chỉ cùng nhau chia lợi tức, và mỗi khi cần dùng một số tiền to tát thì người trong họ phải xin chữ ký của người trưởng huynh, khi ấy ngân hàng mới phát bạc (nay gọi là giải ngân)” (Sài Gòn năm xưa - SG,  1960).

Từ năm 1951, các thành viên gia đình và con cái của dòng họ Hui Bon Hoa đã dần dần chuyển sang các nước khác: Pháp, Mỹ… Trước ngày 30-4-1975, tất cả thành viên của dòng họ Hui Bon Hoa đã rời Việt Nam.

Tuy kể tách bạch từng người con của Chú Hỏa như vậy, nhưng trên thực tế công việc kinh doanh của Công ty “Hui Bon Hoa, cha và các con” thì luôn có sự gắn kết chặt chẽ giữa những thành viên trong dòng họ.

Ngay sau khi Chú Hỏa tạ thế (1901), các con Chú Hỏa đã sáp nhập Công ty Hui Bon Hoa của cha mình để lại với Louis Ogliatro (một người Pháp ở đảo Corse) mang tên Công ty liên doanh Ogliastro-Hui Bon Hoa quản lý các tiệm cầm đồ ở Sài Gòn.

Lĩnh vực chính của công ty liên doanh này kinh doanh cầm đồ và bất động sản. Đến năm 1919, công ty liên doanh này quản lý 25 nhà thuốc trên toàn Đông Dương, trong đó có 6 nhà thuốc ở Sài Gòn.

Trong những năm 1920, gia đình Hui Bon Hoa đã xây dựng mới ba tòa nhà nguy nga ngay trên phần đất khởi nghiệp của Chú Hỏa được bao quanh bởi các con đường: Alsace-Lorraine (nay là Phó Đức Chính), Bác sĩ Calmette, d'Ayot (nay là Nguyễn Thái Bình) và Hamelin (nay là Lê Thị Hồng Gấm, P.Nguyễn Thái Bình, Q.1, TP.HCM).

1925, Tổng công ty bất động sản Hui Bon Hoa được thành lập để quản lý gần 30.000 căn nhà phố khắp Sài Gòn – Chợ Lớn và đặt trụ sở tại tòa nhà chính giữa mang tên chữ Hoa là “Huỳnh Vinh Viễn Đường” trong 3 tòa nhà vừa xây dựng xong, tên giống với tên công ty địa ốc mà Huỳnh Trọng Huấn đã lập ở Hạ Môn (Phúc Kiến, Trung Quốc) năm 1910.

Từ đó, người ta gọi luôn 3 tòa nhà là “Nhà Chú Hỏa”. và con đường chạy ngang qua trước cửa của tòa nhà là đường Alsace Lorraine là đường Chú Hỏa.

Xã Nessa, đảo Corse (Pháp) hiện nay cũng có một con đường mang tên Hui Bon Hoa, do dòng ho Hui Bon Hoa đã tặng cho dân làng khu vực này 25.000 fr để làm con đường này (ảnh tư liệu). 
Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa
Chỉ riêng ngành bất động sản với những công trình xây dựng lớn còn tồn tại trong đời sống xã hội cũng như văn hóa của thành phố Sài Gòn mà Chú Hỏa và các con cháu của ông đã chọn làm nơi ngụ cư, xem như quê hương thứ hai của mình cho đến ngày khuất bóng.
Bên cạnh đó, các thế hệ con cháu trong dòng họ Hui Bon Hoa cũng nối tiếp con đường của cha ông mình.

Họ tổ chức nuôi cơm những người vô gia cư và xây dựng các công trình công cộng góp phần xây dựng các công trình giúp ích cho cộng đồng.

Đó là Phước Thiện Y Viện năm 1909 (nay là Bệnh viện Nguyễn Trãi), Chẩn Y Viện năm 1937 (nay là Bệnh viện đa khoa Sài Gòn), Bệnh viện Maternité Indochinoise năm 1937 (tên Việt là Bảo sanh viện Đông Dương, nay là Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ), chùa Phụng Sơn (1949), chùa Kỳ Viên (1949-1952), Thành Chí học hiệu, nay là (Trường THCS Minh Đức) …
Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa
Thành Chí học hiệu, nay là (Trường THCS Minh Đức, Q.1, TP.HCM) do dòng họ Hui Bon hoa xây dựng khi Chú Hỏa mất đã lâu - Ảnh: HỒ TƯỜNG
Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa
Maternité Indochinoise (Bảo sanh viện Đông Dương, nay là Bệnh viện Từ Dũ) xây dựng trên miếng đất do dòng họ Hui Bon Hoa tặng và xây dựng trên đường Arras (nay là đường Cống Quỳnh, Q.1, TP. HCM). tòa nhà xây dựng 1937, tức 36 năm sau khi Chú Hỏa qua đời (1901), hai người con trai đầu cũng qua đời (1934), chỉ còn con trai út (mất 1951) - Ảnh tư liệu
Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa
Bệnh viện đa khoa Sài Gòn (Q.1, TP.HCM) do người con út dòng họ Hui Bon Hoa xây dựng và hiến tặng thành phố Sài Gòn năm 1937 - Ảnh: HỒ TƯỜNG  

Tổng công ty Hui Bon Hoa còn xây nhiều trụ sở ngân hàng ở Sài Gòn – Chợ Lớn, khách sạn Palace Long Hải (nay thuộc Bà Rịa Vũng Tàu)…

Khách sạn Majestic nằm ở đầu đường Đồng Khởi do Tổng công ty Hui Bon Hoa xây dựng năm 1925, gồm 3 tầng với 44 phòng, trang bị máy điều hòa không khí đầu tiên ở Đông Dương.Tổng công ty bất động sản Hui Bon Hoa đã góp phần tạo nên diện mạo của “Sài Gòn – hòn ngọc Viễn Đông” với những dãy nhà phố nằm dọc theo mặt tiền của các con đường ở khu trung tâm mà nay là các đường Đồng Khởi, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hàm Nghi và nhiều khu vực khác khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và nhiều tỉnh ở Nam kỳ.
Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa
Khách sạn Majestic xây dựng năm 1925, khi Chú Hỏa đã qua đời 24 năm - Ảnh tư liệu
Ba người con trai siêu hạng của Chú Hỏa
... và hiện nay, ở đầu đường Đồng Khởi (Q.1, TP.HCM) - Ảnh: HỒ TƯỜNG

- Năm 1865, ở tuổi 20, Huang Wen Hua di cư và đến Sài Gòn, xin vào làm  việc tại một hiệu cầm đồ mang tên Ogliastrocủa một người Pháp làm chủ: Louis Ogliastro.

- Năm 1887, ở tuổi 42, Huang Wen Hua xin vô quốc tịch Pháp, lấy tên là Jean Baptiste Hui Bon Hoa.

- Năm 1896, Chú Hỏa thành lập công ty bất động sản mang tên “Hui Bon Hoa và các con”, chuyên mua bán nhiều thửa đất ở Sài Gòn, Chợ Lớn cũng như nhiều nơi ở Nam kỳ. Danh tiếng Chú Hỏa lừng lẫy khắp Đông Dương. Các con của ông được du học và làm việc ở nước ngoài.

- Năm 1901, Chú Hỏa trở về Trung Quốc với vợ và mất ở đây, được chôn cất tại Tuyền Châu ở tỉnh Phúc Kiến.

Chính quyền Pháp lúc ấy đặt tên Hui Bon Hoa cho một con đường lớn chạy qua khu đất rộng lớn của ông, đến tháng 3-1955 con đường này đổi thành đường Lý Thái Tổ, địa giới quận 3 và quận 10 cho đến nay.
Đón đọc kỳ tới: Nhà chú Hỏa, "tòa nhà sang trọng bậc nhất Sài Gòn (1933)", được Tổng thống Mỹ Bill Clinton chọn khi thăm Việt Nam 
HỒ TƯỜNG - Tuổi Trẻ
 
Xem thêm:
Share:

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2015

Đại gia Nguyễn Văn Hảo, huyền thoại bị quên lãng

Ngay trung tâm Sài Gòn (Q.1, TP.HCM) có một tòa nhà kiến trúc Pháp tuyệt đẹp tọa lạc ở bốn mặt tiền đường (Trần Hưng Đạo - Ký Con - Yersin - Lê Thị Hồng Gấm). 
 Ảnh minh họa.

Chắc hẳn, ít người biết đó từng là nhà của một thương gia nổi tiếng cả miền Nam: Nguyễn Văn Hảo - một trong những thương gia giàu có nhất ở Sài Gòn từ thời Pháp đến năm 1975.

Trên mặt tiền ngôi nhà (phía đường Trần Hưng Đạo và hai bên hông Ký Con - Yersin) có khắc dòng chữ NG.V.HAO nên những người sống xung quanh thường gọi đó là tòa nhà Nguyễn Văn Hảo. Gọi là thế nhưng lớp người hiện nay ít biết lai lịch của người chủ tòa nhà có vị trí đắc địa “có một không hai” ở Sài Gòn này.

Khi có ý định tìm hiểu nhân vật Nguyễn Văn Hảo, chúng tôi đã cố gắng tìm tư liệu nhưng hầu như vô vọng. Lên mạng đánh chữ “Nguyễn Văn Hảo” thì kết quả hiện ra và được tìm kiếm nhiều nhất là ông Nguyễn Văn Hảo, người từng là Phó thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa.

Thật may mắn trong quá trình tìm kiếm, chúng tôi được biết ông Nguyễn Văn Hảo chính là ông chủ của rạp Nguyễn Văn Hảo lẫy lừng một thời, được ví là nhà hát “hàng không mẫu hạm” có sức chứa tới hàng ngàn người và là thánh đường của cải lương.

Sau 1975, rạp Nguyễn Văn Hảo được đổi tên là rạp Công Nhân, nằm khiêm tốn ở số 30 Trần Hưng Đạo, Q.1. Trước rạp Công Nhân vẫn còn người cháu rể (cũng gần 80 tuổi, gọi ông Hảo bằng dượng) bán cà phê cóc. Tuy nhiên, người cháu rể cũng không biết nhiều thông tin mà chỉ biết bác mình là người rất giàu có và nổi tiếng trước năm 1975.

Người cháu rể đã nhiệt tình chỉ cho chúng tôi cách “mở” cánh cửa sắt màu xanh ở phía đường Ký Con suốt ngày im ỉm đóng ở ngôi nhà Nguyễn Văn Hảo. Từ đó thân thế, lai lịch và sự nghiệp của nhân vật bí ẩn này dần dần được hé mở.

Tuổi thơ ở ruộng đồng

Ông Nguyễn Văn Hảo sinh năm 1890, quê ở ấp Long Thuận, xã Nhị Long, H.Càng Long (Trà Vinh). Nhìn vào gia sản đồ sộ mà ông Hảo từng sở hữu, nhiều người sẽ có suy nghĩ ông phất lên một phần do thừa hưởng gia sản của ông cha để lại. Tuy nhiên, ông Hảo xuất thân trong một gia đình trước đó mấy đời đều làm nông. Cha của ông có ba người vợ. Ông Hảo là con thứ ba của người vợ thứ ba.
Những năm tháng tuổi thơ, theo những người trong gia đình kể lại, cậu bé Hảo chỉ quanh quẩn ở quê. Chưa bao giờ cậu bé Hảo lại nghĩ có một ngày mình sẽ lên Sài Gòn lập nghiệp.

Một người anh cùng cha khác mẹ của ông Hảo là ông Nguyễn Văn Kiệu, làm chủ một cửa tiệm buôn bán phụ tùng ô tô ở đường Nguyễn An Ninh (Q.1). Công việc làm ăn phát đạt, ông Kiệu cần tuyển thêm người làm phụ giúp. Quay qua ngó lại anh em trong gia đình, ông Kiệu thấy ông Hảo là người thông minh, lại lanh lợi, phù hợp cho việc kinh doanh. Thế là thay vì để em làm ruộng ở quê, ông Kiệu xin phép cha đưa em trai lên Sài Gòn phụ mình buôn bán phụ tùng xe hơi.

Thuê cửa tiệm Chú Hỏa khởi nghiệp

Lên Sài Gòn, công việc đầu tiên mà ông Hảo làm là phụ anh trai mình buôn bán phụ tùng. Vốn là người thông minh, ở quê được cha cho ăn học dù không nhiều, ông Hảo đã học những bài học cơ bản từ người thợ đi trước. Cứ ai giỏi là ông Hảo đeo theo để học. Chẳng mấy chốc từ người thợ học nghề, ông Hảo thành người thợ chính tại tiệm buôn bán phụ tùng xe của anh mình.

Ngoài việc rành kỹ thuật để sau này mở tiệm không để thợ qua mặt, những ngày làm công ở tiệm anh trai, ông Hảo đã âm thầm học cách kinh doanh, mối lái buôn bán phụ tùng xe hơi với tham vọng mở một cửa hàng riêng cho mình sau này. Sau khi đã ổn định công việc, ông Hảo đưa vợ mình lên Sài Gòn. Năm 1929, vợ ông sinh người con trai đầu đặt tên Nguyễn Tâm Thạnh. Thời gian này, sau khi tích lũy một số vốn liếng, ông Hảo xin phép ông Kiệu cho phép mình ra lập nghiệp riêng. Được anh trai đồng ý, ông Hảo mở tiệm buôn bán phụ tùng xe hơi ở số 21 - 23 đường Galliéni, sau này đổi thành đường Trần Hưng Đạo (Q.1).
Cửa tiệm trên được ông Hảo thuê lại của gia đình Chú Hỏa (1845 - 1901), một trong những người giàu có nhất Sài Gòn. Song song với buôn bán phụ tùng xe hơi, trước cửa hiệu, ông Hảo mở một cây xăng bơm tay để kinh doanh thêm xăng, dầu nhớt. Không biết đó có phải là cây xăng tư nhân mở đầu tiên ở Sài Gòn hay không nhưng với độ nhanh nhạy, số lượng cây xăng ở Sài Gòn chỉ đếm trên đầu ngón tay, nên đa phần khách mang xe đến sửa chữa, thay thế phụ tùng, khi quay ra chỉ biết đổ ở cây xăng ông Hảo.

Riêng về cửa hàng phụ tùng xe của ông Hảo nằm ở trung tâm Sài Gòn, chỉ cách chợ Bến Thành mấy bước chân, hàng nhập khẩu bán đúng giá lại càng thu hút khách, nhất là giới tài xế miền Tây lên Sài Gòn mua phụ tùng thay thế. Khi đó ở Sài Gòn cũng có vài cửa hàng mua bán phụ tùng xe hơi nhưng chỉ có cửa hàng ông Hảo đủ lớn để cạnh tranh với các tiệm người Pháp trong vùng.

Cạnh tranh với người Pháp

Hạn chế của các hãng do người Pháp làm chủ là nhân viên ít nói tiếng Việt, trong khi đó đa phần giới tài xế lại không rành tiếng Pháp nên ngại vào. Thay vào đó, họ qua tiệm của ông Hảo để mua hàng.
Khi hoạt động kinh doanh mở rộng, ông Hảo giao phần lớn việc kinh doanh phụ tùng cho vợ, còn mình chỉ phụ trách việc giao dịch với bạn hàng Pháp để mua phụ tùng về bán. Vợ ông Hảo ngoài việc có duyên buôn bán còn là người phụ nữ rất chịu thương, chịu khó. Bất cứ giờ nào, kể cả 2 - 3 giờ sáng, nếu có khách gọi cửa, bà đều sẵn sàng bán hàng dù thứ khách mua chỉ lời không hơn một đồng.

 Vợ ông Hảo còn có kiểu kinh doanh khá đặc biệt. Đó là khi tài xế tới mua hàng, bà chỉ hỏi: “Chú là chủ xe hay tài xế?”. Nếu là tài xế, ngoài việc bán đúng giá, bà Hảo còn trích ra vài cắc cho họ có thêm lộ phí đi đường, cà phê, ăn sáng. Cách làm của bà Hảo giống như kiểu “khuyến mãi” bây giờ. Dù số tiền “lại quả” không đáng là bao nhưng lại thu hút giới tài xế tìm đến cửa hàng.

Nhờ kiểu kinh doanh gần gũi, bình dị và lấy công làm lãi đó mà cửa hàng phụ tùng xe của ông Hảo dù mới mở nhưng kẻ mua người bán tấp nập, tiền đếm mỏi tay. Kinh doanh ngày càng phát đạt nên ngoài cửa tiệm chính ở Sài Gòn, ông Hảo kết hợp với một người bà con ở Trà Vinh mở thêm chi nhánh dưới miền Tây.
Phía trước và hai bên hông tòa nhà có dòng chữ NG.V.HAO - Ảnh: Độc Lập
Phía trước và hai bên hông tòa nhà có dòng chữ NG.V.HAO 

Chở gạch từ Pháp xây nhà bốn mặt tiền

Trước năm 1933, ông Hảo mua miếng đất ở đường Trần Hưng Đạo - Ký Con - Yersin - Lê Thị Hồng Gấm (ngày nay) để xây cất nhà. Ban đầu ông chỉ mua nửa miếng ở phía đầu đường Trần Hưng Đạo, nhưng sau do chủ đất nài nỉ nên ông mua luôn cả miếng. Việc xây nhà kéo dài từ năm 1933 và hoàn tất vào năm 1937, song từ năm 1935 cả nhà ông đã chuyển về đây sinh sống.

Tòa nhà có diện tích gần 800 m2, được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp thịnh hành thời đó như Nhà hát Thành phố, khách sạn Continental, khách sạn Grand Palace, khách sạn Majestic… Gạch bông của tòa nhà được đưa từ Pháp qua. Do lúc đó chưa có xi măng nên thợ phải lấy mủ cây trộn với vôi cát, nước để xây.

Tòa nhà tuy có hai lầu nhưng sau này có gắn thang máy để “ông Hảo đi lên sân thượng ngắm chim cho đỡ mỏi chân”, như lời con cháu kể lại. Năm 1966, khi ông Hảo về quê ở ẩn, do không có nhu cầu sử dụng thang máy, con cháu ông đã tháo ra đem bán.

Tòa nhà sau khi hoàn tất, phía trước đường Trần Hưng Đạo ông Hảo kết hợp với Hãng Caltex mở cây xăng dầu. Căn kế tiếp bán đồ phụ tùng xe hơi, rồi tới nhà kho. Phòng bên phải là văn phòng làm việc của ông. Phía sau là garage xe hơi. Dãy lầu trên garage có thêm 6 căn được cho thuê. Còn phía trên của dãy trước để toàn bộ đại gia đình ông ở.

Ngoài tòa nhà vừa làm nhà vừa là chỗ kinh doanh trên, ông Hảo còn mua miếng đất ở bốn mặt tiền đường Bùi Viện - Trần Hưng Đạo - Đề Thám - Nguyễn Thái Học (ngày nay) để xây cất hai dãy phố nhà lầu cho thuê.

Theo những người từng thuê nhà thì công ty ông Hảo hoạt động theo nhu cầu thị trường, tức là có cầu có cung. Điều khiến các dãy nhà thuê hút khách là giá thuê mà ông đưa ra rất dễ chịu và không tăng giá đột ngột, dù đó là người thuê ngắn hay dài.
Sau đây là một số hình ảnh về ngôi nhà cổ:
Đại gia Nguyễn Văn Hảo, huyền thoại bị quên lãng: Mở cửa tòa nhà 4 mặt tiền trung tâm Sài Gòn - ảnh 2
Đại gia Nguyễn Văn Hảo, huyền thoại bị quên lãng: Mở cửa tòa nhà 4 mặt tiền trung tâm Sài Gòn - ảnh 3
Đại gia Nguyễn Văn Hảo, huyền thoại bị quên lãng: Mở cửa tòa nhà 4 mặt tiền trung tâm Sài Gòn - ảnh 4
Đại gia Nguyễn Văn Hảo, huyền thoại bị quên lãng: Mở cửa tòa nhà 4 mặt tiền trung tâm Sài Gòn - ảnh 5
Trong một bài viết về bối cảnh Nam kỳ mấy thập niên đầu thế kỷ 20, ở mục kinh tế, cố nhà văn Hứa Hoành có điểm một số nhân vật kinh doanh tài ba gầy dựng nên cơ nghiệp khồng lồ, trong đó có ông Nguyễn Văn Hảo.

Nếu trong công nghiệp, dịch vụ, có ông Trương Văn Bền với thương hiệu xà bông Cô Ba nổi tiếng khắp Đông Dương; lĩnh vực điện lực có Lê Phát An, Lê Tùng Long; cao su có Lê Phát Vĩnh, Nguyễn Hữu Hào; về giao thông xe đò, đường thủy có Lê Thanh Liêm, Phán Nuôi; ngân hàng có Trần Trinh Trạch, Nguyễn Tấn Lợi, Trương Tấn Bộ... thì ông Nguyễn Văn Hảo làm đại diện vỏ ruột xe hơi của Hãng Michelin của Pháp ở Sài Gòn.
Cạnh tranh với người Pháp

Trước năm 1933, ông Hảo mua mảnh đất nằm ở bốn mặt tiền đường - mà nay là Trần Hưng Đạo - Ký Con - Yersin - Lê Thị Hồng Gấm - rồi tiến hành xây cất nhà. Đồng thời, ông cũng trả lại cửa tiệm ở số 21 - 23 đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) cho gia đình chú Hỏa.

Về chỗ mới, ông Hảo vẫn kinh doanh phụ tùng ô tô, xăng dầu. Đến khoảng năm 1940, khi công ty đủ mạnh, vốn liếng dồi dào, ông Hảo nhập xe hơi nguyên chiếc về bán ở Sài Gòn. Những thương hiệu xe hơi mà ông Hảo nhập về là Fiat, Lancia, Nash… được bày bán phong phú như các showroom xe hơi ngày nay.

Mỗi lần ông Hảo nhập về 2 - 3 chiếc Nash, sau đó nhập xe hiệu Fiat, Lancia... Bấy giờ, xe hơi được coi là một gia tài kể cả đối với người giàu có. Giá xe hơi khi đó chừng 2.000 đồng bạc Đông Dương (1 đồng đổi được 17 franc Pháp). Ngoài việc buôn bán xe hơi, garage của ông Hảo còn làm luôn dịch vụ bảo trì sửa chữa cho các loại xe (do hãng bán cũng như các hiệu khác), cạnh tranh ngon lành với các garage Charner bán xe Peugeot, garage Auto Hall bán xe hiệu Citroen, garage Scama bán xe Ford của người Tây nằm gần đó.

Song song với việc nhập xe hơi về bán, ông Hảo còn làm đại diện vỏ ruột xe hơi của Hãng Michelin (Pháp) - một thương hiệu được ưa chuộng và rất thịnh hành ở Sài Gòn thời gian đó.

Bạn thân ba Công tử Bạc Liêu mua xe

Cái hay của ông Hảo là dù kinh doanh mặt hàng xe hơi dành cho dân có tiền nhưng ông không bao giờ phân biệt sự sang hèn của khách.

Cũng chính vì cung cách làm ăn niềm nở như thế nên một lần garage xe của ông Hảo tiếp một vị khách hết sức đặc biệt.

Một buổi sáng khi garage vừa mở cửa, có một vị khách trông rất quê mùa, mặc áo dài khăn đóng khá cũ vào hỏi mua xe hơi. Nhân viên bán hàng tính ra đuổi vì nghĩ ăn mặc như vậy thì không thể có tiền mua xe hơi mà có khi tính đường chôm chỉa. Nhưng ở gần đó, ông Hảo vừa tính sổ sách vừa quan sát nên nhân viên không dám vô phép.

Vị khách này sau khi coi xe đòi nhân viên khởi động máy. Xe khởi động, ông khách nghe tiếng máy kêu êm êm xong cất tiếng hỏi ngắn gọn: “Bao nhiêu tiền?”. “Gần 3.000 đồng bạc”, anh nhân viên trả lời mà giọng vẫn e dè.

Ông khách mở cửa ngồi lên xe nhún vài cái rồi nói: “Hình như nhíp hơi kêu. Anh cho thêm miếng dầu vô nhíp nhé”. Nói xong, vị khách kêu làm thủ tục, tính tiền.

Cuộc mua bán nhanh gọn, có phần hơi lạ lùng khiến chủ nhân garage thích thú. Ông Hảo sai người đưa chiếc xe ra cây xăng trước nhà tính “khuyến mãi” cho khách một thùng xăng đầy. Tuy nhiên, vị khách không chịu mà chỉ “xin” 5 lít. Ông Hảo ngạc nhiên hỏi lý do. Lúc này vị khách mới thật thà kể thực ra ban đầu ông không thích nhãn hiệu xe Nash của ông Hảo đang bán mà thích chiếc xe Ford (Mỹ) bán ở garage Scama người Pháp (nằm trên đường Lê Lợi hiện nay). Trước đó, ông khách đã ghé garage này để hỏi mua. Tuy nhiên, viên quản lý người nước ngoài và nhân viên khi thấy bộ dạng rách rưới và kỳ quái của khách đã đuổi khách đi. Vị khách buộc phải tìm qua hãng xe của ông Hảo.

Đổ xăng xong, vị khách sai người làm chở xuống garage xe đã đuổi ông, rồi tới trước mặt vị quản lý người Pháp nói ngắn gọn bằng tiếng Pháp: “Vì mày đuổi nên tao phải qua garage ông Nguyễn Văn Hảo mua chiếc này. Bây giờ tao chạy xe qua tiệm mày để mua xăng”. Nghe vị khách kể lại, ông chủ người Pháp đuổi việc luôn cả viên quản lý người Pháp và nhân viên người Việt.

Vụ đó, ông Hảo lời 600 đồng Đông Dương sau khi bán được chiếc xe Nash. Sau khi tính tiền và làm thủ tục xong, ông khách rút sau lưng cái mo cau gập làm đôi trong đó từng xấp tiền 500 đồng bạc Đông Dương nhiều không thể tả. Ngoài trả tiền “tươi”, vị khách còn hào phóng cho nhân viên nhiệt tình giới thiệu xe 10 đồng Đông Dương, trong khi lương của anh này chỉ 8 đồng/tháng.

Sau này tìm hiểu ông Hảo mới biết vị khách lập dị kia là một trong những người giàu nức tiếng ở miền Tây khi đó, từng là bạn khá thân với ông Trần Trinh Trạch (thường gọi Hội đồng Trạch) - thân phụ của công tử Bạc Liêu.

Xây nhà hát "hàng không mẫu hạm"

Là người mê cải lương nên khi kinh doanh phát đạt, ông Nguyễn Văn Hảo mua đất xây dựng nhà hát mang tên ông. Nhà hát này một thời được coi là “thánh đường” của giới cải lương có sức chứa hơn 1.200 khách.

Để phục vụ sở thích

Người con trai độc nhất của ông Hảo là Nguyễn Tâm Thạnh, năm nay cũng đã 86 tuổi. Chính ông Thạnh là người giúp chúng tôi “mở cửa” căn nhà đắc địa Nguyễn Văn Hảo ngay trung tâm Sài Gòn. Con trai ông Hảo cho biết dù là dân kinh doanh nhưng do lớn lên ở miền Tây nên ông Hảo rất mê cải lương. Trước nhà có một gánh hát bội nhỏ nên thường những tối cuối tuần sau những giờ kinh doanh căng thẳng, ông Hảo lại ghé xem hát.

“Cha tôi xây dựng rạp Nguyễn Văn Hảo với mục đích ban đầu là phục vụ sở thích cải lương của mình. Thêm nữa, ổng muốn nghệ thuật cải lương có một nhà hát đẳng cấp để phát triển”, ông Thạnh hồi tưởng.

Nói là làm, khoảng đầu những năm 1940, ông Hảo mua đất để xúc tiến xây dựng rạp Nguyễn Văn Hảo. Mặt tiền của rạp hướng về đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo), một con đường tráng nhựa rộng lớn và huyết mạch từ Sài Gòn đi Chợ Lớn. Cửa hậu của rạp Nguyễn Văn Hảo trổ ra đường Bùi Viện.

Theo soạn giả Nguyễn Phương, rạp Nguyễn Văn Hảo có ba tầng khán phòng. Tổng cộng số ghế cho khán giả trong rạp là 1.200 ghế, chưa kể ghế súp đặt dọc theo đường đi khi gánh hát bán hết vé chính thức. Đây là rạp hát có nhiều số ghế nhất ở Sài Gòn nên được các nghệ sĩ gọi là “hàng không mẫu hạm” Nguyễn Văn Hảo.

Lầu ba dành cho khán giả hạng ba có 300 ghế. Ghế ở lầu ba được đóng bằng ván dài, trên một cái dàn gỗ, ghế được đóng từng hàng từ thấp lên cao như ghế băng trong các rạp xiếc. Lầu hai dành cho khán giả hạng nhì và hạng nhất gồm 400 ghế bọc nệm da đỏ có lưng dựa. Tầng trệt có 500 ghế bọc nệm da đỏ, dành cho khán giả thượng hạng và hạng nhất.

Phía tay phải của rạp hát là một hành lang rộng 5 m, dài từ cửa trước đến sát phông sân khấu (độ 50 m). Hành lang này dành cho đoàn hát để phông màn, chỗ làm tuồng của một số đào, kép hạng ba, vũ nữ và quân sĩ. Đây cũng là nơi dự phòng của rạp để phòng lối ra khi có hỏa hoạn.

Ở khoảnh đất mặt tiền còn lại giao các đường Galliéni và Bùi Viện, mỗi bên ông Hảo xây hơn 10 căn phố lầu để cho thuê. Góc đường mũi tàu Bùi Viện, Kitchener (nay là đường Nguyễn Thái Học) và Galliéni, là cửa lên lầu hai của vũ trường Tour D’Ivoire (Tháp Ngà).

“Thánh đường” cải lương

Trong những năm từ 1943 đến năm 1954, Sài Gòn có bốn rạp dành cho hát cải lương: rạp Nguyễn Văn Hảo, rạp Aristo ở đường Lê Lai, rạp Thành Xương ở đường Yersin, rạp Thuận Thành ở Đa Kao. Trong số các rạp này thì rạp Nguyễn Văn Hảo là rạp hát lớn nhất, có sân khấu rộng và sâu nhất, khán giả đến xem đông nhất. Đây chính là những thuận lợi giúp cho các bầu gánh, soạn giả và họa sĩ thực hiện những tiến bộ kỹ thuật và nghệ thuật để nâng cao trình độ của sân khấu cải lương.

Rạp là nơi đoàn Việt Kịch Năm Châu diễn tuồng Tây Thi gái nước Việt. Đây cũng là nơi đoàn cải lương Hương Mùa Thu của ông bầu Thu An thực hiện kỹ thuật sân khấu cải lương panorama rất mới lạ với dân trong nghề lúc bấy giờ.

Đoàn cải lương Hoa Sen (đoàn hát có doanh thu cao nhất trong các đoàn hát cải lương cuối thập niên 1950) của ông bầu Bảy Cao cũng về hát ở đây. Các đoàn hát đều mang một ý thức chung là khi về “hàng không mẫu hạm” Nguyễn Văn Hảo trình diễn thì nhất định đoàn phải có tuồng mới, có những tranh cảnh, y trang mới và nhất định là phải có những cải cách kỹ thuật, mới và đẹp hơn những lần trình diễn trước, phải đẹp và hấp dẫn hơn các đoàn hát khác.

Theo soạn giả Nguyễn Phương thì: “Năm 1953, đoàn Hoa Sen hát khai trương vở Đoàn chim sắt tại rạp này, khán giả đông không thể tưởng tượng. Chiếc “hàng không mẫu hạm” Nguyễn Văn Hảo nếu là chiếc tàu thiệt chắc là phải chìm luôn. Bởi ngoài số khán giả đứng đầy nghẹt ở phía sau và hai bên vách tường rồi, họ còn đứng chật luôn lối đi ở giữa và phía trước sân khấu, che trước mặt bà con ngồi ghế thượng hạng, khiến họ la ó lên. Tưởng như vậy thôi sao, khán giả hạng đứng này còn leo lên sân khấu và vô luôn hậu trường. Nghe nói hôm bữa hát đó, ai đưa tiền thì người gác cửa cho vô, chẳng cần biết bên trong đã hết chỗ đứng”.

Ông Nguyễn Tâm Thạnh, con trai ông Hảo, cho biết thời vàng son cải lương của rạp Nguyễn Văn Hảo kéo dài chừng 30 năm. Đến năm 1970, ông Hảo cho ông Nguyễn Văn Đối mướn lại rạp sửa sang một số công năng để làm rạp... chiếu bóng.

Cuốn phim đầu tiên chiếu tại rạp chiếu bóng Nguyễn Văn Hảo là Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, tiếp theo là Thích ca đắc đạo... Từ đó, rạp mang tên là “Ciné Nguyễn Văn Hảo” cho đến sau năm 1975 đổi tên là rạp Công Nhân như tên gọi bây giờ. 
Theo Báo Thanh Niên
>> Huyền thoại chú Hỏa: Tỷ phú 20 ngàn nhà mặt phố Sài Gòn


Share:

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2015

Huyền thoại chú Hỏa: Tỷ phú 20 ngàn nhà mặt phố Sài Gòn

Có một điều không phải huyền thoại mà là sự thật, chú Hỏa xuất thân là người Trung Hoa di cư lánh nạn ngay trên quê hương mình và đã đi tìm đất sống ở Sài Gòn. 

Do chí thú làm ăn, biết tổ chức, điều hành công ty kinh doanh Hứa Bổn Hỏa và các con theo kiểu gia đình nhưng cực kỳ đoàn kết nên chú Hỏa đã trở thành một “doanh nhân” nổi tiếng trong tốp tứ đại phú hào với số tài sản kếch sù không chỉ để lại cho gia tộc, mà còn góp phần làm nên một “huyền thoại kinh doanh ngành bất động sản” của Sài Gòn.

Chỉ riêng ngành bất động sản với những công trình xây dựng lớn còn tồn tại trong đời sống xã hội cũng như văn hóa của một thành phố mà ông đã chọn làm nơi ngụ cư, xem như quê hương thứ hai của mình cho đến ngày khuất bóng, Hứa Bổn Hỏa cũng đã để lại cho người đời sự ngưỡng mộ hiếm có.

Một doanh nhân đẳng cấp

Chú Hỏa sinh năm 1845, mất năm 1901, hưởng dương 56 tuổi. Ông tên là Hui Bon Hoa hay Jean Baptist Hui Bon Hoa, phiên âm là Hứa Bổn Hỏa, hay còn gọi là Hứa Bổn Hòa là một trong “Tứ đại phú hào” của đất Sài Gòn vào nửa đầu thế kỷ 20 mà dân gian đã xếp hạng gồm: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”.

Nhất Sỹ tên thật là Lê Phát Đạt (1841-1900) được phong huyện hàm nên gọi là Huyện Sỹ, người quê Bình Lập, Tân An. Ông học trường Dòng là một “đại phú hào” trong lãnh vực nông nghiệp và truyền bá đạo Thiên Chúa. Lúc sinh thời, ông đã bỏ tiền của ra xây 2 nhà thờ lớn ngay trên đất của mình: Nhà thờ Huyện Sỹ ờ Q1, và Nhà thờ Hạnh Thông Tây ở Gò Vấp. Cháu ngoại ông là Nguyễn Hữu Thị Lan, vợ vua Bảo Đại, tức Nam Phương Hoàng Hậu.

Nhì Phương là Đỗ Hữu Phương (1844-1914) được phong hàm Tổng đốc nên còn gọi là Tổng đốc Phương, người gốc Hoa sinh tại Sài Gòn, ngoài chữ Hán ông còn nói giỏi tiếng Việt, thông thạo Pháp ngữ. Ông Phương đương thời là một trong những người chủ xướng và bỏ tiền ra xây trường nữ trung học Collège de Jeunesfilles Indigènes vào năm 1915, tức trường Áo Tím, sau gọi là Trường nữ trung học Gia Long (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai) nằm trên đường Bà Huyện Thanh Quan.

Tam Xường hay Bá hộ Xường, ông tên thật là Lý Tường Quan người gốc Hoa, ngoài tiếng Quảng Đông và tiếng Việt ông thông thạo tiếng Pháp. Bá hộ Xường là “đại phú hào” kinh doanh trên lãnh vực lương thực, cung cấp độc quyền mặt hàng cá, thịt cho Sài Gòn và các tỉnh.

Tứ Hỏa là chú Hỏa, tức Hứa Bổn Hỏa. Cũng có một cách sắp xếp thứ hạng khác trong “Tứ đại phú hào” xưa : “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định”. Tứ Định là Trần Hữu Định, ông trùm trên lãnh vực đất đai, tiệm cầm đồ, xuất nhập cảng vải, sợi. Nhưng tài sản kết sù của ông về sau bị con cái hoang phí, tiêu tan sau khi ông mất. Có lẽ vì thế mà ông không còn nằm trong danh sách “Tứ đại phú hào” của Sài Gòn xưa mà người thế chỗ là Hứa Bổn Hỏa chăng?


Dù sao thì qua cách sắp xếp giai tầng doanh nhân Sài Gòn xưa, cho thấy Chú Hỏa là một trong “Tứ đại phú hào” Sài Gòn ngang vai vế với Trần Hữu Định, và tiếng tăm của chú Hỏa còn lẫy lừng tới ngày nay là điều không ai bàn cãi bởi những công trình về xây dựng có giá trị của ông để lại vẫn tồn tại theo thời gian và sự thật chú Hỏa làm giàu nhờ nghề buôn bán ve chai, đồng nát đã được người Sài Gòn qua nhiều thế hệ khẳng định.
chú hỏa, doanh nhân, tỷ phú sài gòn, doanh nhân thành đạt
 Đôi quang gánh tượng trưng cho thuở cơ hàn đi mua ve chai của chú Hỏa trong ngôi nhà 99 cửa

Tủ đồ phế thải chuyển thành vàng

Tuy nhiên, việc chú Hỏa phất lên, tạo cơ nghiệp, giàu nứt đố đổ vách lại không phải như lời đồn đãi do ông mua được chuông đồng hay nhặt được túi vàng trong chiếc ghế cũ, hay buôn bán cổ vật mà là nhờ có vốn ban đầu, nhờ có óc nhìn xa, nhạy bén với thương trường và quyết đoán trong công việc cộng với cơ hội đưa đến và biết nắm bắt cơ hội đã làm nên tên tuổi của một Hứa Bổn Hỏa. Đó là lần ông trúng thầu, mua được 20.000 cái máy truyền tin phế thải của Pháp với giá hời trong lúc những ông chủ thầu khác lại không mặn mòi gì với thứ đồ vật phế thải này vì bề ngoài nó vô giá trị. Nhưng dưới con mắt của doanh nhân Hứa Bổn Hỏa thì những thứ “vô giá trị” lại biến thành vàng, bởi 20.000 bộ máy truyền tin sau khi phân kim đã cho ông một số lượng vàng rất lớn.

Nhờ số vàng này chú Hỏa chuyển sang kinh doanh nhà đất, chiếm lĩnh thị trường bất động sản mà Sài Gòn thời đó hầu như vẫn còn bỏ ngõ. Và chính Hứa Bổn Hỏa chứ không ai khác nhìn ra tiềm năng của một vùng đất hoang phế, còn nhiều ao hồ quanh con rạch r 20 ngay trung tâm Sài Gòn đang có kế hoạch sang lấp để xây chợ Bến Thành. Chú Hỏa đã tung tiền ra mua toàn bộ vùng đất mới sang lấp quanh vị trí xây chợ và khi chợ Bến Thành xây xong, Hứa Bổn Hỏa có trong tay 20.000 cái nền nhà thuộc khu đất vàng, và ông lập tức biến nó thành 20.000 căn nhà phố cho thuê để hốt bạc dài dài.


Có được tiền bạc kếch sù, chú Hỏa đầu tư vào lĩnh vực xây dựng, chính “ Công ty của Hứa Bổn Hỏa và các con” đã xây dựng khách sạn Majestic nằm ở góc đường Tôn Đức Thắng - Đồng Khởi bây giờ, một công trình kiến trúc mang phong cách châu Âu mà ngày nay vẫn còn đẹp lộng lẫy. Rồi Nhà bảo sanh Từ Dũ trên đường Cống Quỳnh ngày nay, Bệnh viện Sài Gòn trên đường Lê Lợi, chùa Kỳ Viên, khu nhà khách chính phủ, nhiều trụ sở ngân hàng, khách sạn Palace Long Hải…
Đặc biệt là ngôi nhà của chính chú Hỏa tọa lạc tại số 97 đường Phó Đức Chính Q1 với kiến trúc độc đáo, gồm 99 cửa theo phong thủy trên khu tứ giác đắc địa của Sài Gòn… riêng ngôi nhà 99 cửa của ông Hứa Bổn Hỏa khởi thủy là tiệm cầm đồ của chú Hỏa, về sau mở rộng ra và xây dựng lại vào năm 1920.
Trải qua trên 100 năm ngôi biệt thự này vẫn đẹp lộng lẫy theo vẻ cổ kính hài hòa giữa hai trường phái kiến trúc Âu - Á rất kiên cố không suy suyễn theo thời gian mà ngày nay dùng làm Bảo tàng Mỹ Thuật thành phố.
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?