Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn bí quyết thành tỷ phú. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bí quyết thành tỷ phú. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2017

Chính điểm chung này về tính cách đã giúp Warren Buffett và Bill Gates trở thành tỷ phú

Một trong những điểm chung thú vị nhất về tính cách của 2 tỷ phú Warren Buffett và Bill Gates chính là niềm đam mê học hỏi và sự tò mò cần thiết.


Warren BuffettBill Gates là hai tỷ phú liên tục có mặt trong danh sách những người giàu có nhất trên thế giới. Đặc biệt, trải qua suốt 25 năm, cả hai luôn gìn giữ một tình bạn đẹp cũng như sẵn sàng hỗ trợ các chiến lược trong kinh doanh của nhau. Hai vị tỷ phú này có rất nhiều những điểm tương đồng về tính cách, suy nghĩ hay thậm chí là việc lựa chọn sách để đọc.

Warren Buffett cũng từng chia sẻ về điểm chung lớn nhất trong tính cách của ông và tỷ phú Bill Gates rằng: “Chúng tôi luôn có một điểm tương đồng lớn đó là tò mò về mọi thứ trong cuộc sống”.
Warren Buffett và Bill Gates đã có một tình bạn đẹp trong suốt 25 năm.
Warren Buffett và Bill Gates đã có một tình bạn đẹp trong suốt 25 năm.

Hai tỷ phú Warren Buffett và Bill Gates đã gặp nhau lần đầu tiên vào một bữa ăn tối năm 1991. Chính tại bữa ăn tối đó, hai người có cơ hội để trò chuyện và xây dựng một mối quan hệ thân thiết lâu dài cho tới ngày hôm nay.

Đặc biệt, cha của tỷ phú Bill Gates đã đặt ra một câu hỏi cho cả 2 người về điều gì mà họ cảm thấy quan trọng và tâm đắc nhất ở bản thân. Thật bất ngờ, câu trả lời của 2 vị tỷ phú này đều là sự tò mò trong cuộc sống. Đây chính điểm tương đồng lớn đã giúp Warren Buffett và Bill Gates có thể đồng cảm và trò chuyện cùng nhau trong nhiều giờ đồng hồ liền.

“Chúng tôi tìm thấy trên thế giới có rất nhiều những đặc điểm thú vị khác nhau mà cả tôi và Bill Gates đều tò mò và thích so sánh chúng với nhau”, tỷ phú Warren Buffett, người sáng lập tập đoàn Berkshire Hathaway chia sẻ.

Warren Buffett và Bill Gates đều yêu thích việc đọc sách mỗi ngày.
Warren Buffett và Bill Gates đều yêu thích việc đọc sách mỗi ngày.

Đối với tỷ phú Bill Gates, sự tò mò là “một điều tuyệt vời” trong cuộc sống của con người. Ông từng nói: “Tò mò là khi bạn đang cố gắng để dự đoán cũng như tìm hiểu về những điều sẽ xảy ra trong tương lai. Chính điều này sẽ thúc đẩy việc đào sâu tư duy và phán đoán của con người trước mỗi sự việc”. Vì vậy, 2 tỷ phú Warren Buffett và Bill Gates vẫn liên tục suy đoán và nghiên cứu mọi vấn đề để thỏa mãn sự tò mò của bản thân.

Để giải quyết điều này, cả tỷ phú Warren Buffett và Bill Gates đều tìm đến một giải pháp chung là đọc sách. Bởi đối với họ, sách chính là nguồn tri thức hiệu quả nhất làm sáng tỏ mọi vấn đề thắc mắc của con người. Vì vậy, ngay từ trẻ, họ đã dành rất nhiều thời gian vào việc đọc sách cũng như tự tìm hiểu các vấn đề trong cuộc sống.

Đặc biệt, tỷ phú Warren Buffett là một trong những người đặc biệt yêu thích việc đọc sách. Ông chia sẻ rằng, quãng thời gian sinh viên của ông luôn dành phần lớn trong thư viện của nhà trường. Và cho tới hiện tại, khi đã ở tuổi 86, tỷ phú Warren Buffett vẫn giữ thói quen đọc sách 5 đến 6 giờ mỗi ngày. Trong đó, thể loại mà ông đặc biệt yêu thích là những cuốn sách về tiểu sử.

Tỷ phú Warren Buffett cũng từng khẳng định: “Bạn chẳng thể nói rằng bạn đã đọc đủ bởi kiến thức là vô tận và tri thức của bạn chỉ là một mắt xích nhỏ trong đó”.
Trí thức trẻ/CNBC
Share:

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2017

Những điểm chung của Donald Trump và Jack Ma

Dù xuất thân và môi trường sống có sự chênh lệch rõ rệt, cả hai lại đều có sự điên rồ từ bên trong, thích rủi ro và nghĩ lớn.


Đầu tuần này, Tổng thống đắc cử Mỹ - Donald Trump đã có cuộc gặp với Chủ tịch Alibaba - Jack Ma để bàn về vấn đề việc làm. Nhìn bề ngoài, cả hai có vẻ không thể hòa hợp. Trump lớn lên trong sự giàu sang, Ma lại có xuất thân bình thường. Chế độ chính trị tại Mỹ và Trung Quốc cũng rất khác nhau.
Tuy nhiên, sau cuộc gặp, Trump thậm chí đã khen ngợi Ma là "doanh nhân vĩ đại và là một trong những doanh nhân tốt nhất thế giới". BBC cho rằng trên thực tế, cả hai cũng có khá nhiều điểm chung

1. Nghĩ lớn

"Lớn" có lẽ là từ ưa thích nhất của Donald Trump. Ông luôn có những kế hoạch rất vĩ đại. Trump tiếp quản công ty bất động sản của cha mình và biến nó thành một đế chế, rồi mở rộng sang mảng giải trí. Trump thích xây những tòa nhà lớn và cao bậc nhất. Ông chưa bao giờ thiếu tham vọng. Hiện Trump có 3,7 tỷ USD, theo Forbes.

Jack Ma cũng không kém cạnh. Ông hiện là người giàu thứ 3 Trung Quốc với 27,4 tỷ USD và là một trong những người quyền lực nhất thế giới. Tuy nhiên, Ma trước đây chỉ là một giáo viên tiếng Anh tại một trường đại học ở thị trấn nhỏ, với mức lương chỉ 12 USD một tháng.
Để học tiếng Anh tốt, ông thường xuyên tới chỗ nhiều khách du lịch để luyện tập với họ. Ông đã thành lập đại gia thương mại điện tử Alibaba trong căn hộ của mình cách đây gần 20 năm, và chưa từng hối hận. Ma cũng có tầm nhìn rất xa: tạo ra 10 triệu doanh nghiệp có lợi nhuận và 100 triệu việc làm trong 20 năm tới.

2. Không ngại rủi ro

Cả hai đều là những người thích rủi ro, hay theo một số ý kiến, họ chính là những tay đánh bạc. Có lẽ canh bạc lớn nhất của Trump là chạy đua chức Tổng thống Mỹ.

Ban đầu, ông được coi là ứng cử viên yếu nhất, kể cả trong chính cuộc đua tại đảng Cộng hòa. Nhưng Trump vẫn quyết định tham gia và sự táo bạo đó phần nào đã giúp ông chiến thắng.

Jack Ma cũng vậy. Một trong những công ty Internet đầu tiên của ông - China Pages đã thất bại nặng nề, khi cuối cùng ông phải hợp tác với China Telecom và mất luôn quyền kiểm soát công ty. Những ngày đầu kinh doanh, Ma cũng tiêu tốn rất nhiều tiền. Ông từng có thời điểm phải sa thải toàn bộ nhân viên ở nước ngoài. Dù vậy, Ma cho rằng mình sẽ không có được vị trí như hôm nay nếu không có những bài học từ thất bại đó.

3. Họ đều có sự điên rồ từ bên trong

Trump là một trong những tỷ phú màu mè và nổi tiếng nhất nước Mỹ. Ông tạo tiếng vang lớn với show truyền hình "Người tập sự" và câu nói đã trở thành thương hiệu "Bạn bị sa thải". Những phát ngôn mạnh bạo trong chiến dịch tranh cử cũng khiến ông bị nhiều người chỉ trích là kẻ điên rồ. Ví dụ như tuyên bố cấm người theo đạo Hồi bước chân vào Mỹ, hay xây tường dọc biên giới Mỹ và Mexico, nhưng chi phí phải do Mexico chịu.

Còn Ma thì đã quá nổi tiếng với biệt danh "Jack Khùng", dù từ "khùng" ở đây chỉ mang nghĩa trêu đùa. Những bài phát biểu của ông luôn truyền cảm hứng cho nhân viên. Ông còn rất chịu khó hóa trang, tập luyện để biểu diễn trong các buổi tiệc của Alibaba. Thậm chí, Ma còn nổi tiếng vì chủ trì rất nhiều đám cưới cho nhân viên công ty.

Tại nhiều nước châu Á, mối quan hệ giữa chính trị và kinh doanh khá gần gũi. Đây là một cách làm kinh doanh và Ma biết rất rõ điều này. Quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc có thể xấu đi đáng kể sau ngày 20/1 - ngày ông Trump nhậm chức. Tuy nhiên, Ma luôn tự tin rằng mối quan hệ cá nhân của mình với tổng thống mới sẽ không bị ảnh hưởng. Và việc này chỉ có thể có lợi cho việc làm ăn của ông.

>> Nhờ Donald Trump, USD đang tăng giá kỷ lục so với euro

 Theo Vnexpress/BBC
Share:

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2017

Nếu 35 tuổi mà chưa giàu thì cũng đừng lo, Warren Buffett 56 tuổi mới trở thành tỷ phú

Nếu tính năm 14 tuổi là khi nhà đầu tư huyền thoại bắt đầu sự nghiệp của mình thì 33 năm đầu sự nghiệp của ông là giai đoạn đi ngang ở đáy.


"60 năm qua, tôi đã được làm những việc mình thích", Warren Buffett chia sẻ trong một bộ phim tài liệu dự kiến sẽ được công chiếu vào cuối tháng này của HBO. "Tôi cảm thấy mình cực kỳ may mắn".

Ông còn tiết lộ một bí mật mà chưa bao giờ nói trước đây: "Thực tế, đã có lần tôi trúng xổ số".

Chắc chắn, may mắn là điều không thể thiếu trên hành trình bồi đắp tài sản của người đàn ông 80 tuổi ấy. Nhưng còn điều gì mà nhiều người vẫn chưa biết?

Sau tất cả, nhà đầu tư huyền thoại xứ Omaha đã làm gì trước khi trở thành tỷ phú?

Đó là một câu chuyện thú vị. Ở cái tuổi mà chúng bạn mới chỉ biết ăn và chơi, Warren Buffett đã tham gia vào sân chơi của những nhà đầu tư. Ông sử dụng tiền kiếm được từ công việc phát báo để mua một mảnh đất nông nghiệp ở quê. Ngày ở trường trung học, ông cũng gặt hái được khá nhiều tiền từ việc kinh doanh máy đánh pinball.

Đến năm 15 tuổi, ông đã có trong tay khoảng 6.000 USD nhờ các khoản kinh doanh của mình.

Theo thống kê mới nhất của Forbes, khối lượng tài sản của nhà đầu tư huyền thoại xứ Obama đã cán mốc 73,1 tỷ USD. Con số đó đủ để đưa Buffett - người đàn ông 87 tuổi vào vị trí tỷ phú giàu thứ 3 của Mỹ, sau nhà sáng lập Microsoft Bill Gates và Jeff Bezos đến từ Amazon.

2016 là một năm tháng đậm của Buffett, ông "bỏ túi" 12 tỷ USD, trở thành người kiếm được nhiều tiền nhất trong số những tỷ phú của Mỹ. Số liệu được tổng hợp từ Bloomberg và một báo cáo độc lập của Forbes.

Sau đây là biểu đồ tài sản của Buffett kể từ khi ông có 5.000 USD ở độ tuổi 14 cho đến bây giờ.


Có thể thấy một vài mốc quan trọng trong hành trình bồi đắp tài sản của Buffett. Ông có 1 triệu USD lần đầu tiên vào năm 30 tuổi và trở thành tỷ phú USD vào năm 56 tuổi. Nếu tính năm 14 tuổi là khi nhà đầu tư huyền thoại bắt đầu sự nghiệp của mình thì 33 năm đầu sự nghiệp của ông là giai đoạn đi ngang ở đáy. Cho đến khoảng 20 năm trở lại đây, khối lượng tài sản của ông bắt đầu tăng lên chóng mặt và chưa thấy có dấu hiệu dừng lại hoặc suy giảm.

>> 10 lời khuyên tài chính vô giá từ Warren Buffett 



Theo Trí thức trẻ/Market Watch

Share:

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016

"Quy tắc 5 giờ tự học" để trở thành tỷ phú

Nếu bạn dành thời gian thực hiện “quy tắc 5 giờ tự học” thì ngôi tỷ phú thế giới không quá xa nữa đâu. 


Những tỷ phú lớn trên thế giới đều dành 5 giờ/tuần thực hiện nghiêm ngặt quy tắc học tập. Đó gọi là “quy tắc 5 giờ tự học”. Với quy tắc này, các tỷ phú thế giới sẽ cải thiện đáng kể tốc độ tiếp cận vấn đề mới và công việc cũng sẽ được hoàn thành hiệu quả nhanh hơn. 


Trong bài phỏng vấn với tờ New York Times, giám đốc điều hành của tập đoàn viễn thông AT&T – Ông Randall L. Stephenson phát biểu, nếu không dành ít nhất 5 giờ tự học thì bản thân cảm thấy lỗi thời với công nghệ.


Những tỷ phú lớn như Bill Gates, Elon Musk, Warren Buffett đều vô cùng bận rộn nhưng họ vẫn dành ít nhất 1 giờ vàng ngọc 1 ngày cho các hoạt động chia thành 3 nhóm: đọc sách, suy tư và kinh nghiệm.  


Đọc. Chẳng phải bỗng nhiên ông chủ của Nike – Phil Knight bắt nhân viên của mình cởi giày và cúi chào thư viện nếu muốn vào. Đa số các tỷ phú đều coi việc đọc sách là hiển nhiên và đam mê. 


Tỷ phú Warren Buffet dành ra tới 5 - 6 tiếng mỗi ngày để đọc tin tức và báo chí. Tỷ phú Facebook Mark thì lại đặt quy tắc đọc xong ít nhất một cuốn sách trong 2 tuần. Trong khi đó, ông trùm dầu Elon Musk lại là một người cuồng sách, ông đọc mỗi ngày 2 cuốn.  


Phản ứng. Quy tắc thứ hai của các tỷ phú là dành 4 giờ/tuần để suy nghĩ, đánh giá, nhận xét đồng thời có thời gian cho những phản ứng đối với điều vừa đọc. 


Giám đốc điều hành AOL TimArmstrong đã ra chỉ thị cho nhóm nhân viên cấp cao của mình mỗi tuần chỉ cần ngồi không 4 giờ suy nghĩ về những ý tưởng mới. Với CEO của Linkedin – ông Jeff Weiner thì lại luôn dành 2 giờ mỗi ngày suy nghĩ.  


Ông trùm phố Wall Ray Dalio khi gặp vấn đề rắc rối sẽ thông báo cho toàn nhân viên biết để họ cùng suy nghĩ và giải quyết vấn đề đó. 


Thử nghiệm. Đây có thể là quy tắc khác biệt nhất của những tỷ phú với người bình thường. Trong suốt cuộc đời mình, Tổng thống Mỹ Benjamin Franklin dành nhiều thời gian để thí nghiệm cùng các nhà nghiên cứu có cùng chí hướng. 


 Hãng google cũng vậy, họ cho phép nhân viên thử nghiệm các dự án mới trong khoảng 20% thời gian làm việc. Tỷ phú trẻ Mark lại áp dụng quy tắc này bằng cách cho phép đứa con tinh thần facebook của mình tổ chức các hoạt động thử nghiệm 1 tháng/lần với tên gọi Hack-A-Months.

Theo Inc/Kiến Thức
Share:

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

"Nghĩ giàu làm giàu" đã dạy ta sai cách: Cách thực sự để vực dậy khi xuống tinh thần

Khi cả thế giới đều trông ảm đạm, liệu tư duy tích cực có thể là câu trả lời cho mọi phiền não? Bài viết thú vị về các giải pháp để có được hạnh phúc trong lịch sử từ cổ chí kim, dưới nhiều góc nhìn thú vị.


Khi Napoleon Hill bắt đầu tìm hiểu về nguyên tắc bí mật ẩn sau mọi thành công của con người, ông thật sự đã rất chuyên tâm và mẫn cán. Trong hơn hai thập kỷ, ông đã phỏng vấn những doanh nhân xuất sắc (Thomas Edison, Henry Ford, Alexander Graham Bell), những nhà tài phiệt hàng đầu (John D Rockefeller, Charles Schwab) và những chính trị gia kiệt xuất (Theodore Roosevelt, Woodrow Wilson – và Joseph Stalin, điều này nói lên phần nào định nghĩa về sự “thành công” đang được bàn tới trong bài viết này). Sinh ra tại vùng núi Appalachia của Mỹ trong cảnh nghèo khó, Hill muốn biết được điểm chung của tất cả những người ông đã phỏng vấn: làm thế nào họ đạt được sự giàu có, quyền lực, danh tiếng, và tất nhiên có cả sự toại nguyện.

Đây là một câu hỏi thú vị, và do vậy câu trả lời đơn giản Hill đưa ra trong cuốn sách xuất bản năm 1937 Think and Grow Rich (13 Nguyên tắc nghĩ giàu, làm giàu) lại khiến chúng ta có phần thất vọng. Ông viết rằng, “ĐÍCH THỰC”, (hẳn rằng ông vô cùng tâm đắc với những chữ cái viết hoa), “tư duy có sức mạnh vô cùng to lớn, đặc biệt khi nó được hòa quyện cùng với mục tiêu, sự kiên trì và một HAM MUỐN CHÁY BỎNG tuyệt đối.

Ông giải thích rằng nếu bạn có thể hòa vào “sức nóng mạnh mẽ của từ HAM MUỐN”, nếu bạn có thể “hình dung, cảm nhận và tin rằng bản thân mình đã giàu có hay thành công”, thì bạn hoàn toàn có thể giàu có và thành công. Nói tóm lại: tư duy tích cực. Hay đúng ra phải viết là TƯ DUY TÍCH CỰC. Đơn giản là vậy.

Thông điệp này khó có thể được tiếp nhận dễ dàng khi mà ta đã phải trải qua cuộc Đại Khủng Hoảng. Nền kinh tế nằm dưới sự tác động của nhiều nguồn lực khác nhau; thất nghiệp cùng nghèo đói trên diện rộng hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của các cá nhân – vì vậy, nếu ai nói rằng đơn giản bạn chỉ cần giải phóng suy nghĩ khỏi những điều đó thì chẳng khác nào người đó đang muốn ăn một cú đấm vào mặt. Nhưng Nghĩ giàu làm giàu đã được tiên định sẽ được xếp vào hàng ngũ bestseller. Cuốn Đắc Nhân Tâm) của Dale Carnegie xuất bản một năm sau đó (1936) cũng như vậy, một cuốn sách cũng toát lên tinh thần lạc quan tương tự. Sau Khủng hoảng, phong trào Tư duy Tích cực hiện đại ra đời.

Nếu như chúng ta thấy mình khó có thể chấp nhận được chủ nghĩa tư duy tích tích cực này trong thời kỳ khó khăn kinh tế, thì có lẽ đó là vì ít nhiều trong sâu thẳm chúng ta, ta đồng tình với những điều Barbara Ehrenreich nói trong cuốn Bright-sided (Mặt sáng): bà chê trách tư duy tích cực vì đã góp phần tạo nên cục diện suy thoái hiện tại ngay từ những ngày đầu.

Bà lập luận:

Câu thần chú 'chỉ cần muốn, bạn có thể có tất cả' đã trở nên quá phổ biến trong giới kinh doanh. Tất cả những chồng sách trong hiệu sách đặt tại sân bay đều như đang hét lên phản đối tính “bi quan” và khuyên người đọc phải luôn lạc quan, vui vẻ và tràn đầy tự tin.

Cuối cùng, khủng hoảng thế chấp này là gì, nếu đó không phải xuất phát từ lời tuyên ngôn của các ngân hàng và người đi vay, rằng nếu bạn thật sự muốn điều gì đó, bạn không cần phải lo lắng về khả năng thất bại?
[…]
Nếu như bạn đang cảm nhận được cuộc khủng hoảng tài chính đang tác động tiêu cực lên cuộc sống của mình, gần như chắc chắn là bạn sẽ không muốn ai tới khuyên bạn phải suy nghĩ tích cực.

Một lý do khác có thể là vì bạn đã cố gắng thử áp dụng các phương pháp trong sách, rồi phát hiện ra rằng chúng không có tác dụng gì cả. Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Psychological Science tháng trước chỉ ra rằng việc tự nói với bản thân những câu khích lệ đầy lạc quan như “Mình là 1 người đáng yêu” lại thường khiến tinh thần của những người vốn kém tự tin tụt xuống, thay vì được nâng cao.

Tất cả những điều này đặt ra một câu hỏi: Nếu như những thứ phương pháp đó không thể khiến ta cải thiện tâm trạng trong cảnh đau buồn, vậy điều gì có thể làm được?
Trong các năm qua, thi thoảng tôi lại viết một cuốn “Nhật ký cảm ơn” (Gratitude journal) – theo cách gọi của nhà tâm lý học Sonja Lyubomirsky tại Đại học California: một cuốn sổ liệt kê khoảng 3-5 điều khiến tôi cảm thấy biết ơn. Thực ra, tôi rất ngại khi phải thừa nhận điều này. Việc giữ cuốn sổ này hoàn toàn mâu thuẫn với những gì tôi nhìn nhận về chính mình: một người Anh lúc nào cũng hoài nghi, lý trí và hay nói lời mỉa mai, châm chọc, miễn nhiễm với những cám dỗ sến sủa, hay những thứ vớ vẩn giúp tâm trạng tốt hơn. Bên cạnh đó, tôi cũng rất nghi ngờ những phương pháp có thể biến tôi thành người lúc nào cũng mỉm cười được và không bao giờ phàn nàn: có lẽ chúng ta nên giận dữ và buồn bã về những điều như thái độ của các chính trị gia hay tình trạng khí hậu hiện tại.

Điều khó xử ở đây chính là việc giữ một cuốn nhật ký cảm ơn như vậy đã giữ cho tâm trạng của tôi thay đổi rõ rệt.

Tôi không phải người duy nhất thấy vậy: các nghiên cứu do Lyubomirsky và đồng nghiệp thực hiện chỉ ra rằng việc ghi chép này giúp mức hạnh phúc tăng lên rõ rệt so với nhóm kiểm soát (dù rằng hạnh phúc là một khái niệm mang tính chủ quan, nhưng bạn có thể yên tâm rằng họ đã tìm được cách đo đạc nó ở mức chính xác phổ quát nhất). Và tôi hân hạnh được chia sẻ với các bạn rằng, có lẽ chính việc tôi không thể viết nhật ký hàng ngày về bất cứ điều gì lại là một trong các lý do khiến phương pháp này có tác dụng. Nhóm của Lyubomirsky không ghi nhận được bất cứ sự cải thiện nào về chỉ số hạnh phúc ở những người viết nhật ký hàng ngày, nhưng lại ghi nhận được những cải thiện lớn lao đối với những người làm vậy theo từng tuần. Có lẽ là bởi những người như tôi sẽ không cảm thấy chán trò này, hay cũng không vì thế nảy sinh tư tưởng rằng chuyện cảm thấy biết ơn là thứ đương nhiên.

Thật may là trong cuốn The How of Happiness (tạm dịch: Làm sao để hạnh phúc), Lyubomirsky đã công nhận sự tồn tại của cảm giác xấu hổ ngượng ngùng khi viết nhật ký cảm ơn. Bà nhận định, một vài phương pháp trông có vẻ “ngốc nghếch… tốt thì cũng là trò vặt vãnh, còn tệ nhất thì rõ sến sẩm” - thật ra lại là cách hiệu quả giúp bạn hạnh phúc, vui vẻ hơn. Có thể chúng ta sẽ phải lựa chọn giữa việc thờ ơ mọi điều sến sẩm của cách làm này với việc chấm dứt tình trạng buồn bã.

Phát hiện của Lyubomirsky về lòng biết ơn hình thành nên một phần của ngành tâm lý học tích cực – cho tới nay đã có lịch sử 10 năm và đã tạo nên một cuộc cách mạng trong nghiên cứu về tâm trí con người. Nhờ chuyển đổi góc nhìn đơn giản – từ việc tập trung gần như tuyệt đối vào nghiên cứu rối loạn tâm thần như nhiều thập kỷ trước sang nghiên cứu nguyên nhân hình thành hạnh phúc giản đơn và “sự thăng hoa”. Freud có một nhận định nổi tiếng về sứ mệnh của ngành phân tâm học, đó chính là biến “đau khổ” sang “nỗi buồn bình thường”. Tuy nhiên, trong một phát biểu có tính bước ngoặt năm 1998, Martin Seligman, giáo sư của Đại học Pennsylvania, người có công mở ra ngành tâm lý học tích cực, cũng đã buộc tội những người bạn đồng nghiệp của mình đã bỏ quên nhiệm vụ “giúp những người ít gặp vấn đề về tâm lý trở nên vui vẻ hơn”.

Các thí nghiệm được thực hiện trong thập kỷ ngay sau đó đã thổi bùng nên sự ra đời các cuốn sách về hạnh phúc: ước tính chỉ riêng năm 2008 đã có 4.000 cuốn được xuất bản. Những cuốn hay nhất (bao gồm các tác phẩm của Lyubomirsky, Authentic Happiness của Seligman, Stumbling on Happiness của Daniel Gilbert và The Happiness Hypothesis của Jonathan Haidt) đã vượt xa mọi chỉnh sửa nhanh chóng sau đó về tư duy tích cực. “Tâm lý học tích cực là về việc tiếp thu các kỹ năng cho việc phục hồi, cam kết, có mục tiêu và các mối quan hệ tích cực”, Seligman phát biểu. “Và không có kỹ năng nào là đơn giản. Chỉ có chứng lo âu và trầm cảm là dễ gặp phải”.

Chính tính cách của Seligman đã chứng minh điều này: những người phỏng vấn vốn mong đợi vào một huấn luyện viên tràn đầy cảm hứng đã rất ngạc nhiên khi khám phá ra ông là người tẻ nhạt, hay cáu kỉnh và tự nhận mình thuộc nhóm “người thô lỗ cáu bẳn, bi quan và trầm cảm”. Ông đã áp dụng thành công những phát hiện của mình vào trường hợp của bản thân, từ đó dịch chuyển “vạch xuất phát” hạnh phúc theo hướng đi lên, mặc dù tính cáu bẳn vẫn không thay đổi. “Dù vậy, bất cứ khi nào tôi thuyết minh về điều này, điều đầu tiên tôi thường gặp phải là ‘ồ, đó chính là kiểu lạc quan hời hợt, hớn hở của người Mỹ’.

Thực vậy, những gì chúng ta học được từ tâm lý học tích cực thường khá nghiêm túc và thực tế, không giống với cách nghĩ thần kỳ như mô tả của Napoleon Hill hay trong cuốn The Secret. Chúng ta đã biết về các cuốn nhật ký cảm ơn. Chúng ta học được rằng việc ghi lại những vấn đề cá nhân trong nhật ký có thể có tác động tích cực không chỉ lên tâm trạng, mà còn lên cả những chỉ số khách quan về sức khỏe của cơ thể. (Các nhà nghiên cứu tại New Zealand phát hiện ra rằng các bài tập viết 30 phút mỗi ngày giúp làm tăng mức độ CD4 lymphocytes, một chỉ số về chức năng miễn dịch của bệnh nhân AIDS). Nhìn chung, mọi người đều khá tệ trong việc đoán những điều có thể làm họ hạnh phúc, và khi phải xem xét những lựa chọn quan trọng trong cuộc đời, chúng ta thường cho rằng sẽ khôn ngoan hơn nếu chọn theo điều đa số đã làm trước đó. Chúng ta học được rằng thích nghi là kẻ thù lớn nhất của hạnh phúc: dù trải nghiệm của chúng ta có tích cực thế nào, chúng ta cũng sẽ quen dần và rồi bắt đầu cảm thấy nhàm chán. Vì vậy tìm kiếm những điều mới mẻ trong cuộc sống chỉ để thỏa mãn ham muốn trải nghiệm cái mới có thể là một chiến lược hợp lý. Nhưng điều giúp ta an tâm nhất, có lẽ là con người kiên trì, bền bỉ hơn họ nghĩ rất nhiều. Thậm chí khi đối mặt với những khủng hoảng như chiến tranh, động đất, lũ lụt, gần như ¾ loài người không mắc phải rối loạn stress sau sang chấn.

Tuy các phát hiện này còn khá khiêm tốn, nhưng dễ dàng nhận thấy đã có những phản ứng dữ dội về “ngành công nghiệp hạnh phúc”, một khái niệm thường bị đánh đồng giữa những kẻ buôn lậu thuốc chống trầm cảm với các bậc thầy về tư duy tích cực self-help hay những nhà tâm lý học tích cực nhiệt thành. “Người hạnh phúc là người nông cạn”, Eric Wilson, một học giả văn học đã viết như vậy trong cuốn Against Happiness, buộc tội ngành tâm lý học hiện đại vì đã “gạt bỏ giá trị của nỗi buồn một cách hèn nhát”. Trong cuốn The Loss of Sadness, hai nhà xã hội học Jerome Wakefield và Allan Horwitz cũng đưa ra quan điểm tương tự. Họ lập luận rằng con người đang quá thiết tha với việc chữa trị những buồn đau thông thường. Chúng ta vội vàng đi kê đơn hay can thiệp bằng liệu pháp cho những người đau khổ vì chia tay hay vì cái chết của ai đó.

Đương nhiên những lập luận này cũng có điểm đúng. Nhưng những nhà phê bình công kích tâm lý học tích cực thường mắc một lỗi nghiêm trọng: khi các nhà tâm lý học tích cực đương đại nói về niềm hạnh phúc, họ không chỉ đơn thuần nói về trạng thái tâm lý tích cực.

Có lẽ chúng ta không thể đạt được trạng thái hưng phấn liên tục và nếu đạt được, đó là dấu hiệu vấn đề về tính cách chứ không phải tình trạng tâm lý. Nhà nghiên cứu Barbara Fredrickson đã đưa ra một tỉ lệ lý tưởng là cứ mỗi 3 trải nghiệm hay cảm xúc tích cực, ta lại có 1 trải nghiệm và cảm xúc tiêu cực, tất nhiên tỉ lệ này không thể là 1:0. Sau mất mát, nỗi đau giúp cho vết thương được chữa lành; nỗi sợ hãi, tất nhiên, chính là một chỉ số cần thiết đánh giá mức độ nguy hiểm. Nhưng tâm lý học tích cực “không phải môn khoa học giúp cải thiện tinh thần”, Seligman nhấn mạnh. Thay vào đó, ông xác định được ba loại hạnh phúc khác nhau. Thứ nhất là “cuộc sống dễ chịu” – đây thường là mục tiêu công kích của những nhà phê bình tâm lý học tích cực. Thứ hai là “cuộc sống tốt”, nghĩa là “nhận biết các giá trị, điểm mạnh nhất của bản thân, và luôn tận dụng chúng”. Cuối cùng là “cuộc sống có ý nghĩa”, dùng điểm mạnh của mình vào những việc to lớn hơn những điều mang tính cá nhân.

Hai loại hạnh phúc cuối cùng không gắn liền với niềm vui bất tận. Một phần do nó bao gồm cả những cảm xúc tiêu cực và một phần vì trong những chặng đường tuyệt vời nhất của cuộc sống “tốt” hay “có ý nghĩa”, chúng ta hiếm khi nhận ra cảm xúc của mình: chúng ta thường ở trong một trạng thái mà nhà tâm lý học Mihaly Csikszentmihalyi gọi là “dòng chảy”.

Chỉ khi ngồi chiêm nghiệm lại, chúng ta mới nhận ra mình đã mãn nguyện thế nào.

Một trong những kết luận đặc biệt phù hợp với thời điểm hiện tại của tâm lý học tích cực chính là không có loại hạnh phúc nào đặc biệt liên quan tới thu nhập: trên một ngưỡng nhất định, hiệu ứng cải thiện hạnh phúc của đồng tiền sẽ giảm xuống nhanh chóng. Seligman, người mất 25% số tiền tiết kiệm cả đời trong một lần thị trường chứng khoán bị sụp đổ, lại tiếp nhận điều này một cách khá dễ chịu. “Khoa học chỉ ra rằng chỉ số sức khỏe của con người phụ thuộc một phần vào vật chất, của cải, đặc biệt là khi điều này ở dưới mức an toàn, nhưng ở trên mức này rồi thì ý nghĩa cuộc sống và các mối quan hệ tốt đẹp mới quan trọng. Mất một phần tư số tiền tiết kiệm cả đời đúng là một cú choáng người, nhưng khi so sánh nó với những mối quan hệ tốt đẹp thì điều này chẳng là gì cả”.

Càng đọc cuốn Nghĩ giàu làm giàu của Napoleon Hill, bạn sẽ càng thấy luận điểm của ông ấy thiếu thuyết phục. Đầu tiên, ông ấy không đưa ra bằng chứng thực tế nào cho thấy những người giàu có và nổi tiếng mà ông ấy phỏng vấn thực sự hạnh phúc. Kể cả khi cứ cho là họ hạnh phúc đi, Hill ngày càng trở nên kém thuyết phục hơn trong nỗ lực khẳng định lý do dẫn tới hạnh phúc là người nào đấy đã chia sẻ Bí quyết Thành công - dù mỗi người là những tổ hợp khác biệt về kỹ năng, tinh thần phấn đấu, trí tuệ, kế hoạch, đặc quyền, tham vọng và may mắn. (May mắn có thể là một nhân tố đặc biệt bị bóp méo: hàng nghìn người khác có thể đã tư duy tích cực chính xác như vậy, nhưng rồi lại thất bại. Sẽ không có gì là ngạc nhiên khi Hill không bao giờ phỏng vấn những người này.)
Những phát hiện của tâm lý học tích cực có một lợi thế khó có thể bì được vì chúng đều được chứng minh thông qua các nghiên cứu thực nghiệm, nhưng ngoài ra còn có một lý do khác khiến chúng ta thấy những điều này thật đúng đắn. Các phát hiện này đều khiêm tốn, phong phú và khác biệt: nó giúp trực giác của chúng ta biết rằng hạnh phúc là một tổ hợp tạo thành từ nhiều lý do khác nhau, bao gồm các thử nghiệm đúng sai, và phù hợp với lẽ thường; rằng không có một bí mật duy nhất hay cách chữa trị nhanh chóng nào đang đợi chúng ta khám phá và nếu làm vậy, chúng ta chỉ chuốc lấy khổ sở thôi. Lời khuyên rất đơn giản. Luôn ghi nhớ phải biết ơn.

Hãy chi tiền để thu về các trải nghiệm, không phải vật chất. Đi tình nguyện. Nuôi dưỡng các mối quan hệ. Dành thời gian với thiên nhiên. Hãy chắc chắn rằng bạn gặp gỡ những người mới, đến những địa điểm mới. Và không bao giờ được mặc định rằng bạn biết rõ điều gì sẽ khiến mình hạnh phúc.

Một số lời khuyên trên nghe giống như những lời dạy bảo của các cụ, hay một tràng những lời sáo rỗng cũ rích. Nhưng chắc chắn rằng đấy là những điều đáng suy nghĩ, bởi vì chúng đúng đắn.
Nguyễn Thị Bích Ngà
Theo Trí Thức Trẻ/Trạm Đọc
Share:

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2016

9 bài học thành công từ người giàu nhất Hong Kong

Xuất thân từ một thanh niên bỏ học giữa chừng, Lý Gia Thành hiện là người giàu nhất Hong Kong (Trung Quốc) với tổng tài sản lên tới 28,8 tỷ USD. 

 

Từng viết một bài báo mang nội dung như một bản kế hoạch để có thể mua nhà và xe trong vòng 5 năm, Lý Gia Thành cũng đưa ra 9 bí quyết mà doanh nhân có thể học hỏi để chạm tới thành công. 

Mời những người thành công hơn bạn đi ăn 

Hãy luôn nhớ mời những người thông thái và giàu có hơn bạn hoặc đã từng giúp đỡ bạn trong sự nghiệp dùng bữa. Đừng quên làm việc này mỗi tháng. Sau một năm, những người này sẽ mang lại giá trị to lớn cho bạn. Không những danh tiếng và tầm ảnh hưởng được nâng tầm, bạn còn xây dựng cho mình hình tượng tốt bụng và hào phóng. 

Nghiện sách 

Khi mua sách, hãy đọc chúng thật nghiêm túc và ghi nhớ những bài học, chiến lược được dạy trong đó. Chia sẻ với người khác những gì bạn đã đọc được bằng ngôn ngữ của chính mình sẽ giúp tăng uy tín và củng cố các mối quan hệ của bạn. 

Học cách bán hàng 

Sẽ thật tuyệt nếu bạn kiếm được một công việc bán hàng bán thời gian. Tuy khó nhưng đó là cách nhanh nhất giúp bạn lĩnh hội được nghệ thuật bán hàng, một kỹ năng chuyên sâu không thể thiếu cho sự nghiệp sau này. Tất cả những doanh nhân thành công đều bán hàng giỏi. Họ có khả năng bán giấc mơ và tầm nhìn của mình. Khi đã bước chân vào nghề bán hàng, bạn sẽ hiểu mình nên và không nên bán gì. Hãy vận dụng sự nhảy cảm với các yếu tố của thị trường để xác định được các nhu cầu sản phẩm và từ đó điều hành doanh nghiệp của mình. 

Đừng tiêu quá đà 

Cố gắng tối thiểu hóa việc mua sắm quần áo, giày dép, bạn có thể mua chúng khi đã giàu. Hãy tiết kiệm tiền để mua quà cho những người bạn yêu thương và cho họ biết kế hoạch cùng mục tiêu tài chính của bạn. Nói cho họ lý do bạn tiết kiệm là để phục vụ cho kế hoạch, định hướng và giấc mơ của mình. 

Học hỏi bằng cách giúp đỡ 

Doanh nhân bất cứ đâu cũng cần giúp đỡ. Hãy tận dụng mọi cơ hội để kiếm một công việc làm thêm. Điều này sẽ giúp rèn luyện ý chí và cải thiện kỹ năng cho bạn. Bạn sẽ nhanh chóng phát triển khả năng hùng biện và tiến gần hơn tới các mục tiêu tài chính. 

Bắt đầu lên kế hoạch càng sớm càng tốt 

Cuộc sống, sự nghiệp hay hạnh phúc đều cho chính bạn tạo nên. Khi còn nghèo hãy ở nhà ít thôi và năng ra ngoài. Khi đã giàu, hãy ở nhà nhiều hơn và bớt ra ngoài. Đó là nghệ thuật sống. Khi nghèo, hãy tiêu tiền nhiều hơn cho người khác. Khi giàu, hãy tiêu tiền cho bản thân. Rất nhiều người đang làm ngược lại. 

Đừng để cái tôi điều khiển bạn 

Khi còn nghèo, hãy tốt với người khác. Đừng tính toán. Khi đã giàu rồi, bạn phải học cách khiến người khác tốt với mình và tự đối xử tốt với bản thân hơn. Khi nghèo, hãy ném bản thân ra ngoài để người khác “bóc lột”. Khi đã giàu, bạn phải giữ gìn bản thân và đừng để kẻ khác dễ dàng lợi dụng. Đó là những điều phức tạp trong cuộc sống mà nhiều người không hiểu được. 

Đừng phô trương sự giàu có với kẻ khác 

Khi nghèo, hãy để người khác thấy bạn tiêu tiền như thế nào. Khi giàu, đừng khoe khoang mà hãy âm thầm tiêu tiền cho mình. Khi nghèo, bạn phải thật hào phóng. Khi giàu thì đừng để người khác nghĩ bạn tiêu pha bừa bãi. 

Nghiêm khắc với bản thân 

Còn trẻ thì đừng e ngại rằng mình nghèo. Bạn cần biết cách đầu tư vào bản thân để gia tăng hiểu biết và vị thế. Bạn cần xác định rõ điều gì là quan trọng và đáng đầu tư vào. Cố gắng tránh tiêu tiền vào quần áo nhưng nên chọn mua một số món đồ thể hiện đẳng cấp. Hãy hạn chế ăn ngoài và nếu có hãy cân nhắc kỹ chi phí. Khi mời ai đó dùng bữa, hãy chắc chắn đó là người có giấc mớ lớn và làm việc chăm chỉ hơn bạn.

>> Lý Gia Thành: 14 lời khuyên từ thực tế bản thân làm sao để bước tới thành công

(VNE)
Share:

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2016

Đầu tư theo "đường tắt" như tỷ phú Elon Musk

Để kiếm được nhiều tiền không đơn giản. Làm sao để giữ được tiền và khiến nó sinh sôi nảy nở để có được sự tự do tài chính càng không dễ dàng. Lộ trình này thường tiêu tốn khoảng 20, 30 năm (với điều kiện không có bất cứ biến cố nào ngoài phạm vi kiểm soát xảy ra). Có cách nào để chúng ta sớm có được sự tự do tài chính hay không? Có cách nào để chặng đường đó chỉ còn 5, 10 năm hay không?

Elon Musk - người sáng lập, CEO của Tesla Motors, với khối tài sản hiện nay ước tính 12,7 tỷ USD, đã chia sẻ cách thức đầu tư theo đường tắt của mình, bắt đầu từ “Thử thách 1 USD” khi ông vừa tròn 17 tuổi cho đến khi trở thành triệu phú ở tuổi 28.

Từ thử thách 1 USD…

Đến Mỹ năm 17 tuổi, Elon Musk thực hiện thử thách đầu tiên của mình bằng việc sống với chỉ 1 USD/ngày, nghĩa là 30 USD/tháng.

“Lần đầu tiên đặt chân tới Mỹ, tôi chỉ là một thằng nhóc Canada 17 tuổi. Tôi đặt ra mức sống với chỉ 1 USD/ngày, ngay lúc đó tôi nghĩ, tôi sẽ kiếm một căn hộ tồi tàn một chút cũng được, miễn là có máy tính thì đó vẫn là một nơi quá tốt. Nếu việc chi tiêu đúng như kế hoạch, thì việc kiếm 30 USD/tháng với tôi tại thời điểm đó là khá dễ dàng, thế thì tôi có thể tự nuôi sống bản thân mình, thử thách đầu tiên của tôi” – ông chia sẻ trên chương trình Tyson’s StarTalk.

Với thực đơn chủ yếu là hotdog và nước cam, Elon đã xuất sắc vượt qua thử thách đầu tiên trước khi trở thành triệu phú vào năm 1999 (năm Elon 28 tuổi) - thời điểm ông bán lại công ty startup của mình – Zip2 – cho Alta Vista với giá 341 triệu USD.

Tính theo tỷ lệ lạm phát ở thời điểm Elon thực hiện thử thách cho tới bây giờ, Elon và nhà báo Kathleen Elkins (cây bút của tờ Business Insider) đều xác định “thử thách 1 USD” ở thời điểm năm 2016 này sẽ có “hạn mức” mới là 2 USD/ngày. Chưa tính tương quan sức mua giữa hai đồng tiền, dựa vào tỷ giá hối đoái giữa USD và VND, thì mỗi ngày Elon chỉ tiêu xài khoảng 45 ngàn đồng, tức là một tháng chỉ 1,35 triệu đồng.

… đến con đường tắt của tỷ phú 

Để đi trên con đường tắt của Elon Musk, có một nền tảng tài chính vững mạnh chỉ trong vòng 10 năm, bạn cần đến 3 điều sau:

Không ngại đón nhận thách thức từ những rủi ro 

“Rủi ro lớn, lợi nhuận nhiều”. Nguyên lý đầu tư “thách thức rủi ro” này đã ăn sâu vào phong cách đầu tư của Elon từ khi ông hoàn thành “thử thách 1 USD” cho đến lúc ông bắt đầu startup đầu tiên của mình, Công ty Zip2.

Không ngừng thách thức bản thân, không ngừng hoàn thiện mình, mục tiêu tài chính của bạn sẽ hoàn thành sớm khi bạn biết cách hoàn thiện mình từ những thử thách phải đối mặt.

Sau khi có được thành công với startup Zip2, Elon Musk tiếp tục các dự án startup khác, công ty X.com, rồi đến Tesla Motors, SpaceX. Cần phải biết rằng, startup là kênh đầu tư siêu mạo hiểm. Tại Việt Nam, tỷ lệ thất bại của một dự án startup thường trên 90%, còn theo Dave McClure, người sáng lập Quỹ đầu tư 500 startups, thì tỷ lệ mất trắng khi đầu tư cho một dự án startup của Mỹ lên đến 80%.

Thực hiện lộ trình đầu tư từng bước một

Hãy nhớ rằng, dù là đường tắt, bạn cũng vẫn phải có lộ trình từng bước cho kế hoạch. Giống như Elon, hãy bắt đầu từ việc không bị chết đói, trước khi nghĩ đến việc trở thành tỷ phú. Hãy để rủi ro đến từ những cơ hội bên ngoài chứ không phải từ bản kế hoạch tài chính của mình.

Trở thành kẻ tiên phong

Hãy tìm kiếm cơ hội đầu tư, cơ hội làm giàu, xây dựng con đường tắt từ những ý tưởng tiên phong.

Elon đầu tư vào X.com - công ty tiên phong trong việc chuyển tiền qua internet, khi lúc đó, việc chuyển tiền hoặc thanh toán được thực hiện hoàn toàn qua thư tín và một cuộc giao dịch có khi kéo dài đến hàng tuần. Elon sau đó mua lại Confinity – đối thủ chính của X.com – và ông đổi tên công ty thành Paypal. Paypal tiếp tục trở thành hệ thống thanh toán online đầu tiên trên toàn thế giới cho đến năm 2002, thời điểm eBay mua lại Paypal với giá 1,5 tỷ USD.

Hiện nay, Elon Musk đang đầu tư vào Tesla Motors - công ty sản xuất xe dẫn đầu thị phần xe hơi chạy bằng điện. Vào trung tuần tháng 4 vừa qua, Tesla Motors đã giới thiệu mẫu xe hơi chạy bằng điện Tesla Model 3, thu hút hơn 253.000 người đăng ký và đặt cọc mua, dù phải tới năm sau mới nhận được xe.
(DNSGCT)

Share:

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016

Tôi đã học thành triệu phú bán hàng như thế nào

Grant Cardone làm nghề này chỉ vì thất nghiệp sau khi ra trường, từng ghét nó tới 8 năm và tự nhận mình có tố chất bán hàng rất kém cỏi. 

Grant Cardone là triệu phú tự thân nổi tiếng của Mỹ với ba công ty trị giá hàng triệu USD. Ông đã viết nhiều cuốn sách nằm trong top bán chạy của New York Times. Cardone cũng dẫn chương trình radio tên Cardone Zone, được coi là "Chuyên gia bán hàng hàng đầu" và "Chuyên gia huấn luyện doanh nghiệp hàng đầu" để theo dõi trên Twitter. Ông đã chia sẻ quá trình rèn luyện kỹ năng bán hàng của mình trên Entrepreneur:

Tôi chọn làm nhân viên kinh doanh vì bắt buộc, chứ không phải muốn thế. Mọi người nói: "Anh đúng là sinh ra để làm nghề này". Nhưng họ sai rồi. Tôi là người có tố chất bán hàng kém cỏi nhất họ từng gặp đấy. Và tôi ghét nghề này trong 8 năm đầu làm nó cơ.
Ở tuổi 17, việc bán hàng đầu tiên của tôi là trong một cửa hàng quần áo. Tôi ghét nó, vì ghét phải nói chuyện với người lạ. Câu nói "Tôi có thể giúp gì cho anh/chị" làm tôi cảm thấy rất ngại và hay bị líu lưỡi. Tôi sợ phải tiếp xúc với mọi người, ghét cảm giác bị từ chối, và kết quả lại hoàn toàn dựa vào may mắn. Tức là gặp đúng khách hàng hay không ấy. Hồi đó tôi đã nghĩ như vậy.
toi-da-hoc-thanh-trieu-phu-ban-hang-nhu-the-nao
Grant Cardone đã trở thành triệu phú khi mới 30 tuổi. Ảnh: WPB Magazine

Tôi làm nghề này không phải vì muốn, mà là vì để sống. Nghề được định sẵn cho tôi thì lại chẳng giúp kiếm được xu nào. Bán hàng là công việc duy nhất tôi được gọi đi làm lúc đó. Và tôi ghét nó. Tôi đã nói với chú mình: "Cháu học đại học đâu phải để đi bán hàng". Và ông ấy đáp lại rằng: "Thì cháu cũng đâu có đi học để bị thất nghiệp".

Thế là tôi làm nhân viên kinh doanh. Và suốt 2 năm sau đó, tôi ghét nó. Tôi ghét phải gây dựng quan hệ với khách hàng, hỏi câu hỏi điều tra, ghét phải đưa ra đề nghị, ghét bị từ chối và rất nhiều thứ khác nữa.

32 năm sau đó, trong một cuộc phỏng vấn với Fran Tarkenton - cựu cầu thủ bóng đá Mỹ nổi tiếng và cũng là một doanh nhân cực kỳ thành công, ông ấy đã hỏi tôi: "Anh có tài bán hàng đấy. Làm thế nào được như vậy?".

Câu hỏi rất hay. Làm thế nào từ một gã cực kỳ ghét bán hàng lại thành người có thể viết 5 cuốn sách dạy bán hàng bán rất chạy và mở cả chục chương trình đào tạo như thế.
Câu trả lời là khi tôi nhận ra cuộc sống của mình phụ thuộc vào nghề này và quyết định ngừng than thở, tập trung làm việc cho tốt, mọi thứ đã thay đổi. Một ngày, một người tên Ray nói với tôi: "Anh ghét bán hàng vì anh chẳng biết gì về nó cả đấy. Nghe đoạn băng này thử xem". Sau đó, anh ta đưa tôi một cuốn băng cassette của một người dạy bán hàng. Ông ấy nói về nghề này như một công thức, từng bước từng bước, từ khi gặp khách hàng đến khi kết thúc.

Thật kỳ diệu. Tôi đã gọi đến công ty đó và hỏi họ còn tài liệu nào như thế không, rồi đầu tư hẳn 3.000 USD vào 12 cuốn băng. Mỗi ngày, tôi dành 30 phút đến 1 tiếng để xem video người đàn ông này giảng giải về việc bán hàng,

Chỉ trong 30 ngày, tôi bán được số hàng gấp đôi. Thú vị nhất là, điều tôi ghét suốt 8 năm qua giờ lại thành cái khiến tôi thích thú. Trong 9 tháng, tôi vào top 1% nhân viên xuất sắc nhất trong ngành và yêu thích bán hàng. Và trong 5 năm, tôi mở một công ty dạy các cá nhân và tổ chức cách thức bán hàng mới.  

Nhiều năm qua, tôi đã nói chuyện với hàng chục triệu nhân viên bán hàng chuyên nghiệp từ tất cả các ngành. Có lần, tôi gặp gỡ hàng nghìn nhân viên kinh doanh bảo hiểm ở Scottsdale (Arizona, Mỹ). Trong phòng hôm đó gồm toàn những người trung bình kiếm được 970.000 USD một năm. Tôi đã hỏi họ: "Có bao nhiêu người trong các anh làm nghề này vì yêu thích?". Gần như chẳng ai giơ tay cả. Lần khác, tôi nói chuyện với 3.000 nhân viên marketing ở Vegas, cũng với câu hỏi tương tự, và gần như chẳng có cánh tay nào đưa lên.

Vấn đề là, bạn không cần phải thích nghề này. Bạn cần tự hiểu toàn bộ tương lai của mình phụ thuộc vào nó và dừng chống lại nó đi. Rất ít người sinh ra đã thích bán hàng. Mọi người tôi biết rằng thích nghề này đều là vì họ thành công với nó. Trong 25 năm, tôi chưa gặp ai thất bại mà lại thích bán hàng cả.

Những người thích nghề nghiệp của mình đều có 2 điểm chung - kiếm được tiền và biết mình đang làm gì. Tôi đã gặp hàng nghìn người thành công, hướng nội có, hướng ngoại có, nam có, nữ có, người già có, người trẻ có. Họ sở hữu đủ nét tính cách, từ hiếu chiến, thích trực tiếp, coi trọng kết quả cho đến thận trọng, khiêm tốn.

Tôi đã giúp hàng nghìn người bán hàng học cách yêu nghề nghiệp của mình. Và đây là kinh nghiệm của chính bản thân tôi. Để yêu thích và kiếm được tiền từ nghề này, bạn bắt buộc phải làm 2 điều.

Một là, luôn nhớ rằng đây là cần câu cơm của mình. Bạn không cần muốn làm nó, yêu thích nó. Những việc này sẽ xảy ra sau khi bạn thấy kết quả. Quan trọng là bạn phải gắn bó với nó, coi như không có lựa chọn nào khác.

Hai là học cách bán hàng. Kể cả có năng khiếu, bạn vẫn phải học từng bước. Tôi biết rất nhiều người cho rằng họ là người bán hàng bẩm sinh. Nhưng sau này, khi tôi đã học được luật chơi, họ vẫn phải tìm đến tôi.

Và một khi quyết định gắn bó, bạn sẽ có rất nhiều cái phải học. Như cách gây dựng quan hệ với khách hàng, cách điều chỉnh thái độ, làm nổi bật bản thân, khi nào nên nói và khi nào nên nghe,…

Trước khi làm nghề này, tôi nghèo lắm. Nhưng khi nghiêm túc học về bán hàng, tôi bắt đầu kiếm được tiền thực sự, lần đầu tiên trong cuộc đời đấy. Và giờ tôi đã là triệu phú rồi.

Bạn có thể có mọi thứ trên đời nếu biết cách bán hàng. Nhiều người sau khi tốt nghiệp, nhận một "công việc tốt", họ có thể có 60.000 - 80.000 USD một năm. Còn nếu làm nghề này, bạn có thể kiếm 60.000 - 80.000 USD một tháng, nhưng vẫn phải học.
Bạn chỉ có thể học nếu thực sự quyết tâm. Và điều này cần sự hy sinh. Nếu sẵn sàng trả giá hôm nay, bạn có thể trả giá cho mọi thứ sau này.
(Theo Vnexpress/Entrepreneur)
Share:

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2016

6 điều khiến người giàu khác biệt

Không phải khối tài sản khổng lồ, những vật dụng đắt tiền hay lối sống xa hoa, điểm khác biệt của người giàu tới từ những thứ đơn giản nhất.
Điểm chung lớn nhất của các tỷ phú giàu nhất thế giới không phải là số dư trong tài khoản ngân hàng của họ mà là ở thái độ tích cực trong cuộc sống cũng như công việc.
Dưới đây là 6 điều khiến người giàu khác biệt so với thế giới còn lại.
Dưới đây là 6 điều khiến người giàu khác biệt so với thế giới còn lại.

1. Người giàu lạc quan

Nhiều nghiên cứu cho thấy, lạc quan là một trong những tính cách nổi bật dễ thấy ở các triệu phú tự thân lập nghiệp. Ở một góc độ khác, bi quan là vật cản trên con đường đi tới thành công và người bi quan thường hay gặp thất bại.

Tất cả chúng ta đều ngưỡng mộ những người dám nói và dám đương đầu với thất bại. Thất bại chỉ đơn giản là việc bạn tìm kiếm một cách khác để giải quyết vấn đề. Trong khi người bi quan lo sợ thất bại sẽ lặp lại thì người lạc quan tin rằng họ không còn lựa chọn nào khác ngoài tiếp tục đứng lên.

2. Người giàu đam mê

Nếu bạn không theo đuổi đam mê, bạn sẽ không bao giờ dám bước ra khỏi vùng an toàn. Bạn muốn cải thiện bản thân nhưng lại sợ đối mặt với thất bại. Trong khi đó, người giàu luôn sống với những đam mê.

Đam mê sẽ tạo nên niềm vui. Đam mê truyền năng lượng, sự kiên trì và sức mạnh để bạn vượt qua được khó khăn, thất bại.

3. Người giàu luôn nhiệt tình và tràn đầy năng lượng

Thậm chí kể cá khi không có đam mê, người giàu vẫn cố gắng hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Đó là thứ năng lượng có sẵn trong họ, mà những người bình thường không có được.

Bên cạnh đó, người giàu luôn mong muốn được học hỏi và rèn luyện bản thân sau khi đã rời ghế nhà trường. Họ sẵn sàng lái xe đến thư viện, tham gia các buổi hội thảo hoặc gặp gỡ những người mà họ cảm thấy ngưỡng mộ…

4. Người giàu học kỹ năng mềm và thích giao tiếp với người khác

Hầu hết chúng ta đều ngưỡng mộ các triệu phú tự thân không chỉ ở số tài sản họ sở hữu mà còn ở những kỹ năng và tính cách của họ. Nhân viên sẽ cảm thấy vui vẻ hơn khi họ bắt đầu một ngày làm việc và gặp vị giám đốc mỉm cười với họ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, cảm xúc là yếu tố quan trọng chi phối khả năng của các nhà lãnh đạo. Do đó, bạn đừng bỏ qua cảm xúc của mình. Hãy cho nhân viên thấy bạn thực sự hòa đồng và vui vẻ khi làm việc với họ.

5. Người giàu thẳng thắn và chân thành

Nghiên cứu đã chỉ ra, người giàu thường có năng lực “đặc biệt” khiến những người đối diện cảm thấy thoải mái và dễ chịu. Họ hiểu được rằng chỉ cần những cử chỉ nhỏ cũng sẽ ảnh hưởng đến cách nhìn của người khác đối với mình. Một cuộc điện thoại chỉ kéo dài 5 phút, một bài giới thiệu ngắn hay một chiếc thiệp viết tay… đều có thể tạo nên sự khác biệt.

6. Người giàu kiểm soát được suy nghĩ của mình

Các triệu phú tự thân thường kiểm soát được suy nghĩ của mình trong những trường hợp căng thẳng nhất. Thậm chí ngay cả khi mọi thứ xảy ra không như kế hoạch đã định, họ cũng luôn biết cách kiềm chế cảm xúc.
(Theo Trí Thức Trẻ/B.I)

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?