Thị
trường bất động sản (BĐS) trong nước lại manh nha nóng trở lại. Vậy, có
bao nhiêu khả năng xảy ra bong bóng BĐS trong tương lai gần?
Cảnh chào bán một dự án bất động sản diễn ra ở Hà Nội. Ảnh: PHƯƠNG ANH
Thị trường BĐS trong nước lại manh nha nóng trở lại với số người quan
tâm vào đầu tư BĐS đã nhiều hơn rõ rệt, phần vì các kênh đầu tư khác như
vàng, gửi tiết kiệm và đô la Mỹ dường như đã phần nào mất tính hấp dẫn,
trong khi nguồn kiều hối vẫn tiếp tục đổ vào mạnh.
Bên cạnh đó, tin tức về nhiều dự án BĐS lớn nhỏ đã được ký, từ những
thương vụ mua sỉ một số căn hộ cho chuyên gia nước ngoài ở, đến những vụ
hợp tác giữa các công ty BĐS trong nước với các quỹ đầu tư nước ngoài
cam kết rót vốn hàng trăm triệu đô la Mỹ... dường như càng tạo thêm động
lực cho một bộ phận nhà đầu tư tiềm năng đón đầu một đợt sóng mới trong
tương lai.
Trong bối cảnh này, không ít người lo ngại một bong bóng BĐS mới sẽ sớm
hình thành. Ngay cả Thủ tướng Chính phủ cũng khuyến cáo không để xảy ra
tình trạng bong bóng BĐS trong cuộc họp chính phủ mới đây. Vậy, có bao
nhiêu khả năng xảy ra bong bóng BĐS trong tương lai gần?
Điều đầu tiên phải kể đến khi phân tích triển vọng của một thị trường
BĐS là những yếu tố kinh tế vĩ mô hậu thuẫn cho thị trường BĐS đó. Cụ
thể hơn, một chính sách tiền tệ nới lỏng với tín dụng tăng trưởng mạnh
luôn có khả năng châm ngòi cho sự bùng nổ trên thị trường BĐS. Nhưng căn
cứ vào lập trường chính sách của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nói riêng và
của Chính phủ nói chung, khả năng để cho tiền tệ và tín dụng tăng
trưởng bùng nổ như đợt sốt BĐS trước đây là không nhiều.
| Trừ khi có sự thay đổi đột ngột lập trường chính sách của
Chính phủ, thị trường bất động sản đã và sẽ không được “tiếp máu” một
cách quá đà từ kênh tín dụng chính thức như trước nữa. |
Bài học về tăng trưởng tiền tệ và bất ổn kinh tế vĩ mô suốt mấy năm qua
vẫn còn nóng hổi và đã được áp dụng khá triệt để trong các cấp lãnh đạo
hiện nay. Bởi thế, trừ khi có sự thay đổi đột ngột lập trường chính
sách của Chính phủ, thị trường BĐS đã và sẽ không được “tiếp máu” một
cách quá đà từ kênh tín dụng chính thức như trước nữa.
Thứ hai, Luật Nhà ở sửa đổi sắp có hiệu lực vào tháng 7 tới cho phép cá
nhân và tổ chức nước ngoài được mua nhà tại Việt Nam cùng với việc đảm
bảo các quyền sở hữu tài sản cho nhóm đối tượng này. Ngoài ra, tăng
trưởng kinh tế tiếp tục được cải thiện sẽ làm tăng thu nhập của một bộ
phận lớn dân chúng. Đó là chưa kể giá BĐS nói chung đã sụt giảm khá mạnh
trong suốt mấy năm qua và đã trở nên hấp dẫn hơn, nằm trong tầm với của
nhiều người hơn. Đây là chính là một trong những yếu tố tích cực chủ
yếu sẽ vực cầu BĐS lên.
Tuy vậy, để giá BĐS gia tăng nóng do nhu cầu tăng mạnh thì cần thêm một
điều kiện là nguồn cung BĐS phải bị giới hạn, hoặc tăng không mạnh,
không nhanh bằng tốc độ tăng cầu BĐS. Nhưng theo thống kê chính thức của
Bộ Xây dựng thì nguồn BĐS tồn kho còn rất lớn, mới chỉ có dấu hiệu giảm
đi, chứ chưa giảm mạnh (chưa kể là bản thân thống kê về con số tồn kho
này còn bị nhiều người trong cuộc coi là bất hợp lý). Trong khi đó, hàng
loạt các dự án BĐS mới và cũ đã hoặc là tiếp tục được tái khởi động sau
thời gian ngủ đông, hoặc là mới được tung ra nhằm chớp thời cơ giá BĐS
đang có vẻ nóng lên.
Cũng giống như trong nhiều thị trường hàng hóa cơ bản trên thế giới vốn
đang chìm ngập trong dư cung như dầu mỏ và quặng sắt, mọi sự phục hồi
nhẹ của giá cả nhờ cầu được cải thiện đều nhanh chóng bị nhấn chìm trở
lại bởi nguồn cung lập tức gia tăng mạnh mẽ hơn, tình hình thị trường
BĐS chắc cũng không khác nhiều. Và cũng giống như các thị trường hàng
hóa cơ bản, sự phục hồi giá cả có chăng sẽ diễn ra ở trên một vài phân
khúc nhỏ, ở một vài thời điểm, một vài nơi, giá BĐS ở Việt Nam nếu có
tăng thì cũng sẽ theo mô thức như vậy, chứ khó hy vọng giá cả sẽ tăng
đồng loạt trên diện rộng và duy trì được lâu dài.
Thứ ba, không chỉ vặn chặt hơn van tín dụng ở tầm vĩ mô (giảm tốc độ
tăng tổng cung tiền ra nền kinh tế so với trước đây), NHNN cũng đã có sự
điều tiết vi mô lên nguồn tín dụng từ hệ thống ngân hàng thương mại đổ
vào BĐS theo hướng chặt chẽ và thận trọng hơn. Khả năng rót tín dụng cho
lĩnh vực BĐS của các ngân hàng thương mại không chỉ bị chặn trực tiếp
bởi hạn mức tăng trưởng tín dụng do NHNN duyệt hàng năm cho từng ngân
hàng thương mại, mà còn bị chặn một cách gián tiếp thông qua giới hạn tỷ
lệ nợ xấu không quá 3% tổng dư nợ mà NHNN quy định áp dụng chung cho cả
hệ thống ngân hàng. Do một tỷ trọng lớn nợ xấu có nguồn gốc từ cho vay
hay đầu tư vào BĐS nên bản thân các ngân hàng thương mại cũng không
muốn, không dám mạnh tay cho vay lĩnh vực này, dù NHNN có thể không
khống chế tỷ lệ dư nợ cho BĐS.
Thứ tư, xét về nguồn vốn ngoài tín dụng ngân hàng có thể đổ vào thị
trường BĐS như tiết kiệm trong dân cư, kiều hối hay nguồn vốn nước
ngoài. Đành rằng tiềm năng huy động những nguồn vốn này còn rất lớn
nhưng không thể phủ nhận rằng một phần lớn nguồn vốn này có động cơ đầu
cơ, đầu tư sinh lời. Nhưng với tư cách là nhà đầu tư, đầu cơ, chủ sở hữu
các nguồn vốn này thường lại chỉ muốn bỏ tiền khi nhìn thấy cơ hội sinh
lời rõ ràng và chắc chắn. Và như đã phân tích ở trên, chắc chắn không
ít nhà đầu tư, đầu cơ nhận thấy thị trường vẫn còn (có xu hướng) bị lấn
át bởi nguồn cung quá lớn trong khi cầu có manh nha tăng nhưng chưa đủ
mạnh để hấp thụ hết dư cung. Họ có thể nhìn thấy cơ hội ở một phân khúc
nào đó có khả năng khởi sắc mạnh hơn nên nếu có đầu tư thì sẽ đầu tư
mang tính chọn lọc, và sự chọn lọc này không thể diễn ra ở quy mô lớn
được, như đã nói bên trên. Một phần lớn các nhà đầu tư còn lại sẽ chọn
thái độ chờ xem, hy vọng giá cả sẽ tiếp tục yếu đi hoặc một thương vụ
hời nào đó mới phát sinh.
Tóm lại, có thể khái quát thị trường BĐS hiện nay ở Việt Nam là một thị
trường đang dư cung lớn trong khi nguồn nuôi dưỡng chính là tín dụng từ
hệ thống ngân hàng đã và đang bị siết lại khá chặt, còn nguồn tài chính
từ các tổ chức phi ngân hàng và cá nhân vẫn phần lớn chỉ là tiềm năng.
Tuy nhiên, tình hình hiện tại của thị trường BĐS trong tương lai sẽ thay
đổi hoàn toàn nếu mai đây các nhà quản lý vì một lý do nào đó lại nới
van tín dụng ở cả tầm vĩ mô và vi mô mạnh trở lại như mấy năm cuối của
thập kỷ trước.
(Thời Báo Kinh tế Sài Gòn online)