Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn lãi suất. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lãi suất. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2018

Warren Buffett: Lãi suất là yếu tố quan trọng nhất để xác định giá trị cổ phiếu

Trong bối cảnh lợi suất trái phiếu leo lên mức cao nhất trong nhiều năm, nhà đầu tư có thể nhớ lại những nhận định của nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett về tầm quan trọng của lãi suất trong việc định giá khoản đầu tư.

Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett
Trong một buổi phỏng vấn hồi năm 2017, ông Warren Buffett có lý giải tại sao lãi suất lại quá quan trọng với nhà đầu tư chứng khoán.

“Yếu tố quan trọng nhất để đánh giá khoản đầu tư theo thời gian rõ ràng là lãi suất”, ông Buffett cho biết trong năm 2017. “Nếu lãi suất sắp rơi xuống mức thấp… thì nó sẽ khiến dòng thu nhập từ khoản đầu tư trở nên đáng giá hơn. ‘Ông ba bị’ luôn luôn là lợi suất của trái phiếu Chính phủ Mỹ”. 

Hôm thứ Năm (17/05), lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đã tăng lên mức 3.12%, cao nhất kể từ năm 2011.

Nhà Tiên tri Xứ sở Omaha lý giải rằng khi lãi suất tăng lên mức cao như hồi đầu thập niên 80, nó khiến cổ phiếu có hệ số P/E cao hơn trở nên kém hấp dẫn đối với nhà đầu tư. 

“Khi chúng ta chứng kiến lãi suất ngắn hạn ở mức 15% trong năm 1982, thật ngu ngốc khi phải mua cổ phiếu có hệ số P/E là 20 lần”, ông Warren Buffett cho hay.

Nhiều nhà đầu tư sử dụng lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ là lãi suất chiết khấu phi rủi ro trong mô hình tài chính để định giá khoản đầu tư cổ phiếu.

Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Năm, chỉ số Dow Jones lùi 54.95 điểm (tương đương 0.22%) xuống 24,713.98 điểm, chỉ số S&P 500 hạ 2.33 điểm (tương đương 0.09%) xuống 2,720.13 điểm và chỉ số Nasdaq Composite mất 15.82 điểm (tương đương 0.21%) còn 7,382.47 điểm.


 
Vietstock/CNBC
Share:

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Chứng khoán Mỹ lập kỷ lục mới sau bài phát biểu của Trump

Chỉ số công nghiệp Dow Jones của thị trường chứng khoán Mỹ ngày 1/3 đã lần đầu tiên trong lịch sử vượt qua mốc 21.000 điểm, sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump thể hiện giọng điệu khá mềm mỏng trong bài phát biểu đầu tiên của ông trước Quốc hội Mỹ. Khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất vào tháng 3 cũng giúp thị trường tăng điểm phiên này.

 
Hãng tin Reuters cho biết, cả ba chỉ số chính ở Phố Wall đã tăng hơn 1,3%, đồng loạt đóng cửa phiên giao dịch đầu tiên của tháng 3 ở mức điểm kỷ lục.

Phát biểu hôm 28/2, Trump nói ông muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mỹ thông qua một chương trình giảm thuế quy mô lớn và đầu tư 1 nghìn tỷ USD vào cơ sở hạ tầng. Những tuyên bố này của Trump không mới và đã giúp Phố Wall liên tiếp lập kỷ lục từ khi ông đắc cử Tổng thống Mỹ vào tháng 11 năm ngoái. Tuy nhiên, việc tân Tổng thống nhắc lại những cam kết này, dù không đưa ra được những chi tiết cụ thể, vẫn khiến giới đầu tư lạc quan.

Ngoài ra, giới phân tích đánh giá rằng, chính thái độ “dịu” hơn của Trump trong bài phát biểu này mới là nhân tố quan trọng nhất làm cho các nhà đầu tư cảm thấy yên tâm. Trước đây, những phát ngôn hùng hồn của Trump đã nhiều phen khiến thị trường lo ngại rằng ông sẽ gặp khó trong việc đưa các chủ trương chính sách của mình qua cửa một Quốc hội Mỹ vốn không muốn thâm hụt ngân sách gia tăng.

“Nhiều người đã lo Trump có thể đi trệch hướng. Sau bài phát biểu vào đêm qua, mọi người đã cảm thấy yên tâm”, ông Stephen Massocca, Phó chủ tịch cấp cao công ty Wedbush Securities ở San Francisco, nhận xét. “Một vài điều mà ông ấy nói không có gì cụ thể, nhưng mọi người đã biết hướng đi”.

Nhóm cổ phiếu tài chính thuộc chỉ số S&P 500 tăng 2,84% trong phiên này, mạnh nhất trong số 10 nhóm cổ phiếu chính của S&P, sau khi một số quan chức hàng đầu của FED phát tín hiệu sẽ tăng lãi suất trong cuộc họp tháng 3.

Một đợt tăng lãi suất cơ bản đồng USD trong tháng 3 sẽ là sớm hơn so với dự kiến trước đó của nhiều nhà đầu tư, và sẽ khiến lãi suất của các khoản vay đầu tư chứng khoán tăng lên, nhưng cũng sẽ là một tín hiệu cho thấy niềm tin của các nhà hoạch định chính sách vào sự tăng trưởng của nền kinh tế sau gần 1 thập kỷ kinh tế Mỹ tăng chậm.

“Tăng lãi suất không hẳn là không tốt. Điều đó cho thấy FED nhìn nhận rằng tình hình đang được cải thiện. Nếu FED cảm thấy tự tin hơn, thì các nhà đầu tư cũng vậy”, ông Warren West, Giám đốc công ty Greentree Brokerage Services ở Philadelphia, phát biểu.

Thị trường có thêm cơ sở để tin tưởng vào sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn khi Viện Quản lý nguồn cung Mỹ (ISM) cho biết chỉ số sản xuất tháng 2 đã tăng lên mức cao nhất kể từ năm 2014. Ngoài ra, Bộ Thương mại Mỹ nói rằng lạm phát tháng 1 ở nước này tăng mạnh nhất trong 4 năm.

Dữ liệu của Thomson Reuters cho biết các nhà giao dịch đang đánh giá khả năng FED tăng lãi suất trong cuộc họp diễn ra vào ngày 14-15/3 là gần 70%.

Chỉ số Dow Jones kết thúc phiên giao dịch với mức tăng 1,46%, đạt 21.115,55 điểm. S&P tăng 1,37%, đạt 2.395,96 điểm. Chỉ số Nasdaq Composite tăng 1,35%, đạt 5.904,3 điểm.

Có khoảng 8,1 tỷ cổ phiếu được sang tay trên các sàn giao dịch chứng khoán của Mỹ trong phiên này, mức cao nhất kể từ đầu năm đến nay và cao hơn nhiều so với khối lượng giao dịch trung bình ngày 6,9 tỷ cổ phiếu của 20 phiên giao dịch gần nhất.

Trong phiên giao dịch ngày thứ Năm, sự chú ý của thị trường được dự báo sẽ dồn vào công ty ứng dụng tin nhắn Snap, bởi đây sẽ là phiên chào sàn của cổ phiếu này.

Dù chưa bao giờ có lãi, Snap đã huy động được 3,4 tỷ USD trong vụ phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) diễn ra ngày 1/3. Vụ phát hành này định giá Snap ở mức 24 tỷ USD. Đây cũng là vụ IPO lớn nhất trong lĩnh vực công nghệ ở Mỹ kể từ vụ phát hành của mạng xã hội Facebook vào năm 2012.


>> Tỷ phú thế giới “kiếm đậm” kể từ khi Trump trúng cử
Vneconomy
Share:

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

Lịch sử Libor (Kỳ 2): Từ con số vô danh đến bê bối chấn động thị trường tài chính quốc tế

Zombanakis hiểu rằng, không có một công ty nào có thể cho một quốc gia đang phát triển đang không có đủ dự trữ ngoại hối để trả nợ vay 80 triệu USD. Do đó, ông đã đưa ra một thỏa thuận chia sẻ rủi ro đến cho một loạt các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Dần dần, loại lãi suất đó đã trở thành ngôi sao trên thị trường ngân hàng mà ông không ngờ tới.

Libor là loại lãi suất quan trọng chi phối nhiều giao dịch trong hệ thống tiền tệ tài chính quốc tế. Vậy Libor ra đời như thế nào và cơ chế hoạt động của nó ra sao?

Vào đầu những năm 70, mặc dù thị trường eurodollar (tức những đồng USD được giao dịch ở bên ngoài nước Mỹ) lúc đó đã được đánh giá là khá phát triển với sự tham gia của rất nhiều ngân hàng bên ngoài Mỹ, Minos Zombanakis vẫn phát hiện ra một lỗ hổng: Thị trường thiếu vắng một khối lượng nợ lớn dành cho những người đang tìm nguồn tài sản bổ sung cho thị trường trái phiếu. Zombanakis thuyết phục cấp trên của mình ở New York cung cấp cho ông 5 triệu USD để xây dựng một chi nhánh ở London. Ông là thành viên của một nhóm nhỏ bao gồm các nhà tài chính quốc tế - những người mở ra cánh cửa cho vay xuyên biên giới lần đầu tiên cho phố Wall kể từ sau cuộc khủng hoảng 1929.

Năm 1956, Zombanakis gặp Farmanfarmaian (về sau là Thống đốc NHTW Iran) lần đầu tiên và kể từ đó họ kết giao tình bạn. Cũng chính vì lẽ đó mà khi chính phủ Iran cần tiền, ông Farmanfarmaian đã đến thẳng văn phòng của Manny Hanny tại phố Upper Brook, Mayfair, London. Zombanakis hiểu rằng, không có một công ty nào có thể cho một quốc gia đang phát triển đang không có đủ dự trữ ngoại hối để trả nợ vay 80 triệu USD. Do đó, ông đã đưa ra một thỏa thuận chia sẻ rủi ro đến cho một loạt các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Với mức lãi suất ở Anh là 8% và lạm phát đang gia tăng, các ngân hàng lúc đó rất thận trọng trong việc cam kết cho vay ở mức lãi suất cố định trong một thời gian dài. (Chi phí đi vay có thể tăng vượt quá khả năng chi trả)

Cuối cùng, Zombanakis và nhóm của ông đã đưa ra một giải pháp: cho vay với một mức lãi suất được chỉnh sửa mỗi tháng một lần và nguồn cung nợ là một chuỗi các khoản ký quỹ. Thực ra công thức tính lãi suất này khá đơn giản. Trước khi nợ đáo hạn, các ngân hàng thành viên sẽ đưa ra báo cáo chi phí cấp vốn. Mức lãi suất trung bình sau khi được tổng hợp từ tất cả các ngân hàng thành viên, cộng với một khoản lợi nhuận sẽ là giá của khoản nợ cho thời hạn tiếp theo. Zombanakis gọi đó là lãi suất liên ngân hàng London, và từ đó cái tên Libor ra đời.

Bảng lãi suất tổng hợp dùng để tính ra lãi suất Libor từ những ngày đầu tiên và ngày nay cũng đang được áp dụng theo công thức này.
Bảng lãi suất tổng hợp dùng để tính ra lãi suất Libor từ những ngày đầu tiên và ngày nay cũng đang được áp dụng theo công thức này.

Đến năm 1982, thị trường cho vay hợp vốn đã tăng lên đến 46 tỷ USD, số lượng tổ chức tài chính tham gia vào thị trường này tăng vọt. Hầu như tất cả các khoản nợ đều sử dụng Libor để tính lãi suất. Chẳng bao lâu, Libor đã lan ra bên ngoài thị trường nợ, với vai trò như một thước đo chi phí đi vay đơn giản, công bằng và trông có vẻ độc lập. Năm 1970, chuyên gia tài chính Evan Galbraith – người sau đó trở thành đại sứ Mỹ tại Pháp dưới thời Tổng thống Ronald Reagan đã đưa ra gợi ý gắn một loại trái phiếu đầu tiên với Libor hay còn được biết với tên gọi trái phiếu lãi suất thả nổi.


Một thời gian sau khi mà số lượng tổ chức tham gia vào thị trường lãi suất Libor tăng vọt, công thức tính Libor loại bỏ 4 lãi suất cao nhất và thấp nhất.
Một thời gian sau khi mà số lượng tổ chức tham gia vào thị trường lãi suất Libor tăng vọt, công thức tính Libor loại bỏ 4 lãi suất cao nhất và thấp nhất.

Khi thị trường tài chính London bắt đầu cất cánh, mọi thứ trở nên phức tạp hơn. Trong vòng vài năm, Libor từ một công cụ định giá chi phí cho vay nợ và trái phiếu đã trở thành một chỉ số chuẩn cho các thỏa thuận phái sinh giá trị hàng trăm tỷ USD. Đứng đầu trong số các thỏa thuận phái sinh là hợp đồng hoán đổi lãi suất – cho phép các công ty giảm thiểu rủi ro biến động lãi suất. Hợp đồng này được phát minh ra trong thời kỳ lãi suất toàn cầu biến động cực mạnh trong những năm 70 và 80.

Mô hình của hợp đồng này khá đơn giản. Hai bên đồng ý hoán đổi chi trả lãi suất với một mức cố định trong một khoảng thời gian cố định, bởi (ở thể đơn giản nhất) một bên trả lãi suất cố định với hy vọng là lãi suất sẽ tăng, trong khi bên còn lại trả lãi suất thả nổi với hy vọng lãi suất sẽ giảm. Phần biến động của hợp đồng này được cố định cho Libor. Bởi loại hợp đồng này yêu cầu lượng tài sản ký quỹ thấp, do đó không chỉ có các công ty mà giới giao dịch cũng cần dùng như một hình thức đầu cơ lãi suất rẻ hơn so với trái phiếu chính phủ.

Dần dần Libor ngày càng trở nên quan trọng và ở thời điểm nó giống như ngôi sao của thị trường tài chính toàn cầu, áp lực đặt lên việc thiết lập lãi suất ngày một tăng cao. Tháng 10/1984, Hiệp hội ngân hàng Anh (BBA) – một tổ chức vận động được thành lập năm 1919 với nhiệm vụ bảo vệ cho lãi suất của Anh đại diện tổng hợp lãi suất Libor từ những ngày đầu đã tham vấn Bank of England và một vài ngân hàng khác về cách tính toán Libor.

Năm 1986, Hiệp hội ngân hàng Anh thêm tiền tố BBA vào trước tên lãi suất Libor trở thành BBA Libor và được tính bằng đồng bảng, USD và đồng yên. BBA thành lập một hiệp hội các ngân hàng bỏ phiếu mỗi ngày và mở rộng phạm vi chấp nhận lãi suất cho cả 4 ngân hàng đưa ra mức lãi suất cao nhất và thấp nhất. Như vậy, lãi suất này lại quay trở về với công thức ban đầu mà Zombanakis đưa ra. Sang đến thế kỷ 21, lãi suất Libor đã được mở rộng cho 10 loại tiền tệ và quy trình tính lãi suất đã được điện tử hoá, ngoài ra không có gì thay đổi.

Vụ bê bối thao túng chấn động 4 năm trước khiến nhiều người giật mình. Tuy nhiên, thực tế, thao túng Libor dễ hơn nhiều so với mọi người tưởng tượng. Lý do khiến giới chức trên toàn thế giới không nhận ra điều này đó là vì ngay cả những ngân hàng cho vay nộp bảng lãi suất quá thấp hoặc quá cao có mặt trong danh sách tính toán lãi suất cuối cùng cũng vẫn có thể ảnh hưởng đến kết quả Libor bởi họ đã kéo một lãi suất trước đó đã bị loại bỏ trở lại bảng.

Với rất nhiều vị thế khác nhau, giới giao dịch chỉ cần một vài 0,01% là có thể tạo ra một khoản lợi nhuận khổng lồ, và sức ảnh hưởng của họ thì rất nhỏ, đủ để tránh khỏi tầm ngắm của giới chức. Trong một danh mục hoán đổi lãi suất trị giá 100 tỷ USD, một ngân hàng có thể giành được hàng triệu USD từ sự thay đổi của 0,01%.

Cách tính toán Libor không chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận mà các ngân hàng và giới đầu tư thạo đời kiếm được nhờ các giao dịch phái sinh, nó còn phản ánh mức lãi suất người mua nhà trả cho khoản thế chấp của họ mỗi tháng. Và những người nghèo có hồ sơ tín dụng xấu cũng bị ảnh hưởng một cách không công bằng. Cụ thể như ở Ohio, 90% khoản cho vay thế chấp dưới chuẩn năm 2008 gắn với Libor.

Trải qua nửa thế kỷ, Libor vẫn là một chỉ số quan trọng và cố định trong hệ thống tài chính toàn cầu. Sau vụ bê bối chấn động năm 2012, giới chức đã đề cập đến việc kết thúc cuộc đời của loại chỉ số cơ bản này và thay thế nó bằng một chỉ số khác phản ánh tình hình giao dịch thực tế nhiều hơn là dựa trên những gì các ngân hàng nói. Nhưng điều đó là không thể xảy ra, bởi con số này đã có mặt trong rất nhiều hợp đồng tồn tại đến hàng chục năm.

Năm 2014, BBA bị cắt bỏ vai trò quản lý Libor và bị thay thế bởi Intercontinental Exchange – cơ quan quản lý giao dịch phái sinh của nước Mỹ. Ngày nay Libor được dựa trên một phần là các giao dịch thực tế, nhưng vẫn bao gồm sự tham gia của các ngân hàng.

Anh Sa
Theo Trí thức trẻ/Bloomberg
Share:

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

FED và BOJ đã quyết định, vậy NĐT trên TTCK Việt Nam nên hành động như thế nào?

Thị trường chứng khoán toàn cầu đã tràn ngập sắc xanh sau cuộc họp của FED. Kịch bản khả quan này cũng có thể sẽ diễn ra tại TTCK Việt Nam, nhưng không phải nhà đầu tư nào cũng biết nên hành động ra sao.

Đúng như dự đoán của nhiều người, Fed đã đưa ra quyết định chưa tăng lãi suất trong tháng 9 này với những lý do như tỷ lệ lạm phát của Mỹ vẫn dưới 2%, tỷ lệ tăng trưởng, thất nghiệp đều chưa đạt. Bởi một khi Fed tăng lãi suất, là đồng nghĩa với việc đồng USD sẽ mạnh lên và điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến vấn đề sản xuất trong nước.

Thị trường không thể tăng nóng vì thông tin này

Fed chưa tăng lãi suất trong tháng 9 thực sự là một tin vui cho nhà đầu tư Việt. Tuy nhiên, do hầu hết mọi người đã dự đoán trước kết quả nên về cơ bản, thị trường sẽ không thể tăng nóng vì thông tin này, mà chỉ giúp thị trường ổn định tâm lý và yên tâm hơn khi giao dịch.

Trong suốt thời gian qua, nhà đầu tư nước ngoài liên tục bán ròng. Trước đó một số chuyên gia nghĩ rằng do nhà đầu tư nước ngoài lo ngại vấn đề tăng lãi suất trong tháng 9. Tuy nhiên, khi câu trả lời của Fed là chưa tăng lãi suất, thì lo ngại này được giải tỏa.

Hai tuần qua, khi hai quỹ ETF cơ cấu danh mục, nhà đầu tư nước ngoài đã liên tục bán ròng, giá trị bán ròng khoảng hơn 3.000 tỷ đồng.
 
Nguyên nhân có đến từ ETFs? Về mặt lý thuyết khi cơ cấu, thì việc đảo danh mục không dẫn đến việc bán ròng trên thị trường vì các quỹ bán cổ phiếu này nhưng lại mua lại cổ phiếu khác để cân bằng danh mục. Trong kỳ review vừa qua MVSI Việt Nam bị rút 950.000 chứng chỉ quỹ, tương ứng 300 tỷ đồng, chỉ bằng 1/10 tổng giá trị bán ròng của khối ngoại.

Trong khi đó, bối cảnh hiện tại của Việt Nam đang thúc đẩy việc nới room, kế hoạch niêm yết, thoái vốn tại các công ty nhà nước như Sabeco, Habeco, hay kế hoạch IPO của Mobifone, Vietjet Air chính là động lực thúc đẩy để nhà đầu tư nước ngoài chuẩn bị vốn.

Như vậy, nếu tiếp cận ở khía cạnh rằng NĐT nước ngoài đã chốt lời ở các cổ phiếu tăng trưởng sau thời gian dài nắm giữ để “chuẩn bị vốn” thì nhà đầu tư Việt không cần quá quan ngại.

Cũng trong chiều ngày 21/9, cuộc họp chính sách của NHTW NHẬT BẢN đã kết thúc và đưa ra tuyên bố khiến cả thị trường chứng khoán thế giới vui mừng. Theo đó, BJO giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức -0,1% nhưng đã chuyển sang kiểm soát đường cong lãi suất. Lãi suất âm thường ăn vào lợi nhuận của NHTM, tuy nhiên môt đường cong lãi suất dốc hơn sẽ hạn chế thiệt hại xảy ra bằng cách cho phép các ngân hàng vay tiền rẻ và cho vay với lãi suât cao. Tuyên bố này ngay lập tức khiến đồng Yên giảm giá mạnh nhất trong một tháng và nâng lợi suất trái phiếu 10 năm lên 0% lần đầu tiên kể từ tháng 3. Các chỉ số tương lai trên sàn Châu Âu và Mỹ cũng tăng cùng chiều. Chỉ số Topix tăng mạnh nhất trong tháng, trong đó giá cổ phiếu ngân hàng và bảo hiểm tăng mạnh.

Nhưng nhà đầu tư hoàn toàn có thể lạc quan

Phiên giao dịch ngày 21/9, VN-Index đóng cửa tại 668 điểm (tăng 5,11 điểm) với khối lượng gần 160 triệu cổ phiếu, tương đương giá trị 3.354 tỷ (bao gồm cả giá trị giao dịch thỏa thuận). Thị trường kết thúc bởi một cây nến trắng với khối lượng khá tốt, cho thấy khả năng thị trườrng tăng điểm tiếp theo là cao. Ba cây nến trắng xuất hiện liên tiếp cho thấy xu hướng tăng giá sẽ tiếp tục được duy trì.

Kết hợp cả yếu tố kỹ thuật và thông tin tốt đẹp từ hai nền kinh tế lớn nhất thế giới và khu vực, nhà đầu tư Việt hoàn toàn có thể lạc quan vào phiên giao dịch 22/9. Tuy nhiên, thị trường sẽ tăng từ từ chứ không thể tăng mạnh ngay được. Bởi khi thị trường ở vùng này, dòng tiền không phải là quá khỏe để cổ phiếu có thể lên mạnh theo từng dòng. Mà đó là câu chuyện riêng của từng cổ phiếu.

Các chuyên gia vẫn giữ khuyến nghị tiếp tục quan sát và xem xét cơ cấu danh mục sang những cổ phiếu đầu ngành có cơ bản tốt khi có giá hợp lý.

Chẳng hạn như VNM là cổ phiếu bị bán mạnh trong kỳ review của ETF vừa qua mặc dù được hỗ trợ bởi thông tin quỹ ETF mua vào,một phần vì thị trường đã dự đoán trước khả năng này và mua dần vào từ tháng 8, đẩy giá VNM lên cao nên khi thông tin được công bố, cổ phiếu này đã bị bán chốt lời mạnh, và có dấu hiệu bị quá bán. VNM đã chứng tỏ khả năng bảo vệ được ngưỡng hỗ trợ trung hạn tại mức giá 136 vào ngày 20/9 nên khả năng tăng tiếp theo là hoàn toàn có thể. Việc canh mua VNM ở quanh mức giá 136-137 cũng có thể là một lựa chọn cho nhà đầu tư.


Ánh Duyên
Theo Trí thức trẻ
Share:

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

Đây là bộ ba chính sách khiến nhiều nước lao đao

Một quốc gia buộc phải chọn lựa giữa dòng vốn có thể tự do di chuyển, tỷ giá nằm trong tầm tay quản lý và một chính sách tiền tệ độc lập. Ba điều này không thể xảy ra cùng một lúc mà chỉ có 2 điều có thể đi đôi với nhau.

Trước khi đồng tiền chung châu Âu euro ra đời năm 1999, các thành viên đã neo đồng nội tệ của mình vào đồng mark Đức. Kết quả là họ buộc phải nương vào chính sách tiền tệ của NHTW Đức để điều chỉnh chính sách của riêng mình. Một số nước dễ dàng làm được điều này bởi vì có các ngành kinh tế gắn bó chặt chẽ với Đức và như vậy mối quan hệ giữa hai bên là “nước nổi thuyền nổi’.

Tuy nhiên, có một số nước không thể duy trì chính sách tiền tệ như vậy. Năm 1992, Anh buộc phải “nhổ neo” vì nền kinh tế Anh đang rơi vào suy thoái trong khi kinh tế Đức bùng nổ.

Ngày nay, đồng nhân dân tệ của Trung Quốc cũng đang ở trong thế tiến thoái lưỡng nan. Trung Quốc muốn mở cửa hoàn toàn cán cân vốn để tạo ra một hệ thống tài chính hiện đại trong đó các lực đẩy của thị trường đóng vai trò quyết định thay vì mệnh lệnh của NHTW. Mùa hè năm ngoái, Trung Quốc đã có những bước đi nhỏ trên hành trình này. Tuy nhiên, thả nổi tỷ giá trong thời buổi kinh tế trì trệ không phải là một ý hay, làm dấy lên nỗi lo đồng nhân dân tệ sẽ rớt giá thảm hại. Sau cú sốc mùa hè năm ngoái, Trung Quốc lại thắt chặt kiểm soát dòng chảy của vốn.

Tình huống mà Anh và Trung Quốc gặp phải chính là hệ quả của bộ ba chính sách không thể đồng hành cùng nhau trong điều hành kinh tế vĩ mô, hay còn gọi là bộ ba bất khả thi. Theo đó, một quốc gia buộc phải chọn lựa giữa dòng vốn có thể tự do di chuyển, tỷ giá nằm trong tầm tay quản lý và một chính sách tiền tệ độc lập. Ba điều này không thể xảy ra cùng một lúc mà chỉ có 2 điều có thể đi đôi với nhau.

Ví dụ, một quốc gia muốn cố định tỷ giá và cũng muốn lãi suất không bị môi trường bên ngoài tác động thì sẽ phải kiểm soát dòng chảy vào và ra của vốn. Đó chính là bộ ba bất khả thi trong trường hợp của Trung Quốc. Trong trường hợp của Anh, nếu tỷ giá cố định nhưng vốn được tự do di chuyển, quốc gia đó không thể có chính sách tiền tệ độc lập. Và nếu một quốc gia chọn dòng vốn tự do nhưng cũng muốn tự chủ về chính sách tiền tệ, họ phải thả nổi đồng nội tệ. Đây cũng là mô hình được nhiều nước trên thế giới lựa chọn.

Để hiểu sâu hơn về bộ ba bất khả thi, hãy hình dung về một quốc gia có tỷ giá cố định neo vào đồng USD và mở cửa hoàn toàn đối với dòng vốn ngoại. Để giảm lạm phát, NHTW sẽ phải để lãi suất ở mức cao hơn so với lãi suất cơ bản mà Cục dự trữ liên bang Mỹ đưa ra. Vì dòng vốn tự do chảy từ nơi có lãi suất thấp đến nơi có lãi suất cao, dòng vốn sẽ ồ ạt đổ vào đây, gây áp lực tăng giá lên đồng nội tệ. Cuối cùng thì quốc gia đó không thể neo đồng nội tệ vào USD được nữa.

Nhiều nước thuộc nhóm mới nổi cho rằng đồng USD là một cái mỏ neo ổn định và do đó chính sách tỷ giá cố định bám vào đồng USD sẽ đem lại nhiều tác dụng. Đó cũng chính là lý do khiến Anh neo đồng bảng vào đồng D-mark trong những năm 1990. Cái giá phải trả là mất tự do về tiền tệ: phải điều chỉnh lãi suất sao cho vẫn giữ được mức tỷ giá cố định và các nước này cũng không thể điều chỉnh chính sách linh hoạt để ổn định nền kinh tế.

Vì vậy các quốc gia thường được khuyên là nên thả nổi đồng tiền khi muốn duy trì lạm phát ở mức thấp. Khi đó đồng tiền được điều chỉnh theo dòng chảy của vốn, cho phép lãi suất phản ứng tốt nhất với các chu kỳ của nền kinh tế.

Trên thực tế, nhiều nước mới nổi rất lo sợ tỷ giá biến động quá mạnh, do vậy họ chọn cách hi sinh dòng vốn (bằng cách kiểm soát chặt cán cân vốn hoặc tăng giảm dự trữ ngoại hối) hoặc hi sinh chính sách tiền tệ (bằng cách đặt yếu tố ổn định tỷ giá lên hàng đầu).

Trung Quốc muốn cuối cùng thì cán cân vốn sẽ tự do hoàn toàn, đánh dấu một cột mốc quan trọng trên con đường tiến tới một hệ thống tài chính hiện tại. Để làm được như vậy, Trung Quốc sẽ phải chung sống với đồng nhân dân tệ tăng giảm thất thường theo các lực đẩy của thị trường. Đạt được cả ba là không thể, nhưng 2/3 cũng không phải là một điều tồi tệ quá sức chịu đựng.
Thu Hương
Theo Trí thức trẻ/Economist

 

Share:

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

Những cơn giông trước bão và cuộc đua giải cứu hệ thống tài chính Mỹ 2007-2008

Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 2007 - 2008 đã làm thay đổi cục diện hệ thống ngân hàng Mỹ, buộc chính phủ phải có những bước đi chưa từng có tiền lệ trong lịch sử.


Năm 2006, nước Mỹ đang trên đường phục hồi nền kinh tế sau cú sụp đổ của sàn Nasdaq hồi năm 2000 - 2001 và vụ tấn công khủng bố 11/9/2001. Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang (FED) lúc bấy giờ là Alan Greenspan cùng các đồng nghiệp đã quyết định cắt lãi suất cơ bản từ 3,5% xuống 1% - mức thấp nhất từ thập niên 90, trong khoảng thời gian giữa tháng 9/2001 và tháng 6/2003. Lãi suất thấp đã khuyến khích các hộ gia đình và doanh nghiệp đi vay để phục vụ chi tiêu. FED bắt đầu tăng lãi suất vào mùa hè năm 2004 nhưng với tốc độ chậm chạp, chỉ 0,25%.

Những yếu tố này đã tạo tiền đề cho sự bùng nổ trên thị trường nhà đất. Các gia đình nô nức vay tiền đi mua nhà; giới đầu cơ mua bất động sản để bán lại; những người thu nhập thấp hay các đối tượng có mức tín nhiệm thấp (tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thanh toán nợ) kéo nhau đi vay nợ dưới chuẩn (không tài sản thế chấp). Đây là loại nợ có mức rủi ro cao song bù lại có mức lãi suất rất hấp dẫn với người cho vay.

Để giảm thiểu rủi ro, giới cho vay sử dụng công cụ chứng khoán hóa và phát hành các chứng khoán nợ dưới chuẩn. Bằng cách này, người cho vay không nhất thiết phải nắm giữ rủi ro tín dụng mà rủi ro này được chuyển sang cho người mua chứng khoán, và đây là cơ sở để các ngân hàng đầu tư tiếp tục bơm vốn vào hoạt động cho vay nợ dưới chuẩn. Dần dần, Phố Wall hình thành nên một thị trường chứng khoán nợ dưới chuẩn khổng lồ.

Nhu cầu tăng kéo theo giá nhà tăng, và người Mỹ tiếp tục đua nhau đi vay. Lãi suất tiết kiệm giảm xuống mức âm và thâm hụt thương mại của Mỹ tăng mạnh do vay nước ngoài tăng. Một số chuyên gia bắt đầu cảnh báo về nguy cơ bất ổn của nền kinh tế.

Tháng 2/2006, ông Ben Bernanke tiếp quản chiếc ghế Chủ tịch FED và cam kết tiếp nối các chính sách của người tiền nhiệm Greenspan. Tương tự như ông Greenspan, Chủ tịch Bernanke phản đối việc thắt chặt kiểm soát đối với các công cụ phái sinh và hoạt động cho vay dưới chuẩn. 

Những đợt sóng đầu tiên 

Bước sang năm 2007, giá nhà đất tại nhiều nơi trên nước Mỹ bắt đầu giảm. Giới quan sát một lần nữa lên tiếng cảnh báo về nguy cơ xảy ra suy thoái song bị FED bác bỏ. Sự lạc quan của FED kéo dài trong suốt nhiều tháng sau đó, trong thời gian này 2 tổ chức cho vay nợ dưới chuẩn lớn, New Century Financial Corp. và American Home Mortgage, đệ đơn phá sản và tác động lan tới các tập đoàn Phố Wall tham gia đầu tư vào chứng khoán nợ dưới chuẩn. Dù vậy, Ủy ban Thị trường mở liên bang (FOMC - thuộc FED) vẫn quyết định giữ nguyên lãi suất.

Ngày 9/8/2007, khủng hoảng leo lên mức đáng báo động sau khi BNP Paribas, một ngân hàng lớn của Pháp, phải tạm thời ngừng rút vốn của 3 quỹ đầu tư trực thuộc có nắm giữ chứng khoán nợ dưới chuẩn với lý do “mất toàn bộ tính thanh khoản tại một số khu vực của thị trường chứng khoán hóa Mỹ”.

Nói cách khác, giao dịch trong thị trường chứng khoán nợ dưới chuẩn đã ngưng trệ, đẩy nhiều thể chế tài chính vào tình trạng thiếu tiền mặt và thừa tài sản không bán được. Giá cổ phiếu tụt dốc ở 2 bờ Đại Tây Dương và Chủ tịch Bernanke có cuộc họp khẩn cấp với FOMC để thảo luận về việc hạ lãi suất chiết khấu - lãi suất FED cho các ngân hàng thương mại vay nóng thông qua chính sách cho vay khẩn cấp.

Cuối cùng, FED quyết định không thay đổi lãi suất chiết khấu 6,25% song thông báo tới các ngân hàng thương mại rằng cửa sổ chiết khấu đã mở nếu các ngân hàng này cần vốn. Nhưng chỉ 1 tuần sau đó, những diễn biến đáng ngại trên thị trường đã buộc FED cắt lãi suất chiết khấu xuống 5,75%. 

Học thuyết Bernanke 

Nhận ra rằng cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn đang đe dọa nghiêm trọng đến nhiều thể chế tài chính lớn và các chính sách hiện tại không đủ sức kiểm soát tình hình, Chủ tịch Bernanke họp mặt với nhiều nhân vật quan trọng của ngành tài chính. Câu hỏi được đặt ra là “Chuyện gì đang xảy ra và chúng ta cần làm gì?” và “Ta đang có công cụ gì và cần những công cụ gì?”.

Tất cả đều đồng ý rằng hệ thống tài chính đang đối mặt với một cuộc “khủng hoảng thanh khoản”. Các ngân hàng muốn bảo vệ nguồn vốn của mình đã ngừng mọi hoạt động cho vay. Nếu tình trạng này tiếp diễn, doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ không thể vay mượn để chi tiêu và giữ nền kinh tế vận động.

Cuộc họp đặt ra giải pháp tiếp cận 2 mũi nhọn mà Giám đốc New York FED Tim Geithner sau đó gọi là Học thuyết Bernanke. Một mặt, để “phá băng” cho nền kinh tế, FED sẽ từ từ hạ lãi suất liên bang. Đây là bước đi tiêu chuẩn của FED song trong trường hợp này nó sẽ không đủ để giải quyết cuộc khủng hoảng niềm tin trong hệ thống tài chính.

Một giải pháp được đề xuất là đưa trở lại các biện pháp từng được sử dụng trong cuộc khủng hoảng thiên niên kỷ Y2K - khi những lo ngại về một sự cố Internet khiến hàng loạt thể chế tài chính bảo tồn nguồn vốn và FED đã phải phát triển một chuỗi sáng kiến để giữ thông suốt dòng tiền. Với giải pháp này, bắt đầu từ tháng 8/2007 và kéo dài suốt 15 tháng sau đó, thông qua các chương trình như T.A.F., T.S.L.F. và P.D.C.F., FED đã cho vay hàng nghìn tỷ USD tới hàng chục ngân hàng. Đây trở thành nội dung thứ 2 của Học thuyết Bernanke.

Nhưng bất chấp các nỗ lực trên, thị trường tín dụng vẫn không có mấy tiến triển. Ngày 4/1/2008, Bộ Lao động Mỹ công bố báo cáo tỷ lệ thất nghiệp đã leo lên tới 5%, thêm nhiều ngân hàng công bố kết quả làm ăn thua lỗ. Nhiều nhà kinh tế cảnh báo nước Mỹ đang ở bên bờ vực suy thoái.

Ngày 29/1, FOMC họp và cắt lãi suất cơ bản thêm 0,5% xuống 3%. Chỉ trong vòng 1 tháng rưỡi, FED đã chuyển hướng đột ngột từ một chính sách cân bằng giữa chống lạm phát và giữ tăng trưởng kinh tế sang chính sách chống suy thoái. “Thay đổi quá lớn và quá nhanh như vậy là việc chưa từng có”, Frederic Mishkin, một cựu Thống đốc của FED, nhận định.
Theo Trần Ngọc
Tin Tức
>> George Soros: “Brexit đã dọn đường cho khủng hoảng tài chính”

Share:

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2016

Lãi suất phá đáy, chứng khoán đi về đâu?


Vốn huy động ngoại tệ của hệ thống ngân hàng đến cuối tháng 7-2016, theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), giảm hơn 6% so với cuối năm ngoái. Ảnh Tuệ Doanh.
 
Vốn huy động ngoại tệ của hệ thống ngân hàng đến cuối tháng 7-2016, theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), giảm hơn 6% so với cuối năm ngoái. Tính về số tuyệt đối vốn huy động của các ngân hàng ước chừng 24-25 tỉ đô la Mỹ. Mức giảm 6% tương đương khoảng 1,5 tỉ đô la Mỹ. Sự gia tăng vốn huy động bằng tiền đồng trên 12% chứng tỏ đã có sự dịch chuyển tiết kiệm ngoại tệ sang tiền đồng và nhiều khả năng người dân đã bán ngoại tệ cho ngân hàng. Từ đây NHNN có điều kiện mua ngoại tệ để củng cố quỹ dự trữ ngoại hối.

Sự vững chắc và ổn định của nguồn cung ngoại tệ từ xuất siêu, vốn FDI, kiều hối, vốn FII... và từ tích lũy của dân cư là nền tảng để tỷ giá được duy trì quanh mốc 22.300 đồng/đô la Mỹ nhiều tháng qua. Bơm tiền mua ngoại tệ, NHNN đã tạo thanh khoản dư dả trong hệ thống ngân hàng và từ đầu tháng 8 đến nay, lãi suất tuột dốc không phanh. Tuần rồi lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng còn 0,75%/năm. Tuần trước đó, NHNN còn phát hành tín phiếu kỳ hạn 14 ngày với lãi suất 1,3%/năm. Sau đấy, mức lãi suất trên cứ tụt dần, về 1,2%, 1,1%, 1% và cuối tuần đã rơi thẳng về 0,7%/năm, nghĩa là thấp hơn cả lãi suất qua đêm. Chưa bao giờ lãi suất thấp kỷ lục như thế cả.

Trên thị trường trái phiếu, lãi suất trúng thầu kỳ hạn năm năm lần đầu tiên kể từ 10 năm nay đã xuống dưới mức 6%/năm, chỉ còn 5,92%/năm. Các tổ chức tín dụng đang bội thực tiền! NHNN đang thực hiện cam kết ưu tiên số 1 cho tăng trưởng GDP và cam kết này được hậu thuẫn bởi tỷ giá cũng như lạm phát có thể được kiềm chế dưới 5%.

Chứng khoán từ tháng 8 đến nay đáng lẽ đã có thể tăng điểm mạnh mẽ nếu không có sự bán ròng lên tới 1.100 tỉ đồng của khối ngoại, tập trung chủ yếu vào các mã có ảnh hưởng quyết định đến chỉ số VN-Index như VNM, VIC, VCB, BID, MSN, HPG... Khối ngoại đã liên tục bán ròng VNM kể từ khi thị giá cổ phiếu này vượt ngưỡng 150.000 đồng và room của VNM giờ đây đã xuống dưới 49% sau khi room được mở tới 100%. Bản tin tư vấn hàng ngày của nhiều công ty chứng khoán đều nhận định thị giá VNM đã cao hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành nghề trong khu vực. Tương tự là VCB. Các doanh nghiệp HPG, VIC, MSN đều báo tăng trưởng lợi nhuận nửa đầu năm nay tốt hơn nhiều so với cùng kỳ, nhưng khối ngoại vẫn bán ròng chốt lời.

Nhiều cổ phiếu cơ bản đã ở mặt bằng giá với P/E bình quân khoảng 15 lần như DMC, MWG, CAV, SKG, KDC, PAC, SVC... không còn rẻ so với các nước. Điều này chắc chắn dẫn đến sự chốt lời và sự dịch chuyển của dòng tiền sang những cổ phiếu chưa tăng giá. Hiện trên cả Hose và Hnx còn đó hàng loạt cổ phiếu EPS tầm 2.000-3.000 đồng mà thị giá dưới 20.000 đồng.

Cổ phiếu dầu khí dường như đã ổn định ở quanh vùng giá hiện tại khi giá dầu thô dao động trong biên độ 40-50 đô la Mỹ/thùng. Kết quả kinh doanh của ba doanh nghiệp dầu khí hàng đầu là GAS, PVD, PVS đều giảm khá so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó giảm mạnh nhất là PVD. Thị giá PVD hiện còn bằng một phần tư so với ba năm trước. Ngoài dầu khí, các doanh nghiệp khai khoáng khác hầu hết lâm vào tình trạng “chết lâm sàng”, thị giá vài ngàn đồng, rẻ hơn ly trà đá hay tiền gửi xe gắn máy.

Cổ phiếu của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAG-Hose) và công ty con là Nông nghiệp quốc tế Hoàng Anh Gia Lai (HNG-Hose) vẫn đang trong những ngày chờ đợi tín hiệu cho phép các ngân hàng tái cơ cấu nợ. HAG vừa công bố nghị quyết hội đồng quản trị cập nhật tình hình sản xuất kinh doanh và đầu tư sáu tháng đầu năm, theo đó HAG báo lỗ 1.075 tỉ đồng do xử lý tài sản xấu. Hose cũng vừa có công văn ngày 22-8-2016 nhắc nhở HAG về việc chậm nộp báo cáo tài chính quí 2-2016 cả riêng công ty mẹ và hợp nhất và đây đã là lần nhắc nhở thứ hai.

Nổi đình đám hơn cả trên thị trường vẫn là trường hợp của Công ty Gỗ Trường Thành (TTF-Hose). Cổ phiếu này đã có hai phiên tăng trần liên tiếp sau 24 phiên giảm sàn và mất chừng 78% giá trị kể từ mức đỉnh. TTF chuẩn bị họp đại hội đồng cổ đông bất thường lần hai để phê duyệt việc thay đổi nhân sự hội đồng quản trị. Với sự bốc hơi gần 1.000 tỉ đồng hàng tồn kho vừa qua, giá trị sổ sách của TTF hiện còn nhỉnh hơn 3.000 đồng chút ít. Với thị giá 9.200 đồng ngày 23-8, giá trị vốn hóa của TTF vẫn cao hơn gấp ba lần giá trị sổ sách. Cho dù các cổ đông và hội đồng quản trị mới có nỗ lực đến đâu, TTF cũng phải mất vài năm để xóa lỗ lũy kế.

Bài toán lợi nhuận của TTF sẽ nan giải hơn bởi sau khi Công ty Tân Liên Phát ngưng chuyển đổi số vốn cho vay thành cổ phiếu, nợ ngắn hạn của TTF không giải quyết được và lên tới hàng ngàn tỉ đồng. Chi phí tài chính đang và tiếp tục đè nặng lên công ty. Một công ty mà vốn chủ sở hữu chỉ còn hơn 500 tỉ đồng, trong khi nợ ngắn hạn cao gấp 4,4 lần (2.206 tỉ đồng theo báo cáo tài chính hợp nhất bán niên 2016), thì đâu là lối thoát? Nóng lòng với TTF lúc này không chỉ là cổ đông, mà cả các ngân hàng chủ nợ.
Thành Nam - Thời Báo Kinh tế Sài Gòn
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán - Ủy thác đầu tư
Share:

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

Công ty chứng khoán chờ thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Nhu cầu về vốn để cung cấp nguồn vay cho nhà đầu tư luôn rất cần thiết đối với các CTCK, đặc biệt là trong điều kiện nguồn vốn vay qua ngân hàng chịu nhiều ràng buộc, các CTCK đang “nở rộ” tìm vốn bằng trái phiếu.

 
CTCK VNDIRECT (VNDS) đã lên kế hoạch phát hành tối đa 600.000 trái phiếu, mệnh giá 1 triệu đồng/trái phiếu, tương ứng giá trị phát hành 600 tỷ đồng, kỳ hạn từ 1-3 năm kể từ ngày phát hành trái phiếu tại mỗi đợt phát hành. Về thời gian phát hành, theo lãnh đạo VNDS, dự kiến sẽ thực hiện trong năm 2016 hoặc muộn nhất là đầu năm 2017.

Hiện VNDS đang tập trung chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để cung cấp dịch vụ chứng khoán phái sinh, dịch vụ giao dịch trong ngày và các dịch vụ chứng khoán mới khác. Về hoạt động nguồn vốn, VNDS sẽ tiếp tục thực hiện các cơ hội đầu tư hiệu quả vào trái phiếu chính phủ cũng như trái phiếu doanh nghiệp, thúc đẩy thị phần giao dịch trái phiếu trên thị trường và tiếp tục triển khai phát hành trái phiếu, nhằm mở ra một kênh huy động vốn hiệu quả. 

HĐQTCTCK Rồng Việt (VDSC) cũng  vừa thông qua việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp đợt 3 năm 2016. Theo đó, VDSC sẽ phát hành loại trái phiếu không chuyển đổi và không có tài sản đảm bảo, với tổng giá trị trái phiếu chào bán 300 tỷ đồng (giá chào bán bằng mệnh giá: 1 tỷ đồng/trái phiếu). Một số CTCK khác cũng đã lên kế hoạch phát hành trái phiếu, chẳng hạn, ACBS dự kiến huy động 500 tỷ đồng trái phiếu, hay SHS muốn huy động tối thiểu 300 tỷ đồng…

Mới đây, CTCK Sài Gòn (SSI) thông báo đã phát hành thành công 200 tỷ đồng trái phiếu không chuyển đổi kỳ hạn 2 năm với lãi suất 7%/năm trong 12 tháng đầu tiên. Sang kỳ tiếp theo, lãi suất được điều chỉnh 3 tháng một lần, bằng lãi suất huy động bình quân VND cá nhân trả sau kỳ hạn 12 tháng của Vietcombank, Vietinbank, BIDV và VIB, cộng biên độ 1,2%/năm.

Trước đó, SSI đã phát hành 500 tỷ trái phiếu không có tài sản đảm bảo với lãi suất năm đầu tiên là 8,2%/năm, kỳ hạn 2 năm và một đợt phát hành trái phiếu 300 tỷ đồng với lãi suất bằng lãi suất tiết kiệm của 4 ngân hàng lớn, cộng biên độ 1,5%/năm. Trước đó, các CTCK như VCBS, TVSI… cũng đã thực hiện thành công kế hoạch huy động vốn từ phát hành trái phiếu.

Thực tế cho thấy, việc phát hành trái phiếu của các CTCK là khá “xuôi chèo, mát mái” trong thời gian qua. Nhiều nhà đầu tư tổ chức và cá nhân lựa chọn phương án đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp nói chung và của các CTCK nói riêng là vì mức lãi từ trái phiếu cao hơn so với lãi gửi tiết kiệm. Bên cạnh đó, trái phiếu của nhiều CTCK có thể chuyển nhượng ngay sau khi phát hành, sau đó có thể bán lại cho tổ chức phát hành sau 6 tháng. Đó là chưa kể, trái phiếu của một số CTCK có thể được quyền cầm cố, repo ngay tại CTCK đó để mua cổ phiếu…

Trong bối cảnh TTCK đang có diễn biến thuận lợi, nhu cầu vay vốn của nhà đầu tư tăng cao, việc sử dụng nguồn vốn đối với các CTCK cũng hiệu quả hơn. Hiện tại, mức lãi suất trái phiếu bình quân ở mức 8-10%, trong khi mức lãi suất margin cho vay bình quân khoảng 11-12%. Như vậy, với mức chênh lệnh này, có thể thấy các CTCK vẫn có lãi. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, khi chọn con đường tìm vốn mới bằng trái phiếu, nhất là trái phiếu lãi suất cao, chi phí vốn của CTCK sẽ cao hơn so với bằng lãi suất ngân hàng hiện nay.

Không thể phủ nhận việc các CTCK huy động vốn thành công sẽ nâng tầm năng lực tài chính, nếu các CTCK tăng sức hấp dẫn của trái phiếu bằng việc để lãi suất huy động cao, thì hệ lụy là lãi suất cho vay margin đến nhà đầu tư có thể sẽ cao hơn hiện nay, tạo áp lực buộc TTCK phải sinh lợi lớn hơn, nếu không sẽ giảm sức hấp dẫn các dòng vốn.

Trao đổi với Đầu tư Chứng khoán, ông Nguyễn Văn Dũng, Chủ tịch HĐQT TVSI cho biết, việc huy động vốn qua ngân hàng vẫn là điều khó khăn đối với nhiều CTCK bởi phải có tài sản đảm bảo, trong khi huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu lại chủ động hơn nhiều. Hơn nữa, nhiều nhà băng mặc dù đưa ra mức lãi suất cho vay hấp dẫn, nhưng điều kiện vay đi kèm lại rất nhiều và không phải tổ chức nào cũng có thể được vay vốn với lãi suất ưu đãi.

Cũng theo ông Dũng, nếu thị trường trái phiếu doanh nghiệp hình thành và phát triển, các tổ chức sẽ chủ động hơn trong việc phát hành trái phiếu, doanh nghiệp sẽ dễ tiếp cận hơn với nguồn vốn dồi dào từ thị trường với mức lãi suất hợp lý, đồng thời các ngân hàng cũng “nhẹ gánh” hơn trong huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.       
Hoàng Anh - ĐTCK

>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán
Share:

Thứ Năm, 30 tháng 6, 2016

Nhà đầu tư hãy nhớ mốc 31/1/2018, vì đó mới là ngày sớm nhất Fed nâng lãi suất

Nhà giao dịch - những người tiên liệu đường đi của lãi suất còn chính xác hơn cả Fed - đang đự đoán rằng khả năng cao lãi suất sẽ giảm sau phiên họp sắp tới của Fed. Nhóm này cũng cho rằng hơn 50% khả năng lãi suất sẽ không tăng cho đến đầu năm 2018.


Sau khi người Anh quyết định rời EU, giá cổ phiếu và các loại hàng hóa trên toàn cầu đồng loạt giảm mạnh trong khi trái phiếu và đồng đô tăng, các NHTW đồng loạt thay đổi nhận định về triển vọng tăng trưởng trong tương lai. Điều đó có nghĩa là điều kiện tài chính trên toàn cầu sẽ bị thắt chặt, kỳ vọng lạm phát cũng như tốc độ tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm.

Tỷ suất hợp đồng quỹ liên bang tương lai trung bình trong phiên giao dịch ngày hôm nay ở mức 0,41%. Giới giao dịch dự đoán lãi suất trung bình tháng 12 sẽ giảm còn 0,37%.

"Thị trường đang đánh cược vào khả năng Fed cắt giảm lãi suất trong vài tháng tới." Aaron Kohli - chuyên gia thu nhập cố định tại BMO Capital Markets - 1 trong 23 nhà giao dịch chính với NHTW - nhận định. "Fed đã không còn lựa chọn nào khác, do đó thị trường có vẻ không trông chờ vào bất cứ khả năng tăng lãi suất nào cho đến giữa năm 2017."

Thống đốc Fed Jerome Powell nhận định, rủi ro toàn cầu ngày càng di chuyển xuống vùng sâu hơn kể từ khi cuộc trưng cầu dân ý ở Anh kích hoạt lên một làn sóng bán tháo tài sản rủi ro trên toàn cầu. Chính vì vậy, các NHTW cần có một chính sách mới để ổn định tình hình.
Powell cho biết: "Chính sách tiền tệ sẽ cần được duy trì để hỗ trợ tăng trưởng trong giai đoạn thách thức này."

Hợp đồng quyền chọn tỷ giá EUR/USD - loại chứng khoán phái sinh hoạt động tích cực nhất trên thị trường tiền tệ cho thấy 25% khả năng Fed sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 9. Chỉ 2 tháng trước, nhà đầu tư vẫn khá chắc chắn rằng Fed sẽ tăng lãi suất vào cuối năm.
Theo Anh Sa
Trí thức trẻ/CafeF/Bloomberg
Share:

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2016

Vay tiền, đừng chỉ nhìn lãi suất

Do có nhu cầu xây nhà, đầu năm nay chị Ngân (Q.Phú Nhuận, TP.HCM) tìm đến một ngân hàng (NH) TMCP trên địa bàn để tìm hiểu và được NH đưa ra ba mức lãi suất (LS) tùy theo thời gian cố định LS. 

Theo đó, nếu cố định một năm, LS là 7,5%/năm, cố định hai năm là 8,5%/năm và 9,5%/năm nếu cố định ba năm. Dù mức LS này khá “mềm” so với mức LS chung cùng thời điểm, nhưng tìm hiểu kỹ chị Ngân phát hiện NH đưa ra rất nhiều điều kiện ràng buộc.

Cụ thể, trong khi một số NH khác cho trả nợ trước hạn mà không tính phí trả nợ trước hạn, NH này yêu cầu khách vay không được trả nợ trước hạn hai năm nếu chọn gói cố định LS một năm. Tương tự, với gói cố định LS hai năm, không được trả trước hạn ba năm.
Nếu trả trước hạn, ngoài việc phải trả LS phạt, người vay còn bị thu hồi toàn bộ ưu đãi đã hưởng trước đó. Do mức LS cho vay thông thường với khách hàng cá nhân của NH này là 10,5-11%/năm, số tiền bị thu hồi sẽ không phải ít.

Chưa kể, thay vì chỉ tính tỉ lệ nhất định nhân với số tiền trả nợ trước hạn, NH này còn nhân thêm với số kỳ trả nợ trước hạn dẫn đến số tiền phạt trả nợ trước hạn sẽ cao hơn. Ngoài ra, người vay vẫn phải mua bảo hiểm cho khoản vay, phải làm thẻ để hằng tháng nộp tiền trả nợ và đăng ký Internet banking... làm phát sinh thêm chi phí.

Theo chị Ngân, nhân viên tư vấn hầu như chẳng đả động gì đến những ràng buộc này cho đến thời điểm ra công chứng hợp đồng. “Nếu tính đầy đủ những khoản này, mức LS thực tế sẽ cao hơn so với quảng cáo” - chị Ngân nói.

Thực tế với LS huy động liên tục tăng, các NH buộc phải tìm cách “tự bảo vệ” mình, đẩy rủi ro LS cho khách hàng. Nhiều NH đưa ra LS cho vay ban đầu rất thấp nhưng chỉ cố định trong vòng ba tháng đầu, sau đó LS được áp theo mức LS huy động 12 hoặc 13 tháng cộng với biên độ do NH quy định, thay đổi mỗi ba tháng một lần.

Đặc biệt, biên độ cộng thêm hiện lên tới 4-5%, thay vì phổ biến ở mức 3,5% như trước. Nhiều NH còn tự thay đổi biên độ cộng thêm mà không thông báo trước. Theo các chuyên gia, ngoài LS do NH chào mời, người dân nên tìm hiểu kỹ các điều kiện kèm theo để tránh bị rơi vào tình huống “bút sa gà chết”, chịu rủi ro về LS sau khi đặt bút ký hợp đồng.
(Tuổi trẻ)
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán
Share:

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2016

Các thị trường chứng khoán toàn cầu sẽ rơi xuống mức nào?

Các giám đốc đầu tư trên toàn cầu đang đưa ra cảnh báo về việc thị trường chứng khoán có thể tụt dốc sâu hơn nữa trước các mối lo ngại từ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, giá dầu và việc các ngân hàng trung ương thiếu đi các công cụ để hỗ trợ nền kinh tế.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VqC3pE-AZFp
Chỉ số Standard & Poor’s 500 sẽ giảm thêm 10% nữa, xuống mức 1.650 điểm và giá dầu có thể xuống dưới ngưỡng 20 USD/thùng khi giới đầu tư luôn cảm thấy bất an, Scott Minerd, giám đốc đầu tư của Guggenheim Partners cho biết.

Trong khi đó, Jeffrey Rottinghaus, giám đốc quản lý quỹ T. Rowe Price cho rằng, giá chứng khoán có thể giảm thêm 10% khi nền kinh tế Mỹ trượt vào khủng hoảng nhẹ. Bên cạnh đó, “ngành công nghiệp và hàng hóa sẽ rơi vào khủng hoảng trong ít nhất 6 tháng nữa tại Mỹ”.

“Tôi chờ đợi một đợt giảm dài của chỉ số S&P 500”, Jefrey Gundlach, đồng sáng lập DoubleLine Capital cho biết.

Trong phiên giao dịch tại thị trường Mỹ đêm qua, chỉ số S&P 500 đã giảm 3,7%, mức mạnh nhất kể từ tháng 8/2015, trước khi phục hồi nhẹ và đóng cửa ở 1.859,33 điểm. Tất cả 30 thành viên của chỉ số Dow Jones Industrial Average đều giảm giá kể từ đầu năm 2016 tới nay, trong khi chỉ số này giảm 1,6% trong phiên giao dịch tối qua, kéo dài đà giảm từ 31/12/2015 đến nay lên 9,5%.
"Tôi chờ đợi một đợt giảm dài của chỉ số S&P 500" - Jefrey Gundlach, đồng sáng lập DoubleLine Capital
Russ Koesterich, giám đốc chiến lược đầu tư toàn cầu của BlackRock Inc cho rằng, thị trường cần có những chất xúc tác về cơ bản để chạm đáy thực sự và bật tăng trở lại. Đó có thể là các thông tin đến từ doanh thu của các tập đoàn, thông tin kinh tế tốt hoặc sự cải thiện của nền kinh tế Trung Quốc.

“Chúng ta cần có sự bình ổn tại các yếu tố cơ bản để có thể thuyết phục mọi người rằng mọi chuyện tới đây là chấm hết”, Koesterich cho biết.

Ray Dalio, giám đốc quỹ đầu cơ, người sáng lập Bridgewater Associates trả lời phỏng vấn CNBC tại Diễn đàn Kinh tế thế giới 2016 rằng: thị trường toàn cầu đang đối mặt với rủi ro giảm phát của nền kinh tế. Bước đi tiếp theo của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có lẽ sẽ thiên về nới lỏng hơn là tiếp tục thắt chặt tiền tệ. Điều này sẽ không dễ dàng, bởi lãi suất hiện tại đã ở mức thấp.
Lam Phong-Vnexpress (Theo Bloomberg)

>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán
Share:

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2016

Thích nghi với những đổi thay

2015 là năm cực kỳ khó khăn cho các NĐT vì tình hình không thuận lợi và nhiều biến động trên thị trường cổ phiếu, trái phiếu cũng như hàng hóa thương phẩm. Dự báo năm 2016 cũng sẽ khó khăn không kém. 

Ông Steve Brice, Trưởng nhóm Chiến lược Đầu tư, Ngân hàng Standard Chartered

NĐT cần phải tự thích nghi những thay đổi đó, nhưng nhìn chung, chúng tôi kỳ vọng thị trường cổ phiếu toàn cầu sẽ tạo ra những khoản lợi nhuận tích cực và vượt lên thị trường trái phiếu.


Câu hỏi lớn ở đây là liệu mức suy giảm 15% trên thị trường cổ phiếu toàn cầu vào giữa năm 2015 có phải là dấu hiệu cho suy thoái sắp tới ở Mỹ hay không? Nếu đúng như vậy, NĐT cần áp dụng thêm các biện pháp phòng thủ nào? Tuy nhiên, chúng tôi có góc nhìn khác nhau trong quan điểm về năm 2016.

"2016 sẽ là năm khó khăn. Mặc dù lợi nhuận cả năm có thể sẽ tốt hơn so với 2015, song mọi việc sẽ không hoàn toàn thuận buồm xuôi gió".

Nền kinh tế Mỹ có khả năng đi vào giai đoạn cuối chu kỳ, nhưng đà tăng trưởng kinh tế hiện nay có khả năng sẽ tiếp diễn trong năm 2017. Thông thường, các cuộc suy thoái ở Mỹ là do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ với mục tiêu chuyển từ hỗ trợ tăng trưởng sang chống lạm phát. 


Ngược lại với điều này, năm 2015 đã chứng kiến nhiều biện pháp chống lạm phát mạnh. Năm 2016, các biện pháp này có thể giảm đi, trong khi khả năng châu Âu và Trung Quốc có thể hoàn toàn làm giảm áp lực lạm phát trên toàn cầu. Do đó, chúng tôi dự đoán việc Fed thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ diễn ra chậm.


Ở những nơi khác trên thế giới, tăng trưởng được dự báo sẽ tăng nhẹ, đặc biệt là ở châu Âu và Nhật Bản, do chính sách tài chính và tiền tệ được nới lỏng phần nào. Nhưng Trung Quốc lại khác, vì những “làn gió ngược” trong thể chế có thể kìm hãm tăng trưởng, cho dù chính sách được nới lỏng.


Vậy điều này có nghĩa như thế nào đối với NĐT?


Lợi nhuận của DN có thể vẫn trong xu hướng tăng, đặc biệt là tại các thị trường phát triển. Tại Mỹ, lợi nhuận trong năm 2015 bị ảnh hưởng nặng do giá dầu lao dốc. Nhưng ảnh hưởng này có thể nhẹ hơn trong năm 2016 nhờ giá dầu thoát đáy. Trong khi đó, chúng tôi dự đoán nhu cầu trong nước ở khu vực đồng euro và Nhật Bản sẽ tăng, do đó lợi nhuận của DN sẽ ít phụ thuộc hơn vào xuất khẩu và vào các đồng tiền yếu.


Tại châu Á (trừ Nhật), thu nhập cũng được dự báo sẽ tăng nhẹ dù phần lớn kỳ vọng lợi nhuận sẽ tăng 6% năm 2016 (nguồn: Factset). Chúng tôi dự báo triển vọng không tốt lắm cho các thị trường mới nổi ngoài châu Á, mặc dù sự ổn định của giá dầu sẽ có tác dụng tích cực đáng kể cho các thị trường này.

Khác với bức tranh dự đoán trên, chúng tôi hy vọng thị trường cổ phiếu toàn cầu sẽ tạo lợi nhuận khá tốt trong năm 2016, khu vực đồng euro và Nhật Bản có khả năng tiếp tục sinh nhiều lời trong năm thứ hai liên tiếp. Tất nhiên, bức tranh toàn cảnh lại khác. Năm 2016 hứa hẹn sẽ tiếp tục là một năm đầy thách thức. Biến động thường tăng khi đến giai đoạn cuối của một chu kỳ kinh tế và lần này vẫn có thể là như vậy.


Điều đó nghĩa là lợi nhuận thị trường cổ phiếu thường rất tích cực trong giai đoạn 12-24 tháng sau khi Fed bắt đầu chu kỳ thắt chặt. Do đó, cần phải cân bằng giữa nguy cơ suy giảm đáng kể trong các loại tài sản rủi ro như cổ phiếu và trái phiếu có lợi nhuận cao và khả năng bỏ lỡ đợt phục hồi giá cổ phiếu sắp tới.

"Năm 2016 hứa hẹn sẽ tiếp tục là một năm đầy thách thức. Biến động thường tăng khi đến giai đoạn cuối của một chu kỳ kinh tế và lần này vẫn có thể là như vậy".

NĐT có thể cân bằng những áp lực trái ngược đó bằng cách tiếp tục đầu tư vào cổ phiếu toàn cầu, nhưng cũng phải tự bảo vệ nhiều hơn, chống các rủi ro biến động đang tăng. Điều cốt yếu là phải có cách tiếp cận đa dạng, cùng với tăng dần đầu tư vào trái phiếu vì chúng tôi dự đoán Fed sẽ tăng lãi suất chậm. Nguy cơ lớn nhất ở đây là khi lạm phát nhảy vọt sẽ dẫn đến thắt chặt chính sách tiền tệ, lợi nhuận cao hơn nhưng lỗ vốn cho các NĐT trái phiếu.


Theo đó, chúng tôi kỳ vọng lãi suất sẽ vẫn ở mức rất thấp, có nghĩa là đầu tư để tạo ra thu nhập ổn định vẫn là cách đầu tư thích hợp trong năm 2016. Chúng tôi đề xuất cách tiếp cận theo ba hướng, đó là tiềm năng thu nhập, phạm vi để tăng trưởng vốn và nguy cơ từ việc giảm bớt đầu tư, nhưng vẫn phải để ý đến các tài sản tạo thu nhập khác. NĐT nên giảm nhẹ đầu tư vào các cổ phiếu có cổ tức cao do có nguy cơ suy giảm mạnh một lần nữa vào năm 2016 và nên tăng đầu tư vào trái phiếu.


Đương nhiên, lợi nhuận từ trái phiếu chính phủ phát hành bằng USD, yên Nhật và euro chưa phải là cao nhất và thường là tiêu cực, NĐT có thể xem xét trái phiếu lãi suất cao của Mỹ như là phương án thay thế. Rất nhiều tin tức cho biết, trái phiếu lãi suất cao của Mỹ hiện đang không tốt, tuy nhiên, mức lãi suất 8,7% (theo chỉ số Barclays US Corporate High Yield Index) là khá hấp dẫn với tình hình kinh tế hiện nay. Trong khi đó, lợi nhuận từ các cổ phiếu ưa thích vẫn hấp dẫn và chúng tôi tin rằng, nguy cơ từ việc giảm bớt đầu tư lại thấp hơn so với các lĩnh vực khác, chẳng hạn như các quỹ đầu tư bất động sản.


Vì vậy, 2016 sẽ là năm khó khăn. Mặc dù lợi nhuận cả năm có thể sẽ tốt hơn so với 2015, song mọi việc sẽ không hoàn toàn thuận buồm xuôi gió. Trong khi đó, một số xu hướng thị trường gần đây có thể sẽ yếu đi hoặc quay ngược lại vào một số thời điểm trong năm 2016, ví dụ như sức mạnh của USD, giá dầu suy yếu và sự chững lại của các thị trường mới nổi.


Với tất cả những nhận định trên, chiến lược cốt lõi trong năm 2016 sẽ là “thích nghi với những đổi thay”.
Steve Brice-ĐTCK






Share:

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

4 điểm nóng ảnh hưởng đến dòng chảy vốn 2016

Năm 2016, việc hội nhập sâu rộng hơn nữa với nền kinh tế thế giới đem lại nhiều cơ hội huy động vốn mới và tìm đối tác chiến lược cho các DN Việt Nam. 


http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vpj51k-AZFo
Tuy nhiên, theo TS Cấn Văn Lực, cố vấn cấp cao Chủ tịch HĐQT Ngân hàng BIDV kiêm Giám đốc Trường đào tạo Ngân hàng BIDV, mức độ tận dụng các cơ hội khi tham gia hội nhập của DN nội địa chỉ đạt 25-27%, trong khi các nước khác đạt 50-70%.

Càng hội nhập sâu rộng Việt Nam càng phải chuẩn bị kỹ lưỡng trước những biến động của nền kinh tế thế giới. Đặc biệt, trong năm 2016, theo TS Cấn Văn lực, có 4 điểm nóng của nền kinh tế thế giới sẽ ảnh hưởng đến kinh tế trong nước đó là ẩn số về tỷ giá, lãi suất, diễn biến thị trường chứng khoán thế giới và giá dầu.

Đồng USD mạnh

Về tỷ giá, theo TS Cấn Văn Lực, năm 2015, đa số các đồng tiền mất giá so với USD bình quân từ 7-10%. Trong năm nay, các đồng tiền sẽ mất giá so với USD từ 3-5%, trong đó nhân dân tệ được dự báo mất giá gần 7%, do đó áp lực điều chỉnh tỷ giá trong thời gian tới sẽ rất khắc nghiệt.

Năm 2015 và 2016, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có các chính sách quan trọng, đẩy mạnh chống đô la hóa bằng cách đưa lãi suất huy động USD về 0% và công bố tỷ giá trung tâm hàng ngày. Điều này sẽ giúp việc điều chỉnh tỷ giá bớt cứng nhắc hơn so với trước đây, giúp DN chủ động kiểm soát rủi ro tỷ giá.

Tuy nhiên, về việc hướng tới thu phí gửi ngoại tệ, TS Lực cho rằng, chính sách này cần được xem xét cẩn trọng và kỹ lưỡng bởi người dân thông thường không muốn trả phí. Nếu phải trả phí, họ sẽ tính toán tới các kênh đầu tư khác. Điều này có thể khiến tình trạng đô la hóa giảm nhưng gây khan hiếm ngoại tệ khi người dân không gửi tiền vào ngân hàng nhiều như trước.
Bên cạnh đó, liên quan đến kiều hối, hiện Việt Nam nằm trong Top 15 nước nhận (chuyển tiền) kiều hối lớn nhất thế giới, năm 2015 đạt 12,3 tỷ USD. Dòng vốn này chảy qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không bị tính phí, nếu bị mất phí, người dân sẽ đi qua các kênh không chính thức và không có lợi cho nền kinh tế.
Fed tiếp tục nâng lãi suất

Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể tiếp tục tăng lãi suất và đồng USD mạnh lên sẽ làm gia tăng thêm rủi ro khi dòng vốn dịch chuyển ra khỏi các thị trường mới nổi, trong khi các khoản nợ nước ngoài tăng do vay nợ bằng USD.

Nợ công và thâm hụt ngân sách của Việt Nam vẫn ở trong ngưỡng an toàn, tuy nhiên, con số này đã tăng rất nhanh trong 5 năm qua, từ mức 50% GDP năm 2011 lên 61,3% GDP năm 2015. Thâm hụt ngân sách tuy giữ ở mức 5% nhưng so với các nước mới nổi khác vẫn ở mức cao.

Lạm phát năm 2015 ở mức thấp đã tạo dư địa cho chính sách nới lỏng tiền tệ, nhưng trong năm 2016, dự báo kinh tế thế giới phục hồi tốt hơn khiến cầu hàng hóa tăng, có thể đẩy mặt bằng giá cả tăng lên (trừ giá dầu). Ngoài ra, việc điều chỉnh tăng giá các mặt hàng thuộc quản lý nhà nước như tiền lương, tiền điện, dịch vụ y tế, giáo dục cũng sẽ gây áp lực lên lạm phát. 

Bên cạnh đó, tăng trưởng tín dụng năm 2015 đạt 18% cũng có độ trễ ảnh hưởng lên lạm phát 2016. Nếu lạm phát tăng trở lại sẽ tác động đến mặt bằng lãi suất. 

Biến cố giá dầu

Theo TS Cấn Văn Lực, có 3 kịch bản giá dầu được đưa ra năm 2016, với các mức giá 30-40 USD/thùng, 40-50 USD/thùng và 50-60 USD/thùng, tuy nhiên, số đông cho rằng kịch bản dễ xảy ra nhất là 40-50 USD/thùng. 

Giá sản xuất, khai thác dầu của Việt Nam vào khoảng 27,5 USD/thùng và để có lãi, giá xuất khẩu cần đạt từ 45 USD/thùng trở lên, do đó, nếu kịch bản 40-50 USD/thùng xảy ra, Tập đoàn Dầu khí quốc gia (PVN) không chịu thiệt hại.
Tuy nhiên, trong những ngày đầu năm 2016, giá dầu đã có lúc chạm mốc 30 USD/thùng. Theo Morgan Stanley, nếu USD tăng giá 1% thì giá dầu giảm khoảng 1 USD. Nếu USD tăng 7-10% thì giá dầu mất 7-10 USD. Như vậy, kịch bản giá dầu ở mức 20-25 USD/thùng vẫn có khả năng xảy ra sẽ ảnh hưởng tới an ninh tài chính quốc gia và gián tiếp tác động đến dòng chảy vốn. 
Rủi ro TTCK Trung Quốc

Biến động lớn tại TTCK Trung Quốc và giá dầu trong những ngày đầu năm 2016 đã khiến TTCK toàn cầu bị ảnh hưởng nặng nề. Từ đầu năm 2016 đến nay, TTCK toàn cầu đã mất 3.000 tỷ USD. 

Trung Quốc, một trong những đầu tàu kinh tế thế giới đã giảm tốc, khi GDP năm 2015 chỉ tăng khoảng 6,8% và năm 2016 dự báo ở 6,3%. Các chuyên gia cho rằng, nếu nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng giảm 1% thì nền kinh tế thế giới giảm tăng trưởng 0,4% và Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng. Hiện chỉ số rủi ro toàn cầu đã tăng trở lại, đặc biệt tại các nền kinh tế mới nổi.

Đánh giá về cơ hội đầu tư năm 2016, TS Cấn Văn Lực cho rằng, với mặt bằng lãi suất ở mức 6%/năm thì gửi tiền tiết kiệm vẫn là kênh đầu tư an toàn, bất động sản có dấu hiệu ấm lên tùy từng phân khúc và dự báo có sự sàng lọc hơn trong năm 2016. Về TTCK, kỳ vọng dòng vốn dịch chuyển ra khỏi các nước mới nổi quay vào Việt Nam sẽ giúp đỡ thị trường, còn vàng và ngoại tệ không có dư địa để lướt sóng.
Phương Mai - ĐTCK


Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?