Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn bảng cân đối kế toán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bảng cân đối kế toán. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

8 dấu hiệu khả nghi cần chú ý khi đọc báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là một trong những công cụ khách quan nhất cho bạn biết sức khỏe tài chính của công ty.


Như ngạn ngữ cổ đã nói: “Những con số không biết nói dối”. Những con số có thể biểu thị cho sự thịnh vượng hay nghèo đói nhưng nó cũng có thể cho chúng ta thấy tín hiệu về những vấn đề bất thường trong công ty. Trong bài này, chúng ta sẽ khám phá 8 dấu hiệu khả nghi chỉ ra vấn đề bất thường của một công ty dựa trên việc phân tích báo cáo tài chính.

Làm thế nào để đọc một báo cáo tài chính

Trước khi bạn có thể khoanh vùng khả nghi trên Báo cáo Tài chính , bạn cần biết đọc báo cáo tài chính. Rất nhiều người đơn giản chỉ mở ra và tìm kiếm đánh giá trên các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận hay dòng tiền.

Tuy nhiên Báo cáo tài chính còn có những phần khác mà bạn nên biết. Về cơ bản, Báo cáo tài chính gồm 4 thành phần:

Báo cáo Kiểm toán: Đây là báo cáo được lập bởi kiểm toán viên đưa ra ý kiến của họ về báo cáo tài chính dựa trên những gì kiểm toán viên thu thập được. Báo cáo tài chính: Bản thân Báo cáo tài chính đã là một tập hợp các báo cáo nhỏ hơn cung cấp một bức tranh toàn cảnh về dòng tiền trong công ty và vị thế tài chính của công ty đó trong một khoảng thời gian nhất định.

Các báo cáo nhỏ hơn có trong báo cáo tài chính là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Thuyết minh báo cáo tài chính: Tài liệu quan trọng để hỗ trợ bạn đọc báo cáo tài chính. Thuyết minh báo cáo tài chính sẽ giải thích rõ các giao dịch quan trọng ở công ty hoặc chi tiết hơn về các tài khoản kế toán.

Ý kiến và phân tích từ ban quản trị: Tương tự như một bản tóm tắt, đây là một lưu ý từ ban quản trị gồm các thông tin hoặc chủ đề mà ban quản trị muốn thông báo tới các cổ đông hoặc người đọc báo cáo. Những lưu ý này của ban quản trị thường là kết luận từ một phần của báo cáo, và xếp ở phần riêng này, vì nó có thể không nhất thiết phải dễ hiểu đối với người đọc.

Ở phần này sẽ cung cấp những thông tin vô cùng giá trị để giúp bạn xác định lợi nhuận, thanh khoản và dòng tiềng trong công ty; mọi dấu hiệu đều quan trọng để bạn thấy được sức khỏe công ty.

Tìm kiếm dấu hiệu

Bây giờ bạn đã có ý tưởng để đọc báo cáo tài chính, dưới đây là 8 dấu hiệu mà có thể là những “điểm đen” trên báo cáo tài chính của công ty. 1. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu (debt-to-equity ratio) đang tăng lên: Điều này cho thấy công ty đang sử dụng nợ nhiều hơn cả những gì công ty có.

Một dấu hiệu báo động nếu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu lớn hơn 100%. Ngoài ra bạn cũng có thể theo dõi Hệ Số Khả Năng Thanh Toán Lãi Vay (Interest coverage ratio) được tính bằng cách lấy lợi nhuận hoạt động chia cho lãi vay. Nếu hệ số này nhỏ hơn 5 thì đây cũng là điểm cần chú ý.


Hình 1.1: Cơ cấu sử dụng nợ của công ty tăng dần qua các năm. Đến năm 2015 công ty có chỉ số nợ/vốn chủ sở hữu là 208%
Hình 1.1: Cơ cấu sử dụng nợ của công ty tăng dần qua các năm. Đến năm 2015 công ty có chỉ số nợ/vốn chủ sở hữu là 208%

2. Doanh thu liên tục giảm qua các năm: Nếu công ty có ba hoặc nhiều năm doanh thu sụt giảm, chứng tỏ công ty đã không kinh doanh tốt. Trong khi các biện pháp cắt giảm chi phí, như bỏ các khoản chi tiêu lãng phí và cắt giảm nhân viên, có thể bù đắp cho việc suy giảm doanh thu, nhưng công ty cần phải có sự thay đổi trong kinh doanh trong vòng 3 năm nếu không việc cắt giảm sẽ không mang lại giá trị dài hạn.



Hình 2.2: Doanh thu bán hàng công ty giảm 3 năm liên tiếp

Hình 2.2: Doanh thu bán hàng công ty giảm 3 năm liên tiếp

3. Khoản mục “Chi phí khác” trên bảng cân đối kế toán lớn bất thường: Các công ty thường có khoản mục “chi phí khác” hay biến động hoặc quá nhỏ để định lượng, đây là điều bình thường trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán. Nếu khoản mục “chi phí khác” có giá trị cao bất thường, bạn nên tìm xem điều gì tạo nên khoản mục “chi phí khác” cao đến như vậy. Và bạn có thể dự đoán khoản mục này còn xuất hiện trong tương lai hay không.



Hình 3.1: Doanh nghiệp có chi phí khác cao bất thường khi tăng gấp 4 lần so với năm trước đó nhưng lại không có giải thích nào trong thuyết minh BCTC
Hình 3.1: Doanh nghiệp có chi phí khác cao bất thường khi tăng gấp 4 lần so với năm trước đó nhưng lại không có giải thích nào trong thuyết minh BCTC

4. Dòng tiền thiếu ổn định: Dòng tiền là tín hiệu tốt cho biết sức khỏe của công ty, dòng tiền giống như một dòng chạy, lên và xuống. Các khoản mục trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho thấy các giao dịch đang được xử lý nhưng chúng không cho ta biết về các giao dịch xảy ra trong tương lai. Ngược lại, tình trạng thiếu tiền có thể là dấu hiệu việc chưa ghi nhận đúng thực tế (Under-billing/Over-billing) về tình hình kinh doanh của công ty



Hình 4.1: Một công ty có dòng tiền âm và thiếu ổn định
Hình 4.1: Một công ty có dòng tiền âm và thiếu ổn định

5. Sự tăng lên của các khoản phải thu và hàng tồn kho có liên quan tới doanh thu: Tiền ở các khoản phải thu hoặc trong hàng tồn kho là các khoản tiền không tạo ra lợi nhuận. Trong khi điều quan trọng là phải có đủ hàng tồn kho để đáp ứng các đơn đặt hàng, tuy nhiên một công ty lại không muốn các khoản phải thu chiếm phần nhiều trong doanh thu hoặc trữ nhiều hàng tồn kho không bán được.




Hình 5.1: Một doanh nghiệp ngành mía đường bị chôn vốn trong hàng tồn kho khi nguồn cung mía đường dư thừa khiến thành phẩm sản xuất không bán được
Hình 5.1: Một doanh nghiệp ngành mía đường bị chôn vốn trong hàng tồn kho khi nguồn cung mía đường dư thừa khiến thành phẩm sản xuất không bán được

6. Liên tục phát hành cổ phiếu: Nhiều cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường chứng khoán, tức là sẽ có nhiều cổ phần bị pha loãng hơn. Nếu số lượng cổ phần của một công ty liên tục tăng hai hoặc ba phần trăm mỗi năm cho thấy công ty đang phát hành nhiều cổ phần và làm loãng giá trị của công ty.



Hình 6.1: Công ty liên tục tăng vốn chủ sở hữu bằng hình thức phát hành cổ phiếu bổ sung gây thiệt hại nhiều đến cổ đông thiểu số
Hình 6.1: Công ty liên tục tăng vốn chủ sở hữu bằng hình thức phát hành cổ phiếu bổ sung gây thiệt hại nhiều đến cổ đông thiểu số

7. Nợ vay luôn cao hơn tài sản bảo đảm: Kinh nghiệm cho thấy một số công ty duy trì ổn định tài sản và nợ vay khi ngành kinh doanh của công ty không phụ thuộc vào yếu tố theo mùa hoặc ít bị ảnh hưởng bởi áp lực thị trường. Kể các các công ty trong ngành có tính mùa vụ (Ví dụ: các công ty xây dựng không hoạt động trong những tháng mùa đông), cũng có thể để nợ nhiều hơn so với tài sản bảo đảm. Về mặt kỹ thuật, nợ vay cao hơn tài sản bảo đảm nằm trong kế hoạch được lập. Nếu công ty để nợ phải trả tăng cao mà không có tài sản bảo đảm cũng có thể là dấu hiệu việc sử dụng đòn bẩy quá nhiều.

8. Giảm biên lợi nhuận gộp: Đây là thước đo về tính sinh lời của công ty được tính bằng cách lấy lợi nhuận thu được trên doanh thu trong một khoảng thời gian nhất định. Tỷ suất lợi nhuận biên giảm là điểm nên lưu ý. Biên lợi nhuận thể hiện chi phí sản xuất trực tiếp ra hàng hóa hoặc dịch vụ và biên lợi nhuận cần phải đủ để trang trải chi phí hoạt động như chi phí nợ.



Hình 8.1: Biên lợi nhuận gộp công ty giảm qua các năm từ 34% về 6% rồi -7%
Hình 8.1: Biên lợi nhuận gộp công ty giảm qua các năm từ 34% về 6% rồi -7%

Phân tích báo cáo tài chính của một công ty dù cho bạn là cổ đông hoặc nhà đầu tư đều là kỹ năng giá trị. Hãy dành thời gian để tìm hiểu sâu báo cáo tài chính và xem xét những dấu hiệu khả nghi để có những nhận định đúng đắn về tình hình tài chính của công ty.

Với góc nhìn của một nhà phân tích thì “đọc hiểu” các con số để mổ xẻ được ý nghĩa đằng sau nó là điều kiện cần để trở thành một nhà phân tích thành công. Nhưng đừng xem xét các con số này một cách riêng lẻ mà hãy đặt chung với việc phân tích ngành , phân tích mô hình kinh doanh để tự xây dựng cách phân tích sâu hơn.

>> "Hô biến" chi phí - Thủ thuật mà DN sử dụng để biến tấu lợi nhuận
Theo Trí thức trẻ
Share:

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

Phương pháp định giá Coca-Cola của Warren Buffett

Lúc 6 tuổi, Buffett đã có được tỷ suất thu nhập hấp dẫn 20% từ Coca-Cola. Khi trưởng thành, ông còn làm tốt hơn thế.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VhMm_G5mqsW
Lúc 6 tuổi, Buffett đã có được tỷ suất thu nhập hấp dẫn 20% từ Coca-Cola. Khi trưởng thành, ông còn làm tốt hơn thế. Mức lãi kép 54,3% trong vòng ba năm đã làm tăng 1,02 tỷ đô la từ số vốn ban đầu nhanh chóng lên thành 3,75 tỷ đô la biến khoản đầu tư vào Coca-Cola được xem là một trong những thành tích vang dội của Warren Buffett.

Không xuôi theo dòng nước

Mùa thu năm 1988, tập đoàn Coca-Cola phát hiện ra rằng có ai đó đang thu mua mạnh cổ phiếu của mình. Cổ phiếu của công ty đã giảm 25% sau khi thất bại với dòng sản phẩm New Coke, còn nhà đầu tư này lại đang thu vào hàng đống cổ phiếu cùng một lúc.

Sau khi biết được người môi giới đang đại diện thực hiện các lệnh bán đến từ vùng Trung Tây, công ty bắt đầu biết được bí danh của nhà đầu tư này. Đó chính là Warren Buffett, một hình mẫu điển hình cho vùng Trung Tây, Omaha.

Cho đến mùa xuân sau đó một năm, Buffett đã mua được số cổ phiếu trị giá 1,02 tỷ đô la, chiếm 7% cổ phần của công ty Coca-Cola, với giá trung bình 6,5 đô la một cổ phiếu.

Các chuyên gia phân tích của phố Wall gọi khoản đầu tư vào Coca-Cola là “cổ phiếu quá đắt đỏ”. Bởi với mức giá mua trung bình 6,5 đô la, Buffett đã trả gấp 15,5 lần mức thu nhập hiện tại của cổ phiếu. Gía trị sổ sách là 1,18 đô la, vì thế giá mua cao gấp 5,5 lần giá trị sổ sách.

Người thầy của Buffett, Benjamin Graham với phương pháp định lượng của mình có thể sẽ không ngồi chung thuyền với ông. Graham sẽ không mua cổ phiếu Coca-Cola vì giá của công ty này không hấp dẫn nếu xét theo phương pháp định lượng truyền thống.

Phố Wall cười nhạo quyết định đầu tư của Buffett. Cả người thầy cũng không đồng tình với ông. Vậy thì điều gì đã thôi thúc Buffett trở thành người sở hữu lớn nhất của Coca-Cola? Điều gì đã thôi thúc Buffett đầu tư nhiều hơn, đặt cược rất nhiều vào Coca-Cola so với tất cả các cổ phiếu trước đó?

Coca-Cola cuốn hút Buffett qua lăng kính “định tính”

Như nhiều khoản đầu tư nổi bật trước đây, thời điểm Buffett bắt đầu mua khi một doanh nghiệp tốt đạng gặp phải thời điểm khó khăn, tựa như một đám mây giông đang đi qua trên đầu nhưng không tồn tại lâu. Ông đầu tư vào Washington Post, khi tờ báo này đang gặp rắc rối với chính phủ và vì thế được bán với giá chỉ bằng một phần nửa giá thanh lý của công ty.

Đối với khoản đầu tư vào GEICO, ông mua với giá gần như cho không, là một món cực hời nếu biết trước được rằng công ty đang gặp vấn đề lúc đó vẫn có thể tiếp tục hoạt động. Cả hai trường hợp trên, ông có thể định giá bằng phương pháp định lượng. Nhưng với Coca-Cola thì hoàn toàn khác.

Buffett không thể định giá công ty này dựa trên bảng cân đối kế toán. Ông không thể định giá toàn bộ giá trị của Coca-Cola bằng phương pháp định lượng của thầy Graham. Nhưng ông lại có thể hình dung ra giá trị của công ty qua phương pháp định tính.

Cha đẻ của phương pháp này là Phil Fisher có một tiêu chí để định giá doanh nghiệp là liệu sản phẩm của công ty có đủ tiềm năng thị trường để mở rộng doanh thu trong vài năm tới không? Khi áp dụng vào Coca-Cola, công ty đang dẫn đầu thị trường về sản phẩm nước ngọt có gas, nhưng mới chạm đến 2% doanh số toàn cầu, thì rõ ràng tiềm năng thị trường của sản phẩm sẽ còn rất lớn.

Buffett bắt đầu mua cổ phiếu này sau khi công ty thất bại với sản phẩm New Coke, giá đã giảm 25% so với mức trước đó. Điều này càng làm Coca-Cola thêm hấp dẫn ông, nhưng đó không phải là lý do để ông đầu tư vào công ty.

Trước khi Buffett đầu tư, mảng kinh doanh nước ngọt có gas từ lâu đã mang lại doanh thu cao cho công ty. Tuy nhiên, công ty lại không tập trung khai thác tiềm năng của dòng sản phẩm này mà đa dạng hóa các sản phẩm không Cola như nước tinh lọc, rượu, tôm nuôi, chất dẻo, đồ uống dinh dưỡng, hoa quả và rau xanh.

Dù Coca-Cola đã bao phủ toàn thế giới, nhưng với chiến lược kinh doanh trên đã đẩy công ty vào tình tràng trì trệ. Lợi nhuận hàng năm trên vốn cổ phần của Coca-Cola trong những năm 1970 bế tắc ở mức thảm hại là 1%.

Sự thay đổi trong ban điều hành vào đầu những năm 1980 của Coca-Cola đã phát huy tác dụng khi công ty bắt đầu loại bỏ những dự án không Cola để tập trung khai thác tiềm năng của dòng sản phẩm nước ngọt có gas, đồng thời chú ý hơn tới việc tiếp thị sản phẩm ở các thị trường nước ngoài.

Với chiến lược kinh doanh mới toanh này, công ty đã thu được những thắng lợi đáng kể. Doanh số bán hàng từ năm 1984 đến năm 1987, trước khi Buffett đầu tư bùng nổ với mức tăng trưởng 34% mỗi năm.

Bên cạnh đó, ban điều hành bắt đầu dùng tiền mặt dư thừa của công ty để mua lại cổ phiếu. Đây là một cách tiếp cận mà Buffett rất thích bởi việc này chứng minh công ty bắt đầu nhận thấy cổ phiếu đang được giao dịch với giá rẻ so với tiềm năng tăng trưởng dự đoán được trong dài hạn.
Kết hợp tất cả các yếu tố hấp dẫn này trong một cổ phiếu đã thôi thúc Buffett đầu tư vào Coca-Cola. Một trong những khoản đầu tư thành công nhất trong sự nghiệp của ông.

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?