Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn báo cáo tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn báo cáo tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 11, 2017

Bí kíp chọn mua cổ phiếu: 5 dấu hiệu xuất hiện cơ hội đầu tư khi đọc Báo cáo tài chính

BCTC là quá khứ của doanh nghiệp, nhưng từ bản báo cáo "thành tích" quá khứ đó, nhà đầu tư có thể tìm ra các dấu hiệu về một cơ hội kiếm tiền như thế nào? 

Xét trên góc độ NĐT chứng khoán việc đọc, phân tích BCTC nhằm ba mục đích chính: 1. Đánh giá sức khỏe tài chính của doanh nghiệp; 2. Tìm dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro để tránh xa và tìm dấu hiệu cơ hội để đầu tư; 3. Đỉnh cao của phân tích BCTC là dự báo được dòng tiền, doanh thu, lợi nhuận trong tương lai của DN để ra những quyết định đầu tư thắng lợi lớn.

Tại cuộc thi “FA thánh chiến” – cuộc thi dành cho dân phân tích cơ bản với giải thưởng 100 triệu đồng vừa mới được phát động trên mạng xã hội chứng khoán Stockbook, một thành viên với nickname Vịt Con đã chia sẻ 5 dấu hiệu xuất hiện cơ hội đầu tư khi xem xét BCTC doanh nghiệp. Cuộc thi mới tổ chức vài ngày nhưng đã thu hút nhiều “anh tài” tham gia.

Trong khuôn khổ giới hạn lượng chữ, tác giả đã trình bày những nét cơ bản nhất và phổ biến nhất về việc tìm kiếm cơ hội trên BCTC. Việc áp dụng không phải đúng với tất cả các trường hợp.

THỨ NHẤT, HẾT KHẤU HAO, BÁN TÀI SẢN 

Khi hết khấu hao hay bán tài sản thông thường sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng trưởng đột biến. Từ đó làm tăng sức hút của cổ phiếu, thúc đẩy tăng giá cổ phiếu. Những trường hợp điển hình đã diễn ra trên thị trường chứng khoán như KDC bán mảng bánh kẹo mang lại lợi nhuận hàng nghìn tỷ và trả cổ tức kỷ lục lên đến 200% vào năm 2015 khiến cổ phiếu tăng giá 100%; KDC bán cổ phần KDF đầu năm 2017 làm giá tăng 80%; GMD bán GMD Tower giai đoạn 2014 làm giá tăng trên 70%; DVP hết khấu hao Tài sản cố định của mình từ 2014-2015 làm lợi nhuận và dòng tiền tăng tốt và giá cổ phiếu tăng bằng lần sau 3 năm.

Cách nhận biết cơ hội: Đọc báo cáo tài chính khoản mục tài sản dài hạn gồm bất động sản có giá trị cao; các công ty con, công ty liên kết được ghi nhận với giá trị sổ sách đang thấp hơn giá thị trường; khoản mục khấu hao của các doanh nghiệp đầu tư nhiều tài sản dài hạn như máy móc thiết bị, tàu chở hàng, cảng biển, bất động sản làm trụ sở… bên cạnh việc nghe ngóng trên thị trường về việc bán các tài sản (nếu có).

Có thể xem xét áp dụng vào chọn cổ phiếu trên TTCK như SEA sở hữu các lô đất vàng có giá trị rất lớn ở trung tâm Sài Gòn; sở hữu 20% cổ phần Proconco với giá vốn thấp; DVN sở hữu đất vàng và sở hữu cổ phiếu các doanh nghiệp dược lớn như IMP; VCB sở hữu MBB với giá vốn thấp và dự kiến 2018 thoái vốn…



Bán tài sản và lãi đột biến luôn là câu chuyện tạo lực tăng cho cổ phiếu.
Bán tài sản và lãi đột biến luôn là câu chuyện tạo lực tăng cho cổ phiếu.


THỨ 2, TÍCH ĐƯỢC TỒN KHO LỚN, NGUYÊN VẬT LIỆU RẺ 

Việc này sẽ làm cho giá vốn đầu vào của doanh nghiệp trong tương lai giảm mạnh và tăng lợi nhuận cho công ty, cho cổ đông từ đó tác động tích cực đến giá cổ phiếu.

Những trường hợp điển hình trên TTCK như (1) DRC năm 2009 tích được nhiều nguyên liệu cao su tự nhiên giá rất rẻ từ 2008, giúp lợi nhuận 2009 tăng 7,8 lần trong khi giá cổ phiếu tăng 18 lần ; (2) dòng thép HPG, HSG, NKG năm 2016 nhờ có được lượng nguyên vật liệu và hàng tồn kho giá rẻ đã khiến cho lợi nhuận của các DN này đều tăng tối thiểu 60% và tất cả các cổ phiếu đều tăng trên 100% - 300%; (3)VNM năm 2016 được hưởng lợi cực lớn từ giá nguyên liệu sữa bột thế giới rẻ nên đã có được lợi nhuận tăng trưởng mạnh trong năm 2016, từ đó giá cổ phiếu tăng tốt.

Cách nhận biết: Khi nghe thấy giá nguyên vật liệu hàng hóa cơ bản thì nhìn vào khoản mục hàng tồn kho của các DN tích trữ hàng tồn kho nhiều cho sản xuất và tính toán xem lợi bao nhiêu so với giá thị trường, nếu đủ lớn đột biến thì cơ hội rõ ràng.



Năm 2016, cổ phiếu thép đã có một năm thăng hoa nhờ giá quặng tăng, đẩy giá thép thành phẩm tăng mạnh trong khi họ đã tích trữ được tồn kho giá rẻ
Năm 2016, cổ phiếu thép đã có một năm thăng hoa nhờ giá quặng tăng, đẩy giá thép thành phẩm tăng mạnh trong khi họ đã tích trữ được tồn kho giá rẻ


THỨ 3, TỒN KHO THÀNH PHẨM LỚN CHỜ CHUYỂN GIAO VÀ NGƯỜI MUA TRẢ TIỀN TRƯỚC RẤT NHIỀU 

Theo thông tư 200/BTC thì DN chỉ có thể ghi nhận doanh thu và lợi nhuận khi chuyển giao cho người mua, chính vì thế rất nhiều doanh nghiệp dù đã thu được tiền từ người mua và ghi nhận vào khoản mục người mua trả tiền trước nhưng chưa ghi nhận doanh thu và lợi nhuận. Khi bàn giao nhà cho người mua, nó sẽ chuyển thành doanh thu.

Những trường hợp điển hình: KDH ghi nhận khoản người mua trả tiền trước tăng mạnh vào cuối năm 2015 và 2016, sau đó KDH đã hạch toán được doanh thu và lợi nhuận lớn vào năm 2016 và 2017. Giá cổ phiếu KDH chỉ trong 2 năm tăng đến 3 lần; tương tự với rất nhiều doanh nghiệp BĐS khác.

Cách nhận biết: 1. Hàng tồn kho tăng mạnh, đọc thuyết minh thấy đó là thành phẩm chờ chuyển; 2. Khoản mục người mua trả tiền trước tăng lên đột biến thì cần tìm hiểu tăng lên từ dụ án nào hay từ sản phẩm nào và thời điểm chuyển giao sản phẩm, sau đó sẽ ra quyết định.


Sóng cổ phiếu bất động sản nổi lên mạnh mẽ đầu năm 2017 khi đây là điểm rơi lợi nhuận của doanh nghiệp ngành này.
Sóng cổ phiếu bất động sản nổi lên mạnh mẽ đầu năm 2017 khi đây là "điểm rơi" lợi nhuận của doanh nghiệp ngành này.


THỨ 4, TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG LỚN LÀM CHO LỢI NHUẬN GIẢM NHẤT THỜI HOẶC DỰ PHÒNG LỚN CÓ CƠ HỘI HOÀN NHẬP 

Điều này xảy ra khi một tài sản, khoản đầu tư của doanh nghiệp bị giảm giá hoặc các khó đòi, hoặc vì một lý do nào mà doanh nghiệp phải ghi nhận giảm rất lớn tài sản đó làm cho DN bị khoản lỗ bất thường lớn. Khi khoản này không còn phải trích nữa trong tương lai lợi nhuận của DN sẽ quay về bình thường; hoặc nếu các tài sản, khoản phải thu nhận lại được thì DN sẽ thêm một khoản lợi nhuận lớn trong tương lai.

Thông thường giá CP phản ánh tích cực với những câu chuyện này.

Những trường hợp điển hình: DQC những năm trước 2017 nhận được tiền hoàn nhập từ Cuba hàng năm lên đến 50-70 tỷ, tạo sự chú ý của NĐT và tích cực mua vào khiến cổ phiếu DQC trong 3 năm tăng tới 4-5 lần.

Cách nhận biết: chủ yếu nhìn vào các khoản đầu tư của doanh nghiệp trên báo cáo xem doanh nghiệp sở hữu cổ phiếu nào (đối với các công ty chứng khoán, công ty tài chính) hoặc xem có những khoản dự phòng lớn nào bất thường ghi nhận trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Sau đó phân tích các khoản này đã được dự phòng như thế nào.


Hoàn nhập dự phòng cũng dễ dàng tạo nên những khoản lợi nhuận đột biến và là câu chuyện đằng sau sự tăng giá của nhiều cổ phiếu.
Hoàn nhập dự phòng cũng dễ dàng tạo nên những khoản lợi nhuận đột biến và là câu chuyện đằng sau sự tăng giá của nhiều cổ phiếu.


THỨ 5: GIÁ CỔ PHIẾU TẠO ĐÁY SAU KHI KQKD TẠO ĐÁY 1 THỜI GIAN DÀI 

Doanh nghiệp gặp khó khăn, kết quả kinh doanh đi xuống và giá cổ phiếu giảm mạnh, đến khi tình hình kinh doanh đã phục hồi trở lại nhưng do một yếu tố nào đó, cổ phiếu bị lãng quên nên giá tiếp tục giảm. Lúc này định giá của cổ phiếu trở nên cực rẻ tạo ra các cơ hội lớn cho nhà đầu tư tham gia để đến khi thị trường đánh giá đúng giá trị của nó thì giá cổ phiếu thông thường tăng một cách khủng khiếp và đáng sợ.

Những trường hợp điển hình: (1) LCG đã tạo đáy lợi nhuận từ 2013, và kết quả kinh doanh đi lên khá mạnh mẽ, nhưng giá cổ phiếu chỉ tạo đáy vào đầu năm 2017 khi đó P/E =4 lần, sau đó khi mọi người nhận ra giá trị thực, đã có lúc LCG tăng 3 lần từ 4.000 đồng lên đến 12.500 đồng. (2) HDC đã tạo đáy KQKD từ năm 2014 và bắt đầu đi lên từ 2015 khá ổn định tuy nhiên giá cổ phiếu chỉ tạo đáy vào đầu năm 2017 khi đó P/E = 6 lần; sau đó khi TTCK nhận ra thì giá cổ phiếu chỉ trong 6 tháng tăng 70%.

Cách nhận biết: Dựa vào báo cáo KQKD của các doanh nghiệp này qua từng năm so sánh và tìm ra điểm đáy của nó. Bên cạnh đó cần kết hợp định giá để cho chắc chắn cổ phiếu đó bị định giá thực sự rẻ rồi mới ra quyết định.



Hồi sinh - những trường hợp tạo ra các khoản lợi nhuận đáng sợ nhất trên sàn chứng khoán.
Hồi sinh - những trường hợp tạo ra các khoản lợi nhuận "đáng sợ" nhất trên sàn chứng khoán.



Theo Trí thức trẻ
Share:

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Đi tìm nợ xấu trên báo cáo tài chính

Dưới đây là một số kinh nghiệm đọc báo cáo tài chính của các tổ chức tín dụng mà chúng tôi ghi lại từ các cuộc trao đổi với những người trong ngành. Có trải nghiệm có thể mang tính cá nhân. Bạn đọc nếu có những kinh nghiệm khác hoặc làm rõ thêm những ghi nhận trong bài viết này hãy gửi ý kiến đến TBKTSG. Các ý kiến chắc chắn sẽ giúp ích cho các nhà đầu tư và những người quan tâm.


Có nhiều điểm nên lưu ý khi tìm hiểu con số thực nợ xấu của một ngân hàng nếu nhìn vào báo cáo tài chính - tổng giám đốc một tổ chức tín dụng cổ phần chia sẻ. Theo ông thường các nhà đầu tư chỉ nhìn vào con số dư nợ được các ngân hàng phân loại theo nhóm từ 1-5 theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong phần thuyết minh báo cáo tài chính. Nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 là nợ có vấn đề. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ở phần phân loại nợ này hầu hết thấp, dưới 3%. Một số ngân hàng yếu kém mà báo cáo tài chính được kiểm toán bởi những công ty kiểm toán tên tuổi quốc tế mới thấy tỷ lệ nợ xấu 4-5% hoặc cao hơn.

Trong khi đó, chi tiết dễ bị bỏ qua trên báo cáo tài chính là “các khoản phải thu; các khoản lãi và phí phải thu”. Một số ngân hàng gộp luôn hai khoản trên vào mục gọi là “tài sản có khác” và ghi thành ba mục nhỏ bên dưới bao gồm: các khoản phải thu; các khoản lãi cộng phí phải thu; các tài sản có khác.

Thí dụ báo cáo tài chính hợp nhất quí 4-2016 chưa kiểm toán của một ngân hàng niêm yết trên sàn Hà Nội nêu tài sản có khác tới 16.200 tỉ đồng. “Giả dụ một khoản nợ sắp đáo hạn và ban điều hành biết chắc mười mươi là người vay không thể trả đúng hạn, nhưng nguyên tắc kế toán vẫn cho phép hạch toán là khoản đó có khả năng thu hồi” - vị tổng giám đốc trên nói. Đáng quan tâm nhất là các khoản lãi, phí phải thu. Con số tuyệt đối của lãi và phí phải thu chỉ bằng 10-15% số nợ gốc. Chẳng hạn lãi và phí phải thu là 1.000 tỉ đồng thì gốc nợ phải thu ở tầm 10.000 tỉ đồng. Lãi không thu được, nói chi đến thu nợ gốc.

Một phần khác có thể là nơi ẩn nợ “kín đáo” là “nghĩa vụ nợ tiềm ẩn” ở ngoại bảng. Có ngân hàng trong mục này chia làm hai mục nhỏ là bảo lãnh L/C (thư tín dụng) và bảo lãnh khác. Ngân hàng A bảo lãnh cho ngân hàng B để ngân hàng B cho doanh nghiệp XYZ vay do hạn mức tín dụng của XYZ ở ngân hàng A đã hết hoặc đơn giản XYZ là công ty sân sau nên ngân hàng A không cho vay được. Đã quá hạn, doanh nghiệp XYZ không thể trả nợ được cho ngân hàng B và ngân hàng A phải trả thay. Thay vì hạch toán nợ quá hạn, ngân hàng A có thể đưa vào “bảo lãnh khác” với lập luận vẫn đòi được nợ từ doanh nghiệp kia.

Người đọc báo cáo tài chính, ngoài ra, thường để mắt đến khoản mục “chứng khoán nợ do các tổ chức kinh tế phát hành”. Nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được các ngân hàng ghi vào đây. Những ngân hàng minh bạch có thể ghi rõ nợ đã bán cho VAMC, nhưng rất hiếm. Ghi rõ thế khác nào thừa nhận “nợ xấu thực của tôi cao lắm”, rồi sẽ phải thuyết minh về trích lập dự phòng rủi ro 20%/năm cho số nợ đã bán cho VAMC theo quy định. Nhiều ngân hàng không trích lập đủ tỷ lệ 20%, có khi chỉ trích 5-10% nên tốt nhất là ghi chung chung “chứng khoán nợ do các tổ chức kinh tế phát hành” để ai muốn hiểu sao cũng được!

Gần đây các nhà đầu tư và giới phân tích “soi” rất kỹ các khoản trích lập dự phòng rủi ro của các ngân hàng. Số trích lập dự phòng càng cao thì khả năng xử lý nợ càng lớn. Trong thuyết minh báo cáo tài chính có phân chia rõ ràng số trích lập dự phòng mới trong năm, số trích lập đã sử dụng để xử lý nợ trong 12 tháng qua, số trích lập được hoàn nhập dự phòng vì khoản nợ nào đó đã thu hồi được, số trích lập dự phòng chung, số trích lập dự phòng cụ thể.

Trong trường hợp số dư trích lập dự phòng còn lại mà quá thấp so với số nợ xấu, thì khả năng giải quyết nợ trong năm tiếp theo có thể khó khăn.

Liên quan đến đánh giá thực trạng tài chính, độ lành mạnh của một ngân hàng, các nhà đầu tư thường đặt gần nhau những con số đơn giản và dễ tìm trong bất cứ báo cáo tài chính nào, đó là tổng tiền gửi của khách hàng và tổng dư nợ cho vay. Nếu dư nợ trên tổng tiền gửi của khách hàng xung quanh 75-85% là tốt. Cá biệt có ngân hàng tỷ lệ cho vay trên cho huy động chỉ 50-60%. Vậy họ huy động tiền gửi cao để làm gì? Phải chăng để bù đắp thanh khoản cho những khoản nợ xấu? Khi đó lại phải tìm hiểu xem chi phí giá thành huy động vốn đầu vào ra sao thông qua con số chi phí trả lãi tiền gửi.

Một số ngân hàng có chi phí đầu vào thấp, mà số vốn huy động vẫn cao, chứng tỏ họ có uy tín và được người gửi tiền tin cậy. Họ sử dụng nguồn vốn huy động được kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng. Nhưng không phải tất cả đều thế. Có ngân hàng ở phía Bắc, tỷ lệ cho vay trên huy động thấp, song con số ủy thác đầu tư lại cao vọt. Ngân hàng ủy thác cho công ty chứng khoán, công ty tài chính là nghiệp vụ bình thường. Tuy thế có ngân hàng ủy thác đầu tư để cho các công ty sân sau vay.



TBKTSG
Share:

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

8 dấu hiệu khả nghi cần chú ý khi đọc báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là một trong những công cụ khách quan nhất cho bạn biết sức khỏe tài chính của công ty.


Như ngạn ngữ cổ đã nói: “Những con số không biết nói dối”. Những con số có thể biểu thị cho sự thịnh vượng hay nghèo đói nhưng nó cũng có thể cho chúng ta thấy tín hiệu về những vấn đề bất thường trong công ty. Trong bài này, chúng ta sẽ khám phá 8 dấu hiệu khả nghi chỉ ra vấn đề bất thường của một công ty dựa trên việc phân tích báo cáo tài chính.

Làm thế nào để đọc một báo cáo tài chính

Trước khi bạn có thể khoanh vùng khả nghi trên Báo cáo Tài chính , bạn cần biết đọc báo cáo tài chính. Rất nhiều người đơn giản chỉ mở ra và tìm kiếm đánh giá trên các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận hay dòng tiền.

Tuy nhiên Báo cáo tài chính còn có những phần khác mà bạn nên biết. Về cơ bản, Báo cáo tài chính gồm 4 thành phần:

Báo cáo Kiểm toán: Đây là báo cáo được lập bởi kiểm toán viên đưa ra ý kiến của họ về báo cáo tài chính dựa trên những gì kiểm toán viên thu thập được. Báo cáo tài chính: Bản thân Báo cáo tài chính đã là một tập hợp các báo cáo nhỏ hơn cung cấp một bức tranh toàn cảnh về dòng tiền trong công ty và vị thế tài chính của công ty đó trong một khoảng thời gian nhất định.

Các báo cáo nhỏ hơn có trong báo cáo tài chính là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Thuyết minh báo cáo tài chính: Tài liệu quan trọng để hỗ trợ bạn đọc báo cáo tài chính. Thuyết minh báo cáo tài chính sẽ giải thích rõ các giao dịch quan trọng ở công ty hoặc chi tiết hơn về các tài khoản kế toán.

Ý kiến và phân tích từ ban quản trị: Tương tự như một bản tóm tắt, đây là một lưu ý từ ban quản trị gồm các thông tin hoặc chủ đề mà ban quản trị muốn thông báo tới các cổ đông hoặc người đọc báo cáo. Những lưu ý này của ban quản trị thường là kết luận từ một phần của báo cáo, và xếp ở phần riêng này, vì nó có thể không nhất thiết phải dễ hiểu đối với người đọc.

Ở phần này sẽ cung cấp những thông tin vô cùng giá trị để giúp bạn xác định lợi nhuận, thanh khoản và dòng tiềng trong công ty; mọi dấu hiệu đều quan trọng để bạn thấy được sức khỏe công ty.

Tìm kiếm dấu hiệu

Bây giờ bạn đã có ý tưởng để đọc báo cáo tài chính, dưới đây là 8 dấu hiệu mà có thể là những “điểm đen” trên báo cáo tài chính của công ty. 1. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu (debt-to-equity ratio) đang tăng lên: Điều này cho thấy công ty đang sử dụng nợ nhiều hơn cả những gì công ty có.

Một dấu hiệu báo động nếu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu lớn hơn 100%. Ngoài ra bạn cũng có thể theo dõi Hệ Số Khả Năng Thanh Toán Lãi Vay (Interest coverage ratio) được tính bằng cách lấy lợi nhuận hoạt động chia cho lãi vay. Nếu hệ số này nhỏ hơn 5 thì đây cũng là điểm cần chú ý.


Hình 1.1: Cơ cấu sử dụng nợ của công ty tăng dần qua các năm. Đến năm 2015 công ty có chỉ số nợ/vốn chủ sở hữu là 208%
Hình 1.1: Cơ cấu sử dụng nợ của công ty tăng dần qua các năm. Đến năm 2015 công ty có chỉ số nợ/vốn chủ sở hữu là 208%

2. Doanh thu liên tục giảm qua các năm: Nếu công ty có ba hoặc nhiều năm doanh thu sụt giảm, chứng tỏ công ty đã không kinh doanh tốt. Trong khi các biện pháp cắt giảm chi phí, như bỏ các khoản chi tiêu lãng phí và cắt giảm nhân viên, có thể bù đắp cho việc suy giảm doanh thu, nhưng công ty cần phải có sự thay đổi trong kinh doanh trong vòng 3 năm nếu không việc cắt giảm sẽ không mang lại giá trị dài hạn.



Hình 2.2: Doanh thu bán hàng công ty giảm 3 năm liên tiếp

Hình 2.2: Doanh thu bán hàng công ty giảm 3 năm liên tiếp

3. Khoản mục “Chi phí khác” trên bảng cân đối kế toán lớn bất thường: Các công ty thường có khoản mục “chi phí khác” hay biến động hoặc quá nhỏ để định lượng, đây là điều bình thường trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán. Nếu khoản mục “chi phí khác” có giá trị cao bất thường, bạn nên tìm xem điều gì tạo nên khoản mục “chi phí khác” cao đến như vậy. Và bạn có thể dự đoán khoản mục này còn xuất hiện trong tương lai hay không.



Hình 3.1: Doanh nghiệp có chi phí khác cao bất thường khi tăng gấp 4 lần so với năm trước đó nhưng lại không có giải thích nào trong thuyết minh BCTC
Hình 3.1: Doanh nghiệp có chi phí khác cao bất thường khi tăng gấp 4 lần so với năm trước đó nhưng lại không có giải thích nào trong thuyết minh BCTC

4. Dòng tiền thiếu ổn định: Dòng tiền là tín hiệu tốt cho biết sức khỏe của công ty, dòng tiền giống như một dòng chạy, lên và xuống. Các khoản mục trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho thấy các giao dịch đang được xử lý nhưng chúng không cho ta biết về các giao dịch xảy ra trong tương lai. Ngược lại, tình trạng thiếu tiền có thể là dấu hiệu việc chưa ghi nhận đúng thực tế (Under-billing/Over-billing) về tình hình kinh doanh của công ty



Hình 4.1: Một công ty có dòng tiền âm và thiếu ổn định
Hình 4.1: Một công ty có dòng tiền âm và thiếu ổn định

5. Sự tăng lên của các khoản phải thu và hàng tồn kho có liên quan tới doanh thu: Tiền ở các khoản phải thu hoặc trong hàng tồn kho là các khoản tiền không tạo ra lợi nhuận. Trong khi điều quan trọng là phải có đủ hàng tồn kho để đáp ứng các đơn đặt hàng, tuy nhiên một công ty lại không muốn các khoản phải thu chiếm phần nhiều trong doanh thu hoặc trữ nhiều hàng tồn kho không bán được.




Hình 5.1: Một doanh nghiệp ngành mía đường bị chôn vốn trong hàng tồn kho khi nguồn cung mía đường dư thừa khiến thành phẩm sản xuất không bán được
Hình 5.1: Một doanh nghiệp ngành mía đường bị chôn vốn trong hàng tồn kho khi nguồn cung mía đường dư thừa khiến thành phẩm sản xuất không bán được

6. Liên tục phát hành cổ phiếu: Nhiều cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường chứng khoán, tức là sẽ có nhiều cổ phần bị pha loãng hơn. Nếu số lượng cổ phần của một công ty liên tục tăng hai hoặc ba phần trăm mỗi năm cho thấy công ty đang phát hành nhiều cổ phần và làm loãng giá trị của công ty.



Hình 6.1: Công ty liên tục tăng vốn chủ sở hữu bằng hình thức phát hành cổ phiếu bổ sung gây thiệt hại nhiều đến cổ đông thiểu số
Hình 6.1: Công ty liên tục tăng vốn chủ sở hữu bằng hình thức phát hành cổ phiếu bổ sung gây thiệt hại nhiều đến cổ đông thiểu số

7. Nợ vay luôn cao hơn tài sản bảo đảm: Kinh nghiệm cho thấy một số công ty duy trì ổn định tài sản và nợ vay khi ngành kinh doanh của công ty không phụ thuộc vào yếu tố theo mùa hoặc ít bị ảnh hưởng bởi áp lực thị trường. Kể các các công ty trong ngành có tính mùa vụ (Ví dụ: các công ty xây dựng không hoạt động trong những tháng mùa đông), cũng có thể để nợ nhiều hơn so với tài sản bảo đảm. Về mặt kỹ thuật, nợ vay cao hơn tài sản bảo đảm nằm trong kế hoạch được lập. Nếu công ty để nợ phải trả tăng cao mà không có tài sản bảo đảm cũng có thể là dấu hiệu việc sử dụng đòn bẩy quá nhiều.

8. Giảm biên lợi nhuận gộp: Đây là thước đo về tính sinh lời của công ty được tính bằng cách lấy lợi nhuận thu được trên doanh thu trong một khoảng thời gian nhất định. Tỷ suất lợi nhuận biên giảm là điểm nên lưu ý. Biên lợi nhuận thể hiện chi phí sản xuất trực tiếp ra hàng hóa hoặc dịch vụ và biên lợi nhuận cần phải đủ để trang trải chi phí hoạt động như chi phí nợ.



Hình 8.1: Biên lợi nhuận gộp công ty giảm qua các năm từ 34% về 6% rồi -7%
Hình 8.1: Biên lợi nhuận gộp công ty giảm qua các năm từ 34% về 6% rồi -7%

Phân tích báo cáo tài chính của một công ty dù cho bạn là cổ đông hoặc nhà đầu tư đều là kỹ năng giá trị. Hãy dành thời gian để tìm hiểu sâu báo cáo tài chính và xem xét những dấu hiệu khả nghi để có những nhận định đúng đắn về tình hình tài chính của công ty.

Với góc nhìn của một nhà phân tích thì “đọc hiểu” các con số để mổ xẻ được ý nghĩa đằng sau nó là điều kiện cần để trở thành một nhà phân tích thành công. Nhưng đừng xem xét các con số này một cách riêng lẻ mà hãy đặt chung với việc phân tích ngành , phân tích mô hình kinh doanh để tự xây dựng cách phân tích sâu hơn.

>> "Hô biến" chi phí - Thủ thuật mà DN sử dụng để biến tấu lợi nhuận
Theo Trí thức trẻ
Share:

Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2017

Vì sao nhiều doanh nghiệp lớn vỡ kế hoạch kinh doanh?

Các doanh nghiệp niêm yết đang dồn dập công bố mục tiêu kinh doanh 2017 trong bối cảnh đã có tới gần 300 doanh nghiệp không hoàn thành kế hoạch 2016.
Thời điểm này trên thị trường các doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn chứng khoán đang dồn dập công bố mục tiêu kinh doanh 2017. Trước đó vào năm 2016 - năm được nhìn nhận là các doanh nghiệp phải chịu nhiều tác động từ các yếu tố bên ngoài khó lường trước, trong đó phải nhấn mạnh đến yếu tố tỷ giá và lãi suất. Sự “nhảy múa” liên tục của các đồng ngoại tệ đã làm cho nhiều doanh nghiệp “dở khóc dở cười” và con số khoảng gần 300 doanh nghiệp không hoàn thành được kế hoạch kinh doanh 2016 là con số đáng để xem xét khi nhìn vào những con số mục tiêu của năm 2017.

Đặt mục tiêu có lãi, rốt cục lại lỗ

Trong danh sách các doanh nghiệp báo lỗ năm 2016, ngoại trừ Vận tải và thuê tàu (VFR), Agriseco (AGR), PV2, Sông Đà 7 (SD7), PVR dự kiến bị lỗ thì có tới hơn 40 doanh nghiệp đã công bố KQKD thua lỗ trong năm 2016 mặc dù đầu năm đều lên mục tiêu kinh doanh có lãi. 

Trong đó đáng chú ý nhất là khoản lỗ nặng 1.621,26 của Gỗ Trường Thành (TTF) trong khi mục tiêu là có lãi 323 tỷ đồng hay như khoản lỗ của Ocean Group (OGC) và Ocean Hospitality (OCH), chắc cả 2 công ty này cũng không nghĩ tới việc mình sẽ lỗ tới hàng trăm tỷ đồng khi đầu năm mặc dù đã dè dặt đặt mục tiêu lợi nhuận sụt giảm so với năm 2015.

Bất ngờ nhất trong danh sách này có lẽ thuộc về ông vua cá tra Thủy sản Hùng Vương (HVG), sau kiểm toán, lợi nhuận cổ đông công ty mẹ đã từ có lãi 64,6 tỷ đồng biến thành lỗ hơn 49,2 tỷ đồng. Hay như Bọc ống Dầu khí Việt Nam (PVB), được biết đến là một doanh nghiệp với hoạt động đặc thù và thuộc lĩnh vực độc quyền cũng đã phải chấp nhận một kết quả lỗ đầu tiên trong vòng 8 năm qua.
Đáng chú ý không chỉ vỡ kế hoạch kinh doanh việc thua lỗ trong năm 2016 còn khiến một số doanh nghiệp trong nhóm này đối mặt với án hủy niêm yết do kinh doanh thua lỗ 3 năm liên tiếp, cụ thể HoSE đã công bố hơn 8 triệu cổ phiếu VNH của Thuỷ sản Việt Nhật sẽ chính thức bị hủy niêm yết kể từ ngày 23/3/2017. Trước đó, HOSE đã thông báo về nguy cơ chứng khoán bị hủy niêm yết đối với cổ phiếu VNA của Vận tải biển Vinaship. Ngoài VNA, một số cổ phiếu cũng đứng trước nguy cơ bị hủy niêm yết bắt buộc khi có BCTC kiểm toán 2016 như cổ phiếu SDH của Xây dựng hạ tầng Sông Đà, VBH của Điện tử Bình Hòa, VFR của Vận tải và thuê tàu, SDY của Xi măng Sông Đà Yaly, TTF của Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành…

Hoàn thành vỏn vẹn vài % kế hoạch

Có khoảng 10 doanh nghiệp chỉ hoàn thành được chưa đến 10% kế hoạch và khoảng trên 50 doanh nghiệp hoàn thành chưa được nửa mục tiêu kinh doanh của mình, đáng chú ý có rất nhiều doanh nghiệp trong nhóm này có kết quả kinh doanh sụt giảm so với cùng kỳ, theo đó nguyên nhân vỡ kế hoạch không phải do những doanh nghiệp này đặt mục tiêu kinh doanh quá cao mà chủ yếu do những khó khăn của năm 2016 khiến những doanh nghiệp này lãi thấp.

Đơn cử như Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy (HHS), do thị trường ô tô tải “hết sóng”, công ty này chỉ đạt 140,47 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, giảm 71% so với cùng kỳ năm trước tương ứng hoàn thành 35% kế hoạch lợi nhuận năm 2016. Hay như Sợi Thế Kỷ (STK) - một doanh nghiệp từng được kỳ vọng trong ngành dệt may đã bất ngờ lỗ 14 tỷ trong quý IV kéo lãi ròng cả năm xuống còn 25 tỷ đồng, giảm 65% so với năm trước. Đây là khoản lợi nhuận thấp nhất mà Sợi Thế Kỷ đạt được trong vòng 8 năm qua.
Không hoàn thành kế hoạch do tham vọng

Có không ít doanh nghiệp hồi đầu năm đã kỳ vọng lớn vào kết quả tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp mình trong năm 2016 nên đã lên kế hoạch kinh doanh khá "hoành tráng" tuy nhiên kết quả cũng "vỡ kế hoạch".
Địa ốc Hoàng Quân (HQC) kết thúc năm 2016 lãi ròng hơn 112 tỷ đồng, đạt 22% kế hoạch đặt ra tại Đại hội đồng cổ đông 2016, lý giải nguyên nhân không hoàn thành kế hoạch của mình công ty cho biết một phần là do tình hình hoạt động kinh doanh của công ty tạm thời gặp khó khăn trong việc triển khai các dự án Nhà ở xã hội do chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội của Chính phủ. Tuy nhiên công ty dự kiến sang năm 2017, lợi nhuận quý 1 sẽ đạt ít nhất 100 tỷ đồng và lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2017 sẽ không dưới 200 tỷ đồng.

Trong danh sách này đáng chú ý có Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIG) đạt “thành tích” 5 năm liên tiếp vỡ kế hoạch, từ năm 2012 - 2016, DIG luôn đặt kế hoạch lãi ròng ở mức không dưới 70 tỷ/năm nhưng chưa năm nào hoàn thành, thậm chí năm 2015 chỉ hoàn thành được 15%, theo lý giải của công ty, nguyên nhân không thể hoàn thành kế hoạch là vì sản phẩm tại các dự án mặc dù đã được bán nhưng chưa bàn giao cho khách hàng nên chưa thể hạch toán doanh thu …

Ngoài những doanh nghiệp thực sự vỡ kế hoạch do mình đặt ra thì năm 2016 còn chứng kiến nhiều doanh nghiệp không bị vỡ kế hoạch là do điều chỉnh lại mục tiêu kinh doanh của mình, trong đó điển hình nhất là các doanh nghiệp họ dầu khí, việc điều chỉnh thậm chí còn diễn ra cả vào thời điểm cuối năm đã giúp Ban điều hành "hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm".

Bước sang năm 2017, dự kiến môi trường kinh doanh thuận lợi, nhiều ngành, lĩnh vực có triển vọng tăng trưởng, không ít doanh nghiệp đã lên kế hoạch kinh doanh năm 2017 ở mức cao. Có nhà đầu tư cho rằng doanh nghiệp nên đặt ra chỉ tiêu thấp nhưng phấn đấu thực hiện cao hơn vẫn tốt hơn. Nhiều doanh nghiệp có khả năng vượt kế hoạch đưa ra là rất lớn, nhưng vẫn xây dựng chỉ tiêu ở mức thấp. Trong những trường hợp này, khi kết quả hoạt động vượt chỉ tiêu kế hoạch, ban điều hành không những được các cổ đông ủng hộ mà thậm chí còn được thưởng cho phần... vượt kế hoạch. Ngược lại có cổ đông lại cho rằng thận trọng là cần thiết nhưng cũng đừng đưa ra những chỉ tiêu quá "bèo bọt", không xứng tầm với tiềm năng của công ty. Khi đó sẽ tạo ra sự ỷ lại nơi ban điều hành, vì thế cũng cần có những chỉ tiêu "phấn đấu" bên cạnh chỉ tiêu "pháp lệnh".

Thị trường tiếp tục chờ đón những con số mục tiêu kinh doanh năm 2017 được các doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn chứng khoán công bố.


Tú Anh
Theo InfoNet/HNX&HSX
Share:

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2016

Đây là cổ phiếu đã giúp NĐT "ăn ngon ngủ yên" dù TTCK biến động như thế nào suốt nửa năm qua

Vốn bị coi là một cổ phiếu tý hon khi doanh nghiệp chỉ có vốn điều lệ chưa đầy 45 tỷ đồng, trong năm nay, cổ phiếu đã vụt tăng mạnh mẽ và hiện có giá hơn 155.000 đồng/cp.

Trong suốt nửa năm qua, mặc cho các chỉ số thị trường ba chìm bảy nổi, các cổ phiếu hàng đầu cũng đều điều chỉnh giảm sau khi đạt đỉnh thì cổ phiếu TV2 của CTCP Tư vấn xây dựng điện 2 (PECC2) vẫn đang tiếp tục đi lên. Sự ngược dòng với thị trường của TV2 thể hiện ngay ở chỉ số beta âm. Đóng cửa phiên giao dịch ngày 01/11, TV2 có giá 154.300 đồng.

 Diễn biến cổ phiếu TV2 trong 1 năm qua

Doanh nghiệp đã không ngừng tăng trưởng trong 4 năm qua

Theo báo cáo tài chính quý 3/2016 của TV2, công ty đạt 485 tỷ đồng doanh thu thuần – tăng hơn 3 lần so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế theo đó cũng tăng gần 3 lần, đạt 36,5 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng đầu năm, TV2 đạt 869 tỷ đồng doanh thu thuần và 51,8 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế - tăng 124%. Và như vậy, lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS) trong 9 tháng đạt 10.674 đồng – cũng là một con số thuộc hàng top của thị trường.

Với mức lợi nhuận này, EPS 4 quý gần nhất của TV2 theo dữ liệu của cafef là 16.900 đồng, tương ứng mức P/E hơn 9.x.

Kết quả kinh doanh rất tích cực trong 9 tháng đầu năm 2016 là một yếu tố quan trọng để các nhà đầu tư đã lựa chọn TV2 cảm thấy hài lòng với cổ phiếu của mình. Nhưng lật trở lại quá khứ, có thể thấy không phải đến năm nay, TV2 mới tăng trưởng.

Trong vòng 4 năm từ năm 2012 đến nay, doanh thu và lợi nhuận ròng của PECC2 luôn tăng trưởng, bình quân 30%/năm đối với doanh thu và 56%/năm đối với lợi nhuận. Công ty này đặc biệt tăng trưởng mạnh trong năm 2015 khi doanh thu tăng tới 50% và lợi nhuận tăng 58% so với năm trước đó, đạt hơn 57 tỷ đồng – cao hơn vốn điều lệ của doanh nghiệp khi đó.

Bên cạnh đó, mức cổ tức mà doanh nghiệp này trả hàng năm cũng đều đặn 20%.

Hoạt động trong lĩnh vực kiến trúc và tư vấn kỹ thuật, xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng khác, PECC2 được biết đến đầu tiên với công trình nhà máy thủy điện Trị An. Sau hơn 30 năm hoạt động, tên tuổi của PECC2 đã gắn liền với thủy điện Thác Mơ, Hàm Thuận – Đa Mi, các công trình nhiệt điện tại Trung tâm Điện lực Phú Mỹ, Ô Môn, Cà Mau, Nhơn Trạch…

Lĩnh vực hoạt động khá đặc thù tạo nên cho PECC2 những lợi thế riêng trên sàn chứng khoán

Và cổ phiếu vụt sáng

Dù có phong độ tốt như vậy nhưng thời gian trước đây, cổ phiếu TV2 không được mấy người yêu thích khi doanh nghiệp bị coi là “tí hon” với vốn điều lệ chỉ hơn 44 tỷ đồng, trong đó Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã nắm 51,32%. Ngoài ra, TV2 có một số cổ đông lớn khác như American LLC (nắm 13,23%) và CTCP Đầu tư Toàn Việt (nắm 7,75%). Điều này khiến cho thanh khoản của TV2 khá thấp và không hấp dẫn những dòng tiền ham “vào nhanh, ra nhanh”.

Thế nhưng trong năm nay, khi gu đầu tư của thị trường đã nghiêng hẳn về phía cổ phiếu cơ bản thì những cổ phiếu có phong độ tăng trưởng nhiều năm liền được nhà đầu tư “đổ xô” vào mua. BMP, CTD, VNM, MWG, SLS, PTB… hay vẫn được gọi là câu lạc bộ những cổ phiếu có thị giá trên 100.000 đồng cứ tằng tằng đi lên và chinh phục hết đỉnh này đến đỉnh khác. TV2, với tốc độ tăng trưởng như trên cũng đã được để ý.

Bên cạnh đó, sau nhiều năm nằm im, doanh nghiệp này cũng quyết định tăng vốn điều lệ từ 44 tỷ đồng lên gần 51 tỷ đồng bằng cách chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 15%, đồng thời trả cổ tức bằng tiền mặt tỷ lệ 10% vào giữa tháng 6/2016.

Như thế, các yếu tố thiên thời địa lợi đều được TV2 tận dụng đủ trong năm 2016 và cổ phiếu này cho đến nay thực sự là một khoản đầu tư mà người nắm giữ có thể yên tâm ăn ngon ngủ yên dù thị trường có biến động như thế nào.

>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn đầu tư chứng khoán - Ủy thác đầu tư
 Mai Linh
Theo Trí thức trẻ
Share:

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2016

Quy tắc 70/20/10 mà người phụ nữ này sử dụng giúp Google có những báo cáo tài chính đẹp như mơ

Ruth Porat là giám đốc tài chính của Alphabet (trước là Google), người nắm trong tay quyền quản lý khối tiền mặt trị giá 67,5 tỷ USD.

Tháng 3/2015, Alphabet (khi ấy còn là Google) đã tuyên bố họ mời được giám đốc tài chính (CFO) của Morgan Stanley là Ruth Porat về làm CFO cho công ty. Đây được xem là một lựa chọn thông minh và may mắn của "gã khổng lồ tìm kiếm".

Trong bối cảnh thị trường việc làm đang vô cùng khan hiếm những nhân tài có đủ năng lực chuyên môn tài chính, công nghệ và hiểu biết về những quy định của chính phủ để có thể giúp vận hành công ty trị giá tới 400 tỷ USD như Porat không nhiều. Và thậm chí, một vị trí như vậy lại càng ít người phụ nữ nào có thể đảm đương được. Tờ New Yorks Times nhận định sẽ rất khó để có thể tìm ra được một giám đốc tài chính giỏi như Ruth Porat.

Vậy Ruth Porat là ai, vì sao bà ấy được chọn lựa là người vận hành đế chế kinh doanh hàng trăm tỷ đô Alphabet?

Người phụ nữ quyền lực nhất phố Wall

Porat lớn lên tại Palo Alto và tốt nghiệp đại học Stanford. Sau đó, bà bắt đầu tham gia vào lĩnh vực ngân hàng đầu tư và gắn bó trong suốt 3 thập kỷ. Năm 1987, Porat gia nhập ngân hàng Morgan Stanley với vị trí nhân viên phụ trách các thương vụ mua bán, sáp nhập.

Kể từ đó, sự nghiệp của bà tại ngân hàng đầu tư này phát triển không ngừng, Porat nhanh chóng trở thành đồng giám đốc nhóm ngân hàng đầu tư công nghệ trong thời kỳ bùng nổ dotcom và sau đó trở thành giám đốc tài chính của ngân hàng này trong suốt giai đoạn khủng hoảng kinh tế.


Jeff Immelt, CEO của GE từng nói về Porat như thế này: “Ruth là người duy nhất có thể nói về những tin không tốt lành mà tôi vẫn thích cô ấy”.
Porat cũng được biết đến là người đưa ra lời khuyên dành cho Kho bạc Mỹ về gói cứu trợ Fannie Mae và Freddie Mac. 5 năm qua, bà cũng chính là “cánh tay phải” của giám đốc Morgan Stanley là James P. Gorman nhằm định hướng môi trường pháp lý và tái cấu trúc ngân hàng này.

Porat đã vượt qua rất nhiều cơn bão tài chính trong thời gian làm việc tại Morgan Stanley. Bà gia nhập ngân hàng này chỉ một thời gian ngắn trước khi thị trường cổ phiếu sụt giảm nghiêm trọng vào năm 1987.Trong suốt thời kỳ bong bóng công nghệ những năm 2000 (thời gian này bà làm mảng ngân hàng đầu tư công nghệ), Porat có quan hệ thân thiết với Mar Meeker - người hiện tại là đối tác của quỹ đầu tư mạo hiểm Kleiner Perkins Caufield & Byer. Trong buổi tổng kết năm 1999, Meeker đã gọi Porat là “nhân viên ngân hàng tốt nhất là tôi được làm việc cùng”.

Cuối cùng, Porat trực tiếp tham gia vào việc tư vấn và thực hiện việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) thành công cho các công ty công nghệ cao như Priceline.com, eBay và Amazon.com thế nên công nghệ cao không phải là lĩnh vực quá xa lạ với bà.

Bắt đầu từ cuối năm 2014, Porat đã muốn tạo ra một sự thay đổi trong sự nghiệp của mình. Vào một ngày thứ Bảy trong tháng 2/2015, Porat ghé thăm nhà người bạn, đồng thời là doanh nhân nổi tiếng Bill Campbell. Theo như chia sẻ của Campbell, khi ấy Porat nói rằng bà không muốn làm CFO nữa. Nhưng Campbell lại nghĩ khác, ông nhớ mình đã nói: “Tôi có một công việc hoàn hảo cho cô đây. Cô nghĩ sao về vị trí CFO của Google?”

Câu nói đó ngay lập tức kích động Porat, và khi trở về từ nhà của Campbell, Porat đã nhận được cuộc gọi từ trợ lý của Larry Page để sắp xếp một cuộc hẹn. Mọi chuyện sau đó diễn ra rất nhanh chóng, chỉ sau hơn 1 tháng kể từ ngày gặp gỡ tại nhà của Campbell, Porat đã chấp nhận vị trí này với mức lương, thưởng tổng cộng gần 70 triệu USD.

Người kiến tạo những báo cáo tài chính đẹp như mơ của Google

Nhận lời làm CFO của Google trong giai đoạn khủng hoảng của phố Wall thật sự có nhiều rủi ro đối với Porat, nhưng có vẻ không phải là nhiệm vụ quá khó khăn với bà.

Ngay những ngày đầu tiên, Page giải thích với Porat về tầm nhìn của mình về việc thay đổi cấu trúc tập đoàn và nói đây sẽ là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Tháng 8/2015, tức là chỉ 3 tháng sau khi Porat nhận nhiệm vụ, bà và Page tuyên bố thành lập nên Alphabet. Google trở thành một chi nhánh của Alphabet và bao gồm những mảng kinh doanh nhỏ hơn như tìm kiếm, Nest và Fiber.

Alphabet hiện công bố doanh thu và lợi nhuận thành 2 mảng gồm: Google và Other Bets. Riêng Google bao gồm mảng kinh doanh quảng cáo, dịch vụ điện toán đám mây và Android. Trong quý thứ 2 của năm đầu tiên Porat nhận nhiệm vụ, mảng này chiếm tới 99,1% tổng doanh thu 21,5 tỉ USD của Alphabet, Other Bets chỉ chiếm 0,9%.

Theo nhận định của một nhân viên Google thì: “Ruth dễ gần và ấm áp nhưng bà ấy cũng rất quyết tâm theo đuổi những gì mình mong muốn và không ngại đưa ra những câu hỏi thẳng”.

Đương cử như việc cắt giảm chi phí tại công ty. Những cựu nhân viên và nhân viên hiện tại của Google cho rằng việc thực hiện cắt giảm chi phí được thực hiện không đến nơi đến chốn từ nhiều thập kỷ. Một vài biện pháp đã được tiến hành nhưng không đáng kể như: Khuyến khích nhân viên họp qua video thay vì phải đi công tác. Tuy nhiên mọi chuyện đã thay đổi khi Ruth Porat nắm quyền điều hành, bà đã giúp Google đi vào quy củ.

Hiện Google tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc “70/20/10” tức là: 70% lượng thời gian, tiền bạc và sức lực dành cho mảng kinh doanh cốt lõi, 20% cho những dự án liên quan và 10% cho những cơ hội mới. Khi mảng kinh doanh cốt lõi của Google chậm lại, các nhà đầu tư và chuyên gia phân tích lo ngại rằng Google sẽ chi tiêu quá nhiều vào những dự án viển vông nhưng Porat khẳng định với họ rằng đây không phải là sự thật.

Ở bất kỳ công ty nào, Porat đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Hiện tại, nhiệm vụ của bà là quản lý “gã khổng lồ” Alphabet với giá trị hơn 500 tỉ USD và núi tiền mặt lên tới 67,5 tỉ USD.

>> "Hô biến" chi phí - Thủ thuật mà DN sử dụng để biến tấu lợi nhuận

Theo Trí Thức Trẻ/Fortune
Share:

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2016

"Hô biến" chi phí - Thủ thuật mà DN sử dụng để biến tấu lợi nhuận

Tiếp nối bài viết về “Những thủ thuật phù phép doanh thu”, nội dung lần này xoay quanh biện pháp thứ hai mà doanh nghiệp vẫn thường sử dụng để biến tấu lợi nhuận, đó chính là “Hô biến chi phí”.

Đã qua rồi thời kỳ nhà đầu tư chỉ "cắm đầu" mua bán cổ phiếu theo những lời "phím hàng". Bây giờ, các nhà đầu tư đều chủ động tìm hiểu, nghiên cứu báo cáo tài chính của doanh nghiệp, ít nhất là để có một cái nhìn khái quát về món hàng mà mình chọn mua. Thế nhưng không phải ai cũng có thể nắm bắt được những con số khô khan đó, chưa kể nhiều doanh nghiệp còn có những thủ thuật để phù phép số liệu vì mục đích riêng.

Chuỗi bài về các thủ thuật tài chính sẽ cố gắng diễn giải những "thủ thuật " trên BCTC một cách đơn giản nhất nhằm đem lại cho NĐT phổ thông những kiến thức cơ bản và có quyết định sáng suốt khi chọn lựa cổ phiếu.


Đặc tính tuyệt vời của chiếc đệm hơi chính là có thể thổi phồng lên hay thả xẹp xuống tùy theo ý thích người dùng. Sở dĩ so sánh chi phí như một chiếc đệm bởi lẽ doanh nghiệp cũng hoàn toàn có thể dựa vào một số thủ thuật mà đẩy phồng hoặc thu nhỏ chi phí, làm một chiếc đệm hơi êm ái giúp giảm thiểu thương tích lên lợi nhuận trong những cú ngã đau của doanh thu.

Tiếp nối bài viết về “Những thủ thuật phù phép doanh thu”, nội dung lần này xoay quanh biện pháp thứ hai mà doanh nghiệp vẫn thường sử dụng để biến tấu lợi nhuận, đó chính là “Hô biến chi phí”.

Hô biến nhờ các ước tính trích trước trong kế toán

Hẳn các bạn vẫn còn nhớ ước tính kế toán đã hỗ trợ đắc lực như thế nào cho việc thổi phồng doanh thu. Với chi phí, biện pháp này cũng hữu hiệu không kém. Trong quá trình lập báo cáo tài chính, các công ty thường phải sử dụng rất nhiều các ước tính kế toán (Accrual) như trích lập dự phòng nợ khó đòi, trích lập giảm giá hàng tồn kho, trích lập các khoản lương thưởng,…

Tuy nhiên trong giai đoạn phát triển khó khăn, doanh nghiệp thường có xu hướng “lờ đi” không trích lập các khoản chi phí này. Một ví dụ điển hình đó là đối với các công ty sản xuất xi măng thì luôn có khoản trích trước đều đặn cho chi phí sửa chữa lớn lò nung. Tuy nhiên nếu kết quả lợi nhuận không như mong đợi, các đơn vị này sẽ giảm xuống mức trích thấp hơn so với ngân sách đề ra.

Vốn hóa thành tài sản thay vì ghi nhận chi phí

Dựa trên hướng dẫn của chuẩn mực kế toán, một số loại chi phí nếu đem lại được lợi ích trong tương lai và thỏa mãn một số điều kiện nhất định thì sẽ được ghi nhận như tài sản và phân bổ dần trong nhiều năm. Cụ thể như chuẩn mực số 03 - Tài sản cố định hữu hình quy định: “Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình được ghi tăng nguyên giá của tài sản nếu chúng thực sự cải thiện trạng thái hiện tại so với trạng thái tiêu chuẩn ban đầu của tài sản đó”.

Cụm từ “cải thiện trạng thái” đã được chuẩn mực giải thích rõ hơn bằng một trong ba dấu hiệu là tăng thời gian sử dụng hữu ích, tăng chất lượng sản phẩm hoặc giúp giảm chi phí hoạt động của tài sản. Tuy nhiên công tác đánh giá lại phụ thuộc phần nhiều vào các nhân tố trong nội bộ doanh nghiệp.

Bên cạnh đó các doanh nghiệp còn thường xuyên treo các khoản chi vào tài khoản chi phí trả trước. Lợi ích của biện pháp này chính là cùng một khoản chi phí nay được phân bổ trong nhiều kỳ sau đó thay vì phải ghi nhận ngay lập tức trong năm tài chính hiện tại.

Biến tấu chi phí khấu hao

Khấu hao luôn là một trong những chi phí trọng yếu trong hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị sản xuất sở hữu nhiều máy móc, nhà xưởng. Biến tấu chi phí khấu hao rất được ưa chuộng khi lập báo cáo tài chính nhờ khả năng khó phát hiện của nó. Doanh nghiệp đơn giản chỉ cần thay đổi thời gian khấu hao của tài sản, từ đó lượng khấu hao trong mỗi năm sẽ tăng, giảm tùy theo. Dù đã được quy đinh rất rõ ràng tại điều 10, thông tư 45/2013/TT-BTC, văn bản Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích lập khấu hao tài sản”, rằng mỗi tài sản chỉ được phép thay đổi thời gian trích khấu hao một lần tuy nhiên quá trình giám sát áp dụng luật trên thực tế vẫn là chưa đủ sát sao nếu số liệu báo cáo tài chính của đơn vị không được kiểm toán một cách chặt chẽ.

Ngoài những phương pháp điển hình nêu trên, một thủ thuật đặc thù dành riêng cho doanh nghiệp sản xuất là lợi dụng tỷ lệ phân bổ chi phí sản xuất giữa hàng tồn kho và giá vốn.

Một cách dễ hiểu, các chi phí sản xuất trong kỳ trước tiên sẽ được tập hợp vào giá trị thành phẩm – khoản mục tài sản trên bảng cân đối kế toán, sau đó khi bán đi các thành phẩm này sẽ được chuyển hóa thành chi phí giá vốn trên báo cáo kết quả kinh doanh.

Vì vậy, với mục đích đẩy cao tài sản tại thời điểm lập báo cáo và giảm thấp chi phí giá vốn trong kỳ thì doanh nghiệp sẽ có xu hướng cố gắng ghim tất cả các khoản chi phí xuống ghi nhận vào cuối kỳ để có thể giữ lại giá trị chi phí trong lượng thành phẩm tồn kho chưa kịp bán trong khi thực tế những chi phí này đã được tiêu hao vào những hàng hóa sản xuất trước đó và lẽ ra được ghi nhận là giá vốn.

Đối mặt với rất nhiều các thủ thuật tinh vi nhằm làm đẹp “bức tranh tài chính” của doanh nghiệp, trong khi lượng thông tin trong tay lại còn hạn chế là một trở ngại lớn cho nhà đầu tư để có thể phát hiện ra các biến tấu trên báo cáo kết quả kinh doanh. Trong hoàn cảnh đó, thông tư 200/2014/TT-BTC được áp dụng từ năm 2015 yêu cầu tất cả các thuyết minh chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng, chi phí sản xuất kinh doanh phải chi tiết tới từng tiểu mục có giá trị lớn trên 10% tổng chi phí.

Điều đó nghĩa là chi phí sẽ được bóc nhỏ hơn nữa theo loại bản chất như: Chi phí khấu hao, chi phí lương, chi phí mua ngoài,.. giúp cung cấp thêm thông tin vô cùng hữu ích cho người dùng báo cáo. Nhà đầu tư chỉ cần so sánh số liệu qua các năm của doanh nghiệp theo những mục chi phí nhỏ này cũng đã có thể nhìn ra các biến động tăng giảm bất thường trong ghi nhận chi phí, từ đó xét đoán khả năng lợi nhuận có đang bị “phù phép” hay không.
Thanh Tâm
Theo Trí thức trẻ
Share:

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2016

Các thủ thuật "phù phép" tăng doanh thu cho doanh nghiệp

Doanh thu luôn là khoản mục tiềm tàng nhiều rủi ro biến tấu cao ngay cả trong và ngoài khuôn khổ cho phép của chuẩn mực.

Đã qua rồi thời kỳ nhà đầu tư chỉ "cắm đầu" mua bán cổ phiếu theo những lời "phím hàng". Bây giờ, các nhà đầu tư đều chủ động tìm hiểu, nghiên cứu báo cáo tài chính của doanh nghiệp, ít nhất là để có một cái nhìn khái quát về món hàng mà mình chọn mua. Thế nhưng không phải ai cũng có thể nắm bắt được những con số khô khan đó, chưa kể nhiều doanh nghiệp còn có những thủ thuật để phù phép số liệu vì mục đích riêng.

Chuỗi bài về các thủ thuật tài chính sẽ cố gắng diễn giải những "thủ thuật " trên BCTC một cách đơn giản nhất nhằm đem lại cho NĐT phổ thông những kiến thức cơ bản và có quyết định sáng suốt khi chọn lựa cổ phiếu.

Nếu nói báo cáo tài chính như một bức tranh giúp nhà đầu tư hình dung lên toàn cảnh câu chuyện hoạt động của doanh nghiệp thì doanh thu có lẽ chiếm phần lớn sự quan tâm trong bức tranh đó. Đi liền với tầm quan trọng luôn là tính rủi ro cao, chưa tính đến việc doanh thu còn thường xuyên gánh sức ép như một chỉ tiêu xét duyệt lương thưởng của Ban Giám đốc, do đó dù phải tuân theo một loạt các quy tắc ghi nhận của chuẩn mực kế toán thì đây vẫn luôn là khoản mục tiềm tàng nhiều rủi ro biến tấu cao ngay cả trong và ngoài khuôn khổ cho phép của chuẩn mực.

Trong giới hạn bài viết này chỉ để cập tới các kỹ thuật hợp pháp và “tuân thủ” theo các chuẩn mực Kế toán. Các hành vi vi phạm pháp luật như cố tình tạo doanh thu khống hay tạo ra các giao dịch ảo không thuộc phạm vi bài viết này.

Tăng doanh thu nhờ doanh thu khác

Có hiệu lực từ năm tài chính 2015 và áp dụng cho cả số liệu so sánh 2014, thông tư số 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp đã thay đổi cách ghi nhận doanh thu từ bán vật liệu, phế liệu quá trình sản xuất, nhượng bán công cụ dụng cụ và các khoản doanh thu khác tư tài khoản 711 – Thu nhập khác về tiểu khoản 5118 – Doanh thu khác, nằm trong khoản mục lớn doanh thu.

Vì vậy khi xem xét số liệu doanh thu, nhà đầu tư nên xem xét kỹ tỷ trọng của phần doanh thu khác này. Việc tăng doanh thu nhờ doanh thu khác được đánh giá là hoạt động chỉ mang tính chất thời điểm, không bền vững và không phản ánh hoạt động kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp.

Tăng doanh thu nhờ ký kết các điều khoản “ Bán và giữ”, ước tính khối lượng công việc hoàn thành.

“ Bán và giữ” (Bill and Hold) xuất hiện khi doanh nghiệp ký kết một biên bản xác nhận với bên mua đồng ý nghiệm thu sản phẩm bán, tuy nhiên hàng hóa vẫn được gửi lại tại nhà máy của người bán và sẽ thực hiện chuyển giao sau. Điều khoản này giúp người bán ghi nhận doanh thu ngay tức thời mà chưa cần phải giao hàng cho người mua. Bản chất của thủ thuật này đơn giản là đẩy doanh thu của kỳ sau lên ghi nhận sớm vào kỳ trước, nhằm tạo ảo tưởng rằng công ty đang tăng trưởng tốt trong kỳ hiện tại. Hậu quả có thể gây ảnh hưởng tới doanh thu năm sau.

Đối với các công ty liên quan tới lĩnh vực xây dựng hoặc cung cấp dịch vụ trong một thời gian dài thì ước tính doanh thu lại là một công cụ đắc lực giúp ban lãnh đạo điều chỉnh số liệu doanh thu theo ý muốn. Ước lượng phần trăm hoàn thành công việc phụ thuộc nhiều vào nhận định, kinh nghiệm và thực tế tiến độ hoàn thành công việc. Dù việc ước lượng phải dựa trên cơ sở hợp lý, nhưng doanh nghệp vẫn có đủ lý lẽ để chứng minh việc ghi nhận doanh thu của mình là đáng tin cậy để giải trình với kiểm toán.

Tăng doanh thu nhờ các giao dịch với bên liên quan

Bên liên quan từ trước tới nay vẫn là “vị cứu tinh” khi doanh nghiệp cần có một khoản doanh thu bất ngờ cuối năm nhằm đạt chỉ tiêu lợi nhuận đề ra. Hợp đồng mua bán nội bộ giữa các bên này luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro về chuyển giá cũng như chuyển lợi nhuận. Đặc biệt đối với các tập đoàn lớn mang tính chuyên môn hóa cao, đầu ra của đơn vị này đồng thời chính là đầu vào của đơn vị khác.

Doanh thu của một doanh nghiệp hoàn toàn có thể phụ thuộc phần lớn vào một bên liên quan. Bằng việc điều chỉnh giá bán và sản lượng mua từ đó có thể dễ dàng biến tấu doanh thu của một đơn vị. Đối với trường hợp này, nhà đầu tư có thể tìm kiếm thêm thông tin trong phần thuyết minh các giao dịch trọng yếu với bên liên quan để xác định liệu có việc thao túng doanh thu xảy ra hay không.

Tăng doanh thu nhờ chính sách giá và cung cấp thêm tín dụng cho khách hàng.

Một biện pháp thông thường khác mà các doanh nghiệp sử dụng để tăng lợi nhuận khi nhận thấy nguy cơ không đạt kế hoạch là giảm giá bán năm hiện tại, thông báo tăng giá bán đầu năm sau và nới lỏng các điều kiện tín dụng. Ví dụ, để tăng lợi nhuận quý 4 năm 2015, công ty có thể thông báo sẽ tăng giá bán vào đầu năm 2016, lập tức doanh thu quý 4 sẽ tăng vọt.

Mặc dù các thủ thuật này cho phép doanh nghiệp đẩy mạnh doanh thu trong kỳ hiện tại nhưng cũng sẽ đồng thời gây ảnh hưởng không tốt tới lợi nhuận năm sau, chưa kể đến tác động của chính sách bán hàng bị nới lỏng có thể gây khó khăn cho việc cân đối nguồn vốn lưu động, nguy cơ phải trích lập dự phòng khoản phải thu trong các năm tiếp theo.

Một số dấu hiệu giúp nhà đầu tư nhận biết được khoản mục doanh thu đang được phù phép

Tóm lại, một khoản doanh thu được coi là chất lượng khi đi kèm với khả năng chắc chắn thu hồi được lợi ích trong tương lai. Vì vậy để nhận biết được các dấu hiệu của doanh thu ảo, nhà đầu tư nên chú trọng phân tích mối tương quan tăng trưởng giữa cả ba chỉ tiêu doanh thu, khoản phải thu và dòng tiền thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đối với một số thông tin nhất định, nhà đầu tư nên lưu ý vì đó hoàn toàn có thể là động cơ cho một cú hích ảo vào doanh thu như: công bố chỉ tiêu doanh thu kế hoạch, các đợt phát hành cổ phiếu dự kiến (nếu có), thay đổi kế toán trưởng, kế hoạch chi trả lương thưởng Ban giám đốc…

Ngoài ra, bằng những biện pháp phân tích đơn giản như so sánh số liệu cùng kỳ năm nay với năm trước, suy xét tính logic khi đặt doanh nghiệp vào tình hình chung của ngành, nhà đầu tư hoàn toàn có thể tìm ra những biến động đáng ngờ, từ đó làm rõ tính chân thực của khoản mục doanh thu.

>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán
Thanh Tâm
Theo Trí thức trẻ
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?