Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn học thuyết kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn học thuyết kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

5 bài học kinh tế vỡ lòng từ huyền thoại John Maynard Keynes

Các học thuyết kinh tế của ông được coi là ánh sáng soi đường cho chính sách điều hành kinh tế cũng như tạo việc làm của các quốc gia, trong đó phải kể đến chính sách kích thích kinh tế của Tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2009.


John Maynard Keynes (sinh năm 1883) là một nhà kinh tế học người Anh. Ông nổi tiếng với học thuyết kinh tế Keynes – một học thuyết kinh tế có tầm ảnh hưởng lớn tới kinh tế học và chính trị hiện đại.

Các học thuyết kinh tế của ông được coi là ánh sáng soi đường cho chính sách điều hành kinh tế cũng như tạo việc làm của các quốc gia, trong đó phải kể đến chính sách kích thích kinh tế của Tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2009. Bên cạnh đó, Keynes cũng là "cha đẻ" của những hiệp định thương mại thời hậu chiến Bretton Woods.

Tuy vậy, những học thuyết kinh tế của John Keynes rất khó để có thể tóm tắt trong vài từ. Trong các học thuyết của mình, ông quan tâm đến sự can thiệp của chính phủ đối với kinh tế, bởi nhờ đó chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để làm giảm đi những ảnh hưởng bất lợi do suy thoái kinh tế hay bùng nổ kinh tế gây ra.

Dưới đây là 5 bài học từ những học thuyết kinh tế của Keynes có thể hữu ích đối với các nhà đầu tư.

Chi tiêu Chính phủ có thể tác động đến tổng thể sản xuất trong ngắn hạn

Keynes thường đề cập đến các biện pháp kích thích của chính phủ bao gồm tăng mạnh chi tiêu ngân sách chính phủ (chấp nhận thâm hụt ngân sách) để chống lại thất nghiệp không tự nguyện. Ông cũng là nhà kinh tế học đầu tiên xuất bản rộng rãi tài liệu tiếng Anh về yếu tố tổng cung, tổng cầu trong nền kinh tế.

Quan điểm này của ông đã được chứng minh là đúng, ít nhất trong ngắn hạn. Chi tiêu và các dự án của Chính phủ có thể tạm thời thúc đẩy tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP), tương đương với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, về dài hạn, chưa thể chứng minh được mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ với tăng trưởng năng suất hoặc thu nhập bình quân đầu người.

Giá cả không thể điều chỉnh một cách công bằng

Trên thị trường lao động, tiền lương chính là giá cả. Mô hình “tiền lương cứng nhắc” (sticky wage) là một phần không thể thiếu trong kho từ vựng về kinh tế của Keynes. Ông cho rằng việc giảm tiền lương không giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp bởi không có lý do gì để người lao động chấp nhận bị cắt giảm tiền lương hoặc ông chủ đề nghị giảm lương.

Nói cách khác, thị trường không phải lúc nào cũng tuân thủ rõ ràng quy tắc cân bằng tổng thể. Ông cũng lập luận rằng thị trường lao động không giống với các thị trường khác. Tuy nhiên hiện nay hầu hết các nhà kinh tế học đồng ý rằng mọi loại giá cả có thể từ từ điều chỉnh chậm lại dưới các hoàn cảnh bất lợi.

Kinh tế và chính trị luôn có mối liên hệ chặt chẽ

John Keynes là một người phụng sự suốt đời cho cộng đồng và các học thuyết kinh tế của ông luôn có mối quan hệ chặt chẽ với chính trị, gây ảnh hưởng lớn đến chính sách điều hành kinh tế của các chính phủ. Ông hiểu rằng một khi quan điểm được chấp nhận bởi các viện hàn lâm, các chính trị gia sẽ dễ dàng góp phần thúc đẩy chính sách kinh tế hơn.

Keynes dùng kinh tế học như một vũ khí cho các cuộc tranh luận công khai. Ông ủng hộ mạnh mẽ các chương trình việc làm của Đảng Lao Động Anh và phản đối quan điểm lấy vàng làm tiêu chuẩn của nước Anh thời kỳ hậu thế chiến thứ nhất. Ông cho rằng các nhà cầm quyền có thể thực thi quan điểm từ học thuyết kinh tế của mình vào điều chỉnh chính sách.

Nền kinh tế vẫn có thể vận hành dù không có đủ việc làm trong một khoảng thời gian

Một trong những quan điểm mang tính đột phá của Keynes là cho rằng nền kinh tế có thể có nhiều mức độ thất nghiệp khác nhau. Đây là nhận định trái ngược với quan điểm của những nhà kinh tế học cổ điển như David Ricardo và Jean-Baptiste Say, những người nói rằng nếu thị trường lao động dư thừa việc làm thì sẽ tự điều chỉnh. Nhưng Keynes không nghĩ như vậy.

Cuộc đại khủng hoảng 1929 -1933 đã ảnh hưởng sâu sắc tới suy nghĩ của Keynes về kinh tế học. Trước đó, các nhà kinh tế cho rằng, mỗi khi có khủng hoảng kinh tế, giá cả và tiền công sẽ giảm đi; các nhà sản xuất sẽ có động lực đẩy mạnh thuê mướn lao động và mở rộng sản xuất, nhờ đó nền kinh tế sẽ phục hồi.

Nhưng Keynes lại quan sát cuộc đại khủng hoảng và nhận ra rằng tiền công không hề giảm, việc làm cũng không tăng, và sản xuất mãi không hồi phục nổi. Từ đó, Keynes cho rằng thị trường không vận hành hoàn hảo như những gì các nhà kinh tế cổ điển vẫn nghĩ. Và do đó, dù không có đủ việc làm thì nền kinh tế vẫn có thể vận hành trong một khoảng thời gian.

Ngày nay vẫn có một số nhà kinh tế học tranh cãi về quan điểm của ông, nhưng là về cơ chế vận hành của thị trường lao động. Một số cho rằng thất nghiệp là do dư thừa tiền tiết kiệm và thiếu thanh khoản, trong khi một số khác quan niệm các chính sách sai lầm khiến thị trường lao động mất cân bằng. Nhưng họ đều cho rằng trạng thái toàn dụng lao động không phải là một sự đảm bảo.

Lạm phát là quỷ dữ nhưng nó có thể thúc đẩy hoạt động công nghiệp

Trong bản thảo năm 1923 mang tên “A Tract on Monetary Reform”, Keynes đã gọi lạm phát là một loại quỷ dữ cần phải xa lánh. Đây cũng là quan điểm khác biệt lớn nhất giữa Keynes và các thế hệ nhà kinh tế học đi sau ông. Hầu hết các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng lạm phát là vấn đề nhỏ và có một chút lạm phát sẽ giúp thúc đẩy hoạt động công nghiệp; Keynes nói không với lạm phát và còn cho rằng lạm phát giúp các nhà đầu tư làm giàu trên chi phí của người nghèo.

Giống như nhiều vấn đề khác, Keynes có những quan điểm mâu thuẫn nhau về lạm phát và chính sách tiền tệ. Nhưng ông cho rằng giá cả nên duy trì ổn định bởi lạm phát có thể dẫn đến tình trạng dư thừa công suất và ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế. Sau này nhiều nhà kinh tế học theo trường phái Áo cũng nhận định những tác động vào nguồn cung tiền chính là nguyên nhân gây nên sự phập phù trong chu kỳ phát triển của nền kinh tế với những giai đoạn xì hơi và khủng hoảng theo sau giai đoạn bùng nổ.


Hà My
Theo Trí thức trẻ/Investopedia
Share:

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016

10 sự thật thú vị về Keynes – “cha đẻ” của đầu tư hiện đại

Tư duy logic, trực giác, tầm nhìn xa trông rộng, nhanh nhạy và luôn bắt kịp với những thay đổi… tất cả các yếu tố này kết hợp trong một con người bình thường đến mức phi thường.

John Maynard Keynes sinh ngày 5/6/1883 trong một gia đình không mấy khá giả ở con phố Harvey, Cambridge (Anh). Ít ai ngờ rằng, từ con phố Harvey đông đúc và chật chội ấy đã sinh ra một thiên tài có sức ảnh hưởng lớn tới lịch sử kinh tế thế giới.

Những người ủng hộ thì cho rằng các học thuyết kinh tế của Keynes là nền tảng cho các chính sách tiền tệ và kích thích tài khóa mà rất nhiều quốc gia sử dụng ngày nay. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số ý kiến phản pháo rằng, ông là “tội đồ” tạo ra những kẻ tham lam trên thị trường.

Dưới đây là 10 bí mật thú vị giúp bạn hiểu rõ hơn về “cha đẻ” của học thuyết kinh tế vĩ mô này.

1. Keynes còn được mệnh danh là "Winston Churchill” của ngành kinh tế nhờ tinh thần bất khuất không bao giờ lùi bước.

Trong cuốn sách viết về ông, tác giả Syliva Nasar cho rằng “ở Keynes luôn tỏa ra tinh thần lạc quan trong những hoàn cảnh ảm đạm nhất và không bao giờ bị ảnh hưởng bởi những biến động quốc gia hay toàn cầu”.

2. Ông cũng là một trong những “tay chơi” cừ khôi trên thị trường chứng khoán

Là một học giả nổi tiếng của trường Kings College, ban đầu những nguyên tắc của ông về “giao dịch trên thị trường chứng khoán” không nhận được sự ủng hộ của các đồng nghiệp. Ông bắt đầu với số vốn 30.000 bảng Anh và thu về tổng cộng 350.000 bảng Anh – với tỷ lệ lãi kép trên 12%/năm.

3. Ông là một “con ruồi trâu” của thế giới tài chính hiện đại

Bạn bè gọi Keynes là một kẻ tham công tiếc việc bởi ông luôn “ôm đồm” rất nhiều vị trí: giảng viên chính thức của trường Kings College, học giả nghiên cứu tại trường Kings College, tác giả sách, nhà tư vấn tài chính, nhà báo cộng tác với The Guardian, thành viên của Ủy ban chính sách công nghiệp thuộc Đảng Tự do.

4. Ngoài kinh tế, Keynes còn đam mê triết học

Keynes thường xuyên tham gia tranh luận về các vấn đề đời sống, kinh tế – chính trị.

5. Nhà kinh tế kết hôn với vũ công ballet xinh đẹp

Cũng giống như những thành viên của hội Bloomsbury, đời sống tình cảm của Keynes khá phức tạp. Ông từng có những cuộc hẹn hò đồng tính và kết hôn với một vũ công ballet xinh đẹp. Tuy nhiên, danh tính của những người này đều không được tiết lộ cụ thể.

6. Keynes cũng quan tâm đến vàng

Keynes là người đầu tiên kêu gọi chấm dứt các tiêu chuẩn về vàng bởi theo ông, đó là “một di tích man rợ” của nhân loại.

7. Ủng hộ chủ nghĩa tư bản

Keynes không phải là người theo chủ nghĩa xã hội, ông đến để cứu chủ nghĩa tư bản, không phải để chôn nó. “Tôi cho rằng, chủ nghĩa tư bản một khi được quản lý khôn ngoan sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế hơn bất kì chế độ nào” – Keynes nói trong một bài giảng dạy.

8. Ông từng từ chức tại cuộc đàm phán hiệp ước Versailles năm 1919 do bất đồng

Keynes cảm thấy bất bình về những yêu cầu bồi thường không cần thiết áp đặt lên nước Đức và ông dự báo rằng nó chắc chắn sẽ dẫn đến xung đột.

9. Có chút tự kiêu

“Tôi tin rằng mình có thể viết một cuốn sách làm nên cuộc cách mạng về kinh tế. Tôi khẳng định rằng trong vòng 10 năm tiếp theo, thế giới sẽ phải suy nghĩ về các vấn đề kinh tế mà tôi đề cập” – ông nói.

10. Một con người bình thường đến phi thường

“Keynes là một trong những người đàn ông đáng chú ý nhất trong lịch sử thế giới. Tư duy logic, trực giác, tầm nhìn xa trông rộng, nhanh nhạy và luôn bắt kịp với những thay đổi… tất cả các yếu tố này kết hợp trong một con người bình thường đến mức phi thường” – một đại biểu tham dự hội nghị Bretton Woods nhận định về Keynes.

Theo Trí thức trẻ
Share:

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

Chuyện hai tù nhân và những ứng dụng lý thú của kinh tế học trong cuộc sống

Không nhiều học thuyết có tính ứng dụng trong thực tiễn cao như điểm cân bằng Nash – học thuyết kinh tế được đặt tên theo nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nó và cũng nhờ đó mà đạt giải Nobel kinh tế năm 1994.


Các nhà kinh tế học có thể giải thích những điều diễn ra trong quá khứ và đôi lúc còn có thể dự đoán chính xác về tương lai. Tuy nhiên, không nhiều học thuyết có tính ứng dụng trong thực tiễn cao như điểm cân bằng Nash – học thuyết kinh tế được đặt tên theo nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nó và cũng nhờ đó mà đạt giải Nobel kinh tế năm 1994.

Khái niệm đơn giản này còn giúp các nhà kinh tế học tìm ra nguyên lý xác định giá cả của các công ty, giải thích các Chính phủ nên thiết kế những cuộc đấu giá như thế nào để được hưởng lợi nhiều nhất và giải thích cả nguyên nhân tại sao đôi lúc trong 1 nhóm sẽ đưa ra những quyết định tự chuốc lấy thất bại.

Vậy thì điểm cân bằng Nash là gì và tại sao đây là một trong những khái niệm kinh tế có ý nghĩa quan trọng và thay đổi cả thế giới?


Sơ đồ thể hiện thế tiến thoái lưỡng nan của người tù nhân trên đây là một trong những hình minh họa nổi tiếng nhất về điểm cân bằng Nash. Giả sử có hai người tù đang ở trong 2 buồng giam riêng biệt và cùng nhận được những lời gợi ý giống nhau từ điều tra viên. Nếu họ cùng thú tội đã giết người, mỗi người sẽ bị phạt 10 năm tù giam. Nếu một trong hai người im lặng trong khi người khác thú tội, kẻ chỉ điểm sẽ được thả trong khi người kia lãnh án tù chung thân. Nếu cả hai không nói gì, cả hai đều lãnh án nhưng sẽ chỉ ở trong xà lim 1 năm mà thôi.

Rõ ràng lựa chọn tốt nhất là cả hai người im lặng. Nhưng một nhà kinh tế học với khái niệm điểm cân bằng Nash ở trong đầu sẽ dự đoán ngược lại: trường hợp hay xảy ra nhất là cả hai đều thú tội.

Ở điểm cân bằng Nash, mỗi thành viên của nhóm đều đưa ra quyết định có lợi cho bản thân mình nhất và dựa trên suy đoán về những điều người khác sẽ làm. Trong trường hợp 2 tù nhân, giữ im lặng không bao giờ là một lựa chọn tốt dù cho người còn lại chọn gì. Tù nhân A sẽ suy nghĩ rằng nếu tù nhân B nói ra thì mình cũng phải nói vì như vậy sẽ tránh được án chung thân; còn nếu tù nhân B im lặng thì mình sẽ được trả tự do. Như vậy nói ra mới là cách tốt nhất.

Áp dụng trong thế giới thực, các nhà kinh tế học sử dụng điểm cân bằng Nash để dự đoán các công ty sẽ phản ứng như thế nào trước mức giá của đối thủ cạnh tranh. Hai công ty lớn cùng đặt ra chiến lược cạnh tranh về giá có thể sẽ dồn nén khách hàng nhiều hơn so với bình thường nếu mỗi công ty phải đối mặt với hàng nghìn đối thủ cạnh tranh.

Điểm cân bằng Nash cũng giúp các nhà kinh tế học hiểu rằng tại sao một quyết định có ích cho từng cá nhân lại có thể trở nên tồi tệ cho cả nhóm. Mọi người đều sẽ giàu có hơn nếu như có thể tự kiềm chế ở mức hợp lý, có chừng mực. Tuy nhiên vì suy nghĩ đến những điều người khác sẽ làm, họ chọn cách hoang phí. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đánh bắt cạn kiệt nguồn thủy sản hay thải quá nhiều khí thải vào không khí.

Ngày nay, khái niệm điểm cân bằng Nash đóng vai trò quan trọng đối với kinh tế học vi mô hiện đại hay kinh tế học hành vi vì nó trao cho các nhà kinh tế học khả năng chọn ra người thắng cuộc và người thua cuộc.

Dẫu vậy, giống như Minsky đã nói: khi thời gian yên bình càng kéo dài, lời cảnh báo của ông ngày càng bị đẩy sâu hơn vào dĩ vãng.

Theo Trí thức trẻ/Economist
>> Doanh nhân nên học gì từ giới tội phạm?

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?