Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2016

Nhà kinh tế học khẳng định: Nếu mỗi tuần chỉ phải làm việc 4 ngày, cả thế giới sẽ hạnh phúc

Chúng ta có quá nhiều giờ thừa trong mỗi ngày làm việc, các nhân viên không có nhiều việc để làm trong khi không thể về sớm vì cái gọi là “chủ nghĩa vị lượng”.


Được nghỉ 3 ngày mỗi tuần nghĩa là ta có nhiều thời gian hơn dành cho gia đình và bạn bè, để đi chơi và khám phá thế giới, và để giải tỏa áp lực từ công việc. Ngoài những lợi ích về nghỉ dưỡng, 3 ngày nghỉ mỗi tuần có thể là những bước dễ dàng nhất giúp chúng ta giảm thiểu triệt để tác động của con người với môi trường .

Theo 2 nhà kinh tế học David Rosnick và Mark Weisbrot, giờ làm việc ít đi sẽ làm giảm đáng kể năng lượng tiêu thụ. Trên thực tế, nếu người Mỹ tuân thủ mức giờ làm việc của người châu Âu chẳng hạn, họ sẽ thấy năng lượng tiêu thụ giảm đi 20% - và nhờ thế lượng khí thải carbon cũng giảm đi.

Với tuần làm việc 4 ngày, thời gian đi làm và về nhà cũng giảm đi, bên cạnh đó là năng lượng dùng cho nơi làm việc. Đến thời điểm chúng ta phải cắt giảm lượng khí thải carbon, áp dụng chính sách 4 ngày làm việc/tuần là cách đơn giản nhất để khiến nền kinh tế trở nên thân thiện hơn với môi trường.

Điều này đã từng có tiền lệ. Chẳng hạn vào năm 2007, bang Utah ở Mỹ quy định lại giờ làm việc của nhân viên nhà nước với 2 giờ làm thêm từ thứ Hai đến thứ Năm, và được nghỉ hoàn toàn thứ 6. Trong 10 tháng đầu tiên, động thái này đã tiết kiệm được cho bang ít nhất 1,8 triệu USD chi phí năng lượng.

Utah hủy bỏ thử nghiệm này vào năm 2011 sau khi người dân phàn nàn rằng họ không được phục vụ vào ngày thứ 6. Điều đó cho thấy có vẻ sự thay đổi này cần phải thực hiện cùng với sự thay đổi về kỳ vọng thông thường, để thứ 6 trở thành “ngày cuối tuần thứ 3” chứ không đơn thuần chỉ là một ngày trong tuần không phải đi làm.

Dù sao đi nữa những gì Utah đã làm cũng cho thấy nếu áp dụng trên toàn nước Mỹ, chính sách này sẽ tạo nên sự chuyển biến đáng kể cho nền kinh tế và gây hại ít hơn cho môi trường.

Ngoài ra còn có một số lợi ích khác nữa. Ngày làm việc ít hơn sẽ giúp mọi người cân bằng cuộc sống và công việc tốt hơn, giúp phục hồi sức khỏe tinh thần và thể chất. Chúng ta còn có nhiều thời gian hơn dành cho các hoạt động xã hội, như chăm sóc người già và trẻ nhỏ, gắn kết với cộng đồng. Các thử nghiệm giảm giờ làm việc ở một số nơi tại Thụy Điển vào năm 2015 cho thấy số ngày nhân viên xin nghỉ ốm giảm đi và năng suất lao động tăng lên.


Một số người còn hoài nghi có thể nghĩ: “Liệu chúng ta có đủ điều kiện để thực hiện việc đó không?”. Nhưng rõ ràng có rất nhiều lý do nghiêm túc cả về kinh tế lẫn kỹ thuật để các chính phủ, đảng phái chính trị, các chuyên gia cố vấn và các phong trào xã hội bắt đầu nghĩ về xu hướng áp dụng chính sách 3 ngày nghỉ cuối tuần.

Trên thực tế, nhiều nhà kinh tế học từ lâu đã nhận thấy chúng ta có quá nhiều giờ thừa trong mỗi ngày làm việc, các nhân viên không có nhiều việc để làm trong khi không thể về sớm vì cái gọi là “chủ nghĩa vị lượng” – tức cách đánh giá của các nhà quản lý dựa trên số giờ có mặt ở văn phòng chứ không phải năng suất làm việc.

Dưới góc nhìn dài hạn, một làn sóng tự động hóa nơi làm việc đang đến với rất nhiều robot và hệ thống máy móc được cho là sẽ thay thế 47% công việc hiện có trong thập niên tới. Trong hoàn cảnh này, việc áp dụng các chính sách như tuần làm việc 4 ngày sẽ trở nên thiết yếu để giúp cuộc sống trở nên dễ thở hơn dưới những thay đổi về điều kiện kinh tế.

Tự động hóa sẽ sớm mang lại cho chúng ta một thế giới công việc khác hẳn. Nhờ có tự động hóa, nhiều quy trình sản xuất sẽ trở nên hiệu quả hơn, sử dụng ít năng lượng hơn và ít lao động hơn, và cuối cùng chúng ta nhìn chung sẽ được giải phóng khỏi lao động chân tay.

Điểm mấu chốt để nắm bắt được lợi ích của tự động hóa mà không làm xáo trộn mọi thứ phụ thuộc một phần vào việc đưa ra các chính sách hợp lý. Tất nhiên không phải mọi thứ đều có thể xảy ra trong một ngày, nhưng nếu bạn may mắn được nghỉ ngày thứ Hai đầu tuần, đừng quên rằng thêm một ngày được nghỉ ở nhà hoặc vui chơi trong công viên không chỉ khiến chúng ta vui vẻ mà còn giúp con người chiến đấu với tình trạng biến đổi khí hậu.

Theo Đinh Vân
Trí thức trẻ/CafeBiz
Share:

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

Chuyện hai tù nhân và những ứng dụng lý thú của kinh tế học trong cuộc sống

Không nhiều học thuyết có tính ứng dụng trong thực tiễn cao như điểm cân bằng Nash – học thuyết kinh tế được đặt tên theo nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nó và cũng nhờ đó mà đạt giải Nobel kinh tế năm 1994.


Các nhà kinh tế học có thể giải thích những điều diễn ra trong quá khứ và đôi lúc còn có thể dự đoán chính xác về tương lai. Tuy nhiên, không nhiều học thuyết có tính ứng dụng trong thực tiễn cao như điểm cân bằng Nash – học thuyết kinh tế được đặt tên theo nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nó và cũng nhờ đó mà đạt giải Nobel kinh tế năm 1994.

Khái niệm đơn giản này còn giúp các nhà kinh tế học tìm ra nguyên lý xác định giá cả của các công ty, giải thích các Chính phủ nên thiết kế những cuộc đấu giá như thế nào để được hưởng lợi nhiều nhất và giải thích cả nguyên nhân tại sao đôi lúc trong 1 nhóm sẽ đưa ra những quyết định tự chuốc lấy thất bại.

Vậy thì điểm cân bằng Nash là gì và tại sao đây là một trong những khái niệm kinh tế có ý nghĩa quan trọng và thay đổi cả thế giới?


Sơ đồ thể hiện thế tiến thoái lưỡng nan của người tù nhân trên đây là một trong những hình minh họa nổi tiếng nhất về điểm cân bằng Nash. Giả sử có hai người tù đang ở trong 2 buồng giam riêng biệt và cùng nhận được những lời gợi ý giống nhau từ điều tra viên. Nếu họ cùng thú tội đã giết người, mỗi người sẽ bị phạt 10 năm tù giam. Nếu một trong hai người im lặng trong khi người khác thú tội, kẻ chỉ điểm sẽ được thả trong khi người kia lãnh án tù chung thân. Nếu cả hai không nói gì, cả hai đều lãnh án nhưng sẽ chỉ ở trong xà lim 1 năm mà thôi.

Rõ ràng lựa chọn tốt nhất là cả hai người im lặng. Nhưng một nhà kinh tế học với khái niệm điểm cân bằng Nash ở trong đầu sẽ dự đoán ngược lại: trường hợp hay xảy ra nhất là cả hai đều thú tội.

Ở điểm cân bằng Nash, mỗi thành viên của nhóm đều đưa ra quyết định có lợi cho bản thân mình nhất và dựa trên suy đoán về những điều người khác sẽ làm. Trong trường hợp 2 tù nhân, giữ im lặng không bao giờ là một lựa chọn tốt dù cho người còn lại chọn gì. Tù nhân A sẽ suy nghĩ rằng nếu tù nhân B nói ra thì mình cũng phải nói vì như vậy sẽ tránh được án chung thân; còn nếu tù nhân B im lặng thì mình sẽ được trả tự do. Như vậy nói ra mới là cách tốt nhất.

Áp dụng trong thế giới thực, các nhà kinh tế học sử dụng điểm cân bằng Nash để dự đoán các công ty sẽ phản ứng như thế nào trước mức giá của đối thủ cạnh tranh. Hai công ty lớn cùng đặt ra chiến lược cạnh tranh về giá có thể sẽ dồn nén khách hàng nhiều hơn so với bình thường nếu mỗi công ty phải đối mặt với hàng nghìn đối thủ cạnh tranh.

Điểm cân bằng Nash cũng giúp các nhà kinh tế học hiểu rằng tại sao một quyết định có ích cho từng cá nhân lại có thể trở nên tồi tệ cho cả nhóm. Mọi người đều sẽ giàu có hơn nếu như có thể tự kiềm chế ở mức hợp lý, có chừng mực. Tuy nhiên vì suy nghĩ đến những điều người khác sẽ làm, họ chọn cách hoang phí. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đánh bắt cạn kiệt nguồn thủy sản hay thải quá nhiều khí thải vào không khí.

Ngày nay, khái niệm điểm cân bằng Nash đóng vai trò quan trọng đối với kinh tế học vi mô hiện đại hay kinh tế học hành vi vì nó trao cho các nhà kinh tế học khả năng chọn ra người thắng cuộc và người thua cuộc.

Dẫu vậy, giống như Minsky đã nói: khi thời gian yên bình càng kéo dài, lời cảnh báo của ông ngày càng bị đẩy sâu hơn vào dĩ vãng.

Theo Trí thức trẻ/Economist
>> Doanh nhân nên học gì từ giới tội phạm?

Share:

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

Chỉ cần ngồi nhà, người đàn ông này vẫn tiên đoán chính xác những gì đang diễn ra trên thế giới, ẵm luôn cả giải Nobel

Bằng ngòi bút và một bộ óc thông minh tuyệt đỉnh, Paul Krugman đã đưa ra những dự báo rất chính xác về kinh tế Mỹ cũng như kinh tế toàn cầu, đoạt giải Nobel mà chẳng cần phải đi đâu.

Chuyên gia kinh tế Paul Krugman sinh năm 1953 trong một gia đình người Mỹ gốc Do Thái. Ông đã từng làm giáo sư kinh tế tại trường đại học New York, MIT và Princeton. Năm 2008, ông đạt giải thưởng Nobel về kinh tế học cho những đóng góp về lý thuyết kinh thế như thuyết thương mại mới hay địa lý kinh tế mới.

Ông Krugman đã viết hơn 20 cuốn sách, hơn 200 bài viết học thuật và hơn 750 bài phân tích trên các tờ báo lớn tại Mỹ. Nội dung của các bài viết này trải dài từ phân phối thu nhập, thuế, kinh tế vĩ mô cho đến kinh tế quốc tế.

Chuyên gia kinh tế này còn là chuyên gia phân tích thường kỳ cho tờ New York Times, đồng thời thu hút được lượng lớn độc giả quan tâm, từ sinh viên, giáo sư cho đến các doanh nhân, nhà chính trị đối với các bài viết của mình.

Ảnh hưởng của ông Krugman đến nền kinh tế, hệ thống tài chính là khá lớn khi những lý thuyết và quan điểm của ông được nhiều người quan tâm, đặc biệt là trong giới học thuật. Năm 2016, RePec bình chọn ông là nhà kinh tế có tầm ảnh hưởng lớn thứ 24 trên thế giới nhờ những đóng góp to lớn của chuyên gia này đối với toàn cầu.

Đây là một điều khá đặc biệt khi nhiều chuyên gia kinh tế hoặc rất giỏi về phân tích số liệu, hoặc giỏi viết báo, hoặc có quan hệ khá rộng, trong khi Paul Krugman chỉ đơn thuần nghĩ đến những điều mà không ai nhận ra.

Nhà tiên tri nổi tiếng

Ngoài những bài viết học thuật gây tiếng vang, chính các dự báo chính xác của Krugman về kinh tế toàn cầu mới là điều khiến ông trở nên nổi tiếng và được quan tâm rộng rãi.

Vào thập niên 90, chính Paul Krugman là người đã dự báo chuẩn xác nền kinh tế Châu Á, đặc biệt là Nhật Bản đang lâm vào cái bẫy thanh khoản khi chính phủ liên tục bơm tiền vào hệ thống ngân hàng, sử dụng các chính sách nới lỏng tiền tệ để kích thích kinh tế nhưng hiệu quả lại không được như ý.

Nguyên nhân chính là tỷ lệ lạm phát thấp khiến Nhật Bản rơi vào nguy cơ giảm phát, người dân thay vì chi tiêu thêm lại tiết kiệm tiền để chờ giá xuống hoặc để đề phòng khủng hoảng kinh tế xảy ra. Các doanh nghiệp không đầu tư tích cực hơn dù đã được ngân hàng nới lỏng tín dụng.

Đúng như những gì ông Krugman dự đoán, Nhật Bản đã lâm vào tình trạng tăng trưởng chậm vào cuối thập niên 90 và để Trung Quốc vượt mặt sau đó.

Ngay từ cuối thập niên 90, Paul Krugman đã nhận định việc các ngân hàng hạ lãi suất cơ bản xuống mức quá thấp sẽ tạo nên nhiều rủi ro khi họ không còn nhiều công cụ tài chính nếu kinh tế không tăng trưởng như mong đợi và khủng hoảng xảy ra một lần nữa. Dự đoán này của Krugman lại chuẩn xác một lần nữa khi cả Châu Âu và Nhật Bản hiện đang có mức lãi suất rất thấp, thậm chí xuống mức âm nhưng nền kinh tế lại không bùng nổ như kỳ vọng.

Thậm chí ngay tại Mỹ, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) có nên tăng lãi suất từ mức cực thấp 0,25-0,5% hay không hiện nay cũng đang gây ra vô vàn tranh luận bởi tăng trưởng của nước này vẫn chưa thực sự rõ ràng.

Cũng trong giai đoạn cuối thập niên 90, chuyên gia Krugman cho rằng những con rồng Châu Á, sự kỳ diệu của Trung Quốc, những con hổ Đông Á... đang tăng trưởng không bền vững. Năm 1994, chính Krugman đã chỉ ra rằng sự tăng trưởng của các nền kinh tế Châu Á phụ thuộc quá nhiều vào các dòng vốn tín dụng cũng như sự dồi dào trong lực lượng lao động. Trong khi đó, nền kinh tế và những yếu tố cơ bản của các nước này lại không được cải thiện mấy.
Theo Krugman, chỉ khi các nền kinh tế Châu Á này cải thiện được những yếu tố cơ bản về kinh tế, về năng suất thì tăng trưởng mới bền vững trong dài hạn.

Đúng như những dự đoán, kinh tế Trung Quốc đang giảm tốc còn nhiều nước Châu Á khác như Hàn Quốc, Mông Cổ, Ấn Độ, khu vực Đông Nam Á đang gặp khó khăn so các chính sách bất hợp lý trước đây.

Vào đầu thập niên 2000, Krugman cũng phản đối chính sách cắt giảm thuế của cựu Tổng thống George Bush khi cho rằng điều này chỉ làm suy giảm ngân sách chứ không thực sự thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

Trên thực tế, chính sách nới lỏng tiền tệ của chính quyền Bush đã gián tiếp thúc đẩy đầu tư và tạo nên cơn khủng hoảng năm 2008 khi bong bóng nhà đất tại Mỹ đổ vỡ. Trong khi nhiều chuyên gia có quan điểm tích cực với thị trường thời điểm năm 2008, chính Krugman là chuyên gia có những quan điểm bi quan về nền kinh tế.

Năm 2009, Krugman cho rằng các chính sách kích thích kinh tế mới của Tổng thống Barack Obama là quá nhẹ và không đủ để đưa nền kinh tế nước này trở lại thời kỳ đỉnh cao. Thêm vào đó, chính phủ đang tốn tiền để giải cứu những ông lớn trong ngành tài chính thay vì thực sự giải quyết những bất cập còn tồn tại trong ngành.

Một lần nữa, Krugman lại đúng khi nền kinh tế Mỹ dù đã có cải thiện nhưng chưa thể lấy lại hào quang trước khủng hoảng 2008. Thêm vào đó, ngành ngân hàng cũng ngày càng gặp khó khăn dù họ đã sống sót sau khủng hoảng. Hàng trăm nghìn nhân viên trong ngành đã bị sa thải do kết quả kinh doanh yếu kém của hệ thống ngân hàng.

Paul Krugman chụp ảnh cùng Tổng thống Geprge Bush
Paul Krugman chụp ảnh cùng Tổng thống Geprge Bush

Lý thuyết thương mại mới và địa lý kinh tế mới

Nếu những dự đoán chính xác của Paul Krugman khiến ông trở nên nổi tiếng và được nhiều người biết đến thì việc phát triển những lý thuyết kinh tế mới là yếu tố chủ chốt để chuyên gia này giành được giải thưởng Nobel kinh tế năm 2008.

Một trong những công trình mà ông Krugman xây dựng là lý thuyết thương mại mới, một học thuyết giúp giải thích sự bất hợp lý của lý thuyết thương mại cũ trước đó.

Trước năm 1970, lý thuyết thương mại quốc tế của chuyên gia kinh tế David Ricardo được sử dụng rộng rãi và nguyên lý chủ chốt của lý thuyết này là lợi thế so sánh. Theo đó, các quốc gia mua bán, trao đổi hàng hóa là do họ có lợi thế so sánh khác nhau.

Ví dụ, nước A có lợi thế sản xuất hàng nông sản nhưng không chuyên về các mặt hàng khai khoáng, nghĩa là nước A có lợi thế so sánh về nông sản. Trong khi nước B có lợi thế về khai khoáng nhưng có vị trí địa lý không thuận lợi cho nông nghiệp. Kết quả là nước A giao thương với nước B dựa trên lợi thế so sánh của từng nước để trao đổi cho nhau những hàng hóa mà đối phương có nhu cầu.

Đến những năm 1930, lý thuyết của Ricardo được hai chuyên gia Eli Heckscher và Bertil Ohlin mở rộng. Theo đó, những nước có lợi thế sản xuất hàng hóa dựa trên lực lượng lao động lớn nhưng thiếu vốn và kỹ thuật sẽ giao thương với quốc gia có lợi thế ngược lại.

Điều này giải thích tại sao những nước đang phát triển và có lực lượng lao động dồi dào như Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ xuất khẩu các mặt hàng kỹ thuật kém như may mặc, giày dép... sang Mỹ còn phía Mỹ xuất khẩu các sản phẩm kỹ thuật cao như máy tính, máy bay, thiết bị điện tử... ngược trở lại.

Tuy nhiên, mô hình lý thuyết thương mại cũ này không giải thích được tại sao Mỹ và Châu Âu đều là những nền kinh tế phát triển, có kỹ thuật cao lại đi giao thương các mặt hàng công nghệ cao như xe hơi, smartphone hay máy bay. Hơn nữa, việc nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ vươn mình xuất khẩu những mặt hàng công nghệ cao ngược trở lại các thị trường phát triển như Châu Âu, Mỹ cũng khiến nguyên lý lợi thế so sánh của Richarson bị lung lay.
Mặc dù nhiều chuyên gia kinh tế đã cố gắng bổ sung cho lý thuyết của Richarson nhưng phải mãi đến khi Paul Krugman phát triển lý thuyết của mình vào thập niên 70 thì các chuyên gia kinh tế mới giải thích thỏa đáng hiện tượng giao thương giữa các nước trên thế giới.
Theo Krugman, việc sản xuất trên quy mô lớn làm giảm chi phí sản xuất và người tiêu dùng hiện nay có nhu cầu đa dạng về mẫu mã, chủng loại cũng như nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm.

Với 2 tiền đề trên, ông Krugman cho rằng các quốc gia thường tập trung sản xuất vào một vài thương hiệu hoặc thậm chí một bộ phận sản phẩm nhất định để tiết kiệm chi phí, hay còn gọi là lợi thế về quy mô. Tiếp đó, do người tiêu dùng có nhu cầu khác nhau về thương hiệu nên họ vẫn chấp nhận mua sản phẩm nhập ngoại kể cả khi chúng đã được sản xuất trong nước.

Điều này giải thích tại sao Châu Âu vẫn nhập xe Ford của Mỹ khi họ đã có BMW của Đức. Tương tự, lý thuyết của Krugman cũng giải thích thỏa đáng tại sao Hàn Quốc lại từ bỏ lợi thế so sánh nhiều lao động trước đây để vươn mình xuất khẩu những mặt hàng công nghệ cao sang Mỹ. Rõ ràng, người tiêu dùng Mỹ có nhu cầu đối với smartphone Samsung ngay cả khi nước này đã có iPhone.

Ngoài lý thuyết thương mại mới, Paul Krugman cũng là người giải thích thỏa đáng tại sao quá trình đô thị hóa và sản xuất tập trung tại các thành phố lớn lại tăng nhanh, tỷ lệ thuận với sự phát triển công nghệ trong thế kỷ 20 thông qua thuyết địa lý kinh tế mới.

Theo đó, ông Krugman cho rằng các công ty thường muốn tập trung sản xuất ở những vùng đông dân cư nhằm tận dụng nguồn lao động cũng như thị trường tại đây để tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, động thái này khiến giá hàng hóa rẻ hơn, đa dang dạng hơn, qua đó thu hút thêm người đến những đô thị này. Điều này giải thích quá trình đô thị hóa ban đầu tại các nước.

Mặc dù vậy, khi người dân bắt đầu tập trung đông tại một khu vực thì chi phí vận chuyển, giá cả cơ bản tại nơi này sẽ tăng, kéo theo việc làm tăng giá sản phẩm. Khi đó, công ty sẽ buộc phải lựa chọn giữa việc tận dụng lợi thế quy mô, thị trường tiêu thụ, nguồn lao động với chi phí vận chuyển cũng như giá thành tăng cao khi xác định nơi đặt nhà máy.

Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, chi phí vận chuyển cũng nhiều chi phí khác được tiết giảm nên lợi thế quy mô và thị trường tiêu dùng khiến các công ty ngày càng đặt nhiều nhà máy tại các khu vực đông dân hơn, qua đó tăng cường xu thế đô thị hóa.

Rõ ràng, mặc dù không phải quan chức chính phủ hay nắm giữ vai trò quan trọng trong chính quyền nhưng Paul Krugman có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến nền kinh tế cũng như chính sách trên toàn cầu. Bằng ngòi bút và một bộ óc thông minh tuyệt đỉnh, Paul Krugman đã chứng minh cho cả thế giới thấy rằng, dù không bước chân ra khỏi phòng, mình vẫn có thể khiến mọi người phải cúi chào thán phục.
Hoàng Nam
Theo Trí Thức Trẻ

>> Nhờ trí tuệ của người đàn ông Do Thái này, Israel đã từ một hoang mạc khô cằn thành thiên đường nông nghiệp

Share:

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015

Những lời khuyên “kinh điển” của George Soros về đầu tư

George Soros là nhà đầu cơ thành công nhất trên thế giới và được biết đến nhiều qua tên gọi “người phá sập ngân hàng Anh”.
Nổi tiếng với nhiều thương vụ khổng lồ trên thị trường tiền tệ, nhưng ông lại rất kín tiếng trong công việc và đời sống. Ông không hay đưa ra lời khuyên về đầu tư, nhưng nếu có thì chúng đều rất sâu sắc và giá trị.

1. Đầu tư trước, tìm hiểu sau

George Soros thường nói với đồng nghiệp trong quỹ Quantum của mình rằng: “Hãy cứ đầu tư trước, tìm hiểu sau”. Cố gắng đọc ý nghĩ của thị trường là một phần trong công việc đầu tư chứng khoán của ông.

Qúa trình đầu tư của Soros thường bắt đầu bằng việc phác thảo một giả thuyết. Là một sinh viên theo học ngành chính trị và kinh tế học khi còn trẻ, ông thường cho ra những dòng ý tưởng mới mang dáng vẻ của một “triết gia” trên thị trường.

Vì thế, phương pháp của ông là lập ra một giả thuyết, tiến từng bước ngắn và thận trọng để kiểm chứng giả thuyết đã đưa ra xem thử ý tưởng này đúng hay sai. Khi đã biết chắc giả thuyết của mình là có cơ sở, ông lắng nghe thị trường để tính toán xem nên làm gì tiếp theo.

Nếu thử nghiệm của ông khẳng định là vụ đầu tư này sẽ đem lại lợi nhuận, thì ngay lập tức ông quyết định sẽ mua nhiều hơn. Còn nếu thử nghiệm bị thua lỗ, nghĩa là diễn biến của thị trường không như ông suy đoán, Soros có thể sẽ chỉnh sửa hoặc là cho ra một giả thuyết mới.

2. Đúng hay sai đều không quan trọng

Một cộng sự tài giỏi trong quỹ Quantum của Soros, Stanley Druckenmiller có lần thực hiện một vụ giao dịch cho công ty bằng việc bán non đồng đô la Mỹ để mua đồng mác Đức. Vụ việc đang có lãi, Soros đột nhiên hỏi: “Số tiền đầu tư của anh lớn đến mức nào?”

“1 tỷ đô la” Druckenmiller trả lời. “Anh gọi đó là bỏ vốn đầu tư à?” Soros nhắc nhở.

“Việc đúng hay sai đều không quan trọng. Quan trọng là số tiền kiếm được khi đúng và số tiền mất đi khi sai.” Soros nói với cộng sự của mình. Qua đó, một khi bạn tin chắc khả năng thành công của một thương vụ, bạn phải tấn công quyết liệt cho dù phải đi vay một khoản lớn.

3. Tôi có thể sai lầm

Khi hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, Soros vẫn luôn ý thức rằng mình có thể sai lầm và rằng quan điểm của ông chưa chắc đã đúng. Vì thế mà ông luôn khắt khe với quá trình tư duy và giả thuyết về thị trường của mình. Chính điều đó đã mang đến cho ông sự nhanh nhẹn và linh hoạt về mặt trí tuệ.
Là một nhà đầu tư nổi danh với sự khôn ngoan và mặt trí tuệ tinh thông, Soros không cảm thấy khó khăn khi phải thừa nhận sai lầm. Ông luôn tin rằng việc dũng cảm nhận ra sai lầm là điều cấn thiết, nếu bạn muốn trung thực với chính mình.

Đối với một số người, việc mắc sai lầm là điều gì đó rất đáng xấu hổ. Còn Soros thì khác. Nhận ra sai lầm là điều đáng tự hào. Một khi đã nhận ra sự thiếu hoàn hảo ấy là đặc điểm tự nhiên của con người, thì chúng ta sẽ thấy việc mắc sai lầm chẳng có gì phải xấu hổ cả. Chính việc không chịu sữa chữa sai sót mới đáng xấu hổ.

4. Những người đầu cơ nên lẳng lặng mà làm

Vốn là người kín đáo, Soros muốn thông tin về hoạt động của quỹ Quantum càng ít xuất hiện trên công chúng càng ít càng tốt. Luôn giữ kín các ý tưởng đầu tư của mình là một trong những bí quyết đầu cơ của Soros.

Tờ Institutional Investor diễn tả về Soros như sau: “Có nét bí ẩn như một chuyên gia ảo thuật, một người cô độc không bao giờ để lộ hành tung, thậm chí còn giữ khoản cách với cả người cộng tác của mình.”

Đội ngũ nhân viên của Qũy Quantum được Soros nghiêm cấm tiết lộ với công chúng bất kỳ thông tin gì nếu chưa được ông cho phép. Bởi vì, ông không muốn nhiều người biết được kế hoạch và dự định đầu cơ của mình trong tương lai.

Nếu phát hiện ra những gì mình làm, các nhà đầu tư khác sẽ đổ xô vào thị trường, kéo theo việc giá cả sẽ thay đổi và có thể làm tình hình sẽ diễn biến bất lợi. Đây sẽ là một kết cục tồi tệ. Vì thế, đối với một nhà giao dịch những vụ mua bán lớn như Soros, tác hại của việc phổ biến thông tin về kế hoạch đầu cơ của mình sẽ rất nặng nề.

5. Trong trường hợp nào, tôi cũng sẽ không cần tới bằng cấp

Được mọi người đánh giá là một trong những nhà đầu tư thành công nhất thế giới và là bậc thầy trong lĩnh vực đầu tư, thế nhưng Soros lại chưa có bất kỳ một chứng chỉ nào về chứng khoán. Loại bằng cấp mà bất kỳ nhân viên nào của các công ty ở Wall Street cũng đều bắt buộc phải có.

Thật ra, Soros cũng có tham gia thi để lấy chứng chỉ này, nhưng ông đã trượt. Một lần tại công ty có tổ chức các kỳ thi lấy chứng chỉ dành cho nhà phân tích chứng khoán, một loại chứng chỉ chuyên môn.

Sau một thời gian cố tình né tránh, Soros đã phải đăng ký dự thi và ông đã không làm được bài ở bất kỳ đề tài nào. Lúc đó, ông bảo người trợ lý của mình rằng anh ta phải tham dự kỳ thi và phải thi đậu.
“Theo tôi hiểu thì sau hay bảy năm nữa, chứng chỉ này sẽ không còn được xem là quan trọng và đến lúc đó, hoặc là tôi sẽ tiến bộ hơn nhiều đến mức không cần nó nữa, hoặc là tôi sẽ trở thành một kẻ thất bại. Tức là trong trường hợp nào thì tôi cũng sẽ không cần đến nó nữa.” Soros nói.
(Tri Thức Trẻ)

>> George Soros - 'cựu vương' tài chính phố Wall
Share:

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Hiểu thêm về lý thuyết trò chơi của thiên tài John Nash

Lý thuyết trò chơi nghe có vẻ tầm thường và không quan trọng. Tuy nhiên, nó đã tạo nên một cuộc cách mạng trong việc tổ chức các ngành kinh tế, đồng thời ảnh hưởng đến nhiều nhánh khác của bộ môn kinh tế học, đặc biệt là trong chính sách tiền tệ và thương mại quốc tế.

Nhà toán học người Mỹ John Nash và vợ ông vừa không may thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe hơi ở Mỹ. Năm 1994, ông cùng với hai nhà kinh tế học khác đã đoạt giải Nobel Kinh tế vì những đóng góp trong lĩnh vực lý thuyết trò chơi. Dưới đây là bản lược dịch của bài báo viết về lý thuyết trò chơi và những đóng góp của John Nash được tờ The Economist đăng tải từ năm 1994, ngay sau khi ông nhận giải Nobel.

Mọi thứ giống như một giấc mơ của những người yêu thích các hoạt động thể thao. Ngày 11/10/1994, tại Stockholm, ba người đàn ông chia nhau giải thưởng trị giá 1 triệu USD vì kỹ năng phân tích các trò chơi của họ. Họ không phải là những bình luận viên truyền hình hay những người phê phán kịch liệt Manchester United. Họ là những nhà kinh tế học. Hai nhà kinh tế học người Mỹ là John Harsanyi và John Nash cùng với Reinhard Selten (nhà kinh tế học người Đức) đã giành giải Nobel Kinh tế năm 1994 vì những nghiên cứu về “lý thuyết trò chơi”.

Lý thuyết trò chơi nghe có vẻ tầm thường và không quan trọng. Tuy nhiên, quan điểm đó hoàn toàn sai. Trong 20 năm trở lại đây, lý thuyết trò chơi đã tạo nên một cuộc cách mạng trong việc tổ chức các ngành kinh tế, đồng thời ảnh hưởng đến nhiều nhánh khác của bộ môn kinh tế học, đặc biệt là trong chính sách tiền tệ và thương mại quốc tế. Không có sinh viên kinh tế nào có thể hi vọng họ sẽ tốt nghiệp được mà không am hiểu những khái niệm cơ bản của lý thuyết trò chơi.

Cho tới khi lý thuyết trò chơi ra đời, hầu hết các nhà kinh tế học đều kết luận rằng các công ty có thể bỏ qua những tác động từ hành vi của họ đối với hành động của người khác. Kết luận này hoàn toàn đúng khi thị trường cạnh tranh hoàn hảo: hành động của một công ty hay một khách hàng không thể khiến bức tranh toàn cảnh trở nên khác biệt.

Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, kết luận trên hoàn toàn sai. Nhiều ngành bị thống trị bởi một số ít các doanh nghiệp. Bằng cách xây dựng một nhà máy mới hoặc đại hạ giá hay đơn giản là bóng gió về việc hạ giá, một doanh nghiệp có thể tác động đến hành vi của các doanh nghiệp khác. Một số quốc gia có thể áp đặt (hoặc dọa sẽ áp đặt) lệnh cấm vận thương mại. Chính phủ có thể tăng lãi suất ngắn hạn khi lạm phát quá thấp nhằm thuyết phục thị trường tài chính rằng họ đang nghiêm túc chống lại lạm phát.

Các ví dụ kể trên cũng giống như những trò chơi. Không có huấn luyện viên bóng đá nào lên kế hoạch cho một cuộc tấn công mà không tính toán đến phản ứng của các hậu vệ.

Lý thuyết trò chơi hiện đại được cho là “con đẻ” của nhà toán học John von Neumann và nhà kinh tế học Oskar Morgenstern. Đây là hai đồng tác giả của cuốn sách có tựa đề "Theory of Games and Economic Behaviour" (tạm dịch: Lý thuyết trò chơi và các hành vi kinh tế học) được xuất bản năm 1944. Messrs Harsanyi, Nash và Selten đã chuyển chúng thành các công cụ chính sách mà các nhà kinh tế học sử dụng ngày nay.

Đầu những năm 1950, Nash đưa ra khái niệm “điểm cân bằng Nash”, khi không người chơi nào muốn thay đổi chiến thuật vì đã biết tất cả mọi thứ về chiến thuật của những người chơi khác.

Sau đây là một ví dụ nổi tiếng về điểm cân bằng Nash. A và B là hai doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành và cả hai đều có thể chọn chính sách giá thấp hoặc giá cao. Nếu cùng chọn giá cao, họ sẽ thu được mức lợi nhuận đầy đặn 3 triệu USD cho mỗi bên. Nếu giá thấp, mỗi công ty sẽ chỉ thu được 2 triệu USD. Tuy nhiên, nếu một bên chọn giá cao và bên còn lại chọn giá thấp, bên giá thấp sẽ thu được 4 triệu USD trong khi bên giá cao chỉ có 1 triệu USD. Mặc dù cùng chọn mức giá cao là lựa chọn có lợi nhất cho cả hai bên, họ sẽ không làm như vậy. Nếu A đưa ra giá cao, lựa chọn tốt nhất của B là đưa ra giá thấp hơn. Với suy nghĩ tương tự, A cũng sẽ đưa ra mức giá thấp và vì thế mỗi bên chỉ kiếm được 2 triệu USD.

Tuy nhiên, kết luận của Nash chỉ được áp dụng cho các trò chơi 1 lượt, hoặc trong các trường hợp người chơi hành động cùng thời điểm. Trên thực tế tất cả các trò chơi thú vị trong kinh tế đều có sự tương tác liên tục giữa nhiều bên. Selten đã mở rộng điểm cân bằng Nash để phù hợp với thực tế, từ đó nổi lên tầm quan trọng của lòng tin: không có điểm nào mà trong đó một người chơi đi theo kế hoạch mà người khác biết rằng sẽ phải thay đổi ở điểm nào đó.

Ví dụ, một công ty độc quyền có thể cố gắng ngăn cản đối thủ trong tương lai gia nhập vào thị trường bằng cách đe dọa sẽ có một cuộc chiến về giá nổ ra nếu đối thủ bước vào. Cuộc chiến này sẽ khiến người mới thua lỗ. Tuy nhiên, công ty độc quyền cũng phải trả giá. Nếu cuộc chiến về giá quá tốn kém, công ty độc quyền sẽ buộc phải chia sẻ thị phần với người mới. Trong trường hợp này, lời đe dọa sẽ có cuộc chiến về giá là không có cơ sở và do đó công ty mới hoàn toàn có thể bước vào thị trường.

Bên cạnh đó, khó có thể kết luận rằng người chơi có thể biết được chính xác suy nghĩ của người khác. Như giáo sư Adam Brandenburger của trường Kinh doanh Harvard đã nói, “đám sương mù bao phủ các trò chơi”. Tuy nhiên Harsanyi đã chỉ ra rằng các trò chơi mà trong đó người chơi không có được thông tin đầy đủ về những người chơi còn lại có thể được phân tích giống hệt cách phân tích các trò chơi cơ bản.

Khi một số người chơi có được thông tin mà người khác không có, họ có thể biến danh tiếng của mình thành lợi thế. Chính phủ nâng lãi suất để phát tín hiệu sẽ chống lại lạm phát là một ví dụ. Công ty độc quyền cũng có thể xây dựng hình ảnh sẵn sàng tham gia cuộc chiến về giá để ngăn các đối thủ mới.

Một số nhà kinh tế học vẫn hoài nghi về lý thuyết trò chơi. Nguyên nhân là bởi học thuyết này khá khó nắm bắt và đòi hỏi nhiều phép toán phức tạp. Tuy nhiên, đây cũng chính là ưu điểm bởi nó có thể phản ánh sự phức tạp của thế giới thực.
Theo Trí thức trẻ/The Economist
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn đầu tư chứng khoán - Ủy thác đầu tư

Share:

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

"Miễn phí" mà vẫn kiếm nhiều tiền

Google là một trong những công ty sinh lời nhất nước Mỹ. Họ đã kiếm được rất nhiều tiền mà không bắt người khác phải trả tiền. Miễn phí nhưng vẫn kiếm đủ để căn bản tạo nên một nền kinh tế với quy mô của một quốc gia khá lớn. Chuyện này xảy ra như thế nào và sẽ đi về đâu?


Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?