Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức đầu tư chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức đầu tư chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2017

Lợi ích và rủi ro từ các Quỹ đầu tư theo chỉ số

Các chuyên gia trong ngành cũng cảnh báo nguy cơ các chứng chỉ ETF có thể tiềm chứa những rủi ro mang tính hệ thống.


Chứng chỉ của các Quỹ đầu tư theo chỉ số (ETF) đang trở thành kênh đầu tư quan trọng trên thị trường chứng khoán, nhất là tại thị trường chứng khoán Mỹ, thậm chí còn được đánh giá là làm thay đổi bộ mặt của thị trường chứng khoán nước này.

Tại châu Âu, hình thức này ít phổ biến hơn. Chứng chỉ ETF được dự báo nhiều khả năng sẽ chiếm lĩnh thị trường chứng khoán thay cho cổ phiếu thông thường.

Tuy nhiên, các chuyên gia trong ngành cũng cảnh báo nguy cơ các chứng chỉ ETF có thể tiềm chứa những rủi ro mang tính hệ thống.

Apple có tổng giá trị cổ phiếu giao dịch đạt trên 3 tỷ USD mỗi ngày, song con số này vẫn khá khiêm tốn so với mức giao dịch đạt trên 14 tỷ USD mỗi ngày của chứng chỉ quỹ đầu tư theo chỉ số chứng khoán S&P500 (SPDR S&P 500).

Apple là doanh nghiệp lớn nhất thế giới về vốn trên thị trường và có cổ phiếu được giao dịch nhiều nhất trên thế giới.

Hiện nay, năm trong số bảy chứng khoán được giao dịch nhiều nhất trên thế giới là các chứng chỉ ETF.

ETF là một hình thức quỹ đầu tư theo chỉ số. Danh mục của ETF gồm một rổ chứng khoán có cơ cấu như cơ cấu của chỉ số mà nó mô phỏng.

Ông Jack Bogle, người sáng lập của quỹ quản lý tài sản Vanguard, cho hay từ một khởi đầu khiêm tốn, ETF hiện giữ một vai trò và ảnh hưởng vô cùng lớn trên thị trường chứng khoán Mỹ và hoạt động mua bán các chứng chỉ ETF hiện chiếm gần một nửa tổng số các giao dịch chứng khoán ở nước này.

Tổng giá trị tài sản do các quỹ ETF quản lý hiện cũng đã vượt mức trên 3.000 tỷ USD.

Với triển vọng tăng trưởng của ETF, mô hình tiết kiệm dài hạn không còn là sân chơi riêng của các quỹ tương hỗ truyền thống.

Theo hãng nghiên cứu Morningstar, trong 12 tháng qua, giới đầu tư đã rút khoảng 130,7 tỷ USD khỏi hệ thống quỹ tương hỗ của Mỹ, trong khi đổ vào các quỹ ETF khoảng 240 tỷ USD.

Riêng trong 2 tuần giữa cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ 8/11 vừa qua và ngày lễ Tạ ơn ở nước này, các quỹ ETF đã tiếp nhận thêm khoảng 50 tỷ USD, trong khi giới đầu tư thoái một lượng vốn tương đương từ các quỹ đầu tư chứng khoán thu nhập cố định.

Quỹ tương hỗ được xây dựng theo mô hình quỹ mở, theo đó nhà đầu tư có thể gửi hoặc rút tiền trực tiếp từ quỹ.

Giao dịch này chỉ được thực hiện một lần trong ngày với giá lúc đóng cửa. Ngược lại, với các ETF, nhà đầu tư có thể tự do mua hay bán các chứng chỉ quỹ trên sàn giao dịch mà không phải gửi hay rút tiền từ quỹ.

Điều này tạo ra hai ưu điểm cho ETF. Thứ nhất, ETF cho phép nhà đầu tư có thể linh hoạt trong việc quản lý tài sản.

Thứ hai, các quỹ ETF có chi phí hoạt động thấp hơn. Riêng đối với thị trường Mỹ, ETF còn mang lại lợi thế về thuế cho nhà đầu tư.

Ông Matt Hougan, Giám đốc điều hành công ty nghiên cứu Inside ETFs, dự báo rằng ETF sẽ là kênh đầu tư chứng khoán chính trong tương lai.

Các quỹ tương hỗ sẽ bị đào thải, ví như kiểu máy chữ được thay thế bằng máy tính. ETF cung cấp giải pháp công nghệ tốt hơn và vì vậy nó sẽ thay thế các quỹ tương hỗ trong vòng 20 năm tới.

Giới chuyên gia cho rằng các chứng chỉ ETF mang lại tính thanh khoản và minh bạch hơn cho người tiết kiệm và cho phép người dân với số vốn hạn chế có thể đầu tư với chi phí rất thấp.

Các quỹ ETF có triển vọng khá sáng sủa ở Mỹ, còn ở châu Âu, các quỹ này vẫn chưa thực sự phổ biến.

Theo công ty nghiên cứu ETFGI, các quỹ ETF ở châu Âu hiện quản lý khoảng 529 tỷ USD, chưa bang1/4 con số ở thị trường Mỹ.

Trước hết, quy định về thuế đối với hoạt động của các quỹ ETF ở châu Âu không thuận lợi như ở Mỹ.

Thêm nữa, ở châu Âu, quy định về thuế đối với quỹ tương hỗ khác với Mỹ và do đó ETF không được hưởng lợi thế nêu trên.

Về chi phí, thị trường tiết kiệm ở châu Âu vẫn bị chi phối bởi các ngân hàng lớn và các tổ chức này thường cung cấp các sản phẩm có mức phí hoa hồng cao.

ETF không tạo thu nhập từ phí, nên ở châu Âu, ETF không mang lại nhiều lợi ích cho các tổ chức tài chính tạo lập thị trường.
Ngoài ra, Mỹ là một thị trường thống nhất trong khi ở châu Âu, ETF vẫn phải giao dịch trên cơ sở nhiều đồng tiền khác nhau và chịu nhiều quy định về thuế khác nhau.

Xét tổng thể, bên cạnh những ưu điểm và lợi thế, người ta cũng lo ngại rằng triển vọng vượt trội hay nói cách khác là thống trị của ETF sẽ có thể tạo ra những rủi ro mang tính hệ thống mới hoặc có thể châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính.

Nguyên nhân chính là do chứng khoán mà các quỹ ETF nắm giữ thường không có tính thanh khoản cao như chứng chỉ của quỹ ETF.
Sự bất cân xứng này có thể buộc các quỹ phải bán tháo tài sản khi thị trường biến động phức tạp.

Sự phát triển của ETF cũng khiến cho các công ty nhỏ gặp không ít khó khăn trong việc huy động vốn, bởi dòng vốn đầu tư vào các ETF thường sẽ luân chuyển về các công ty lớn vốn chiếm tỷ trọng cao trong chỉ số chứng khoán./.


Theo Như Mai
TTXVN
Share:

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

Vì sao các hãng hàng không bán rồi thuê lại cùng một chiếc máy bay?

Nghiệp vụ bán và thuê lại từ lâu được các hãng hàng không thế giới tận dụng để mở rộng đội bay, sớm mang về lợi nhuận, đồng thời giảm được gánh nặng tài chính.

Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2017 của Tổng công ty Hàng không Việt Nam - Vietnam Airlines (Mã CK: HVN) kết thúc hôm qua (20/2) đã thông qua chủ trương bán và thuê lại (sale and leaseback) 1 máy bay Boeing 787-9 và 3 máy bay Airbus A350 mà hãng nhận trong năm 2017.

Đại diện hãng hàng không quốc gia cam kết với mỗi chiếc được bán rồi thuê lại, Vietnam Airlines sẽ thu về khoản chênh khoảng 1 triệu USD, sau khi đã tính đủ chi phí. Gánh nặng tài chính do phải vay nợ nước ngoài để mua sắm trước đó cũng được giảm bớt nhờ những thương vụ nói trên.

Tương tự Vietnam Airlines, hãng hàng không tư nhân Vietjet Air trong năm 2016 cũng có thêm trong đội hình 10 máy bay nhờ hoạt động bán và thuê lại. Tính riêng doanh thu từ việc này mang về cho hãng bay sắp niêm yết trên sàn chứng khoán hơn 11.700 tỷ đồng, chiếm 42,5% tổng doanh thu và tương đương với số tiền thu về từ vận chuyển hơn 14 triệu lượt khách.

Với chi phí mua máy bay được công bố trong báo cáo tài chính là 10.370 tỷ đồng, việc bán-thuê lại đã đem về hơn 1.330 tỷ đồng lợi nhuận cho hãng, tức khoảng 5,5 triệu USD cho mỗi đầu máy bay được chuyển nhượng.

Doanh thu từ nghiệp vụ bán và thuê lại máy bay của Vietjet Air trong năm 2016 xấp xỉ bằng doanh thu vẫn chuyển hơn 14 triệu hành khách.

"Sale and leaseback" là một nghiệp vụ phổ biến trong ngành hàng không và đặc biệt được các hãng hoạt động theo mô hình giá rẻ (LCC) tận dụng để mở rộng đội bay, đơn cử như Indigo (Ấn Độ), Virgin Australia hay Norwegian (Na Uy).

Bản chất của hoạt động bán và thuê lại là một hình thức thu xếp vốn thông qua giao dịch với các công ty cho thuê máy bay, qua đó giúp hãng hàng không có đội bay vận hành khai thác nhưng không dùng nguồn vốn tự có (bao gồm cả vốn vay). 

Ban đầu, các hãng hàng không sẽ ký hợp đồng mua máy bay với các nhà sản xuất (như Airbus hoặc Boeing) và trả trước một khoản tiền 1-5% giá trị hợp đồng. Sau đó sẽ thỏa thuận việc bán và thuê lại những máy bay này với các công ty cho thuê (leasing companies).
Tại thời điểm bàn giao với nhà sản xuất, hãng hàng không sẽ nhận máy bay và đơn vị cho thuê sẽ nhận giấy tờ sở hữu, đồng thời sử dụng dòng tiền từ những công ty cho thuê để thanh toán với nhà sản xuất. Theo một số chuyên gia trong ngành, việc các hãng hàng không đạt được mức lợi nhuận cao đột biến ngay khi thực hiện nghiệp vụ là nhờ vào giá chiết khấu, khiến giá họ mua được từ Airbus, Boeing... thấp hơn nhiều so với giao dịch tương tự giữa nhà sản xuất và bên cho thuê máy bay.

"Các đơn vị cho thuê thường sẽ không đặt những đơn hàng lớn do bản thân họ chịu rủi ro về khả năng cho thuê lại. Ngược lại, nếu bên mua là các hãng hàng không, có lượng khách bay ổn định thì việc ký các hợp đồng lô lớn, giá rẻ với nhà sản xuất sẽ dễ dàng hơn", một chuyên gia trong lĩnh vực hàng không lý giải. Cũng theo vị này, sau khi mua được giá rẻ, các hãng bay có thể bán lại cho bên cho thuê với giá cao hơn một chút, vừa được hưởng chênh lệch, vừa thoát được gánh nặng tài chính khổng lồ nếu tự bỏ vốn đầu tư. 

Ngược lại, bên cho thuê máy bay cũng có được tài sản với giá rẻ hơn mua từ Boeing, Airbus... trong khi lại có ngay khách hàng sẵn sàng thuê dài hạn. Các hợp đồng thuê này thường được kéo dài 6-12 năm và trả chi phí thuê cố định hằng tháng. Như trường hợp của Vietjet, hãng hàng không này phải trả gần 160 triệu USD cho 40 máy bay thuê khai thác năm 2016.
vi-sao-cac-hang-hang-khong-ban-roi-thue-lai-cung-mot-chiec-may-bay-1
Vietnam Airlines cũng bắt đầu áp dụng nghiệp vụ "sale and leaseback" nhằm đáp ứng nhu cầu vốn hoạt động.

Bên cạnh khoản doanh thu và lợi nhuận ghi nhận ngay lập tức, hoạt động này cũng đem lại những lợi ích khác. Một báo cáo của Công ty chứng khoán Rồng Việt cho biết, trong trường hợp thuê hoạt động, máy bay và các khoản nợ liên quan sẽ không xuất hiện trên bảng cân đối kế toán của hãng hàng không. Công ty vì vậy cũng không ghi nhận khấu hao cho các máy bay này nên có lợi nhuận cao hơn.

Ngoài ra, rủi ro giá thị trường của máy bay bị giảm nhanh hơn giá trị sổ sách cũng được chuyển cho bên cho thuê. Theo nhóm nghiên cứu của Rồng Việt, điều này là hết sức quan trọng vì trong ngành hàng không, máy bay có khả năng bị lỗi thời và giảm giá rất nhanh khi mà các đơn vị sản xuất như Airbus và Boeing thường xuyên cải tiến và đưa ra mẫu mới.

Tuy nhiên, nghiệp vụ này cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định. Nhóm phân tích của Rồng Việt nhận định, việc tài trợ đội bay bằng hình thức sale and leaseback thường sẽ dẫn đến chi phí thuê cao hơn so với các hình thức khác. Lý do là khoản phí này là cố định và nếu tỷ giá biến động bất lợi thì chi phí còn lớn hơn nữa.

Thực tế, cùng với việc mở rộng đội bay bằng phương thức bán và thuê lại, chi phí thuê máy bay của một hãng hàng không như Vietjet cũng tăng đều đặn qua các năm. Năm 2014, chi phí cho hoạt động này được hãng ghi nhận là 1.046 tỷ đồng, đã tăng lên mức 3.575 tỷ đồng vào năm 2016. Ngoài ra, một rủi ro khác là do hoạt động đi thuê nên máy bay sẽ phải chịu những giới hạn về mặt hoạt động, chẳng hạn như chỉ được bay và đậu tại những địa điểm nhất định.

Cũng bởi những rủi ro trên mà không phải hãng hàng không giá rẻ nào trên thế giới cũng triệt để áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô hoạt động. Southwest Airlines - hãng hàng không giá rẻ của Mỹ là một ví dụ khi mà họ có thể tiếp cận được những nguồn vốn ưu đãi hơn. Hay như Ryanair (Ireland) thì tự mua máy bay và tìm cách bán lại trước khi giá thị trường giảm xuống mức thấp...
 
>> Liên hệ Mua bán cổ phiếu - Tư vấn đầu tư - Ủy thác đầu tư
Vnexpress
Share:

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2016

Bài học đầu tư: Nhân đôi tài sản, cần bao lâu?

Theo quy tắc 72, khi đầu tư 1$ tiền nhàn rỗi vào cổ phiếu, bạn sẽ mất 10 năm để tăng gấp đôi tài sản, nhưng sẽ phải chờ đợi 72 năm nếu bạn gửi chúng vào một tài khoản tiết kiệm với lãi suất 10%.

www.blogchungkhoan.com

Tất cả mọi người đều biết, để sinh lợi thì cần dùng tiền đầu tư, nhưng làm như thế nào và mất bao lâu?

Cổ phiếu là một trong nhiều kênh đầu tư, mặc dù không được đảm bảo trong tương lai nhưng đã có rất nhiều thương vụ có khả năng sinh lời cao.

Giai đoạn từ năm 1928 – 2014, theo chỉ số S&P 500 (chỉ số cổ phiếu của 500 công ty có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất), lợi nhuận trung bình dài hạn là khoảng 10% mỗi năm.

Sau khủng hoảng tài chính một vài năm trước đây, tỷ phú Warren Buffett đánh giá các nhà đầu tư đang chờ đợi sự phục hồi của tỷ suất lợi nhuận 6-7%/năm.

Hãy nhớ rằng đây là mức trung, dài hạn! Thị trường có thể đi xuống trong một năm, và bạn phải đợi một vài năm để phục hồi trở lại. Đó là lý do tại sao bạn nên đầu tư số tiền nhàn rỗi trong một vài năm.

Khả năng đạt được con số lợi nhuận từ 1 con số lên đến 2 chữ số hàng năm là lý do tại sao mọi người đầu tư vào thị trường chứng khoán khi họ nghỉ hưu. Ngoài quỹ tiền sử dụng cần thiết, tại sao bạn không đầu tư số tiền mà bạn không có ý định sử dụng trong vòng 10, 20 hoặc 30 năm?


Gửi tiền tiết kiệm liệu có là cách đầu tư thông minh?


Theo Bankrate, lãi suất thị trường tiền tệ trung bình hiện nay tại Mỹ là 0,09%. Với mức lạm phát tăng lên 2% so với năm trước thì việc dùng khoản hưu trí để gửi tiết kiệm là một phương thức làm mất giá trị đồng tiền.

Rõ ràng là việc đầu tư sẽ tốt hơn việc chỉ để cho tiền của bạn nằm im trong tài khoản tiết kiệm. Nếu con số 7% không giúp bạn kích thích, thì triển vọng tăng gấp đôi số tiền của bạn có thể khiến bạn hưng phấn.

“Nguyên tắc 72” là một cách thức đơn giản để tính toán thời gian bạn phải bỏ ra để tăng gấp đôi số tiền đầu tư. Đây là một mẹo phân tích trong đó nếu lấy số 72 chia cho tỷ lệ lợi nhuận mỗi năm thì kết quả là một ước lượng gần đúng với số năm cần thiết để khoản đầu tư ban đầu tăng gấp đôi.

Ví dụ, dùng 1$ đầu tư tại nơi có lợi nhuận 10% thì bạn mất 7,2 năm để biến thành 2$ (72 chia cho 10)

Bây giờ, áp dụng công thức này với Warren Buffett. Nếu bạn đầu tư 10,000$ ở mức 7% phải mất khoảng 10 năm để biến chúng thành 20.000 $.  Trong khi đó, bạn sẽ có gì nếu bạn có 10,000$ trong một tài khoản tiết kiệm với lãi suất 1% 1 năm? Bạn phải mất 72 năm. Như vậy bạn sẽ giảm bớt 60 năm từ việc đầu tư cổ phiếu để có được số tiền là 20.000$.

Nguyên tắc 72 đơn giản là phép tính toán học nhưng lại là một quy tắc cực kỳ hữu ích của việc đầu tư trường kỳ. Hãy suy nghĩ về những gì bạn sử dụng tiền tiết kiệm của bạn và chắc chắn rằng bạn đang sử dụng chúng sao cho chúng phát huy được cái tiềm năng đầy đủ của chúng vốn có.

Quy tắc 72 chỉ đề cập đến vấn đề đầu tư, không đề cập về các mục tiêu đầu tư, khả năng rủi ro và hoàn cảnh tài chính của bất kỳ nhà đầu tư cụ thể nào và có thể không phù hợp với mọi nhà đầu tư. Đầu tư liên quan đến rủi ro bao gồm các tổn thất có thể có của số tiền vốn. 


>> 10 qui tắc bất thành văn (Rule of thumbs) cho tài chính cá nhân
Anh Khoa (Theo USA Today)
Share:

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

Tại sao bạn cần đa dạng hóa trong đầu tư?

Bạn muốn đầu tư nhưng ngại rủi ro, hãy tuân theo quy tắc đa dạng hóa rủi ro "không để trứng vào một giỏ" của quỹ mở để giải quyết điều này. 

Đa dạng hoá trong đầu tư là giải pháp mà nhà đầu tư phân bổ tiền vốn vào nhiều khoản đầu tư khác nhau. Khi một lĩnh vực đầu tư bị sụt giảm và lĩnh vực khác tăng trưởng thì việc lựa chọn đa dạng hóa trong đầu tư giúp nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro. Từ xa xưa người ta đã biết đến điều này thông qua câu ngạn ngữ cũ “Đừng để tất cả trứng vào một giỏ”. Tại sao phải phân bổ “trứng” vào nhiều “giỏ” và phân bổ như thế nào cho hợp lý, vào “giỏ” nào thì an toàn và có lợi nhuận cao, bài viết sẽ giải quyết những câu hỏi này.

Những lý do phải đa dạng hóa

Nếu trứng của bạn để trong một giỏ và giỏ rơi xuống đất, bạn sẽ chỉ còn trứng vỡ. Đa dạng hóa gần giống như là một dạng bảo hiểm, phòng khi cả giỏ bị rơi. Chẳng hạn nếu bạn chỉ đầu tư vào cổ phiếu của một công ty, nếu công ty đó hoạt động không hiệu quả và cổ phiếu bị hủy niêm yết thì bạn sẽ bị thua lỗ hết.

Đa dạng hóa giúp bạn giảm thiểu rủi ro trong đầu tư. Khi bạn đầu tư nhiều khoản như là quỹ mở, cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt, bất động sản,… nếu một khoản đầu tư có kết quả kém mà các khoản đầu tư khác có kết quả tốt trong cùng khoảng thời gian thì thiệt hại tổng thể đã được giảm và bạn vẫn có lợi nhuận.

Đa dạng hóa đầu tư không chỉ giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra mà đồng thời còn tăng cơ hội có thêm lợi nhuận ở các nguồn đầu tư khác.


Đa dạng hóa đầu tư để có lợi nhuận từ nhiều kênh đầu tư khác nhau

Làm thế nào để đa dạng hóa hiệu quả? 
Đa dạng hóa đầu tư có nhiều cách và việc cần làm trước khi quyết định phân bổ các khoản tiền vốn, bạn cần tìm hiểu loại hình phù hợp với khả năng tài chính và cơ hội có lợi nhuận cao.
  • Đa dạng hóa với một loại tài sản: Ví dụ cùng là trái phiếu nhưng bạn có thể mua nhiều loại trái phiếu bao gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu kho bạc với các kỳ hạn khác nhau.
  • Đa dạng hóa với nhiều loại tài sản: Bạn có thể đầu tư vào nhiều loại tài sản bao gồm quỹ mở, cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt, hàng hóa...


 
Chọn phương thức phù hợp với nguồn vốn sẵn có để đa dạng hóa đầu tư 
  • Đa dạng hóa ngành nghề: Cùng là đầu tư cổ phiếu hay trái phiếu nhưng nếu bạn đầu tư vào các ngành nghề khác nhau cũng giúp hạn chế rủi ro.
  • Đa dạng hóa theo vốn hóa thị trường: Phân bổ danh mục đầu tư vào các cổ phiếu của công ty có quy mô khác nhau sẽ giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư.
  • Quỹ mở: Cách dễ nhất để đa dạng hóa
Nhiều người không có đủ mạnh về tài chính để đầu tư vào nhiều cổ phiếu, trái phiếu và các tài sản khác cùng một lúc. Hơn nữa, họ cũng không có nhiều thời gian và kiến thức tài chính chuyên sâu để phân tích và theo dõi thị trường thường xuyên. Đối với những nhà đầu tư này, đầu tư với các quỹ mở là lựa chọn tối ưu nhất. Đầu tư vào quỹ mở là hình thức đầu tư chứng khoán gián tiếp. Thay vì bạn tự đầu tư chứng khoán trực tiếp thì bạn bỏ tiền vào quỹ mở. Quỹ mở có các chuyên gia đầu tư kinh nghiệm sẽ đầu tư tiền của quỹ vào cổ phiếu, trái phiếu. Nếu đầu tư vào các công ty thì bạn sẽ nhận được cổ phiếu, còn đầu tư vào quỹ mở thì sẽ nhận được chứng chỉ quỹ. Nếu quỹ đầu tư thành công thì giá trị tài sản của quỹ tăng lên tức là giá trị chứng chỉ quỹ tăng lên và đem lại lợi nhuận cho bạn.

Một quỹ mở có thể nắm giữ các cổ phiếu của hàng trăm công ty và nhiều loại trái phiếu. Ví dụ nếu bạn đầu tư chỉ 5 triệu vào quỹ mở của công ty VCBF bạn vẫn có thể đa dạng hóa tài sản của bạn vào nhiều cổ phiếu của nhiều ngành nghề khác nhau.  VCBF là liên doanh giữa Vietcombank và tập đoàn đầu tư tài chính danh tiếng toàn cầu Franklin Templeton Investments, một tập đoàn đã có trên 65 năm kinh nghiệm trong việc quản lý quỹ. Với đội ngũ chuyên gia đầu tư có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm và am hiểu thị trường chứng khoán, các quỹ mở của VCBF luôn đem lại cơ hội lợi nhuận cao cho bạn trong dài hạn.

>> Liên hệ Mua bán cổ phiếu - Tư vấn đầu tư - Ủy thác đầu tư
NCĐT
Share:

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

Lịch sử Libor (Kỳ 2): Từ con số vô danh đến bê bối chấn động thị trường tài chính quốc tế

Zombanakis hiểu rằng, không có một công ty nào có thể cho một quốc gia đang phát triển đang không có đủ dự trữ ngoại hối để trả nợ vay 80 triệu USD. Do đó, ông đã đưa ra một thỏa thuận chia sẻ rủi ro đến cho một loạt các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Dần dần, loại lãi suất đó đã trở thành ngôi sao trên thị trường ngân hàng mà ông không ngờ tới.

Libor là loại lãi suất quan trọng chi phối nhiều giao dịch trong hệ thống tiền tệ tài chính quốc tế. Vậy Libor ra đời như thế nào và cơ chế hoạt động của nó ra sao?

Vào đầu những năm 70, mặc dù thị trường eurodollar (tức những đồng USD được giao dịch ở bên ngoài nước Mỹ) lúc đó đã được đánh giá là khá phát triển với sự tham gia của rất nhiều ngân hàng bên ngoài Mỹ, Minos Zombanakis vẫn phát hiện ra một lỗ hổng: Thị trường thiếu vắng một khối lượng nợ lớn dành cho những người đang tìm nguồn tài sản bổ sung cho thị trường trái phiếu. Zombanakis thuyết phục cấp trên của mình ở New York cung cấp cho ông 5 triệu USD để xây dựng một chi nhánh ở London. Ông là thành viên của một nhóm nhỏ bao gồm các nhà tài chính quốc tế - những người mở ra cánh cửa cho vay xuyên biên giới lần đầu tiên cho phố Wall kể từ sau cuộc khủng hoảng 1929.

Năm 1956, Zombanakis gặp Farmanfarmaian (về sau là Thống đốc NHTW Iran) lần đầu tiên và kể từ đó họ kết giao tình bạn. Cũng chính vì lẽ đó mà khi chính phủ Iran cần tiền, ông Farmanfarmaian đã đến thẳng văn phòng của Manny Hanny tại phố Upper Brook, Mayfair, London. Zombanakis hiểu rằng, không có một công ty nào có thể cho một quốc gia đang phát triển đang không có đủ dự trữ ngoại hối để trả nợ vay 80 triệu USD. Do đó, ông đã đưa ra một thỏa thuận chia sẻ rủi ro đến cho một loạt các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Với mức lãi suất ở Anh là 8% và lạm phát đang gia tăng, các ngân hàng lúc đó rất thận trọng trong việc cam kết cho vay ở mức lãi suất cố định trong một thời gian dài. (Chi phí đi vay có thể tăng vượt quá khả năng chi trả)

Cuối cùng, Zombanakis và nhóm của ông đã đưa ra một giải pháp: cho vay với một mức lãi suất được chỉnh sửa mỗi tháng một lần và nguồn cung nợ là một chuỗi các khoản ký quỹ. Thực ra công thức tính lãi suất này khá đơn giản. Trước khi nợ đáo hạn, các ngân hàng thành viên sẽ đưa ra báo cáo chi phí cấp vốn. Mức lãi suất trung bình sau khi được tổng hợp từ tất cả các ngân hàng thành viên, cộng với một khoản lợi nhuận sẽ là giá của khoản nợ cho thời hạn tiếp theo. Zombanakis gọi đó là lãi suất liên ngân hàng London, và từ đó cái tên Libor ra đời.

Bảng lãi suất tổng hợp dùng để tính ra lãi suất Libor từ những ngày đầu tiên và ngày nay cũng đang được áp dụng theo công thức này.
Bảng lãi suất tổng hợp dùng để tính ra lãi suất Libor từ những ngày đầu tiên và ngày nay cũng đang được áp dụng theo công thức này.

Đến năm 1982, thị trường cho vay hợp vốn đã tăng lên đến 46 tỷ USD, số lượng tổ chức tài chính tham gia vào thị trường này tăng vọt. Hầu như tất cả các khoản nợ đều sử dụng Libor để tính lãi suất. Chẳng bao lâu, Libor đã lan ra bên ngoài thị trường nợ, với vai trò như một thước đo chi phí đi vay đơn giản, công bằng và trông có vẻ độc lập. Năm 1970, chuyên gia tài chính Evan Galbraith – người sau đó trở thành đại sứ Mỹ tại Pháp dưới thời Tổng thống Ronald Reagan đã đưa ra gợi ý gắn một loại trái phiếu đầu tiên với Libor hay còn được biết với tên gọi trái phiếu lãi suất thả nổi.


Một thời gian sau khi mà số lượng tổ chức tham gia vào thị trường lãi suất Libor tăng vọt, công thức tính Libor loại bỏ 4 lãi suất cao nhất và thấp nhất.
Một thời gian sau khi mà số lượng tổ chức tham gia vào thị trường lãi suất Libor tăng vọt, công thức tính Libor loại bỏ 4 lãi suất cao nhất và thấp nhất.

Khi thị trường tài chính London bắt đầu cất cánh, mọi thứ trở nên phức tạp hơn. Trong vòng vài năm, Libor từ một công cụ định giá chi phí cho vay nợ và trái phiếu đã trở thành một chỉ số chuẩn cho các thỏa thuận phái sinh giá trị hàng trăm tỷ USD. Đứng đầu trong số các thỏa thuận phái sinh là hợp đồng hoán đổi lãi suất – cho phép các công ty giảm thiểu rủi ro biến động lãi suất. Hợp đồng này được phát minh ra trong thời kỳ lãi suất toàn cầu biến động cực mạnh trong những năm 70 và 80.

Mô hình của hợp đồng này khá đơn giản. Hai bên đồng ý hoán đổi chi trả lãi suất với một mức cố định trong một khoảng thời gian cố định, bởi (ở thể đơn giản nhất) một bên trả lãi suất cố định với hy vọng là lãi suất sẽ tăng, trong khi bên còn lại trả lãi suất thả nổi với hy vọng lãi suất sẽ giảm. Phần biến động của hợp đồng này được cố định cho Libor. Bởi loại hợp đồng này yêu cầu lượng tài sản ký quỹ thấp, do đó không chỉ có các công ty mà giới giao dịch cũng cần dùng như một hình thức đầu cơ lãi suất rẻ hơn so với trái phiếu chính phủ.

Dần dần Libor ngày càng trở nên quan trọng và ở thời điểm nó giống như ngôi sao của thị trường tài chính toàn cầu, áp lực đặt lên việc thiết lập lãi suất ngày một tăng cao. Tháng 10/1984, Hiệp hội ngân hàng Anh (BBA) – một tổ chức vận động được thành lập năm 1919 với nhiệm vụ bảo vệ cho lãi suất của Anh đại diện tổng hợp lãi suất Libor từ những ngày đầu đã tham vấn Bank of England và một vài ngân hàng khác về cách tính toán Libor.

Năm 1986, Hiệp hội ngân hàng Anh thêm tiền tố BBA vào trước tên lãi suất Libor trở thành BBA Libor và được tính bằng đồng bảng, USD và đồng yên. BBA thành lập một hiệp hội các ngân hàng bỏ phiếu mỗi ngày và mở rộng phạm vi chấp nhận lãi suất cho cả 4 ngân hàng đưa ra mức lãi suất cao nhất và thấp nhất. Như vậy, lãi suất này lại quay trở về với công thức ban đầu mà Zombanakis đưa ra. Sang đến thế kỷ 21, lãi suất Libor đã được mở rộng cho 10 loại tiền tệ và quy trình tính lãi suất đã được điện tử hoá, ngoài ra không có gì thay đổi.

Vụ bê bối thao túng chấn động 4 năm trước khiến nhiều người giật mình. Tuy nhiên, thực tế, thao túng Libor dễ hơn nhiều so với mọi người tưởng tượng. Lý do khiến giới chức trên toàn thế giới không nhận ra điều này đó là vì ngay cả những ngân hàng cho vay nộp bảng lãi suất quá thấp hoặc quá cao có mặt trong danh sách tính toán lãi suất cuối cùng cũng vẫn có thể ảnh hưởng đến kết quả Libor bởi họ đã kéo một lãi suất trước đó đã bị loại bỏ trở lại bảng.

Với rất nhiều vị thế khác nhau, giới giao dịch chỉ cần một vài 0,01% là có thể tạo ra một khoản lợi nhuận khổng lồ, và sức ảnh hưởng của họ thì rất nhỏ, đủ để tránh khỏi tầm ngắm của giới chức. Trong một danh mục hoán đổi lãi suất trị giá 100 tỷ USD, một ngân hàng có thể giành được hàng triệu USD từ sự thay đổi của 0,01%.

Cách tính toán Libor không chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận mà các ngân hàng và giới đầu tư thạo đời kiếm được nhờ các giao dịch phái sinh, nó còn phản ánh mức lãi suất người mua nhà trả cho khoản thế chấp của họ mỗi tháng. Và những người nghèo có hồ sơ tín dụng xấu cũng bị ảnh hưởng một cách không công bằng. Cụ thể như ở Ohio, 90% khoản cho vay thế chấp dưới chuẩn năm 2008 gắn với Libor.

Trải qua nửa thế kỷ, Libor vẫn là một chỉ số quan trọng và cố định trong hệ thống tài chính toàn cầu. Sau vụ bê bối chấn động năm 2012, giới chức đã đề cập đến việc kết thúc cuộc đời của loại chỉ số cơ bản này và thay thế nó bằng một chỉ số khác phản ánh tình hình giao dịch thực tế nhiều hơn là dựa trên những gì các ngân hàng nói. Nhưng điều đó là không thể xảy ra, bởi con số này đã có mặt trong rất nhiều hợp đồng tồn tại đến hàng chục năm.

Năm 2014, BBA bị cắt bỏ vai trò quản lý Libor và bị thay thế bởi Intercontinental Exchange – cơ quan quản lý giao dịch phái sinh của nước Mỹ. Ngày nay Libor được dựa trên một phần là các giao dịch thực tế, nhưng vẫn bao gồm sự tham gia của các ngân hàng.

Anh Sa
Theo Trí thức trẻ/Bloomberg
Share:

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

Chuyện hai tù nhân và những ứng dụng lý thú của kinh tế học trong cuộc sống

Không nhiều học thuyết có tính ứng dụng trong thực tiễn cao như điểm cân bằng Nash – học thuyết kinh tế được đặt tên theo nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nó và cũng nhờ đó mà đạt giải Nobel kinh tế năm 1994.


Các nhà kinh tế học có thể giải thích những điều diễn ra trong quá khứ và đôi lúc còn có thể dự đoán chính xác về tương lai. Tuy nhiên, không nhiều học thuyết có tính ứng dụng trong thực tiễn cao như điểm cân bằng Nash – học thuyết kinh tế được đặt tên theo nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nó và cũng nhờ đó mà đạt giải Nobel kinh tế năm 1994.

Khái niệm đơn giản này còn giúp các nhà kinh tế học tìm ra nguyên lý xác định giá cả của các công ty, giải thích các Chính phủ nên thiết kế những cuộc đấu giá như thế nào để được hưởng lợi nhiều nhất và giải thích cả nguyên nhân tại sao đôi lúc trong 1 nhóm sẽ đưa ra những quyết định tự chuốc lấy thất bại.

Vậy thì điểm cân bằng Nash là gì và tại sao đây là một trong những khái niệm kinh tế có ý nghĩa quan trọng và thay đổi cả thế giới?


Sơ đồ thể hiện thế tiến thoái lưỡng nan của người tù nhân trên đây là một trong những hình minh họa nổi tiếng nhất về điểm cân bằng Nash. Giả sử có hai người tù đang ở trong 2 buồng giam riêng biệt và cùng nhận được những lời gợi ý giống nhau từ điều tra viên. Nếu họ cùng thú tội đã giết người, mỗi người sẽ bị phạt 10 năm tù giam. Nếu một trong hai người im lặng trong khi người khác thú tội, kẻ chỉ điểm sẽ được thả trong khi người kia lãnh án tù chung thân. Nếu cả hai không nói gì, cả hai đều lãnh án nhưng sẽ chỉ ở trong xà lim 1 năm mà thôi.

Rõ ràng lựa chọn tốt nhất là cả hai người im lặng. Nhưng một nhà kinh tế học với khái niệm điểm cân bằng Nash ở trong đầu sẽ dự đoán ngược lại: trường hợp hay xảy ra nhất là cả hai đều thú tội.

Ở điểm cân bằng Nash, mỗi thành viên của nhóm đều đưa ra quyết định có lợi cho bản thân mình nhất và dựa trên suy đoán về những điều người khác sẽ làm. Trong trường hợp 2 tù nhân, giữ im lặng không bao giờ là một lựa chọn tốt dù cho người còn lại chọn gì. Tù nhân A sẽ suy nghĩ rằng nếu tù nhân B nói ra thì mình cũng phải nói vì như vậy sẽ tránh được án chung thân; còn nếu tù nhân B im lặng thì mình sẽ được trả tự do. Như vậy nói ra mới là cách tốt nhất.

Áp dụng trong thế giới thực, các nhà kinh tế học sử dụng điểm cân bằng Nash để dự đoán các công ty sẽ phản ứng như thế nào trước mức giá của đối thủ cạnh tranh. Hai công ty lớn cùng đặt ra chiến lược cạnh tranh về giá có thể sẽ dồn nén khách hàng nhiều hơn so với bình thường nếu mỗi công ty phải đối mặt với hàng nghìn đối thủ cạnh tranh.

Điểm cân bằng Nash cũng giúp các nhà kinh tế học hiểu rằng tại sao một quyết định có ích cho từng cá nhân lại có thể trở nên tồi tệ cho cả nhóm. Mọi người đều sẽ giàu có hơn nếu như có thể tự kiềm chế ở mức hợp lý, có chừng mực. Tuy nhiên vì suy nghĩ đến những điều người khác sẽ làm, họ chọn cách hoang phí. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đánh bắt cạn kiệt nguồn thủy sản hay thải quá nhiều khí thải vào không khí.

Ngày nay, khái niệm điểm cân bằng Nash đóng vai trò quan trọng đối với kinh tế học vi mô hiện đại hay kinh tế học hành vi vì nó trao cho các nhà kinh tế học khả năng chọn ra người thắng cuộc và người thua cuộc.

Dẫu vậy, giống như Minsky đã nói: khi thời gian yên bình càng kéo dài, lời cảnh báo của ông ngày càng bị đẩy sâu hơn vào dĩ vãng.

Theo Trí thức trẻ/Economist
>> Doanh nhân nên học gì từ giới tội phạm?

Share:

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2016

6 sai lầm dẫn đến “Cháy tài khoản” của nhà đầu tư chứng khoán

Nhà đầu tư/ đầu cơ khi bỏ tiền vào thị trường đã chấp nhận một rủ ro mang tên “ mất tiền”, quan trọng là mất ít hay mất nhiều.

http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html
Tuyến bài viết Những kinh nghiệm cơ bản khi đầu tư chứng khoán đăng dịp tết nguyên đán này của chúng tôi là món quà dành cho những nhà đầu tư số 0 đã, đang và sẽ ở trong thị trường chứng khoán đầy phức tạp.

Chúng tôi mong, sau dịp nghỉ tết sum vầy bên gia đình, người thân, nhà đầu tư có thêm kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho mình để có được một năm đầu tư nhiều may mắn.


Có vô vàn lý do khiến cho tài khoản của bạn “cháy cho đến tình trạng Margin Call", điều quan trọng là hạn chế các sai lầm đến mức thấp nhất, tồn tại được ở trên thị trường là một điều vô cùng khó khăn gian khổ chứ chưa nói gì đến việc chiến thắng và tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường.

Sai lầm thứ nhất: Tự tin về việc dự báo được thị trường

TTCK là một nơi đầy biến động và bất ngờ, và việc dự báo về thị trường gần như là không thể. Nếu nghe theo các dự báo của các nhà phân tích, chuyên gia để quyết định đầu tư, có lẽ bạn sẽ gặp thua lỗ ngay từ đầu.

Đơn cử , đầu năm 2015, nhiều CTCK, các nhà phân tích dự báo VNindex có thể đạt 665, thậm chí 720 điểm, nhưng đóng cửa phiên cuối năm 2015, Vnindex dừng chân ở 579,03 điểm. Như vậy, mọi dự báo chỉ mang tính chất…. tham khảo. Bên cạnh đó, mỗi nhà đầu tư/ đầu cơ đều có những quan điểm và cách nhìn thị trường khác nhau, phù hợp với chiến lược đầu tư riêng của từng cá nhân. Vậy nên, hãy đi theo bước chân thị trường chứ không nên dự báo thị trường.

Sai lầm thứ hai: Quá tin vào Phân Tích Cơ Bản

Nếu bạn không phải tên là Warren Buffett thì đừng quá tin và áp dụng theo cách của ông ấy. Bởi vì ngoài các phương pháp đánh giá cổ phiếu, Warren Buffett có những tố chất riêng được hình thành theo thời gian tạo nên phong cách riêng mà cả thế giới chỉ có duy nhất một Warren Buffett.

Không phải hầu hết mọi nhà đầu tư đều là các chuyên gia tài chính có thể đọc và hiểu những báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hơn thế nữa, những con số này phản ánh thời điểm của doanh nghiệp đó trong quá khứ, nó chỉ nên dùng để đánh giá và tham khảo trước những kì vọng và biến động của doanh nghiệp trong tương lai.

Sai lầm thứ ba: Quá tin vào Phân Tích Kỹ Thuật

Quá tự tin vào các mô hình kỹ thuật, các chỉ báo kỹ thuật sẽ dẫn đến khả năng thua lỗ khi vào lệnh. Các chỉ báo kỹ thuật luôn đi theo sau thị trường và dùng như những công cụ xác nhận xu hướng/ xu thế của thị trường. Trên thị trường luôn có những phiên Bull-trap (bẫy tăng giá) và Fake-Out (Bứt phá giả) khiến nhà đầu tư chỉ nhìn theo đồ thị kỹ thuật để vào lệnh sẽ bị mắc kẹt ở vùng giá cao.
Sai lầm thứ tư: Dùng Margin quá nhiều

Hiện nay một số CTCK cho một số khách VIP dùng đòn bẩy với tỷ lệ 3:7, thậm chí 2:8 dẫn đến tình trạng Margin Call nhanh hơn mỗi khi thị trường vào xu hướng giảm. Margin giống như chất ma túy gây nghiện, trong một thị trường tăng giá, nếu nhà đầu tư đặt lệnh mua “tất tay” vào một cổ phiếu, trạng thái tài khoản “Full Margin” làm cho nhà đầu tư có lời nhanh chóng, nhân hai hoặc thậm chí nhân ba tài khoản trong thời gian ngắn. Nhưng ngược lại, nếu như thị trường giá giảm và cổ phiếu đó giảm sàn 2 phiên liên tiếp, thì tài khoản của nhà đầu tư này có thể bị Margin Call (lệnh gọi ký quỹ, nhà đầu tư nộp thêm tiền vào tài khoản để duy trì trạng thái an toàn) và nếu dùng với tỷ lệ đòn bẩy cao như 2:8 hay 3:7, sẽ bị “cháy tài khoản” chỉ trong 2 phiên giảm sàn.

Sai lầm thứ năm : Không có kế hoạch mua bán rõ ràng

Không có kế hoạch mua bán rõ ràng không những tốn nhiều phí giao dịch, mà còn đối mặt với rủi ro mất nhiều tiền hơn khi thị trường bước vào xu hướng ngược lại. Điều này là do nhà đầu tư không có nhận định đầu tư rõ ràng, không có phương pháp đầu tư rõ ràng, thiếu tự tin và chính kiến trong mỗi quyết định, dẫn đến những quyết định sai lầm trong mỗi lệnh mua/bán. Nhiều trường hợp mua bán sai thời điểm và chọn nhầm cổ phiếu thường xảy ra đối với nhà đầu tư mới tham gia thị trường, điều này ảnh hưởng khá lớn đến tâm lý đầu tư sau này.
Sai lầm thứ sáu : Không tuân thủ kỷ luật khi giao dịch

Không tuân thủ kỷ luật khi giao dịch là sai lầm phổ biến nhất của nhà đầu tư, điều này dẫn đến những kết quả thua lỗ, thậm chí cháy tài khoản. Những kỷ luật cơ bản về cắt lỗ luôn là đơn giản nhất, nhưng để thực hiện được nó thì rất khó, một nhà đầu tư luôn tâm niệm trong đầu “ nếu lệnh mua này lỗ 10% thì sẽ cắt lỗ” nhưng thực tế, nỗi sợ hãi mất tiền đã bao trùm và hi vọng rằng thị trường hồi lại sẽ bán đã ngăn chặn kỷ luật mà nhà đầu tư đã đặt ra, và để cho tài khoản cứ thế giảm dần. Một trường hợp khác cũng thường xảy ra, đó là khi thị trường giảm, tâm lý đứng ngoài thị trường lâu ngày khiến cho nhà đầu tư khó chịu, lo sợ sẽ lỡ mất cơ hội để rồi vội vàng đặt lệnh mua trong thị trường giá giảm với hi vọng bắt đáy, điều này không những làm cho tâm lý bất ổn định hơn mà còn dễ bị “cháy tài khoản” nhanh hơn.

Những sai lầm trên là những sai lầm phổ biến mà nhà đầu tư mới tham gia thị trường đều ít nhất một lần mắc phải, đây là những bài học đầu tiên và cũng là những sai lầm nên tránh trước khi quyết định “vào lệnh” để mua/ bán cổ phiếu.
Share:

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

5 sai lầm "chết người" mà nhà đầu tư có thể gặp phải

Chúng bao gồm: Tham lam, Sợ hãi, Lười biếng, Giả định và Tin tưởng mù quáng.

http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html
Theo thông lệ hàng năm, cuối tháng 12 năm ngoái, Hiệp hội Chứng khoán Bắc Mỹ (NASAA) đưa ra danh sách được báo cáo hàng năm mang tên “10 hiểm họa đầu tư”.

NASAA đã chỉ ra những hiểm họa không thể phủ nhận đối với các nhà đầu tư đó là các sản phẩm đầu tư chưa được đăng ký và mô hình đầu tư Ponzi (hình thức vay tiền của người này để trả nợ người khác). Bên cạnh đó, nhà đầu tư nên cẩn trọng đối với sản phẩm dầu mỏ, khí đốt và bất động sản.

Tuy nhiên, sẽ không khỏi ngạc nhiên khi nói rằng kẻ thù của những nhà đầu tư lại là chính họ. Trong khi những sai sót khiến hoạt động đầu tư bị ảnh hưởng theo nhiều cách khác nhau, nếu nhà đầu tư không tỉnh táo để nhận ra những nguy hiểm trong từng hành vi của mình, thất bại là điều dễ hiểu.

Khác với những mối đe dọa chung chung và mang tầm vĩ mô, Chuck Jaffe – cây bút kỳ cựu của tờ Market Watch vạch ra 5 đe dọa lớn hơn mà các nhà đầu tư cần có chiến lược phòng vệ cẩn trọng.
Chúng bao gồm: Tham lam, Sợ hãi, Lười biếng, Giả định và Tin tưởng mù quáng.

1. Tham lam

Hầu hết mọi người không cho rằng muốn có lợi nhuận cao là “tham lam”, nhưng luôn tồn tại một ranh giới mong manh giữa cố gắng để đạt được mức lợi suất cao và mù quáng vượt quá giới hạn và cho rằng mình có thể chiếm lĩnh thị trường, làm giàu nhanh chóng giống như trúng số độc đắc.

Ai tham gia vào thị trường tài chính chắc hẳn đều biết điến siêu lừa đảo Bernie Madoff, người được cho là nếu Charles Ponzi (ông tổ của mô hình Ponzi) sống dậy cũng phải khâm phục. Đặc điểm chung của những chiêu trò này là lợi tức hứa hẹn cao, tiền trả cho nhà đầu tư trước lấy từ tiền đầu tư của người đến sau, và người sau cùng là chịu tổn thất nhiều nhất nếu mô hình sụp đổ.

Gian lận trong lĩnh vực dầu mỏ/khí đốt hấp dẫn lòng tham bởi mức lợi nhuận khủng. Đối với kỳ phiếu, đơn giản là lợi nhuận lớn gấp nhiều lần thu nhập truyền thống cố định trên thị trường.
Nhiều hơn là tốt, nhưng không phải bằng mọi giá.

2. Sợ hãi

Ngược lại của tham lam là sự sợ hãi. Đó là cảm xúc thường thấy khi đầu tư vào tài sản rủi ro cao và những nhà đầu tư quá sợ hãi thường chỉ tìm đến những sản phẩm chắc chắn như dòng niên kim cố định (equity-indexed annuities) và một số công cụ chuyển đổi nhằm mục đích hạn chế nguy cơ thua lỗ. Tuy nhiên người mua có thể chưa hiểu đầy đủ khả năng bảo vệ của những loại hình này.

Giống như “tham lam”, “Sợ hãi” cũng tồn tại một danh giới phân biệt giữa nỗi lo sợ bình thường và hoảng sợ. Có thể phân biệt giữa một sản phẩm đầu tư được bảo vệ hay một chiến lược được quản trị rủi ro thua lỗ và một sản phẩm được định giá cao – chủ yếu làm giàu cho người tư vấn.

3.  Lười biếng

Nhà đầu tư có thể tự cứu mình khỏi rắc rối nếu tuân thủ quy trình rà soát đặc biệt (Due Diligence); tức đảm bảo tính khách quan, công bố rộng rãi về các vấn đề pháp lý và ở mức sâu hơn là những vấn đề có thể gây tác động tiêu cực đến nhà đầu tư mà được báo chí và cơ quan chức năng ghi nhận.

Nhìn vào hồ sơ làm việc của những nhà tư vấn, nhà môi giới, nhà kinh doanh cổ phiếu sẽ thấy ai làm việc chui hoặc ai có tiền sử mâu thuẫn với khách hàng. Chỉ bằng một cuộc gọi trực tiếp cho một quan chức ủy ban chứng khoán nhà nước sẽ giúp nhà đầu tư tránh khỏi sản phẩm đầu tư vô danh.

Cũng như vậy, nhiều nhà đầu tư mua vào quỹ tương hỗ xấu, các sản phẩm bảo hiểm phức tạp và đơn giản hơn là không làm khảo sát về những so sánh cơ bản, phân tích độc lập và những sản phẩm thay thế có chi phí thấp hơn.

Tốt hơn nên là một người tiêu dùng thông mình và kiểm tra kỹ trước khi hành động.

4. Giả định

Nguy hiểm này đi kèm với Lười biếng và thực tế là chúng lẫn lộn với nhau.

Khi gian lận bị phát hiện và lật tẩy bởi giới chức, nhìn chung cả gia đình, cộng đồng và các mối quan hệ liên quan khác của bạn sẽ bị ảnh hưởng. Nguyên nhân khiến cho hành vi lừa đảo lây lan là do khách hàng thường bị hấp dẫn bởi giả thuyết cho rằng “nếu những người thân của họ có thể làm được, thì họ cũng làm được.”

Giả định là nguồn gốc cơ bản của nhiều lỗi lầm. Đừng bao giờ giả định chuyện gì trừ khi sẵn sàng trả giá cho mọi tổn thất sau này.

5. Niềm tin mù quáng

Tất nhiên, bạn có thể tự đưa ra quyết định đối với tiền của mình, nhưng thường thì bạn không làm điều đó. Bạn muốn được giúp đỡ và cảm thấy an tâm hơn khi nhận được lời khuyên từ nhà tư vấn, đặc biệt là khi bước chân vào thế giới đầu tư.

Bạn không tin rằng các nhà tư vấn sẽ gài hiểm họa trong một bản báo cáo đẹp mắt, do đó không đi tìm những "con quỷ" ẩn nấp trong những bản thông tin chi tiết đó.

Đó là cách mà các nhà đầu tư lao vào bất động sản – một trong những danh mục được NASAA cảnh báo, chấp nhận tín thác đầu tư bất động sản không có khả năng giao dịch (non-trading REIT) mà không nghi ngờ về tính thanh khoản và tính phù hợp.
Theo Trí thức trẻ/Market Watch

Share:

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Cách đầu tư chứng khoán cho người mới bắt đầu

Đầu tư chứng khoán là một trong những cách tốt nhất để làm giàu và sớm đạt được các mục tiêu tài chính dài hạn. Tuy nhiên, nếu không có sự trang bị kiến thức trước khi đầu tư thì rất người chơi rất dễ mắc phải những sai lầm dẫn đến chán nản và suy nghĩ muốn bỏ cuộc.

Xác định năng lực tài chính 

Điều đầu tiên người chơi chứng khoán cần làm là xác định xem họ bao nhiêu tiền để đầu tư. Hãy tự xem mình có khoản nợ tiêu dùng hay có bất kì quỹ khẩn cấp nào để trang trải và hỗ trợ trong trường hợp mất việc làm hay không? Tùy thuộc vào câu trả lời, người chơi chứng khoán sẽ có thể xác định được họ nên đầu tư bao nhiêu. Không quá bận tâm về việc đầu tư nhiều hay ít chính là chìa khóa thành công khi bắt đầu sự nghiệp "chứng cổ".

Khi bắt đầu chơi chứng khoán, bạn càng dành thời gian cho nó sớm bao nhiêu thì bạn sẽ càng thu được nhiều lợi nhuận nhiều bấy nhiêu. Với sự đầu tư khôn ngoan, số vốn hạn chế có thể gấp bội trong một thời gian dài. Vì vậy, đừng để một khoản tiền nhỏ khi mới đầu tư khiến bạn e ngại và dừng bước.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VgArA32fdFr

Cách đầu tư chứng khoán sao cho hiệu quả là mối bận tâm hàng đầu của các nhà đầu tư mới vào nghề. Ảnh minh họa


Xác định mục tiêu và cách đầu tư chứng khoán chiến lược 

Có thể nói vấn đề này khá mơ hồ và trừu tượng. Cuộc sống của mỗi người luôn thay đổi theo thời gian và mục tiêu của họ cũng có thể thay đổi trong thực tế. Bên cạnh đó, đầu tư chứng khoán luôn tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa mức thu nhập với mức rủi ro. Thu nhập càng cao thì mức độ rủi ro tiềm ẩn càng lớn. Vì vậy, trước đưa ra quyết định đầu tư, người chơi cần xác định được mục tiêu của bản thân. 

Ngoài ra, nếu người chơi chứng khoán đầu tư chủ yếu để tạo ra thu nhập (khi nghỉ hưu), thì cổ phiếu có tính ổn định cao và trả cổ tức hấp dẫn là một đầu tư lý tưởng. Nếu mục tiêu tài chính của là nhằm tăng giá trị các khoản đầu tư, thì người chơi chứng khoán nên tập trung vào các cổ phiếu định hướng phát triển. Đây cũng là một yếu tố quan trọng và là cơ sở để đánh giá kết quả đầu tư. Bên cạnh đó, nhà đầu tư cần Quyết định xem sẽ đầu tư bằng cách mua cổ phiếu cá nhân hay thông qua một quỹ tương hỗ. Nếu nhà đầu tư chọn cổ phiếu của các công ty cá nhân thì họ cần phải nghiên cứu, tìm hiểu những công ty này. Mặt khác, quỹ tương hỗ cho phép nhà đầu tư tận dụng sự tinh thông của người quản lý quỹ chuyên nghiệp và tất nhiên, họ sẽ phải trả phí cho các dịch vụ của mình. 

Khi đầu tư chứng khoán, những người chưa có kinh nghiệm cũng cần xác định thời hạn đầu tư để đạt hiệu quả cao nhất. Đối với mục tiêu ngắn hạn (ít hơn hai năm), nhà đầu tư có thể lựa chọn gửi tiết kiệm hay mua chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn của các ngân hàng có mức lãi suất tốt thay vì đầu tư chứng khoán. Nguyên nhân là do trong gian ngắn hạn, thị trường chứng khoán không những có thể không đem lại lợi nhuận mà còn khiến nhà đầu tư mất vốn. Đối với mục tiêu trung hạn (2-10 năm), các nhà đầu tư có cơ hội phát triển và đa dạng danh mục đầu tư của mình. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán luôn luôn thay đổi. Lợi suất trong quá khứ không bao giờ đảm bảo cho lợi nhuận trong tương lai. Vì vậy, nếu không chắc chắn, nhà đầu tư có thể giữ tiền trong các tài khoản tiết kiệm và chỉ đơn thuần rong chơi trên lĩnh vực cổ phiếu mà thôi. Đối với các mục tiêu dài hạn (trên 10 năm), thị trường chứng khoán là một nơi khá tốt để đầu tư tiền bạc. Trong lịch sử chứng khoán, hầu hết các khoản đầu tư sau 10 năm đều quay trở lại ngoạn mục với lợi nhuận hết sức ấn tượng. Vì vậy, thị trường chứng khoán sẽ trở thành nơi "đất lành chim đậu" cho những nhà đầu tư có chiến lược đầu tư trong dài hạn.


Xác định được khả năng chịu rủi ro khi chơi cổ phiếu


Một phần quan trọng của việc đầu tư mà người chơi chứng khoán không thể giải quyết được trước khi bắt đầu đầu tư là khả năng chấp nhận rủi ro. Thông thường, nhà đầu tư thường đánh giá quá cao khả năng chịu rủi ro của mình rồi sau đó lo lắng về tình hình tài chính cũng như tình trạng đầu tư.

Nhà đầu tư chắc chắn vẫn chưa thấy lo lắng nếu phát hiện ra khoản đầu tư của mình vừa mất 5%  nhưng nếu khoản thiệt hại là 20% thì sao? Nếu có 10.000 USD cổ phiếu, và sau một tháng, 2.000 USD biến mất thì liệu nhà đầu tư có chịu rút tiền ra không? Điều này thực sự rất quan trọng vì sẽ vô cùng nguy hiểm nếu khoản đầu tư vượt quá khả năng chịu rủi ro của người chơi "chứng cổ".

Nếu người chơi chứng khoán cảm thấy lo lắng và sợ mất tiền thì có lẽ người đó nên gửi tiền trong tài khoản ngân hàng thay vì đầu tư vào cổ chứng. Mặt khác, nếu nhà đầu tư cảm thấy rằng thiệt hại khoảng 10% sẽ không làm họ lo sợ hay có ý nghĩ muốn rút tiền ra thì người đó thực sự phù hợp và có thể gắn kết lâu dài với mảnh đất màu mỡ đầy biến động này.


Lựa chọn công ty tốt và thời điểm mua cổ phiếu


Công ty tốt thường là công ty ít nợ trong thời gian đã qua (thời gian càng dài càng tốt), và có lợi nhuận cao, hiện tại có lãi và triển vọng tương lai sáng sủa. Có nhiều chỉ số nhà đầu tư có thể sử dụng để đánh giá một cổ phiếu một công ty. Một trong số đó là hệ số giá trên thu nhập (PE). PE giúp nhà đầu tư biết một công ty hưởng lời bao nhiêu trên mỗi cổ phiếu, tính theo tỉ lệ của giá hiện hành. Ví dụ, PE 10 có nghĩa là giá cổ phiếu hiện tại cao gấp 10 lần thu nhập thường niên từ mỗi cổ phiếu. Hệ số PE cao có thể cho biết một cổ phiếu là quá giá và PE thấp đồng nghĩa với cổ phiếu bị định giá thấp. 

Giá cổ phiếu thường không đứng yên, mà lúc lên lúc xuống. Vậy nếu cần chịu khó theo dõi trào lưu, mua vào khi giá ở mức thấp nhất và bắt đầu đi lên, và bán ra lúc thị trường ở mức cao nhất và bắt đầu đi xuống thì sẽ có lời cao. Đây cũng là nguyên tắc thông thường trong kinh doanh. Giá một loại cổ phiếu luôn luôn chịu ảnh hưởng của những trào lưu lên xuống giá của thị trường chứng khoán.


Trong thời kỳ lên giá, thị trường thường kéo theo 70-80% loại cổ phiếu cũng lên. Khi xuống giá cũng tương tự. Bởi vì cũng giống như thị trường hàng hoá, khi có nhiều người cùng mua một món hàng nào đó thì giá hàng đó sẽ lên, kéo theo các hàng hóa khác cũng lên. Giá một loại chứng khoán sẽ lên khi có nhiều người cùng mua, và giá sẽ tụt xuống khi có nhiều người cùng bán.


Xây dựng một danh mục đầu tư tốt nhất


Đầu tư nên theo nguyên tắc “không bao giờ bỏ tất cả trứng vào một giỏ”. Khi người chơi chứng khoán mới khởi sự đầu tư, họ sẽ được nghe rất nhiều về những cơ hội đầy kích thích có thể tìm kiếm những lợi nhuận khổng lồ. Danh sách những cạm bẫy dành cho những con người đang hồ hởi và cả tin bước chân vào thị trường bao gồm chứng khoán nước ngoài, các quỹ đầu tư cố định, hợp đồng quyền chọn, trái phiếu khả hoán (convertible bonds), trái phiếu cấp thấp về giá trị (junk bond), những loại chứng khoán miễn thuế và các công ty bất động sản. Những loại chứng khoán này tuy lợi nhuận cao nhưng rất phức tạp. Nếu nhà đầu tư không có kinh nghiệm thì rất dễ gặp phải rủi ro. Bên cạnh đó, những cổ phiếu giá thấp thông thường hấp dẫn mọi người nhưng hoạt động tài chính của chúng lại rất kém và chậm chạp so với những loại cổ phiếu khác trong ngành. Vì vậy, những nhà đầu tư mới hoặc những nhà đầu tư chưa có kinh nghiệm nên tránh đầu tư vào những thứ đã kể trên. 

Cách đầu tư chứng khoán hiệu quả nhất là xây dựng một danh mục đầu tư đa dạngCách đầu tư chứng khoán hiệu quả nhất là xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng. Ảnh minh họa

Trong đầu tư chứng khoán, một sai lầm thường gặp khác của các nhà đầu tư là họ thường hay lo sợ và quá vội vàng. Ví dụ khi cổ phiếu đã rớt giá dưới giá mua ban đầu và bị thua lỗ, các nhà đầu tư thường lo ngại rằng có thể sẽ mất thêm một số tiền nữa và nên phản ứng bằng cách bán cổ phiếu đi và chấp nhận thua lỗ thay vì cứ để mọi thứ y nguyên. Khi cổ phiếu tăng giá và tìm được lợi nhuận, họ lại sợ rằng có thể đánh mất lợi nhuận ấy và bán chúng quá sớm. Nhưng sự thật cổ phiếu đang tăng giá là một dấu hiệu cho thấy chúng thực sự mạnh và có lẽ quyết định mua ban đầu của họ là hoàn toàn chính xác.

Điều này chứng tỏ rằng nếu biết lựa chọn danh mục đầu tư một cách khôn ngoan thì thậm chí ngay cả việc đầu tư vào các cổ phiếu bị cú sốc rớt giá cũng sẽ mang lại lợi nhuận. Một số chuyên gia chứng khoán gợi ý các nhà đầu tư nên đánh vào danh mục đầu tư của mình từ các công ty bán lẻ; các công ty truyền thông quảng cáo và các công ty dịch vụ cho đến các công ty tài chính lớn. Ngược lại, nên tránh đầu tư vào cổ phiếu của các công ty công nghệ cao, công ty hàng không, dầu mỏ,...

(Việt Q)

Xem thêm:
>> Lời khuyên của 10 nhà đầu tư vĩ đại
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán
Share:

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Hiểu thêm về lý thuyết trò chơi của thiên tài John Nash

Lý thuyết trò chơi nghe có vẻ tầm thường và không quan trọng. Tuy nhiên, nó đã tạo nên một cuộc cách mạng trong việc tổ chức các ngành kinh tế, đồng thời ảnh hưởng đến nhiều nhánh khác của bộ môn kinh tế học, đặc biệt là trong chính sách tiền tệ và thương mại quốc tế.

Nhà toán học người Mỹ John Nash và vợ ông vừa không may thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe hơi ở Mỹ. Năm 1994, ông cùng với hai nhà kinh tế học khác đã đoạt giải Nobel Kinh tế vì những đóng góp trong lĩnh vực lý thuyết trò chơi. Dưới đây là bản lược dịch của bài báo viết về lý thuyết trò chơi và những đóng góp của John Nash được tờ The Economist đăng tải từ năm 1994, ngay sau khi ông nhận giải Nobel.

Mọi thứ giống như một giấc mơ của những người yêu thích các hoạt động thể thao. Ngày 11/10/1994, tại Stockholm, ba người đàn ông chia nhau giải thưởng trị giá 1 triệu USD vì kỹ năng phân tích các trò chơi của họ. Họ không phải là những bình luận viên truyền hình hay những người phê phán kịch liệt Manchester United. Họ là những nhà kinh tế học. Hai nhà kinh tế học người Mỹ là John Harsanyi và John Nash cùng với Reinhard Selten (nhà kinh tế học người Đức) đã giành giải Nobel Kinh tế năm 1994 vì những nghiên cứu về “lý thuyết trò chơi”.

Lý thuyết trò chơi nghe có vẻ tầm thường và không quan trọng. Tuy nhiên, quan điểm đó hoàn toàn sai. Trong 20 năm trở lại đây, lý thuyết trò chơi đã tạo nên một cuộc cách mạng trong việc tổ chức các ngành kinh tế, đồng thời ảnh hưởng đến nhiều nhánh khác của bộ môn kinh tế học, đặc biệt là trong chính sách tiền tệ và thương mại quốc tế. Không có sinh viên kinh tế nào có thể hi vọng họ sẽ tốt nghiệp được mà không am hiểu những khái niệm cơ bản của lý thuyết trò chơi.

Cho tới khi lý thuyết trò chơi ra đời, hầu hết các nhà kinh tế học đều kết luận rằng các công ty có thể bỏ qua những tác động từ hành vi của họ đối với hành động của người khác. Kết luận này hoàn toàn đúng khi thị trường cạnh tranh hoàn hảo: hành động của một công ty hay một khách hàng không thể khiến bức tranh toàn cảnh trở nên khác biệt.

Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, kết luận trên hoàn toàn sai. Nhiều ngành bị thống trị bởi một số ít các doanh nghiệp. Bằng cách xây dựng một nhà máy mới hoặc đại hạ giá hay đơn giản là bóng gió về việc hạ giá, một doanh nghiệp có thể tác động đến hành vi của các doanh nghiệp khác. Một số quốc gia có thể áp đặt (hoặc dọa sẽ áp đặt) lệnh cấm vận thương mại. Chính phủ có thể tăng lãi suất ngắn hạn khi lạm phát quá thấp nhằm thuyết phục thị trường tài chính rằng họ đang nghiêm túc chống lại lạm phát.

Các ví dụ kể trên cũng giống như những trò chơi. Không có huấn luyện viên bóng đá nào lên kế hoạch cho một cuộc tấn công mà không tính toán đến phản ứng của các hậu vệ.

Lý thuyết trò chơi hiện đại được cho là “con đẻ” của nhà toán học John von Neumann và nhà kinh tế học Oskar Morgenstern. Đây là hai đồng tác giả của cuốn sách có tựa đề "Theory of Games and Economic Behaviour" (tạm dịch: Lý thuyết trò chơi và các hành vi kinh tế học) được xuất bản năm 1944. Messrs Harsanyi, Nash và Selten đã chuyển chúng thành các công cụ chính sách mà các nhà kinh tế học sử dụng ngày nay.

Đầu những năm 1950, Nash đưa ra khái niệm “điểm cân bằng Nash”, khi không người chơi nào muốn thay đổi chiến thuật vì đã biết tất cả mọi thứ về chiến thuật của những người chơi khác.

Sau đây là một ví dụ nổi tiếng về điểm cân bằng Nash. A và B là hai doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành và cả hai đều có thể chọn chính sách giá thấp hoặc giá cao. Nếu cùng chọn giá cao, họ sẽ thu được mức lợi nhuận đầy đặn 3 triệu USD cho mỗi bên. Nếu giá thấp, mỗi công ty sẽ chỉ thu được 2 triệu USD. Tuy nhiên, nếu một bên chọn giá cao và bên còn lại chọn giá thấp, bên giá thấp sẽ thu được 4 triệu USD trong khi bên giá cao chỉ có 1 triệu USD. Mặc dù cùng chọn mức giá cao là lựa chọn có lợi nhất cho cả hai bên, họ sẽ không làm như vậy. Nếu A đưa ra giá cao, lựa chọn tốt nhất của B là đưa ra giá thấp hơn. Với suy nghĩ tương tự, A cũng sẽ đưa ra mức giá thấp và vì thế mỗi bên chỉ kiếm được 2 triệu USD.

Tuy nhiên, kết luận của Nash chỉ được áp dụng cho các trò chơi 1 lượt, hoặc trong các trường hợp người chơi hành động cùng thời điểm. Trên thực tế tất cả các trò chơi thú vị trong kinh tế đều có sự tương tác liên tục giữa nhiều bên. Selten đã mở rộng điểm cân bằng Nash để phù hợp với thực tế, từ đó nổi lên tầm quan trọng của lòng tin: không có điểm nào mà trong đó một người chơi đi theo kế hoạch mà người khác biết rằng sẽ phải thay đổi ở điểm nào đó.

Ví dụ, một công ty độc quyền có thể cố gắng ngăn cản đối thủ trong tương lai gia nhập vào thị trường bằng cách đe dọa sẽ có một cuộc chiến về giá nổ ra nếu đối thủ bước vào. Cuộc chiến này sẽ khiến người mới thua lỗ. Tuy nhiên, công ty độc quyền cũng phải trả giá. Nếu cuộc chiến về giá quá tốn kém, công ty độc quyền sẽ buộc phải chia sẻ thị phần với người mới. Trong trường hợp này, lời đe dọa sẽ có cuộc chiến về giá là không có cơ sở và do đó công ty mới hoàn toàn có thể bước vào thị trường.

Bên cạnh đó, khó có thể kết luận rằng người chơi có thể biết được chính xác suy nghĩ của người khác. Như giáo sư Adam Brandenburger của trường Kinh doanh Harvard đã nói, “đám sương mù bao phủ các trò chơi”. Tuy nhiên Harsanyi đã chỉ ra rằng các trò chơi mà trong đó người chơi không có được thông tin đầy đủ về những người chơi còn lại có thể được phân tích giống hệt cách phân tích các trò chơi cơ bản.

Khi một số người chơi có được thông tin mà người khác không có, họ có thể biến danh tiếng của mình thành lợi thế. Chính phủ nâng lãi suất để phát tín hiệu sẽ chống lại lạm phát là một ví dụ. Công ty độc quyền cũng có thể xây dựng hình ảnh sẵn sàng tham gia cuộc chiến về giá để ngăn các đối thủ mới.

Một số nhà kinh tế học vẫn hoài nghi về lý thuyết trò chơi. Nguyên nhân là bởi học thuyết này khá khó nắm bắt và đòi hỏi nhiều phép toán phức tạp. Tuy nhiên, đây cũng chính là ưu điểm bởi nó có thể phản ánh sự phức tạp của thế giới thực.
Theo Trí thức trẻ/The Economist
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn đầu tư chứng khoán - Ủy thác đầu tư

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?