Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn John Maynard Keynes. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn John Maynard Keynes. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

5 bài học kinh tế vỡ lòng từ huyền thoại John Maynard Keynes

Các học thuyết kinh tế của ông được coi là ánh sáng soi đường cho chính sách điều hành kinh tế cũng như tạo việc làm của các quốc gia, trong đó phải kể đến chính sách kích thích kinh tế của Tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2009.


John Maynard Keynes (sinh năm 1883) là một nhà kinh tế học người Anh. Ông nổi tiếng với học thuyết kinh tế Keynes – một học thuyết kinh tế có tầm ảnh hưởng lớn tới kinh tế học và chính trị hiện đại.

Các học thuyết kinh tế của ông được coi là ánh sáng soi đường cho chính sách điều hành kinh tế cũng như tạo việc làm của các quốc gia, trong đó phải kể đến chính sách kích thích kinh tế của Tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2009. Bên cạnh đó, Keynes cũng là "cha đẻ" của những hiệp định thương mại thời hậu chiến Bretton Woods.

Tuy vậy, những học thuyết kinh tế của John Keynes rất khó để có thể tóm tắt trong vài từ. Trong các học thuyết của mình, ông quan tâm đến sự can thiệp của chính phủ đối với kinh tế, bởi nhờ đó chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để làm giảm đi những ảnh hưởng bất lợi do suy thoái kinh tế hay bùng nổ kinh tế gây ra.

Dưới đây là 5 bài học từ những học thuyết kinh tế của Keynes có thể hữu ích đối với các nhà đầu tư.

Chi tiêu Chính phủ có thể tác động đến tổng thể sản xuất trong ngắn hạn

Keynes thường đề cập đến các biện pháp kích thích của chính phủ bao gồm tăng mạnh chi tiêu ngân sách chính phủ (chấp nhận thâm hụt ngân sách) để chống lại thất nghiệp không tự nguyện. Ông cũng là nhà kinh tế học đầu tiên xuất bản rộng rãi tài liệu tiếng Anh về yếu tố tổng cung, tổng cầu trong nền kinh tế.

Quan điểm này của ông đã được chứng minh là đúng, ít nhất trong ngắn hạn. Chi tiêu và các dự án của Chính phủ có thể tạm thời thúc đẩy tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP), tương đương với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, về dài hạn, chưa thể chứng minh được mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ với tăng trưởng năng suất hoặc thu nhập bình quân đầu người.

Giá cả không thể điều chỉnh một cách công bằng

Trên thị trường lao động, tiền lương chính là giá cả. Mô hình “tiền lương cứng nhắc” (sticky wage) là một phần không thể thiếu trong kho từ vựng về kinh tế của Keynes. Ông cho rằng việc giảm tiền lương không giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp bởi không có lý do gì để người lao động chấp nhận bị cắt giảm tiền lương hoặc ông chủ đề nghị giảm lương.

Nói cách khác, thị trường không phải lúc nào cũng tuân thủ rõ ràng quy tắc cân bằng tổng thể. Ông cũng lập luận rằng thị trường lao động không giống với các thị trường khác. Tuy nhiên hiện nay hầu hết các nhà kinh tế học đồng ý rằng mọi loại giá cả có thể từ từ điều chỉnh chậm lại dưới các hoàn cảnh bất lợi.

Kinh tế và chính trị luôn có mối liên hệ chặt chẽ

John Keynes là một người phụng sự suốt đời cho cộng đồng và các học thuyết kinh tế của ông luôn có mối quan hệ chặt chẽ với chính trị, gây ảnh hưởng lớn đến chính sách điều hành kinh tế của các chính phủ. Ông hiểu rằng một khi quan điểm được chấp nhận bởi các viện hàn lâm, các chính trị gia sẽ dễ dàng góp phần thúc đẩy chính sách kinh tế hơn.

Keynes dùng kinh tế học như một vũ khí cho các cuộc tranh luận công khai. Ông ủng hộ mạnh mẽ các chương trình việc làm của Đảng Lao Động Anh và phản đối quan điểm lấy vàng làm tiêu chuẩn của nước Anh thời kỳ hậu thế chiến thứ nhất. Ông cho rằng các nhà cầm quyền có thể thực thi quan điểm từ học thuyết kinh tế của mình vào điều chỉnh chính sách.

Nền kinh tế vẫn có thể vận hành dù không có đủ việc làm trong một khoảng thời gian

Một trong những quan điểm mang tính đột phá của Keynes là cho rằng nền kinh tế có thể có nhiều mức độ thất nghiệp khác nhau. Đây là nhận định trái ngược với quan điểm của những nhà kinh tế học cổ điển như David Ricardo và Jean-Baptiste Say, những người nói rằng nếu thị trường lao động dư thừa việc làm thì sẽ tự điều chỉnh. Nhưng Keynes không nghĩ như vậy.

Cuộc đại khủng hoảng 1929 -1933 đã ảnh hưởng sâu sắc tới suy nghĩ của Keynes về kinh tế học. Trước đó, các nhà kinh tế cho rằng, mỗi khi có khủng hoảng kinh tế, giá cả và tiền công sẽ giảm đi; các nhà sản xuất sẽ có động lực đẩy mạnh thuê mướn lao động và mở rộng sản xuất, nhờ đó nền kinh tế sẽ phục hồi.

Nhưng Keynes lại quan sát cuộc đại khủng hoảng và nhận ra rằng tiền công không hề giảm, việc làm cũng không tăng, và sản xuất mãi không hồi phục nổi. Từ đó, Keynes cho rằng thị trường không vận hành hoàn hảo như những gì các nhà kinh tế cổ điển vẫn nghĩ. Và do đó, dù không có đủ việc làm thì nền kinh tế vẫn có thể vận hành trong một khoảng thời gian.

Ngày nay vẫn có một số nhà kinh tế học tranh cãi về quan điểm của ông, nhưng là về cơ chế vận hành của thị trường lao động. Một số cho rằng thất nghiệp là do dư thừa tiền tiết kiệm và thiếu thanh khoản, trong khi một số khác quan niệm các chính sách sai lầm khiến thị trường lao động mất cân bằng. Nhưng họ đều cho rằng trạng thái toàn dụng lao động không phải là một sự đảm bảo.

Lạm phát là quỷ dữ nhưng nó có thể thúc đẩy hoạt động công nghiệp

Trong bản thảo năm 1923 mang tên “A Tract on Monetary Reform”, Keynes đã gọi lạm phát là một loại quỷ dữ cần phải xa lánh. Đây cũng là quan điểm khác biệt lớn nhất giữa Keynes và các thế hệ nhà kinh tế học đi sau ông. Hầu hết các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng lạm phát là vấn đề nhỏ và có một chút lạm phát sẽ giúp thúc đẩy hoạt động công nghiệp; Keynes nói không với lạm phát và còn cho rằng lạm phát giúp các nhà đầu tư làm giàu trên chi phí của người nghèo.

Giống như nhiều vấn đề khác, Keynes có những quan điểm mâu thuẫn nhau về lạm phát và chính sách tiền tệ. Nhưng ông cho rằng giá cả nên duy trì ổn định bởi lạm phát có thể dẫn đến tình trạng dư thừa công suất và ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế. Sau này nhiều nhà kinh tế học theo trường phái Áo cũng nhận định những tác động vào nguồn cung tiền chính là nguyên nhân gây nên sự phập phù trong chu kỳ phát triển của nền kinh tế với những giai đoạn xì hơi và khủng hoảng theo sau giai đoạn bùng nổ.


Hà My
Theo Trí thức trẻ/Investopedia
Share:

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2016

Là “cha đẻ” của kinh tế học nhưng Keynes sẽ bị sa thải nếu làm việc cho các quỹ đầu tư hiện nay

Mức lợi nhuận mà Keynes thu về biến động quá mạnh và không nhà đầu tư hiện đại nào có thể chấp nhận một danh mục đầu tư đầy biến động, rủi ro như thế.


Xét trên một khía cạnh nào đó, đầu tư là một công việc có vẻ tẻ nhạt và đầy khó khăn đối với những người không có “máu đỏ đen”. Ngược lại, đối với những người có một chút đam mê “cờ bạc”, đầu tư sẽ chỉ mang lại phần thường cho một vài người thực sự liều lĩnh và dám chấp nhận rủi ro để đặt cược tất cả.

John Maynard Keynes là một cái tên nổi tiếng trong giới kinh tế học. Ông không chỉ là “cha đẻ” của các học thuyết kinh tế vĩ mô mà còn là một nhà đầu tư lừng lẫy với những chiến lược hết sức khôn ngoan.

Mới đây, trên tài khoản Twitter cá nhân, nhà báo Ben Carlson đã chia sẻ một bản ghi chép các danh mục đầu tư của John Keynes khi ông đang quản lý danh mục của King College. Bức ảnh nhận được rất nhiều bình luận và nhiều người cho rằng nếu như Keynes còn sống đến ngày nay và làm việc cho các quỹ đầu tư thì có lẽ ông đã bị sa thải. Như bảng dưới đây, mức lợi nhuận mà Keynes thu về biến động quá mạnh và không nhà đầu tư hiện đại nào có thể chấp nhận một danh mục đầu tư đầy biến động, rủi ro như thế.


Trước tiên hãy nói về ba nguyên tắc đầu tư của Keynes được Journal of Finance đúc kết:

Thứ nhất, luôn lựa chọn cẩn thận các loại tài sản có so với giá trị nội tại của nó ở thời điểm hiện tại hoặc vài năm nữa. Nghĩa là khoản đầu tư này không cần “quá đẹp” ở thời điểm hiện tại, chỉ cần sổ sách cho thấy chúng có giá trị cao.

Thứ hai, hãy nắm giữ một cách chắc chắn những tài sản mà bạn đã mua được, ít nhất trong một vài năm sau cho đến khi chúng đem lại lợi ích như bạn mong muốn hoặc chứng minh là bạn đã lựa chọn sai.

Thứ ba, giữ cho danh mục đầu tư cân bằng nhất có thể, cố gắng đa dạng hóa rủi ro.

Như vậy cũng giống như “huyền thoại chứng khoán” Warren Buffett của thế kỷ 21, Keynes là một nhà đầu tư giá trị. Ông mua và nắm giữ rất nhiều loại cổ phiếu khác nhau. Thậm chí ngay cả khi nắm giữ một lượng cổ phiếu cực nhỏ, ông cũng luôn lựa chọn đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Bây giờ hãy quay trở lại với chuyện hiệu suất đầu tư của Kenyes biến động quá mạnh. Không thể phủ nhận quãng thời gian từ 1928 đến 1945 là thời kỳ hết sức khó khăn đối với các nhà đầu tư, và thành tích đầu tư của Keynes là rất đáng nể.

“Một chiến lược đầu tư khôn ngoan đòi hỏi nhà đầu tư phải biết chấp nhận nghịch lý, rủi ro càng cao thì khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận càng lớn. Các cơ hội đầu tư hấp dẫn nhất không bao giờ dễ dự đoán trong một khoảng thời gian ngắn và bạn phải có đủ kiên nhẫn để đặt cược với thời gian” – Giáo sư David Swensen đến từ Đại học Yale cùng quan điểm với Keynes.

Tuy nhiên, ở trong thế giới hiện đại và đặc biệt là trong quan niệm của các nhà đầu tư tổ chức, những gì xảy ra trong ngắn hạn là thứ đáng quan tâm hơn. Keynes cho rằng đối với các nhà đầu tư, mục tiêu lớn nhất không phải là đánh bại thị trường mà là làm sao để bản thân không bị đánh bại. Tuy nhiên, trên thực tế hầu hết các nhà đầu tư vẫn dành rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc cho việc đánh bại thị trường. Đây cũng là cơ hội để các nhà quản lý quỹ tồn tại.

Hiện nay có rất ít nhà đầu tư đủ kiên nhẫn và nguyên tắc để tuân thủ chiến lược của Keynes. Đó cũng chính là lý do Keynes sẽ bị sa thải nếu như ông làm việc cho các công ty quản lý quỹ hiện đại.
>> Những bài học đầu tư từ Keynes 
Theo Trí thức trẻ/Business Insider
Share:

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016

10 sự thật thú vị về Keynes – “cha đẻ” của đầu tư hiện đại

Tư duy logic, trực giác, tầm nhìn xa trông rộng, nhanh nhạy và luôn bắt kịp với những thay đổi… tất cả các yếu tố này kết hợp trong một con người bình thường đến mức phi thường.

John Maynard Keynes sinh ngày 5/6/1883 trong một gia đình không mấy khá giả ở con phố Harvey, Cambridge (Anh). Ít ai ngờ rằng, từ con phố Harvey đông đúc và chật chội ấy đã sinh ra một thiên tài có sức ảnh hưởng lớn tới lịch sử kinh tế thế giới.

Những người ủng hộ thì cho rằng các học thuyết kinh tế của Keynes là nền tảng cho các chính sách tiền tệ và kích thích tài khóa mà rất nhiều quốc gia sử dụng ngày nay. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số ý kiến phản pháo rằng, ông là “tội đồ” tạo ra những kẻ tham lam trên thị trường.

Dưới đây là 10 bí mật thú vị giúp bạn hiểu rõ hơn về “cha đẻ” của học thuyết kinh tế vĩ mô này.

1. Keynes còn được mệnh danh là "Winston Churchill” của ngành kinh tế nhờ tinh thần bất khuất không bao giờ lùi bước.

Trong cuốn sách viết về ông, tác giả Syliva Nasar cho rằng “ở Keynes luôn tỏa ra tinh thần lạc quan trong những hoàn cảnh ảm đạm nhất và không bao giờ bị ảnh hưởng bởi những biến động quốc gia hay toàn cầu”.

2. Ông cũng là một trong những “tay chơi” cừ khôi trên thị trường chứng khoán

Là một học giả nổi tiếng của trường Kings College, ban đầu những nguyên tắc của ông về “giao dịch trên thị trường chứng khoán” không nhận được sự ủng hộ của các đồng nghiệp. Ông bắt đầu với số vốn 30.000 bảng Anh và thu về tổng cộng 350.000 bảng Anh – với tỷ lệ lãi kép trên 12%/năm.

3. Ông là một “con ruồi trâu” của thế giới tài chính hiện đại

Bạn bè gọi Keynes là một kẻ tham công tiếc việc bởi ông luôn “ôm đồm” rất nhiều vị trí: giảng viên chính thức của trường Kings College, học giả nghiên cứu tại trường Kings College, tác giả sách, nhà tư vấn tài chính, nhà báo cộng tác với The Guardian, thành viên của Ủy ban chính sách công nghiệp thuộc Đảng Tự do.

4. Ngoài kinh tế, Keynes còn đam mê triết học

Keynes thường xuyên tham gia tranh luận về các vấn đề đời sống, kinh tế – chính trị.

5. Nhà kinh tế kết hôn với vũ công ballet xinh đẹp

Cũng giống như những thành viên của hội Bloomsbury, đời sống tình cảm của Keynes khá phức tạp. Ông từng có những cuộc hẹn hò đồng tính và kết hôn với một vũ công ballet xinh đẹp. Tuy nhiên, danh tính của những người này đều không được tiết lộ cụ thể.

6. Keynes cũng quan tâm đến vàng

Keynes là người đầu tiên kêu gọi chấm dứt các tiêu chuẩn về vàng bởi theo ông, đó là “một di tích man rợ” của nhân loại.

7. Ủng hộ chủ nghĩa tư bản

Keynes không phải là người theo chủ nghĩa xã hội, ông đến để cứu chủ nghĩa tư bản, không phải để chôn nó. “Tôi cho rằng, chủ nghĩa tư bản một khi được quản lý khôn ngoan sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế hơn bất kì chế độ nào” – Keynes nói trong một bài giảng dạy.

8. Ông từng từ chức tại cuộc đàm phán hiệp ước Versailles năm 1919 do bất đồng

Keynes cảm thấy bất bình về những yêu cầu bồi thường không cần thiết áp đặt lên nước Đức và ông dự báo rằng nó chắc chắn sẽ dẫn đến xung đột.

9. Có chút tự kiêu

“Tôi tin rằng mình có thể viết một cuốn sách làm nên cuộc cách mạng về kinh tế. Tôi khẳng định rằng trong vòng 10 năm tiếp theo, thế giới sẽ phải suy nghĩ về các vấn đề kinh tế mà tôi đề cập” – ông nói.

10. Một con người bình thường đến phi thường

“Keynes là một trong những người đàn ông đáng chú ý nhất trong lịch sử thế giới. Tư duy logic, trực giác, tầm nhìn xa trông rộng, nhanh nhạy và luôn bắt kịp với những thay đổi… tất cả các yếu tố này kết hợp trong một con người bình thường đến mức phi thường” – một đại biểu tham dự hội nghị Bretton Woods nhận định về Keynes.

Theo Trí thức trẻ
Share:

Bí quyết đoán trước tương lai của Keynes

Nghiên cứu của Philip Tetlock chỉ ra rằng những người có lối suy nghĩ cởi mở và sẵn sàng chấp nhận điều mới mẻ có khả năng dự báo tương lai tốt hơn.



>> Chiến lược đầu tư của Keynes và bài học cho các quỹ đầu cơ

Bắt đầu từ năm 2011, chương trình nghiên cứu về các dự báo được Philip Tetlock triển khai với sự trợ giúp từ IARPA – tổ chức trực thuộc cộng đồng trí thức Mỹ. Cốt lõi của chương trình này là “bộ sưu tập” các dự báo về những sự kiện kinh tế và địa chính trị mà cộng đồng trí thức quan tâm đến, ví dụ như liệu Hy Lạp có vỡ nợ hay Mỹ có tấn công quân sự vào Iran hay không … 

Tetlock sẽ mời hàng nghìn người tham gia dự báo và cho đến nay con số đã lên đến hơn 20.000 người, “Bạn chỉ cần làm một thao tác đơn giản là đăng nhập vào website, đưa ra đánh giá về những vấn đề bạn quan tâm, thậm chí có thể thay đổi đánh giá nếu và khi nào bạn có suy nghĩ khác”. 

Các thành viên tham gia có thể là những chuyên gia giàu kinh nghiệm đến từ các trung tâm nghiên cứu và viện hàn lâm nhưng cũng có cả những người hoàn toàn nghiệp dư. Tetlock và hai nhà tâm lý học khác là Don Moore và Barbara Mellers tiến hành các thử nghiệm với sự giúp đỡ từ đội ngũ tình nguyện viên hùng hậu. Một số người được đào tạo về dự báo, một số được lập thành nhóm, một số được cách ly trong khi một số được cung cấp thông tin về dự báo của người khác. Mục tiêu duy nhất của chương trình này là tìm ra cách dự đoán tương lai tốt hơn. 

Dự án này đã đạt được những kết quả đáng ngạc nhiên. Quan điểm truyền thống cho rằng không thể dự báo các sự kiện trong tương lai là hoàn toàn sai. Có thể đoán trước tương lai, và những người xuất sắc trong lĩnh vực này có thể đoán trước những sự kiện địa chính trị với độ chính xác cao. Họ còn có thể cải thiện khả năng dự báo của mình. 

Roger Babson

Roger Babson là một doanh nhân không chuyên về nghiên cứu lý thuyết nhưng đã “bán” các dự báo kinh tế sau khi chứng kiến cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 1907. Ông đã kiếm bộn tiền nhờ bán các dự báo kinh tế đi kèm với thông tin về điều kiện kinh doanh. Năm 1920, Babson Statistical Organization đã có tới 12.000 thành viên và doanh thu 1,35 triệu USD (quy đổi ra ngày nay là 16 triệu USD). 

Ngày 5/9/1929, Babson có một bài phát biểu tại Wellesley, Massachusetts. Ông đưa ra dự đoán về rắc rối mà TTCK Mỹ sẽ gặp phải trong tương lai: "Sớm hay muộn thì thị trường cũng sẽ sụp đổ, đầu tiên là các cổ phiếu hàng đầu và chỉ số Dow Jones có thể giảm 60 - 80 điểm (tương đương giảm 20%)".

Babson là nhân vật nổi tiếng đến nỗi lời cảnh báo của ông tác động lớn đến thị trường. Khi báo chí đưa tin về bài phát biểu này vào lúc khoảng 2h chiều, các thị trường bùng nổ đến mức tờ New York Times mô tả có một "cơn bão bán tháo" trên thị trường. Thị trường giảm khoảng 3%.

Ngày tiếp theo, các cổ phiếu hồi phục và trong một vài tuần, Babson trở thành một kẻ nực cười. Tuy nhiên, ngày 29/10, thảm họa mới bắt đầu. Trong 2 tuần, thị trường sụt giảm tới 50%. Ngay lập tức, Babson có một bài quảng cáo trên tờ New York Times với tiêu đề "Các khách hàng của Babson đã được chuẩn bị". Đối với ông, dự báo chính xác là một cơ hội tuyệt vời để bán thêm nhiều hơn các dự báo. 

Tuy nhiên, kỹ năng tuyệt vời của Babson là marketing chứ không phải dự báo. "Đồ thị Babson" - sản phẩm chủ chốt của ông - mang đậm tính hàn lâm và được lấy cảm hứng từ các phát hiện của thần tượng Isaac Newton. Dựa trên kết luận bất kỳ chu kỳ tăng trưởng kinh tế nào cũng sẽ được cân bằng bởi một đợt suy giảm có quy mô tương đương. 

Dự báo của Babson có chính xác hay không không phải là vấn đề mà mọi người quan tâm. Khi ông đúng, ông quảng bá điều này rất rầm rộ. Khi ông sai, rất ít người chú ý đến điều này. Và, trên thực tế Babson đã nhiều lần dự đoán sai trong những năm 1920, khi những người nghe theo lời khuyên của ông thường xuyên bỏ lỡ những cơ hội sinh lời tốt nhất. Tuy nhiên, điều này không ảnh hưởng đến danh tiếng của Babson. 

Khi Barbara Mellers, Don Moore và Philip Tetlock bắt đầu dự án của mình, quy tắc chung là thu thập các dự báo và kiểm tra xem chúng có trở thành hiện thực hay không. Đây không phải là thế giới của Roger Babson và quy tắc này cũng không thể miêu tả công việc của các nhà dự báo hiện đại. 

Khi nói về tương lai, thực chất chúng ta thường không nói chút nào về tương lai mà nói về những vấn đề của hiện tại. Một bài báo viết về tương lai của Triều Tiên hay eurozone đang cố gắng ủng hộ một luận điểm nào đó, các chương trình trên tivi dự báo tương lai bằng những cuộc đối thoại. Và, rất nhiều dự báo về kết quả bầu cử chỉ được đưa ra để cổ vũ cho một đảng phái nào đó. 

Dẫu vậy, không giống như những điều trên, trên thực tế có nhiều dự báo hoàn toàn chính xác và có cơ sở xác đáng. Điều này cho thấy trong vô vàn cách dự báo được các tình nguyện viên tham gia dự án của Tetlock sử dụng, cách cơ bản nhất để thành công là có một mục tiêu duy nhất khi nhìn vào tương lai. Nhóm người này có chung một lối suy nghĩ: rộng thay vì sâu, theo trực giác thay vì theo logic thông thường, tự nghi ngờ bản thân thay vì quả quyết. Tetlock gọi nhóm người này là "con cáo". Đối lập là nhóm "con nhím".

Sự phân loại này cho thấy tính cách cũng ảnh hưởng đến dự báo. Các chuyên gia tâm lý cho rằng những người có lối suy nghĩ cởi mở và năng động có nhiều khả năng đưa ra dự báo chính xác hơn. Họ không ngại thay đổi suy nghĩ, thoải mái đón nhận các quan điểm trái ngược và không ngại tiếp nhận những điều mới mẻ. 

Sự khác biệt giữa Fisher và Keynes

Nhận định này dẫn chúng ta đến với câu chuyện của Irving Fisher và John Maynard Keynes. Giữa hai người có nhiều điểm chung: đều là những "cây đại thụ" trong lĩnh vực kinh tế học, đều là tác giả của những cuốn sách bán chạy và đều có tầm ảnh hưởng lớn.

Fisher và Keynes cùng chia sẻ niềm đam mê đối với thị trường tài chính. Người ta tin chắc rằng với những kiến thức sâu rộng về kinh tế và thống kê kinh tế, họ phải là những nhà đầu tư rất thành công. Tuy nhiên, sự thực không phải như vậy. Các cú sụp đổ của TTCK trong năm 1929 - tháng 9 ở Anh và tháng 10 ở Mỹ - đều khiến hai người phải ngạc nhiên và thua lỗ nặng. 

Ngày nay Keynes vẫn được nhớ đến như một nhà đầu tư thành công. Tuy nhiên, một nghiên cứu được thực hiện bởi hai nhà kinh tế học David Chambers và Elroy Dimson cho thấy Keynes đầu tư thành công không phải nhờ dự báo tốt. Ban đầu, cách tiếp cận của ông là dự đoán các chu kỳ vận động của thị trường, mua vào và bán ra nhiều loại tài sản dựa theo diễn biến của nền kinh tế. Sau vài năm áp dụng chiến lược này, ông bị tụt lại phía sau với lợi suất thấp hơn 20% mức trung bình. 

Sau đó Keynes thay đổi cách tiếp cận và đã thành công. Ông loại bỏ hoàn toàn các dự báo về kinh tế vĩ mô, thay vào đó tập trung tìm kiếm các công ty được quản lý tốt và có cổ tức tốt, giữ chúng trong dài hạn. Cách này gần giống với cách của Warren Buffett.  Tuy nhiên, điểm đặc biệt là Keynes - nhà kinh tế học vĩ mô có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử - đã sớm nhận ra rằng dự báo là công việc vượt quá khả năng và cũng không cần thiết. 

Trong khi đó, Fisher sai lầm không phải do khả năng dự báo của ông kém hơn Keynes mà bởi ông dựa vào thứ mà bản thân cho là đúng nhưng thực tế không phải như vậy. Fisher cũng sử dụng tỷ lệ đòn bẩy quá cao và do đó lỗ nặng khi thị trường sập. Khoản lãi trước đó cũng đã đủ lớn để Fisher cắt lỗ và sống một cách thoải mái. Tuy nhiên, thay vào đó ông bị thuyết phục rằng thị trường sẽ hồi phục. 

Một trong những khoản đầu tư lớn nhất của Fisher là vào công ty văn phòng phẩm Remington Rand. Cổ phiếu này giảm từ 58 USD xuống còn 28 USD. Fisher không chịu từ bỏ và cuối cùng cổ phiếu này chỉ có giá 1 USD. Ông ngày càng lún sâu vào nợ nần. 

Vậy thì bí quyết để nhìn thấu tương lai là gì? Công trình nghiên cứu của Tetlock gợi ý một vài cách tiếp cận. Thứ nhất, các khóa đào tạo về kỹ năng dự báo cơ bản có thể đem đến những dự báo chính xác hơn. Thứ hai, một đội gồm nhiều người dự báo tốt sẽ cho ra kết quả tốt hơn so với khi họ làm việc độc lập. Thứ ba, những người có suy nghĩ thoáng có khả năng dự báo tốt.

Giống như Roger Babson đã nhận định, Fisher thất bại vì ông nghĩ rằng thế giới được kiểm soát bởi những con số chứ không phải cảm giác, hoặc bởi các lý thuyết chứ không phải bởi phong cách. 

Có lẽ số lần Babson dự báo sai cũng tương đương với số lần ông dự báo đúng, nhưng điều này không thể ngăn ông kiếm bộn tiền. Keynes cũng phát tài khi chuyển sang chiến lược đầu tư trong đó dự báo không có nhiều vai trò. 

>> Những bài học đầu tư từ Keynes
Thu Hương
Theo InfoNet/FT
Share:

Thứ Hai, 15 tháng 2, 2016

Chân dung 10 nhà kinh tế có tầm ảnh hưởng nhất mọi thời đại

Kinh tế đóng vai trò rất lớn đối với chất lượng cuộc sống của mọi người chúng ta và các nhà kinh tế là những người có tác động quan trọng tới các chính sách kinh tế được ban hành cũng như sự vận hành của nó.

Dưới đây là danh sách 10 nhà kinh tế có tầm ảnh hưởng nhất mọi thời đại do The Complete University Guide (Anh) bình chọn.

Những thành tựu và đóng góp của họ không chỉ có lợi cho “sức khỏe” của nền kinh tế đương thời, mà còn giúp tạo đà phát triển cho kinh tế ngày nay.

1. Adam Smith (1723–1790)

Adam Smith là một nhà triết học và là nhà kinh tế chính trị học người Scotland, người mở đường cho phát triển lý luận kinh tế. Ông nổi tiếng với cuốn sách "The wealth of nations" (tạm dịch là "Nguồn gốc của cải của các quốc gia") xuất bản năm 1776. Đây là một trong những tác phẩm ra đời sớm nhất và nổi tiếng nhất về thương mại và công nghiệp, được xem là tạo nên nền tảng cho các nguyên lý và chính sách kinh tế trên thế giới.

Adam Smith kịch liệt phản đối chủ nghĩa trọng thương và ủng hộ cho tự do thương mại và cạnh tranh, chính điều này là một thách thức đối với những hàng rào thuế quan bảo hộ đương thời. Các tư tưởng kinh tế của Adam Smith cũng ảnh hưởng tới các quốc gia mậu dịch khác và Adam Smith xứng đáng được gọi là "Người cha của kinh tế học hiện đại."
Nhà kinh tế chính trị học Adam Smith. (Nguồn: YouTube)

2. Karl Marx (1818–1883)

Karl Marx là nhà tư tưởng người Đức gốc Do thái, và cũng là nhà kinh tế chính trị kinh điển, nhà lãnh đạo cách mạng của Hiệp hội Người lao động Quốc tế. Ông là một học giả có ảnh hưởng lớn trong nhiều lĩnh vực học thuật như triết học, kinh tế chính trị học, xã hội học, sử học...

Khi phát triển cách tiếp cận kinh tế học theo chủ nghĩa Marx, ông đã tạo ra những thuật ngữ của riêng mình như: giá trị thặng dư, tái sản xuất, tư sản và vô sản, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ông cũng chính là người sáng tạo ra thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản”. Những đóng góp của Marx đối với sự phát triển kinh tế đương đại ngày càng được công nhận rộng rãi.

3. John Maynard Keynes (1883–1946)

John Maynard Keynes là một nhà kinh tế học người Anh. Những ý tưởng của ông, hình thành nên Kinh tế học Keynes, có ảnh hưởng lớn tới kinh tế học hiện đại và chính trị, cũng như các chính sách tài chính của nhiều chính phủ.

Ông cho rằng sự can thiệp của chính phủ vào kinh tế là cần thiết để làm giảm đi những ảnh hưởng bất lợi do suy thoái hay bùng nổ kinh tế. Keynes có vai trò rất lớn trong việc giảm những ảnh hưởng bất lợi do cuộc Đại khủng hoảng (1929-1933) gây ra.
Nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes. (Nguồn: pbs.org)

Chính sách Keynes đã “tái xuất” trong cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây, nhất là tại nước Anh, nơi Bộ trưởng Tài chính Gordon Brown đã áp dụng biện pháp kích thích kinh tế để đối phó với khủng hoảng. Ông Keynes là người khai sinh kinh tế học vĩ mô hiện đại và là nhà kinh tế có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20.

4. Milton Friedman (1912–2006)

Milton Friedman là một nhà kinh tế học người Mỹ đoạt giải Nobel năm 1976 nhờ những đóng góp trong phân tích chi tiêu tiêu dùng, lịch sử và lý luận tiền tệ, giải thích sự phức tạp của các chính sách ổn định kinh tế.

Là người ủng hộ thị trường tự do, ông đã có những đóng góp quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế học vĩ mô, kinh tế học vi mô, lịch sử kinh tế và thống kê. Quan điểm của ông về chính sách tiền tệ, thuế khóa, tư nhân hóa và giảm bớt sự can thiệp của chính phủ đã có tác động to lớn tới chính sách của nhiều nước trên thế giới.

5. Jan Tinbergen (1903–1994)

Jan Tinbergen là nhà kinh tế học người Hà Lan, đã được trao giải Nobel kinh tế trong năm 1969 cùng với Ragnar Frisch vì đã phát triển và áp dụng các mô hình động trong phân tích các quá trình kinh tế.
Ông được coi là người tiên phong trong lĩnh vực toán kinh tế, việc áp dụng các mô hình kinh tế vĩ mô nhằm giúp các nước đưa ra các chính sách kinh tế quan trọng. Phương pháp này đang được áp dụng trong nghiên cứu kinh tế hiện nay.

6. John Forbes Nash, Jr. (1928–2015)

John Forbes Nash là một nhà toán học người Mỹ với chuyên ngành lý thuyết trò chơi và hình học vi phân. Các học thuyết của ông được sử dụng trong kinh tế, điện toán, trí tuệ nhân tạo, sinh học tiến hóa, kế toán và chính trị. Năm 1994, ông nhận được giải thưởng Nobel về kinh tế cùng với hai nhà lý thuyết trò chơi khác là Reinhard Selten và John Harsanyi.

Hiện nhà kinh tế học quá cố John Nash được xếp vị trí số 1 trong những nhà kinh tế học từng được giải Nobel có đóng góp vĩ đại nhất đến phát triển nhân loại.

7. Muhammad Yunus (1940)

Muhammad Yunus, một nhà kinh tế học người Bangladesh, là người phổ biến khái niệm tín dụng vi mô (cho những người dân rất nghèo vay các khoản tín dụng nhỏ) và là người sáng lập Grameen Bank (Ngân hàng nông thôn). Grameen Bank tuy không hoạt động theo nguyên tắc khai thác lợi nhuận tối đa nhưng định hướng làm ăn có lãi, với 97% khách hàng của ngân hàng này là phụ nữ.
Muhammad Yunus, một nhà kinh tế học người Bangladesh. (Nguồn: social.yourstory.com)

Năm 2006, Muhammad Yunus được đồng trao tặng Giải Nobel Hòa bình với chính ngân hàng của ông. Ông còn được gọi là "nhà bảo trợ" người nghèo và tín dụng vi mô đang được áp dụng tại nhiều nước đang phát triển nhằm giảm tỷ lệ đói nghèo.

8. Steven D. Levitt (1967)

Steven D. Levitt là nhà kinh tế học người Mỹ và được biết đến từ khi còn rất trẻ. Anh nhận huân chương John Bates Clark năm 2003 khi 36 tuổi. Đây là huân chương dành cho những nhà kinh tế học dưới 40 tuổi đã có những đóng góp quan trọng về tri thức kinh tế.

Ông nổi tiếng vói tác phẩm “Kinh tế học hài hước” (Freakonomics với đồng tác giả là nhà báo Stephen J. Dubner), cuốn sách bán chạy nhất theo bình chọn của New York Times - với hơn 4 triệu bản được dịch ra 35 thứ tiếng, thực sự là cuộc cách mạng trong tư duy khiến bất cứ ai từng đọc qua cũng phải thay đổi cách nhìn nhận về thế giới xung quanh. Tuy không viết theo một chủ đề thống nhất và cũng không đưa ra một kết luận cụ thể nào, nhưng cuốn sách đã mang lại một cách nhìn mới về xã hội.

Cuốn sách xuất bản năm 2005 này đã sử dụng khoa học kinh tế như một bộ công cụ để khám phá, giải thích các vấn đề xã hội mà các nhà kinh tế truyền thống không đề cập tới.

9. Warren Buffett (1930)

Warren Edward Buffett là một nhà đầu tư, doanh nhân và nhà từ thiện người Mỹ. Ông là nhà đầu tư thành công nhất thế giới thế kỷ XX, cổ đông lớn nhất kiêm giám đốc hãng Berkshire Hathaway, và được tạp chí Forbes xếp ở vị trí người giàu thứ ba thế giới năm 2015, với tài sản chừng 73 tỷ USD.
Ông được gọi là "Huyền thoại đến từ Omaha", rất nổi tiếng do sự kiên định trong triết lý đầu tư theo giá trị, sự tài giỏi về quản trị tài chính, cũng như lối sống tiết kiệm dù sở hữu khối tài sản khổng lồ. Năm 2007, ông được tạp chí Time đưa vào danh sách "100 người nhiều ảnh hưởng nhất thế giới."
Tỷ phú Warren Buffett. (Nguồn: thehill.com)

10. Alfred Marshall (1842-1924)

Marshall là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh, sinh ra tại London. Marshall có thể là một trong những nhà kinh tế ít được biết tới nhất trong số các nhà kinh tế học vĩ đại bởi ông không phải là tác giả của bất cứ một lý thuyết kinh tế kinh điển nào. Tuy nhiên, ông rất đáng được vinh danh bởi những nỗ lực nhằm áp dụng phương pháp toán học vào kinh tế, biến kinh tế học thành một môn khoa học thực sự chứ không chỉ mang tính triết học đơn thuần.

Marshall đã phải mất gần 10 năm để hoàn tất tác phẩm "Principles of Economics" (tạm dịch là "Những nguyên lý cơ bản của Kinh tế học") vào năm 1890.

Cuốn sách này được công nhận là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của ông, là một trong những cuốn sách giáo khoa kinh tế có tầm ảnh hưởng nhất ở nước Anh trong nhiều năm. Trong cuốn sách này, những mô hình đường cung, đường cầu, chi phí biên, lợi nhuận biên..., đã được tập hợp và biểu hiện một cách hệ thống và logic, làm nền tảng cho các mô hình kinh tế sau này.
Theo Minh Trang
Vietnam+
>> Lời khuyên của 10 nhà đầu tư vĩ đại

>> 10 nhà đầu tư giàu nhất thế giới


Share:

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

Những bài học đầu tư từ Keynes

Trước khi có Benjamin GrahamWarren Buffett hay George Soros và David Swensen, giới đầu tư đã có John Maynard Keynes.

Keynes, tác giả của những lý thuyết kinh tế có tầm ảnh hưởng lớn lao (mặc dù bên cạnh đó chúng còn là những câu chuyện gây nhiều tranh cãi), đã trở thành người đi đầu trong rất nhiều quan niệm về đầu tư mà ngày nay chúng ta coi là hiển nhiên.   

Keynes đã đầu cơ tiền tệ và hàng hóa ở thời điểm hàng thập kỷ trước khi Soros và Jim Rogers nổi tiếng với hoạt động này. Ông cũng đã coi trọng phương pháp đầu tư giá trị trước khi chúng trở thành “đặc điểm nhận dạng” của Graham và Buffett; hiểu thấu vai trò cực kỳ quan trọng của việc đa dạng hóa danh mục đầu tư trước khi Harry Markowitz đưa ra nhận định này. Keynes đã tiến hành một cuộc cách mạng trong phương pháp đầu tư của các tổ chức trước khi Swensen ở ĐH Yale hay Jack Meyer ở ĐH Harvard thực hiện.

John Maynard Keynes luôn thu được mức lợi nhuận đáng kinh ngạc, dễ dàng đánh bại các chỉ số chứng khoán kể cả khi thị trường biến động khó lường (ông đã từng mất hai khoản tiền lớn trong những năm 1920). Tuy nhiên, chính những khoản lỗ lớn này lại khiến Keynes chú tâm vào đầu tư hơn là đầu cơ. 

Trong cuốn sách mới với tựa đề “ Keynes’s Way to Wealth” (tạm dịch: Đường tới giàu có của Keynes), cựu phóng viên tài chính John F. Wasik đã phác họa một câu chuyện đầy hấp dẫn về cách đầu tư của Keynes. Với những tài liệu thu thập được từ thư viện của King’s College (trực thuộc ĐH Cambridge), Wasik đã đưa ra những lập luận hết sức thuyết phục để chứng minh rằng Keynes chính là một trong những nhà đầu tư vĩ đại nhất của thế kỷ 20 cũng như những bài học mà nhà đầu tư ngày nay có thể áp dụng. 

Điểm đặc biệt mà Wasik muốn chia sẻ thông qua cuốn sách của ông là cuộc đời của Keynes bên ngoài việc đầu tư. Những gì còn lại của cuộc đời ông thú vị hơn nhiều. Là một trí thức theo học tại Eton và Cambridge theo chương trình học bổng, ông nhận rất nhiều ảnh hưởng từ  nhà kinh tế học Alfred Marshall, nhà tâm lý học G.E. Moore và nhà toán học Bertrand Russell. Tất cả đều là những người nổi tiếng ở Cambridge trong thời gian đó.

Keynes trở thành một phần của Bloomsbury – một nhóm xã hội nổi tiếng bao gồm cả tiểu thuyết gia vĩ đại Virginia Woolf. Tư tưởng chủ đạo của Bloomsbury là chủ nghĩa duy tâm và cấp tiến.

Tư tưởng của Keynes được phản ánh rất rõ nét trong cuốn “ The Economic Consequences of the Peace” (tạm dịch: Hệ quả kinh tế của hòa bình) được xuất bản năm 1919.  Phê phán mạnh mẽ hòa ước Versailles Treaty, cuốn sách này cảnh báo phe thắng trận rằng họ đang kiểm soát nước Đức quá chặt và điều này sẽ sớm dẫn đến lạm phát. Lời tiên đoán của Keynes đã trở thành sự thực, hòa ước Versailles và siêu lạm phát ở Đức đã dọn đường cho thời kỳ Adolf Hitler lãnh đạo nước Đức. 

“ The Economic Consequences of the Peace” mau chóng trở thành cuốn sách bán chạy nhất trên toàn thế giới và cũng từ đây Keynes rút ra được cách thức kiếm tiền. “Tin rằng lạm phát trong thời hậu chiến sẽ làm tổn hại giá trị của đồng franc Pháp, đồng reichsmark Đức và đồng lira Italia, Keynes đã bán những đồng tiền này”, Wasik viết. Tuy nhiên, lợi nhuận của ông nhanh chóng bốc hơi khi đồng mark tăng giá mạnh trong sự lạc quan nhất thời của thị trường. 

Ông phản ứng bằng cách đầu tư vào hàng hóa. Sau khi nghiên cứu hàng nghìn trang tài liệu tại thư viện Cambridge library, Wasik kinh ngạc phát hiện ra Keynes đã linh hoạt như thế nào. “Có hàng nghìn giao dịch hàng hóa”.  

Tuy nhiên, mọi thứ lại một lần nữa sụp đổ vào năm 1929. Keynes đã phán đoán sai trong phần lớn giao dịch khi lượng cầu đổ vỡ. Những phán đoán về nền kinh tế vĩ mô và mối liên hệ với tiền tệ và hàng hóa của Keynes đã đi chệch hướng. 

Mất 80% tài sản dường như là một hồi chuông cảnh tỉnh. “Keynes học được rằng thứ mà ông gọi là “tinh thần động vật” (animal spirit) là không thể dự đoán được”, Wasik nói.

Bởi vậy, Keynes thay đổi hoàn toàn phương pháp đầu tư và chuyển sang tập trung vào vốn cổ phần. Đối mặt với cơn bán tháo tồi tệ nhất trong lịch sử, Keynes lại là người đi ngược xu hướng khi mua các cổ phiếu có diễn biến giá không tốt so với mức trung bình. Ông tập trung vào các công ty trả lợi tức cao với chuỗi kinh doanh chắc chắn như các công ty điện nước và khai khoáng. Ngoài ra, Keynes cũng mua các cổ phiếu có giá trị vốn hóa nhỏ và trung bình. Năm 1938, Keynes nhấn mạnh vào mức giá rẻ và giá trị tiềm năng của các cổ phiếu. 

Keynes cũng là một nhà cách mạng trong mảng quản lý tiền tệ. Trước Keynes, đầu tư tổ chức có nghĩa là “mua và nắm giữ trái phiếu”. Các định chế công của nước Anh chỉ có 3% tài sản là cổ phiếu vào năm 1920. Đến năm 1937 tỷ lệ được nâng lên mức khiêm tốn 10%.  Quản lý danh mục cho King’s College và hai công ty bảo hiểm, Keynes phá vỡ quy luật này và đầu tư phần lớn vào cổ phiếu. 

Tuy nhiên, ông cũng là người tin vào khái niệm “rủi ro tiềm ẩn” khi nắm giữ các tài sản như trái phiếu, bất động sản và vàng. Đây là tiền đề cho việc chú trọng vào đa dạng hóa danh mục trong các lý thuyết đầu tư hiện đại. 

Danh mục mà ông quản lý cho King’s College đã trở thành điểm sáng trên thị trường trong suốt những năm 1930, ngoại trừ năm 1938 – khi ông mất 2/3 tài sản. Khi ông qua đời năm 1946, tài sản của ông có giá trị khoảng 36 triệu USD. 

Một nghiên cứu được công bố năm 1983 cho thấy độ lệch chuẩn trong danh mục của King’s College lên tới 29% - cao hơn gấp đôi so với thị trường. “Keynes đã sử dụng quá nhiều đòn bẩy, thậm chí đi vay tiền để mua cổ phiếu”, Wasik nói. 

Rõ ràng đây là điều mà các nhà đầu tư không nên làm theo. Tuy nhiên, mua các cổ phiếu giá thấp, tập trung vào giá trị, đa dạng hóa danh mục và đầu tư vào những cổ phiếu có cổ tức cao là bài học hữu ích. 

Vẫn còn một bài học nữa: Keynes luôn có một kế hoạch. “Nếu bạn có kế hoạch, hãy kiên định với nó và bỏ qua những nhiễu loạn trên thị trường. Hầu hết mọi người không thể làm được điều này”, tác giả chia sẻ. 

Keynes đã làm được điều đó, và đó cũng là lý do tại sao trong đầu tư và kể cả trong kinh tế học, tất cả mọi người đều học theo Keynes.
Theo Diễn đàn doanh nghiệp/Marketwatch 
>> Chiến lược đầu tư của Keynes và bài học cho các quỹ đầu cơ
>> John Maynard Keynes: Nhà đầu cơ khởi phát cách mạng kinh tế

Share:

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

Chiến lược đầu tư của Keynes và bài học cho các quỹ đầu cơ

Mặc dù Keynes là một trong những nhà đầu tư thành công nhất trong nửa đầu thế kỷ 20, những bài học mà Keynes học được từ những thất bại quá trình đầu tư vẫn còn vang vọng đến tận ngày nay.
Cho đến tận ngày nay, lý thuyết kinh tế vĩ mô của nhà kinh tế học John Maynard Keynes vẫn tiếp tục là tâm điểm của các cuộc tranh luận về chính sách kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, chúng ta không nên quên rằng nhà kinh tế học vĩ đại này cũng là 1 trong những nhà đầu tư hoạt động sôi nổi nhất trong thời kỳ đầu những năm 1930.

Ở 1 khía cạnh nào đó, Keynes cũng chính là người đi tiên phong trong lĩnh vực quỹ đầu cơ. Ông đã đầu tư vào các macro hedge fund (loại quỹ tìm kiếm lợi nhuận từ các biến động của các chính sách vĩ mô như chính sách lãi suất – điều ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ, chứng khoán và trái phiếu) vào những năm 1920 và sau đó là các quỹ đầu cơ chứng khoán vào những năm 1930. 

Keynes đã kiếm được rất nhiều tiền từ đầu tư nhưng cũng bị thua lỗ khá nhiều. Các khoản lợi nhuận cũng như thua lỗ không chỉ liên quan đến tài sản của chính Keynes mà là tài sản của bạn bè, đồng nghiệp (tại King’s College hay Cambridge) và đến cả các tổ chức mà ông đóng vai trò là chủ tịch hoặc người sáng lập. 

Mặc dù Keynes là một trong những nhà đầu tư thành công nhất trong nửa đầu thế kỷ 20, những bài học mà Keynes học được từ những thất bại quá trình đầu tư vẫn còn vang vọng đến tận ngày nay.    

Keynes thực sự bắt đầu hoạt động đầu tư vào đầu những năm 1920. Khi đó, ông tin rằng hệ thống tiền tệ của các nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh thế giới thứ nhất (bao gồm Đức, Pháp và Italia) sẽ sớm sụp đổ khi lạm phát tăng vọt. Rất tự tin rằng đây là cơ hội để kiếm tiền, Keynes tuyên bố rằng chỉ cần có “một chút kiến thức uyên thâm và kinh nghiệm,” nhà đầu tư có thể kiếm tiền 1 cách đơn giản.

Tuy nhiên, thực tế không hoàn toàn như vậy. Tháng 5/1920, thị trường nhất thời trở nên lạc quan về những tiến triển ở nước Đức. Do đó, vị thế của những nhà đầu tư có tỷ lệ đòn bẩy quá cao trên thị trường nhanh chóng bị đảo ngược. 

Keynes bị thua lỗ nặng và phải vay thêm tiền của người cha để bù lại số lỗ. Đến năm 1922, ông đã hoàn trả được cho các thành viên trong nghiệp đoàn số tiền thua lỗ và có tài sản tích lũy cá nhân trị giá 21.000 bảng Anh.

Những phán đoán về mặt kinh tế vĩ mô của Keynes vẫn là chính xác như thường lệ. Tuy nhiên, ông đã học được một bài học quan trọng: thị trường có thể sai lệch trong thời gian dài hơn so với thời gian mà hầu hết các nhà đầu tư có thể giữ vững được thanh khoản.

Cuối những năm 1920, Keynes lại lặp phải 1 sai lầm khác. Ông tin rằng Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ có thể giữ vững được tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế bởi lạm phát đang trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên, mọi thứ lại diễn biến ngược lại. Do đó, tài sản của ông bị sụt giảm trước các biến động của thị trường chứng khoán. Đặc biệt, ông bị ảnh hưởng nặng nề bởi thị trường hàng hóa trong thời gian từ 1928 – 1929, khi Fed bất ngờ thắt chặt chính sách lãi suất và đế chế cao su toàn cầu sụp đổ.

Như vậy, 1 lần nữa, Keynes lại bị thua lỗ lớn khi cuộc đại khủng hoảng bắt đầu. Thời kỳ này dạy cho Keynes 2 bài học: không được chống lại Fed và cũng không được hiểu lầm những động thái của Fed. Đương nhiên, hiểu được chính xác những động thái của Fed không phải là điều dễ dàng.

Theo tài liệu nghiên cứu của D.E. Moggridge đưa ra vào năm 1992,  Keynes là 1 người cực kỳ “cứng đầu” trước những biến động trong ngắn hạn của thị trường. Quá tự tin cùng với bảo thủ là điều tối kỵ đối với 1 nhà đầu tư quỹ macro. Kết quả đầu tư của Keynes trong thời kỳ những năm 1920 không mấy tốt đẹp.  

Tuy nhiên, giống như các nhà đầu tư vĩ đại khác, Keynes đã học được sự khiêm tốn và nhún nhường từ những thất bại trong quá khứ. Sang đến giữa những năm 1930, ông đã đặt niềm tin vào Tổng thống Franklin D. Roosevelt, cho rằng ông này sẽ thành công trong việc kích thích nền kinh tế Mỹ.

Một lần nữa, ông lại sử dụng margin để tạo đòn bẩy cho danh mục đầu tư cá nhân. Mặc dù danh mục vẫn bị biến động mạnh, ông đã chọn đúng thời điểm và chứng kiến tài sản tăng vọt, vượt mức 400.000 bảng Anh khi ông qua đời năm 1946.

Không dừng lại ở đó, Keynes đã áp dụng phương thức tiếp cận mới khi đầu tư vào chứng khoán. Đầu năm 1924, Keynes đã nhận ra rằng trong dài hạn, phần bù rủi ro của cổ phiếu sẽ tạo ra lợi nhuận vượt trội so với trái phiếu. Trong khi đó, hầu hết các nhà đầu tư trên thị trường vào thời kỳ đó đều tin vào điều ngược lại.

Có thể nói, chiến lược phân bổ cổ phiếu và trái phiếu trong danh mục đầu tư của Keynes đã trở thành 1 bước đột phá. Ở đây, 1 bài học có thể được rút ra: chọn đúng loại tài sản để đầu tư luôn là nền tảng quan trọng nhất để thành công trong dài hạn.

2 học giả David Chambers và Elroy Dimson đã dựa trên những dữ liệu thu thập được từ King’s College để phân tích về kết quả đầu tư của Keynes. Họ rút ra kết luận rằng phương pháp đầu tư của Keynes là tập trung vào một số cổ phiếu chủ chốt (đây cũng là phương pháp được Warren Buffett áp dụng). 

Bên cạnh những cổ phiếu có giá trị vốn hóa cao, Keynes cũng tập trung đầu tư vào các cổ phiếu có vốn hóa nhỏ hoặc trung bình nhưng trả cổ tức cao. Keynes đã trở thành 1 nhà đầu tư ngược xu thế (contrarian investor) khi mua những cổ phiếu có diễn biến không tốt bằng diễn biến chung của thị trường. Ông cũng sử dụng đòn bẩy nhưng đi kèm với đó là các giới hạn chặt chẽ để có thể kiểm soát rủi ro. Cho đến nay, hầu hết các nhà quản lý quỹ đầu cơ chứng khoán (cả ngắn hạn và dài hạn) đang áp dụng các kỹ thuật này vào danh mục đầu tư của họ. 

Theo Chambers và Dimson, trong suốt 22 năm quản lý danh mục đầu tư của King’s College, hệ số Sharpe (thước đo lợi nhuận trên một đơn vị rủi ro khi đầu tư) trong danh mục của Keynes là 0,69, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ trung bình 0,45 của các danh mục cùng thời kỳ. Bất cứ nhà đầu tư nào hướng đến tỷ lệ cao hơn tỷ lệ này đều đang theo đuổi 1 giấc mơ không thể trở thành hiện thực. 
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?