Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn Do thái. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Do thái. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

Cuộc đời khó tin của George Soros - Từ chàng trai liên tiếp thất bại khi đi xin việc đến "kẻ cắp NHTW"

Từ một đứa trẻ tị nạn Do Thái chạy trốn khỏi cuộc chiếm đóng của Đức quốc xã những năm 1944, đến nay ông lại trở thành một nhà từ thiện hỗ trợ cho những người tị nạn và kêu gọi quyền bình đẳng trên thế giới.

Đối với những người quan tâm đến thị trường chứng khoán, tỷ phú Soros còn được biết đến với sự nghiệp lâu dài là một nhà đầu tư lẫy lừng ở phố Wall, “kẻ phá sập Ngân hàng Anh” hay nhà đầu tư huyền thoại không kém cạnh tỷ phú Warren Buffett.

Từ một đứa trẻ tị nạn Do Thái chạy trốn khỏi cuộc chiếm đóng của Đức quốc xã những năm 1944, đến nay ông đã trở thành một nhà từ thiện hỗ trợ cho những người tị nạn và kêu gọi quyền bình đẳng trên thế giới.

Dưới đây là câu chuyện về cuộc đời đáng ngưỡng mộ của tỷ phú George Soros qua ảnh.


Giai đoạn năm 1944 - 1945, khi Đức Quốc xã chiếm đóng Hungary, Soros và cả gia đình sống sót nhờ cha ông sắp xếp làm giấy tờ tùy thân giả.


Sau đó ông chạy trốn từ Hungary sang nước Anh, vừa theo học ngành Triết học tại trường Kinh tế London vừa làm việc như một nhân viên đường sắt và bồi bàn tại câu lạc bộ đêm.


Sau khi tốt nghiệp, Soros đã viết thư cho tất cả giám đốc điều hành ở tất cả các ngân hàng thương mại tại London để xin một cuộc hẹn phỏng vấn, nhưng chỉ nhận lại “một đến 2 câu trả lời”.


Soros mô tả thời kỳ này là một “điểm đen tối” trong cuộc đời ông khi liên tục bị thất bại trong các cuộc phỏng vấn xin việc. Ông đã phải chấp nhận công việc làm nhân viên bán hàng cho một nhà bán sỉ hàng hóa tự chọn.


Cuối cùng ông cũng được Singer & Friedlander – một ngân hàng thương mại ở London tuyển vào vị trí thư ký. Soros nói rằng Singer thuê ông chỉ bởi vì giám đốc điều hành của họ là người Hungary.


Trong giai đoạn những năm 1950, Soros chuyển đến New York để làm việc cho F.M. Mayer. Sau thời gian làm việc ở vị trí phân tích và trader tại nhiều công ty khác nhau, ông đã sáng lập nên quỹ Soros Fund Management vào năm 1970.


Jim Rogers (trong ảnh) và Stanley Druckenmiller là hai người cộng sự đã đồng hành cùng ông ở Soros Fund Management. Và họ đều trở thành những nhà đầu tư huyền thoại theo cách riêng của mỗi người.


Soros kiếm được 1 tỷ USD chỉ trong 24 giờ vào ngày 16/9/1992 khi ông đặt cược lớn vào đồng bảng Anh.


Trong suốt 41 năm, từ 1969 đến 2009, ông đã giúp cho quỹ Soros Fund Management tăng trưởng với tốc độ chóng mặt 26,3% - một khoản đầu tư trị giá 10.000$ đã tăng trưởng lên thành 143,7 triệu USD.


Mức tăng trưởng này được đánh giá là tốt hơn cả mức lợi nhuận đầu tư của tỷ phú Warren Buffet (21,4%) trong cùng thời kỳ – tức là một khoản đầu tư trị giá 10.000$ tăng trưởng thành 28,4 triệu USD.


Soros đã sử dụng nền tảng kiến thức về triết học để phát triển lý thuyết về tính phản xạ của riêng ông trên thị trường chứng khoán – nơi được coi là thành tựu to lớn của cuộc đời nhà đầu tư huyền thoại này.


Soros từng tài trợ 50 triệu USD cho Viện đổi mới tư duy kinh tế, nhằm mục đích khuyến khích tư duy kinh tế mới sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.


Trong những năm gần đây, Soros đã chuyển hướng sang các hoạt động từ thiện hỗ trợ người tị nạn quốc tế và nỗ lực thúc đẩy một “xã hội cởi mở” trên toàn cầu.


Soros quay trở lại thị trường giao dịch vào năm 2016 khi ông dự đoán những bất ổn chính trị có thể mang lại cơ hội kiếm được lợi nhuận lớn hơn trên thị trường.


Tuy nhiên, mọi thứ đã không diễn ra như mong đợi khi ông bị mất 1 tỷ USD sau kết quả bầu cử đáng kinh ngạc của Mỹ.


Soros từng viết rằng nước Mỹ đã “bỏ phiếu cho một gã hề”. Ông cũng sớm cảnh báo bạn bè của mình rằng “việc kinh doanh trong khoảng thời gian này sẽ không như bình thường”.


Vào tháng 5 vừa qua, một số nguồn tin cho biết Soros là một trong những nhà đầu tư đã rót vốn vào một start-up công nghệ do con rể của Tổng thống Trump - Jared Kushner sáng lập.


Trong khi đó, ở phía bên kia bờ Đại Tây Dương, hàng ngàn người dân đã xuống đường biểu tình phản đối khi Thủ tướng Hungary ra lệnh đóng cửa một trường đại học do Soros sáng lập.


Soros từ lâu đã được xem là người khởi xướng của các thuyết âm mưu thân phe hữu. Tờ Breitbart News từng nhiều lần đăng tải những câu chuyện cáo buộc Soros đã trả tiền cho những người biểu tình chống lại Tổng thống Trump mặc dù thiếu bằng chứng.


Theo Trí thức trẻ/Business Insider
Share:

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Trong khi trẻ em Do Thái 5 tuổi đã phải 'làm thêm' kiếm tiền thì thanh niên Việt 20 tuổi vẫn được dạy: 'Không được thế, nhiệm vụ của con là phải học'

Từ khi sinh ra, trẻ em Do Thái đã được dạy rằng: Muốn có tiền tiêu vặt, cần phải lao động.

http://www.blogchungkhoan.com/search/label/Do%20th%C3%A1i?&max-results=7?&max-results=7
“Nhiệm vụ của con là phải học” là câu cửa miệng của nhiều phụ huynh Việt Nam khi nhắc nhở con cái của mình từ khi học lớp 1 cho đến hết Đại học, thậm chí là đang học lấy bằng Thạc sĩ.

Bố mẹ Việt Nam quan niệm rằng, con cái chỉ nên tập trung vào việc học sao cho thật giỏi, lấy được tấm bằng đẹp sẽ dễ dàng xin việc. Còn nhiệm vụ KIẾM TIỀN là chuyện của bố mẹ.

Thế nhưng, trái ngược ở Việt Nam, phụ huynh Do Thái luôn dạy con kiếm tiền và biết giá trị của đồng tiền ngay từ khi mới sinh ra.

Trẻ em Do Thái từ 1-3 tuổi sẽ phải học nhận biết được tiền xu và tiền giấy. Khi 3-4 tuổi, trẻ phải biết dùng tiền xu mua những món hàng đơn giản, hoặc dùng tiền trao đổi hàng hóa, hiểu được giá trị của đồng tiền. Và khi lên 5 tuổi, trẻ em đã bắt đầu “làm thêm” để kiếm tiền.

Ở Isarel, các bậc phụ huynh cho rằng, 5 tuổi là giai đoạn thích hợp nhất để con "làm thêm” kiếm tiền. Cha mẹ Do Thái đặc biệt chú ý đến khả năng lao động của trẻ.

Thông thường, đến 5 tuổi, cha mẹ sẽ giao một số việc nhà cho trẻ làm và thưởng tiền. Chẳng hạn, lau nhà là 15 xu, quét dọn phòng 20 xu, đổ rác 5 xu… Khi trẻ lớn dần lên, cha mẹ sẽ giao cho trẻ một số công việc khó khăn hơn, đương nhiên tiền thưởng cũng sẽ cao hơn.

Tuy vậy, không phải tất cả việc nhà đều được nhận tiền thưởng. 

Người Do Thái rất thông minh, không phải bất cứ công việc nhà nào mà trẻ làm đều được thưởng tiền. Vì có một số việc nhà thuộc trách nhiệm của trẻ, ví dụ như tự giặt những bộ quần áo nhỏ, thu dọn và sắp xếp sách vở gọn gàng… Những công việc này đều không có tiền thưởng, chỉ có một số cha mẹ thống nhất với trẻ rằng, làm xong việc nhà và làm tốt mới được nhận tiền thưởng.

Ngoài ra, một số công việc nhà làm hay không làm hoàn toàn do trẻ quyết định, trẻ làm cũng không có tiền mà không làm cũng không sao. Cách phân loại công việc hợp lý như vậy sẽ nâng cao tinh thần nhiệt tình làm việc của trẻ.

Khi trẻ được hơn 10 tuổi, cha mẹ Do Thái thường liệt kê một bảng công việc hàng ngày cho trẻ, sau mỗi công việc sẽ ghi số tiền tương ứng. Trẻ hoàn thành công việc xong sẽ nhận được số tiền đó.

Lúc đầu, cha mẹ không nên để cho trẻ làm quá nhiều việc gây cảm giác mệt mỏi, từ đó khó hoàn thành kế hoạch.

Thông thường, cha mẹ sẽ sắp xếp công việc cho trẻ theo chiều hướng tăng dần về số lượng cũng như độ khó, mục đích là nhằm giúp trẻ yêu lao động, hiểu được giá trị của lao động.

Tất cả số tiền thưởng mà con kiếm được (dù ít hay nhiều) cũng sẽ được gửi vào tài khoản ngân hàng riêng của con. Và số tiền đó được dùng trong mục đích tùy con quyết định song bố mẹ luôn khuyến khích chúng tiêu dùng có ích, một phần để mua sách vở, làm từ thiện… và số còn lại để đầu tư sinh lời.

Bên cạnh việc kiếm tiền, người Do Thái cho rằng, khi làm việc nhà, trẻ còn học được các kỹ năng sống tự lập, từ đó thích nghi với cuộc sống hơn. Trong trường hợp bố mẹ có việc bận không ở nhà, trẻ sẽ tự biết xoay sở tốt mà hoàn toàn không cảm thấy khó khăn.

Trẻ em Do Thái 16-17 tuổi hầu hết đã nắm được một số kiến thức kinh tế, như kiến thức cơ sở của kinh tế vĩ mô, học cách quan tâm chú ý đến kinh tế thị trường toàn cầu, bắt đầu hiểu một số mối quan hệ giữa các công cụ tiền tệ.

Những bậc cha mẹ Việt sẽ kinh ngạc vì với trẻ vị thành niên hoàn thành những nhiệm vụ trên là thử thách không hề dễ dàng. Nhưng với trẻ em Do Thái, nhiệm vụ đó dễ như trở bàn tay, vì các em từ nhỏ đã được giáo dục về tài chính, và được giáo dục rằng: Nếu muốn có tiền tiêu cần phải lao động.

>> 10 định luật làm giàu của người Do Thái, 3.000 năm vẫn còn có giá trị

Hồng Minh
Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

10 định luật làm giàu của người Do Thái, 3.000 năm vẫn còn có giá trị

Người Do Thái cho rằng: Bánh sẽ không tự nhiên rơi từ trên trời xuống. Bởi vậy, những điều tốt đẹp đều có nguyên do ở phía sau, nếu không có cơ hội sẽ không vô duyên vô cớ rơi vào tay bạn.



Dưới đây là 10 định luật làm giàu được các học giả Do Thái tổng kết lại từ nhiều năm trước :

1. Tư duy của Edison: Thất bại là mẹ thành công


Edison xem mỗi lần thử nghiệm thất bại là một lần thu hoạch, bởi ít nhất chúng đã chứng minh rằng nguyên liệu thử nghiệm hoặc phương pháp đó là bất khả thi.


Do đó, sợi đốt của bóng đèn đã phải trải qua hơn 6.000 cuộc thử nghiệm mới có thể thành công.

 (Ảnh minh họa: nguồn internet)


Những người Do Thái khởi nghiệp luôn thể hiện một ý chí kiên cường, cho dù gặp phải bao nhiêu lần thất bại, họ đều cho rằng những cái đó đều là trải nghiệm cần có để tiến đến thành công.

2. Hiệu ứng Matthew: Nhất định phải trở thành người dẫn đầu


Nếu muốn giữ được ưu thế trong một lĩnh vực nào đó, thì cần phải cấp tốc trở thành người đi đầu trong lĩnh vực ấy. Khi bạn trở thành người dẫn đầu, cho dù tỷ suất hoàn vốn là giống nhau, bạn cũng có thể dễ dàng thu được lợi ích lớn hơn so với những người cùng ngành nhưng yếu hơn.

 (Ảnh minh họa: nguồn internet)


Trong kỹ năng sáng nghiệp kinh doanh, một khi người Do Thái giành được ưu thế trong lĩnh vực nào đó, họ sẽ cấp tốc đột phá mạnh mẽ hơn; khi xuất hiện đối thủ lớn mạnh, họ sẽ đi theo một cách khác, tìm ra chính xác điểm yếu của đối thủ và ưu thế của bản thân.

3. Định luật dao cạo Occam: Hãy đơn giản hết mức!


Định luật dao cạo Occam cho chúng ta biết rằng: Vạn sự vạn vật nên “đơn giản hết mức” chứ không phải là đơn giản hơn.
 (Ảnh minh họa: nguồn internet)


Người Do Thái thích duy trì tính đơn giản của sự việc, nắm bắt căn bản, giải quyết thực chất, không thích làm phức tạp hóa sự việc, có như vậy mới có thể giải quyết xong sự việc một cách nhanh chóng và có hiệu suất hơn.

4. Định luật đồng hồ: Một người không thể có hai người chỉ huy


Chỉ cần có một chiếc đồng hồ bạn có thể biết được bây giờ là mấy giờ. Nhưng khi sử dụng hai chiếc đồng hồ cùng một lúc, bạn lại không thể nào xác định giờ. Hai chiếc đồng hồ không thể nói cho một người biết thời gian chính xác hơn.

 (Ảnh minh họa: nguồn internet)


Trong phương pháp sáng nghiệp kinh doanh, người Do Thái cho rằng không thể cùng lúc ứng dụng hai loại quản lý khác nhau, cũng không thể cùng lúc thiết lập hai mục tiêu khác nhau.

Một người không thể để cho hai người chỉ huy cùng một lúc, mỗi người cũng không thể cùng lúc lựa chọn hai loại quan niệm giá trị khác nhau.

5. Định luật thùng gỗ: Thùng có thể đựng bao nhiêu nước là quyết định ở tấm gỗ ngắn nhất


Mỗi doanh nghiệp đều có khâu yếu kém của mình. Chính những khâu này làm doanh nghiệp có rất nhiều nguồn nhân lực nhàn rỗi thậm chí là lãng phí, không phát huy được tác dụng đáng có.
 (Ảnh minh họa: nguồn internet)


Người Do Thái cho rằng mỗi một đồng vốn đều phải xoay quanh một trọng tâm, mỗi một bộ phận đều phải xoay quanh mục tiêu trọng tâm mà cố gắng. Xoay quanh một vòng tròn trọng tâm, hình thành một vòng tròn thích hợp với mình nhất.

6. Định luật rượu và nước bẩn: Kịp thời dẹp sạch phần tử tiêu cực


Một muỗng rượu đổ vào một thùng nước bẩn, bạn sẽ có được một thùng nước bẩn; Đổ một muỗng nước bẩn vào trong một thùng rượu, cái bạn nhận được vẫn là một thùng nước bẩn!

Người Do Thái không nhân nhượng đối với tổ viên hoặc những thứ phá hoại tổ chức, họ cho rằng cần phải kịp thời xử lý ngay cả trước khi những phần tử tiêu cực này bắt đầu phá hoại.

7. Hiệu ứng ruồi ngựa: Con ngựa lười biếng ra sao, chỉ cần có ruồi ngựa cắn chích cũng sẽ hăng hái tinh thần


Ngựa bị ruồi chích rồi mới có thể chạy nhanh hơn, bất kể nó là con ngựa lười biếng ra sao. Con người chúng ta cũng như vậy.




Trong phương pháp sáng nghiệp kinh doanh, người Do Thái cho rằng: chỉ khi bị ai đó đuổi theo, người ta mới không dám buông lỏng, mới biết cố gắng phấn đấu. Từ góc độ này cho thấy, chúng ta nên cám ơn đối thủ cạnh tranh của mình, bởi họ chính là chuông báo tốt nhất cho ta hoàn thiện.

8. Tư duy cá bống: Không theo trào lưu, học cách suy nghĩ độc lập


Cá bống lấy con cá khỏe mạnh làm thủ lĩnh tự nhiên, cho dù hành động của con cá bống thủ lĩnh này xảy ra hỗn loạn, những con cá bống khác vẫn mù quáng chạy theo như trước.

Ngay từ nhỏ, người Do Thái đã phải học cách suy nghĩ độc lập, không mù quáng chạy theo trào lưu.

9. Tư duy Florence: Mục tiêu giống như hải đăng, đủ sáng mới có thể chỉ dẫn tàu thuyền


Mục tiêu cần phải “nhìn thấy được”, đời người không nhìn thấy được mục tiêu sẽ mất đi phương hướng tiến về trước, cho dù bạn có tràn trề tinh lực đi nữa cũng là làm việc vô ích.




Người Do Thái luôn nhấn mạnh ý nghĩa của việc định vị chính xác, mục tiêu rõ ràng, tất cả xoay quanh thực hiện mục tiêu mà tiến hành.

10. Tư duy tương quan: Không có bất cứ sự vật nào có thể tồn tại độc lập


Giữa các sự vật có sự tương tác, chúng sẽ không tồn tại độc lập.

Trong phương pháp sáng nghiệp kinh doanh, người Do Thái cho rằng sẽ không có bánh rơi từ trên trời xuống, bất cứ sự vật gì dẫu nhìn thấy là tốt đẹp thì đều có nguyên nhân của nó, không có cơ hội vô duyên vô cớ để lại cho bạn.

>> Bà mẹ Do thái nhỏ mật lên sách cho bé liếm để nó luôn nhớ sách rất ngọt ngào
 Châu Yến biên dịch
Đại Kỷ Nguyên
Share:

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2016

Tỉ phú gốc Do Thái thông minh nhất thế giới dùng toán học vận hành phố Wall thế nào?

James Harris Simons bước vào lĩnh vực tài chính bằng bản lĩnh và trí tuệ của một thiên tài toán học. Ông trở thành nhà phân tích định lượng tài chính nổi tiếng nhất thế giới, sở hữu khối tài sản hàng tỷ USD và còn được biết đến bởi sự hào phóng, đầu tư mạnh cho sự phát triển của khoa học và toán học.

James Harris Simons – Một thiên tài toán học “đãng trí”

James Harris Simons sinh năm 1938 trong một gia đình Do Thái ở Brookline, Massachusetts, Mỹ. Năm 14 tuổi, trong dịp nghỉ lễ Giáng sinh, ông làm thuê cho một cửa hàng cung cấp vật dụng làm vườn. Ban đầu, công việc của ông là quản lý kho hàng hóa nhưng nhanh chóng bị hạ cấp xuống làm nhân viên lau dọn, quét sàn do tính đãng trí. Ông thường xuyên quên vị trí của các món đồ. Cuối kì nghỉ, ông thôi việc tại cửa hàng. Ông chủ khi đó vô cùng ngạc nhiên, khó tin khi cậu nhân viên “hay quên” của mình tuyên bố: muốn được học ngành toán tại Học viện công nghệ Massachusetts (MIT) danh giá.

James Harris Simons đã chứng minh mình nói được làm được. Điểm thi xuất sắc cùng với thư giới thiệu của giáo viên trường trung học phổ thông đã giúp ông trở thành sinh viên của ngôi trường uy tín. Ông tốt nghiệp MIT sau 3 năm và mất thêm 3 năm sau đó để nhận bằng tiến sĩ của trường Đại học Berkeley, California. Chính tại Berkeley, ông gặp gỡ với thần đồng toán học Trung Quốc, tiến sĩ Chern. Bộ đôi cùng nhau nghiên cứu, tạo nên một bước đột phá lớn trong lý thuyết trường lượng tử ba chiều bằng việc xây dưng cụ thể một dạng vi phân đặc biệt. Cống hiến đó hiện nay được gọi là lý thuyết Chern-Simons.

Hoàn thành việc học và nghiên cứu ở Berkeley, ông trở lại Massachusetts dạy toán tại MIT, sau đó là Harvard. Năm 1964, ông làm việc tại Viện Phân tích Quốc phòng (Institute for Defense Analyses), giúp giải mã và truy lùng các mối đe dọa quân sự tiềm năng cho Cục An ninh Quốc gia (National Security Agency). Năm 1968, ông chuyển tới SUNY Stonybrook làm trưởng khoa Toán. Năm 1976, ông thắng Oswald Veblen Prize, giải thưởng danh giá nhất về lĩnh vực hình học của Hiệp hội Toán học Mỹ.


Con đường trở thành nhà đầu cơ thông thái nhất

Mặc dù đã đạt được những thành tựu lớn trong lĩnh vực toán học và giảng dạy, James Harris Simons quyết định theo đuổi sự nghiệp tài chính. Năm 1978, ông xây dựng quỹ đầu tư Monemetrics, tiền thân của công ty cực thành công sau này: Renaissance Technologies (năm 1982). Ban đầu, James không nghĩ tới việc sử dụng toán học vào công việc kinh doanh, tuy nhiên qua thời gian, ông nhận ra các mô hình, thuật toán quản lý có thể hỗ trợ đắc lực cho việc phân tích dữ liệu.

Tư duy đổi mới của ông thay đổi hoàn toàn bức tranh đầu tư của thị trường tài chính khi đó. Ông đã tuyển chọn rất nhiều lập trình viên, chuyên gia vật lý, xử lí tín hiệu, thống kê và tất nhiên không thể thiếu các nhà toán học. Phố Wall vốn tưởng chỉ dành cho những người làm/nghiên cứu về tài chính nay có thêm sự xuất hiện của những người được cho là “ngoại đạo”, chưa hề có kinh nghiệm về thị trường tài chính. Thế nhưng đây lại chính là bí quyết thành công của James Harris Simons và Renaissance Technologies.

James cùng các cộng sự thu thập các số liệu tài chính và sử dụng các công thức toán học cực kì phức tạp để phân tích, đưa ra dự đoán, tiến hành giao dịch trên thị trường thế giới. "Môi trường làm việc tốt và những cộng sự thông minh có thể giúp bạn đạt được những thành tựu lớn" – Simons chia sẻ.

James được mệnh danh là “Quant King” (ông vua định lượng) – đại diện thành công nhất của những nhà phân tích định lượng, sử dụng toán học cao cấp trong lĩnh vực tài chính. Tạp chí Financial Times 2006 gọi ông là “tỉ phú thông minh nhất thế giới”.

Năm 2015, ông xếp thứ 67 trong bảng xếp hạng các tỉ phú thế giới và thứ 32 bảng xếp hạng tỉ phú Mỹ của tạp chí Forbes. Cũng theo Forber, ông chủ của Renaissance Technologies là nhà kinh doanh – quản lý quỹ đầu cơ có thu nhập cao thứ 2 thế giới với 1,67 tỉ USD. Tính đến 15/02/2016, tổng giá trị tài sản ròng của cá nhân ông đã lên tới 15,5 tỉ USD.
 “Quant King” và vợ, bà Marilyn Simons.

Một trái tim hào phóng

Không chỉ là một tỉ phú giàu có với những chiến lược kinh doanh, đầu tư thông minh, James Harris Simons còn được biết đến bởi sự hào phóng và hết mình cho sự phát triển của khoa học và toán học.

Năm 1994, ông cùng với vợ là bà Marilyn Simons thành lập Quỹ Simons (Simons Foundation) hỗ trợ cho các nghiên cứu khoa học, giáo dục và sức khỏe. Ông đã đóng góp hơn 1 tỉ USD cho hoạt động của quỹ.

Thêm vào đó, ông còn thành lập quỹ Math of America nhằm mục đích khuyến khích và hỗ trợ cho các giáo viên khoa học, toán học thực hiện tốt vai trò giảng dạy đồng thời nâng cao năng lực bản thân.

>> Những thiên tài toán học đang vận hành Phố Wall


Nguyễn Nguyễn
Theo Trí thức trẻ/Tổng hợp
Share:

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2016

Bà mẹ Do thái nhỏ mật lên sách cho bé liếm để nó luôn nhớ sách rất ngọt ngào

Từ ngàn xưa, người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được.

Trong lịch sử, người Do Thái được biết đến là một sắc tộc tôn giáo có nguồn gốc từ Israel. Dù hiện nay người Do Thái sống rải rác tại nhiều quốc gia khác nhau, nhưng chỉ có Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái.

Dân số người gốc Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng gần 13,8 triệu người (khoảng hơn 0,19% dân số thế giới – số liệu năm 2013), tức là cứ khoảng 517 người thì có 1 người Do Thái.

Thế nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy, có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0,19% dân số đảm nhiệm. Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch… đều là người Do Thái.

Vậy tại sao các thế hệ người Do Thái lại có được trí tuệ như vậy (chỉ số IQ trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới)? Trong cuốn “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu” có đưa ra lời giải thích cụ thể cho vấn đề này.

Vai trò của bà mẹ Do Thái 

Bà mẹ Do Thái dạy con từ khi mang thai. Các bà mẹ thường nghe nhạc, chơi đàn, hát và… làm toán cho đến khi sinh con ra. Các thai phụ làm vậy vì tin rằng cách đó sẽ làm đứa bé sau này trở nên thông minh. Người mẹ chọn ăn hạnh nhân, chà là, uống dầu cá và ăn cá nhưng tránh ăn đầu cá vì tin rằng tất cả điều đó sẽ giúp cho con trở nên thông thái.

Từ lúc còn ẵm ngửa đứa bé, bà mẹ đã tạo cho con thói quen thích sách bằng cách dùng mẹo nhỏ vài giọt mật lên cuốn sách và cho bé liếm. Khi đó, trong nhận thức non nớt của đứa trẻ, sách là cái gì đó rất ngọt ngào, hấp dẫn.

Ủy ban công nghiệp thành phố New York (Mỹ) có cuộc điều tra nguồn nhân lực vào năm 1950 và nhận thấy có sự khác biệt lớn về việc đi làm công nhân giữa phụ nữ Ý với phụ nữ Do Thái. Phụ nữ Ý thường phải đi làm và còn bắt con nghỉ học để đi làm phụ cha mẹ, các bà mẹ Do Thái thì ngược lại. Dù kinh tế khó khăn, họ vẫn ở nhà để nuôi dạy con, dồn hết trách nhiệm kiếm sống cho chồng - người ban ngày đi làm nhưng tối về có nghĩa vụ học và dạy cho con học.

Nhờ sự chăm sóc, động viên của cha mẹ mà học sinh Do Thái nổi tiếng trong trường về thành tích học tập và tính chuyên cần, khác hẳn với học sinh nhiều dân tộc khác. Vào năm 1954, hệ thống trường công của thành phố New York thống kê được 28 học sinh có chỉ số IQ cực cao lên tới 170 điểm, thì trong đó 24 là học sinh Do Thái.

Ngoài ra, những người này còn quan niệm điểm không quan trọng bằng cách học, mà đã học thì phải hỏi. Chính vì vậy, học sinh Do Thái được khuyến khích đặt thật nhiều câu hỏi cho giáo viên.

Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái…

Hệ thống giáo dục phổ thông 

Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em gồm kinh doanh, toán học, khoa học. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biệt nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học.

Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái.

Xã hội Do Thái từ rất sớm đã coi trọng việc xóa mù chữ, sách và người có học thức

Dân tộc Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới - từ năm 64 đầu Công nguyên - mà nhà thờ quy định tất cả nam giới phải biết đọc viết và tính toán; sang thế kỷ thứ 2 thì bắt buộc mọi đàn ông phải có nghĩa vụ dạy con trai mình đọc, viết, tính toán. Như vậy họ đã thực hiện phổ cập giáo dục cho nam giới trước các dân tộc khác mười mấy thế kỷ.

Israel cũng là nước đứng đầu thế giới về dân số từ 14 tuổi đọc sách, đứng đầu về số đầu sách xuất bản theo đầu dân. Không một người Do Thái thành đạt nào lại không tranh thủ thời gian để đọc, để học, để làm giàu hiểu biết.

Như vậy, từ ngàn xưa người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được. Và đây nhân tố quan trọng giúp người Do Thái đạt được trí thông minh vượt bậc so với phần còn lại của thế giới.

>> Trẻ em Do Thái từ nhỏ đã được biết hai việc: một là lao động hai là tiền bạc 


Phương Linh (Tổng hợp)
Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2016

Đến cả nghiên cứu khoa học cũng thừa nhận người Do Thái cực kỳ thông minh và điều đó không phải tự nhiên mà có

Người Do thái thông minh, đó là sự thật. Tuy nhiên, sự thông minh này không chỉ diễn ra trong 1 thế hệ mà được chứng minh di truyền qua nhiều đời.

Chúng ta hay nói rằng người Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới. Tuy nhiên, đây không phải là nhận định vô căn cứ mà đã được chứng minh bằng khoa học.

Năm 2005, một nghiên cứu cho thấy những người Do Thái có kỹ năng giao tiếp và tính toán trội hơn hẳn so với những cộng đồng dân tộc khác.

Trong thế kỷ 20, mặc dù người Do Thái chỉ chiếm 2% dân số Mỹ nhưng lại có đến 27% nhà khoa học của nước này đoạt giải Nobel là người Do Thái. Không những thế, khoảng 25% nhà toán học đoạt giải Fields Medal (có giá trị tương tự Nobel trong toán học), 25% số người đoạt giải ACM Turing Award (mảng máy tính), 9/19 nhà vô địch cờ vua... là người Do Thái.

Chỉ số IQ trung bình của người Do Thái theo nhiều nghiên cứu là vào khoảng 110 so với mức 100 của toàn cầu. Dù chỉ chênh lệch 10 nhưng tỷ lệ sản sinh thiên tài giữa 2 cấp độ lên tới khoảng 120-150 lần.

Số liệu năm 2015 cho thấy người Do Thái chiếm chưa đến 0,2% tổng dân số toàn cầu với khoảng 14,3 triệu người. Tuy nhiên ngay từ thế kỷ 19, khoảng 1/4 số nhà khoa học trên thế giới đã là người Do Thái. Hàng loạt những cái tên như nổi tiếng Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch... đều là người Do Thái.

Vậy tại sao người Do Thái lại thông minh, theo cách hiểu của các nhà khoa học?

Luận điểm 1: Chúa muốn người Do Thái thông minh?

Trước khi nói về người Do Thái, chúng ta cần nói về tôn giáo của họ bởi dân tộc này khá sùng đạo. Đây là một trong những yếu tố khiến người Do Thái không mất đi bản sắc cũng như bị hòa tan với các dân tộc, tín ngưỡng khác.

Đạo Do Thái ra đời cách đây khoảng 3.000 năm và là tín ngưỡng lâu đời thứ 2 trên thế giới sau đạo Hindu (4.000 năm). Tuy nhiên Hindu là đạo đa thần nên có thể nói đạo Do thái là tín ngưỡng độc thần lâu đời nhất thế giới. Theo đó, người Do Thái chỉ thờ một vị chúa trời duy nhất và chắc chắn không có vị thánh hay chúa nào là người cả.

Điều này khiến Thiên chúa giáo, vốn có ảnh hưởng sâu rộng tại Phương Tây và trên thế giới thù ghét người Do Thái bởi họ coi Đức chúa Jesus là con của chúa trời. Dẫu vậy, nhờ quan điểm này mà tín ngưỡng trong cộng đồng Do Thái không dễ dàng bị hiểu theo những nghĩa khác nhau, tạo nên những mâu thuẫn trong xã hội.

Trong cuốn kinh Torah ghi lại những điều răn của đức tiên tri Moses có ghi lại rằng người Do Thái là dân tộc được chúa trời chọn lựa (Chosen People) để truyền đạt ý chúa, khai sáng và dẫn dắt cho các dân tộc khác.

Theo nhiều chuyên gia khoa học, quan điểm tôn giáo này có lẽ đã ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội Do Thái khi tạo động lực cho dân tộc này luôn phấn đấu, khai sáng bản thân để hoàn thành nhiệm vụ mà đức chúa giao cho.

Đặc biệt, quan điểm này cũng giải thích tại sao người Do Thái mê kiếm tiền bởi sự giàu có là hệ quả kèm theo của lao động sáng tạo và khai sáng.

Bên cạnh đó, đạo Do Thái cũng khá khác biệt so với nhiều tôn giáo khác khi không ghi lại quá nhiều những điều răn cứng nhắc hay những luật lệ cổ hủ buộc mọi người phải tuân theo. Thay vào đó, những cuốn kinh Torah của người Do Thái thường đặt ra các câu hỏi gợi mở sự suy nghĩ và sáng tạo cũng như có nhiều câu trả lời khác nhau tùy thuộc hoàn cảnh.

Trong những bữa cơm ngày lễ cuối tuần (Sabbath) hay khi sum họp gia đình, cảnh mọi người thảo luận về kinh Torah, tranh luận những lý lẽ gợi mở trong đó là điều bình thường và có lẽ đây là lý do khiến người Do Thái có suy nghĩ khá sâu sắc về cuộc sống.

Luận điểm 2: Cách đây 2.000 năm, đến 90% người Do Thái đã biết chữ

Một nguyên nhân nữa khiến người Do Thái thông minh hơn các dân tộc khác là do họ rất coi trọng chuyện học hành.

Kinh Tamud từ cách đây hơn 2.000 năm của người Do Thái đã yêu cầu các bậc phụ huynh phải dạy con biết đọc, biết viết từ năm lên 6 tuổi. Nói cách khác, việc giáo dục con cái từ nhỏ không còn là vấn đề đạo đức, trách nhiệm của nhà nước hay đơn giản là lo lắng cho tương lai con trẻ. Người Do Thái đã nâng tầm giáo dục thành một loại giáo điều trong tín ngưỡng.

Rõ ràng, chẳng có ông bố bà mẹ Do Thái nào dám không giáo dục con từ năm lên 6 nếu không muốn bị cộng đồng xa lánh hoặc bị chí trích vì vi phạm giáo điều.

Kết quả là từ hơn 2.000 năm trước, có đến 90% số người Do Thái thoát khỏi nạn mù chữ. Nếu tỷ lệ trên không mấy ấn tượng với bạn thì xin nhắc lại rằng cách đây 2.000 năm, đa phần người Do Thái là nông dân, du mục, thậm chí lang thang nay đây mai đó.

Ấn tượng hơn nữa, nếu bạn biết rằng hầu hết người dân Châu Âu, Bắc Phi và Trung Đông thời đó là mũ chữ thì điều mà người Do Thái làm được quả là phi thường. Thời kỳ đó, biết chữ là điều khá xa xỉ và chỉ có tầng lớp tăng lữ, quý tộc mới có điều kiện được học. Những người dân thuộc tầng lớp dưới không có đủ thời gian cũng như mục đích để học chữ khi họ còn mải kiếm sống hoặc sống sót.

Với tỷ lệ biết chữ cao, người Do Thái đương nhiên tham gia nhiều vào ngành thương nghiệp cũng như được các thương nhân tin dùng khi biết tính toán.

Ngoài ra, cuốn kinh Do Thái bằng tiếng Hebrew cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng cho việc giáo dục cũng như hiểu biết của dân tộc này.
 
Do bị mất nước từ sớm và phải sống lang thang nhiều nơi trước khi Israel được thành lập, bất kỳ người Do Thái nào cũng phải biết chữ để có thể đọc kinh ở bất kỳ nơi đâu, trong mọi hoàn cảnh nào. Đây là điều dễ hiểu khi người Do Thái khá sùng đạo.

Bên cạnh đó, do phải sống lang thang nhiều nơi nên đương nhiên người Do Thái biết nói ít nhất 2 ngôn ngữ trở lên. Theo các nhà khoa học, thông thường những người biết nhiều thứ tiếng thường thông minh hơn so với người bình thường.

Việc người Do Thái mất nước từ sớm khi người Assyria chinh phục vương quốc Israel và khiến người dân Do Thái phải lưu vong vào năm 722 trước công nguyên đã khiến dân tộc này phải tự lực cánh sinh, vượt lên trên hoàn cảnh để sinh tồn. Có lẽ, sự thiếu may mắn khi mất nước đã khiến người Do Thái buộc phải trở nên thông minh hơn và những cá thể kém sẽ bị đào thải nhanh chóng.

Luận điểm 3: Duy trì nòi giống, bảo tồn và sàng lọc gen

Người Do thái thông minh, đó là sự thật. Tuy nhiên, sự thông minh này không chỉ diễn ra trong 1 thế hệ mà được chứng minh di truyền qua nhiều đời.

Một nghiên cứu năm 2009 cho thấy người Do Thái có tỷ lệ tương đối cao khi mắc các bệnh như rối loạn thần kinh Tay Sachs khiến cơ thể tử vong trước 5 tuổi, hay bệnh Canavan khiến trẻ mất trước 2 tuổi. 

Nghiên cứu này cho thấy việc người Do Thái thường xuyên kết hôn trong cộng đồng và hiếm khi lấy người ngoài đạo đã khiến các cặp gen xấu trong cộng đồng có khả năng kết hợp cao hơn, tạo nên tỷ lệ mắc bệnh nhiều hơn ở con cái.

Ngược lại, chính vì yếu tố này mà những gen trội hay thông minh của các đời trước lại có khả năng cao được di truyền qua đời sau, thậm chí còn được tăng cường hơn trước.

Nghiên cứu trên cho rằng những cặp gen di truyền đặc biệt được duy trì trong cộng đồng người Do Thái. Trong khi những cá thể yếu bị đào thải bởi bệnh tật và tử vong khi còn trẻ thì những cá thể thông minh, khỏe mạnh được sàng lọc và dần lớn mạnh cho đến ngày nay.

Ví dụ cha mẹ có gen tương ứng AA/aa và BB/bb, trong đó AA và BB là gen tích cực còn aa,bb là gen tiêu cực. Khi Aaaa kết hợp với BBbb, đời con sẽ cho ra 4 khả năng là AA/BB, AA/bb, aa/BB, aa/bb.

Khi đó cặp aa/bb sẽ biểu hiện kém và sớm bị đào thải trong cộng đồng do bệnh tật hay không thích nghi được với môi trường, trong khi cặp AA/BB sẽ có biểu hiện tích cực vượt trội so với đời trước. Hai cặp còn lại tiếp tục mang theo những gen trội của cha hoặc mẹ để truyền cho đời sau.

Nói cách khác, chính sự không pha loãng huyết thống trong cộng đồng Do Thái đã giữ gìn được những đặc tính gen hiếm có của dân tộc này.
 
Không dừng lại ở đó, việc duy trì nòi giống và những gen trội tích cực trong cộng đồng Do Thái đã được nâng tầm thành giáo điều. Thông thường, các dân tộc và quốc gia khác thường khuyến khích, khuyên răn các bạn trẻ lập gia đình phải xứng đôi vừa lứa, tâm đầu ý hợp... nhằm sàng lọc gen xấu và nhân giống gen tốt.

Tuy nhiên việc sàng lọc này thậm chí đã được đưa vào kinh Do Thái khi các giáo sĩ, người có uy tín trong cộng đồng xã hội cũng như dẫn dắt tâm linh cho mọi người được quy định phải là những người thông minh nhất, có kiến thức uyên bác.

Từ Giáo sĩ (Rabbi) trong tiếng Do Thái còn có nghĩa là “người giỏi giang” hay “người thầy”, qua đó chỉ ra vai trò quan trọng của các giáo sĩ này.

Việc các giáo sĩ là những người uyên bác không có gì đáng nói nếu so với nhiều tín ngưỡng khác, điểm đặc biệt ở đây là các giáo sĩ này được phép lấy vợ và thậm chí có rất nhiều con. Do có uy tín cao trong cộng đồng Do Thái nên các giáo sĩ này rất dễ lấy vợ, thậm chí còn được phép lựa chọn “mối” hôn nhân. Thông thường những giáo sĩ này sẽ chọn đối tượng cũng thuộc tầng lớp giáo sĩ, sau đó mới chuyển sang các gia đình thương nhân.

Bằng cách này, những gen ưu tú trong tầng lớp tinh hoa của người Do Thái được bảo tồn và liên tục di truyền.

Thậm chí trong kinh thanh Do Thái có nhiều đoạn còn khuyến khích các gia đình nếu có tiền hãy cho con gái lấy giáo sĩ hoặc học giả. Rõ ràng, tri thức và những gen thông minh được người Do Thái hết sức coi trọng.

Một yếu tố nữa khiến người Do Thái thúc đẩy được các gen tốt trong cộng đồng là quan điểm khuyến khích sinh sản đối với những gia đình có điều kiện, trong khi các cặp vợ chồng khó khăn thì lại được khuyên sinh đẻ có kế hoạch nhằm đảm bảo con cái sinh ra được nuôi dạy tốt nhất có thể. Bằng cách này, các gen xấu được sàng lọc trong khi những gen thông minh được khuyến khích nhân rộng.

Luận điểm 4: Thông minh vào bằng đường miệng

Nói về trí thông minh của người Do Thái thì không thể bỏ qua vấn đề ăn uống, bởi đây là yếu tố vô cùng quan trọng đóng góp cho sự phát triển của dân tộc này.

Người Do Thái hầu như chỉ ăn đồ Do Thái (Kosher) được làm theo cách riêng của họ. Ví dụ thịt động vật làm theo cách Do Thái phải lấy hết tiết một cách nhanh nhất, khiến con vật chết nhanh nhất mà không đau đớn. Thịt phải ngâm rửa cho hết sạch máu.

Nguyên nhân của việc này là người Do Thái coi rằng dòng máu thú vật chứa thú tính và con người có thể trở nên trì độn, thoái hóa giống nòi nếu ăn chúng.

Tuy vậy, các nhà khoa học lại có những cách giải thích hợp lý hơn cho các nghi lễ rườm rà trong đồ ăn của người Do Thái. Ví dụ việc không được uống sữa hay dùng thực phẩm từ sữa khi ăn mà phải dùng trước 30 phút hay sau ăn 6 tiếng. Nguyên nhân là sữa có nhiều đạm gây khó tiêu và khó hấp thụ cho cơ thể.

Việc không ăn chung thịt với cá là do chúng phản ứng lại lẫn nhau trong hệ tiêu hóa, không tốt cho sức khỏe. Trong khi đó, quy định không ăn thịt động vật đã bị dã thú cắn là để tránh nhiễm trùng cũng như đảm bảo vệ sinh.

Một cửa hàng McDonald's chế biến theo tiêu chuẩn Kosher của người Do Thái

Rõ ràng, với chế độ ăn thông minh, đảm bảo sức khỏe là một trong những yếu tố khiến người Do Thái có trí tuệ vượt trội so với nhiều dân tộc khác.

Ngoài ra, một số chuyên gia cho rằng những quy tắc rườm rà của đồ ăn Do Thái giúp dân tộc này luôn tự nhắc nhở về nguồn gốc, không ỷ lại và lười biếng, luôn biết ơn khi có đồ ăn.

Tuy nhiên, do đã từng phải lang thang nhiều nơi trên thế giới nên trong những trường hợp bất khả kháng, người Do Thái vẫn có thể ăn đồ thường. Đạo Do Thái cũng không bắt buộc các tín đồ chỉ được ăn đồ Kosher, không giống như các tín đồ Đạo Hồi chỉ ăn đồ Halal. Việc tuân theo quy định này hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức và trách nhiệm của từng hộ gia đình.

Một điều thú vị là không chỉ người Do Thái, ngày nay ngày càng nhiều người nhận ra tác dụng tốt của đồ ăn Kosher. Dù đồ Do Thái thường đắt hơn 20-30% so với thức ăn thường nhưng ngày càng nhiều người Mỹ sử dụng loại đồ ăn này.

Người Do Thái chỉ chiếm chưa đến 2% dân số Mỹ nhưng đồ ăn đóng gói dán nhãn Kosher lại chiếm tới 41% thị trường. Tổng doanh số bán đồ Kosher tại Mỹ năm 2009 đạt 17 tỷ USD, tăng 70% so với 5 năm trước đó.

Khảo sát của hãng Mintel cũng cho thấy 62% người được hỏi nói rằng họ mua Kosher vì chất lượng thực phẩm tốt, trong khi 52% cho biết họ mua vì loại đồ ăn này tốt cho sức khỏe.
>> Nhờ trí tuệ của người đàn ông Do Thái này, Israel đã từ một hoang mạc khô cằn thành thiên đường nông nghiệp
Theo Hoàng Nam
Trí thức trẻ/CafeBiz

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?