Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn đàm phán thương mại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đàm phán thương mại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

Bí quyết thành công của Paul Trần Văn Thình (phần cuối)

Người vợ đầu của tôi là một phụ nữ người Pháp tôi quen từ khi cô ấy còn rất trẻ ở Paris. Thời ấy, các kiến thức về tình dục và quan hệ luyến ái còn hạn chế. Có một lần hôn vào môi cô ấy, tôi cứ nghĩ đã hôn nhau rồi là phải lấy nhau nên tôi cầu hôn. Đó là năm 1952, tôi 23 tuổi.
Ông Trần Văn Thình. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Ông Trần Văn Thình. Ảnh: Tuổi Trẻ.


Nếu nói tôi có biệt tài gì thì chắc chắn câu trả lời là không. Tôi thường tâm niệm, như lời bà nội kế của tôi từng dạy khi tôi còn nhỏ, rằng không bao giờ nên nói dối vì sự trí trá là con dao hai lưỡi khiến có ngày chính mình sập bẫy của mình.
Cách thức tôi luôn áp dụng cho cả 82 hiệp định mà mình đàm phán cho Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) từ năm 1961-1994 là “lật bài ngửa”. Tôi nói chúng tôi có từng này, có lẽ chúng ta phân chia 51-49 để cùng “ăn bánh” cho ngon. Với nghệ thuật này, đôi khi tôi giành được đến 70-80% cho EEC. Tuy nhiên, không bao giờ tôi để đối tác cảm thấy thiệt thòi quá cả. Bởi nếu không để họ có phần “ăn”, chắc chắn họ không bao giờ thực thi thỏa thuận nghiêm túc.
Thế nhưng, nói thật không có nghĩa là nói toàn bộ sự thật. Trong một cuộc phỏng vấn, tôi nói rằng “không ai thoát y vũ khi đàm phán”. Có những sự thật mình cần giữ lại cho riêng mình. 

Tôi nghiệm ra chính những giá trị sống mà tôi theo đuổi đã giúp tôi thành công chứ không phải tài năng thiên bẩm nào. Để ra một quyết định, tôi thường tuân theo bốn giai đoạn. Ban đầu là sự chỉ dẫn có tính bản năng, rằng điều này là nên hay không nên. Giai đoạn thứ hai là phán đoán các tình huống, các chiều hướng và xu thế có thể diễn ra. Giai đoạn thứ ba là phân tích các mặt được và không được, các mặt lợi và bất lợi. Và cuối cùng là lắng nghe trái tim của mình mách bảo có nên làm điều ấy, tức là để chữ tâm lên tiếng. Thỉnh thoảng tôi cũng phạm những sai lầm, nghiệm ra là bởi vội vàng bỏ qua một trong các giai đoạn trên.

Điều thứ hai, tôi rất muốn chia sẻ với các bạn trẻ, đó là không nên tự ái vặt. Tôi đã chứng kiến nhiều người trẻ tuổi vừa bị phê bình đôi chút liền nhảy dựng lên ra sức bảo vệ mình. Trong 15 năm làm việc tại Geneva (Thụy Sĩ), tôi luôn duy trì cuộc họp vào sáng thứ ba hằng tuần. Tôi tập trung toàn bộ nhân viên và nói: “Tuần qua tôi đã làm những gì không vừa lòng quí vị, xin phê bình tôi thẳng thắn”. Cách làm ấy khiến những người xung quanh tôi cảm thấy thoải mái, vì họ được giãi bày và biết rằng tôi không bao giờ để bụng những góp ý chân thành của họ.

Có lần tôi đi dự một cuộc chiêu đãi ở Nhật Bản, một quan chức người Nhật trong bữa tiệc bỗng đứng dậy cảm ơn tôi đã đào tạo ông trở thành một chuyên gia thương mại. Lần khác, tôi đi công tác tại Venice (Italy) thì nhận được một món quà từ một phụ nữ không quen biết. Thư viết: “Thưa đại sứ, nhà tôi trước khi mất dặn đi dặn lại tôi phải tìm mọi cách để cảm ơn đại sứ, người mà nhà tôi kính phục và hàm ơn. Nhà tôi nói rằng đại sứ đã cho nhà tôi một lượng kiến thức rất lớn, qua đó góp phần tạo dựng sự nghiệp của nhà tôi”. 

Tháng 5/2003, tôi nhận được thư của Jonathan Scheele - trưởng phái đoàn Ủy ban châu Âu tại Romania. Ông Scheele gửi cho tôi tờ báo, trong đó khi phóng viên hỏi thần tượng của ông là ai và ông trả lời bằng một cái tên VN: Trần Văn Thình. Tôi vui vui xen lẫn chút tự hào.

Trong khi các nước Nhật Bản, Mỹ thay tới ba, bốn đại sứ, tôi là đại sứ duy nhất của châu Âu tham gia từ đầu đến cuối vòng đàm phán Uruguay nhằm thành lập WTO. Có lần một quan chức cao cấp của Bộ Thương mại Mỹ gặp tôi tại Tokyo và ngỏ ý mời tôi nhập quốc tịch Mỹ để đi đàm phán cho Washington. Tôi nhã nhặn trả lời: “Cảm ơn ông, nhưng tôi không phải là một lính đánh thuê”. Tôi cũng từng được mời làm đại sứ của Ủy ban châu Âu tại Mỹ nhưng tôi từ chối. Tôi muốn hoàn tất vòng đàm phán Uruguay, hoàn tất những mục tiêu của mình về thiết lập các luật lệ thương mại đa phương hiệu quả và công bằng. Vòng đàm phán này có mầm mống từ năm 1982, chính thức bắt đầu từ tháng 9/1986 và kết thúc vào ngày 15/4/1994 với thỏa thuận ký tại Marrakech, Marốc. 

Đó cũng là thời điểm tôi về hưu, ở tuổi 65, giã từ đấu trường thương mại toàn cầu mà mình từng can dự và góp phần kiến tạo một vài mốc lịch sử.
Ông Trần Văn Thình cùng vợ và hai con ở Venise tháng 6/2006. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Ông Trần Văn Thình cùng vợ và hai con ở Venise tháng 6/2006. Ảnh: Tuổi Trẻ.

“Đừng nói dối” - lời dặn của bà nội tôi năm nào còn giúp tôi giải quyết nhiều vướng mắc của cuộc sống tình cảm riêng tư. Người vợ đầu của tôi là một phụ nữ người Pháp tôi quen từ khi cô ấy còn rất trẻ ở Paris. Thời ấy, các kiến thức về tình dục và quan hệ luyến ái còn hạn chế. Có một lần hôn vào môi cô ấy, tôi cứ nghĩ đã hôn nhau rồi là phải lấy nhau nên tôi cầu hôn. Đó là năm 1952, tôi 23 tuổi. Cha mẹ tôi không đồng ý cuộc hôn nhân này vì mẹ tôi đã nhắm một cô vợ ở Việt Nam cho tôi. Khi đó tôi còn nghèo, cuộc sống của cả hai đều vất vả. Tôi hứa sẽ che chở vợ tôi đến cuối cuộc đời. Tôi từng nói với bà ấy: “Anh sẽ lo cho em đến phút cuối cùng”.

Tôi đã làm như vậy. Cuộc sống gia đình sau này xảy ra sự bất hòa, chúng tôi đành chọn giải pháp chia tay. Nhưng giữ nguyên lời hứa năm nào, tôi không ra tòa ly dị. 

Khi tôi quen biết Brigitte - người vợ hiện giờ - tôi tâm sự hết mọi chuyện với cô ấy. Tôi nói tôi không thể làm giá thú với Brigitte vì không thể phá vỡ lời hứa với người vợ thứ nhất. Kể cả khi đã sống chung với Brigitte, lương tháng của tôi được chia đôi, một nửa để dành cho người vợ đầu. Mãi đến năm 2000, hai năm sau khi người vợ đầu qua đời, tôi và Brigitte (lúc ấy tôi 71, Brigitte 52 tuổi) mới đưa nhau đến tòa thị chính ở Annemasse, một thành phố thuộc Pháp sát biên giới với Geneva, làm thủ tục đăng ký kết hôn. Brigitte hiểu tôi. Cô ấy nói: “Nếu anh không đàng hoàng với người vợ đầu rồi anh cũng có thể không tốt với người vợ thứ hai”. 

Thi thoảng tôi nói đùa với Brigitte rằng tôi thương cô ấy quá chừng vì cô ấy tốt như một nàng dâu Việt chính cống. Lúc đó, cô ấy tròn xoe mắt vì tôi nói câu “nịnh đầm” ấy bằng giọng miền Nam đặc sệt mà cô ấy chẳng hiểu gì.
(Tuổi Trẻ - tháng 01/2007)

Share:

Paul Trần Văn Thình trở lại Việt Nam (5)

Khi biết tôi có ý định trở lại VN, nhiều người trong gia đình tôi phản đối dữ lắm. Nhưng tôi vẫn quyết tâm về. Tôi nghĩ: đất nước nào cũng có các chương lịch sử nhưng dân tộc và nhân dân vẫn vượt lên tất cả. 

>> Chuyện đời Paul Trần Văn Thình (1)
 
>> Những năm đầu ở Pháp của Paul Trần Văn Thình (2)
>> Paul Trần Văn Thình vào nghề đàm phán thương mại (3)
>> Paul Trần Văn Thình thay châu Âu đàm phán với châu Á (4)
Ông Trần Văn Thình và vợ trong một lần về thăm quê năm 1992. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Ông Trần Văn Thình và vợ - bà Brigitte - trong một lần về thăm quê năm 1992. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Sau chuyến trở về VN lần đầu tiên năm 1988, một sự gắn bó máu thịt với VN bền chặt thúc giục chúng tôi tiến hành những chuyến trở về khác. Chúng tôi về VN bất cứ khi nào có thể, mỗi năm một hai lần.

Năm 1947, lúc còn học ở thị trấn Chambon sur Lignon, tôi không quản đường xa xin đi nhờ ôtô từng đoạn đến Paris để được gặp Cụ Hồ Chí Minh khi Người sang Pháp dự hội nghị Fontainbleau. Tôi có một người cậu kết nghĩa tên Nguyễn Văn Chỉ, đảng viên đảng Cộng sản Pháp, là bạn học của cha tôi, từng tham gia kháng chiến chống phát xít Đức. Vợ cậu, Francois Corest, phóng viên báo Humanité, quen biết và có thiện cảm đặc biệt với ông Phạm Văn Đồng. Bà kể với tôi về ông Đồng: “Ông ấy là người tuyệt vời, nói tiếng Pháp rất chuẩn và trau chuốt. Đặc biệt, ông ấy rất đẹp trai”. Chính bà đã đưa tôi tham gia đoàn Việt kiều đến Fontainbleau gặp Cụ Hồ. 

Vào khoảng năm 1986, Bộ Thương mại VN thông qua phái đoàn thường trực VN bên cạnh Liên Hợp Quốc tại Geneva (Thụy Sĩ) chuyển lời mời tôi về VN để đánh giá tình hình kinh tế và tư vấn cho các chính sách đổi mới kinh tế đang manh nha bắt đầu. Có lời mời này là bởi ông Lê Đình Cận, tham tán công sứ của VN lúc đó, có báo cáo về nước trường hợp của tôi. Khi đó, tôi cũng đã triển khai một vài hoạt động trợ giúp phái đoàn của VN tại Geneva. Ông Phạm Văn Đồng, trong vai trò cố vấn, lập tức chỉ thị Bộ Thương mại mời tôi về. 

Nhận được lời mời, tôi hơi lưỡng lự vì quả thật thông tin về VN hồi đó còn hạn chế. Do đó tôi còn vài điều e ngại. Hai năm sau, một lần nữa lời mời về VN lại được chuyển tới tôi, lần này là do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đích thân đề xuất theo gợi ý của Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Claude Cheysson, một người bạn của tôi. 

Khi biết tôi có ý định trở lại VN, nhiều người trong gia đình tôi phản đối dữ lắm. Nhưng tôi vẫn quyết tâm về. Tôi nghĩ: đất nước nào cũng có các chương lịch sử nhưng dân tộc và nhân dân vẫn vượt lên tất cả.

Vậy là mùa hè năm 1988, tôi về thăm lại quê hương VN thân thương sau 41 năm xa cách. Tôi và vợ tôi - Brigitte - bước lên máy bay với nhiều cảm xúc trộn lẫn trong lòng, vừa mừng vui vừa hồi hộp.
Về VN theo lời mời của Chính phủ VN nhưng tôi và vợ tự lo liệu chi phí chuyến đi. Hiểu tình hình khó khăn của đất nước, tôi không về tay không. Hành lý của chúng tôi gồm năm chiếc máy vi tính nhỏ đời đầu của Pháp. TP.HCM lúc ấy đang có ý định thành lập thư viện điện tử nên tôi mang máy tính về tặng để giúp mọi người làm công việc thống kê. 
Ông Trần Văn Thình (phải) đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Ông Trần Văn Thình (phải) đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Trong thời gian ở VN, tôi cũng không gặp gỡ bất cứ đại sứ châu Âu nào tại Hà Nội theo như phép tắc ngoại giao thông thường. Điều này khiến chuyến đi của tôi bị nhiều người chỉ trích. Nhiều đại sứ châu Âu gửi điện đến Bộ Ngoại giao Pháp đặt dấu hỏi về chuyến đi của tôi. Ông Claude Cheysson, bộ trưởng ngoại giao, trả lời: “Ông ấy là một công chức. Ông ấy có quyền tự do đi nghỉ hè”. Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch cũng trả lời tương tự đối với những thắc mắc từ phía VN.

Trong chuyến về thăm đất nước đầu tiên này, tôi có dịp gặp gỡ nhiều lãnh đạo cao cấp. Tôi gặp ông Phạm Văn Đồng và có nhiều cuộc đàm đạo với Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch tại Hà Nội. Tại TP.HCM, thông qua sự thu xếp của chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Vĩnh Nghiệp, tôi có một cuộc tiếp xúc không chính thức với Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Tôi nhớ ông Nghiệp chiêu đãi vợ chồng tôi món bánh xèo Nam bộ. Vợ tôi rất thích món này. Qua tiếp xúc với vợ tôi, ông ấy liền phong cho vợ tôi là “Nàng dâu Việt”. 

Trong một lần gặp gỡ với ông Võ Văn Kiệt, tôi trình bày với ông về tầm quan trọng của việc tiến hành hội nhập kinh tế. Lúc ấy, việc gia nhập Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) còn khá dễ dàng. Tôi, với tư cách là đại sứ của phái đoàn Ủy ban châu Âu tại GATT, có thể góp phần thúc đẩy tiến trình đàm phán của VN. Tôi gợi ý rằng VN nên gia nhập GATT trước khi gia nhập ASEAN. Tôi cũng nói về việc cần phải đi tắt đón đầu để phát triển công nghệ. Tôi lấy ví dụ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà máy tại Đức được tháo ra đưa sang Pháp sử dụng để bồi thường chiến tranh. Nhờ việc này mà Đức có điều kiện thành lập các nhà máy mới, và do vậy công nghệ của Đức giờ tiên tiến hơn hẳn Pháp. Tôi không muốn VN phạm phải sai lầm nhập những công nghệ cũ, lạc hậu về.

Ông Võ Văn Kiệt ủng hộ những điều tôi nói. Nhưng ông cũng giãi bày: “Những ý tưởng của ông rất hay. Nhưng trong nước còn nhiều việc phải làm. Chắc ít nhất mười năm nữa VN mới áp dụng những chính sách ông gợi ý”.

Ngoài các cuộc gặp tại Hà Nội, tôi còn có dịp đón tiếp ông Võ Văn Kiệt tại nhà riêng của tôi ở Geneva khi ông tới Davos (Thụy Sĩ) dự Diễn đàn kinh tế thế giới. Trong lần ăn trưa đó, tôi cũng mời cả ông Jean - Claude Trichet, lúc đó là bộ trưởng ngân khố Pháp (hiện nay là chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu). Phiên dịch cho cuộc gặp gỡ này là một người phụ nữ VN duyên dáng, lịch thiệp và nói tiếng Pháp chuẩn không chê vào đâu được: bà Tôn Nữ Thị Ninh.

Về VN, tôi thường được mời đi thuyết trình ở các trường đại học và một số cơ quan. Tôi nói nhiều về softomics, nền kinh tế mềm, uyển chuyển với nền công nghiệp mà nguyên liệu là “chất xám”, nhất là ngành công nghiệp phần mềm. Tôi nghĩ đi theo hướng này VN hoàn toàn có thể thành công bởi tố chất người Việt là linh hoạt, khéo léo và học hỏi nhanh. Những bài phát biểu của tôi thời cuối những năm 1980 ở VN trở thành một hiện tượng. Một số người ghi âm lại, dịch ra tiếng Việt rồi chuyền tay nhau các bài phát biểu này. 

Một ngày, tôi nhận được một lá thư. Thư viết ngắn gọn như một mệnh lệnh với nét chữ rắn rỏi: “Những điều ông nói về softomics hay lắm. Tôi muốn gặp ông”. Ký tên: Võ Nguyên Giáp. Lá thư ấy mở đầu cho tình bạn thân thiết của tôi và đại tướng Giáp. Kể từ đó, mỗi lần về VN là tôi lại ghé thăm ông. Chúng tôi trao tặng nhau các cuốn sách, ngồi đàm đạo chuyện đời. Chị Hà, vợ ông, cũng nói tiếng Pháp thành thạo và là một người phụ nữ rất cởi mở. Sau này, sức khỏe Đại tướng Giáp không còn dồi dào như trước nữa, nhưng mỗi khi tôi ngỏ lời ông dành thời gian để tiếp những người bạn Pháp có nguyện vọng gặp gỡ ông, gia đình đều đồng ý thu xếp ngay. Cựu thủ tướng Pháp Michel Rocard, bạn đồng môn với tôi thời sinh viên, sau khi thăm Đại tướng Giáp đã nhận xét: “Tướng Giáp như một pháo đài cổ không phai tàn theo năm tháng”.
Share:

Paul Trần Văn Thình thay châu Âu đàm phán với châu Á (4)

Một hôm đàm phán đến tận 2 giờ sáng, vị trưởng đoàn yêu cầu nghỉ giải lao để uống trà và gặp riêng tôi. Lúc chỉ còn hai người, ông ấy hỏi: “Trung Quốc và VN vừa có va chạm. Điều này có ảnh hưởng tới đàm phán không?”. Tôi trả lời: “Không có vấn đề gì vì trong cuộc đàm phán này, tôi đại diện cho quyền lợi của châu Âu”.
>> Chuyện đời Paul Trần Văn Thình (1)
>> Những năm đầu ở Pháp của Paul Trần Văn Thình (2)
>> Paul Trần Văn Thình vào nghề đàm phán thương mại (3)
Trần Văn Thình trên báo Le Point ngày 3-12-1990 với lời chú thích: “Paul Trần Văn Thình: đây là một cuộc cải cách chứ không phải sự tự sát
Trần Văn Thình trên báo Le Point ngày 3/12/1990 với lời chú thích: “Paul Trần Văn Thình: đây là một cuộc cải cách chứ không phải sự tự sát. Ảnh: Tuổi Trẻ.

Tháng 6/1977, tôi được bổ nhiệm là đặc sứ của Ủy ban châu Âu (EC) dẫn đầu nhóm chuyên gia 80 người chịu trách nhiệm tham gia đàm phán Hiệp định dệt may đa sợi lần hai của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT).

Tháng mười cùng năm, tôi còn lãnh một nhiệm vụ khó khăn khác là đàm phán 32 thỏa thuận song phương về dệt may nhằm hạn chế sự tấn công của hàng dệt may vào các nước trong Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) lúc bấy giờ.

Có một kỷ niệm thú vị. Trong lần đàm phán với Hong Kong, dẫn đầu đoàn đại biểu gồm nhiều người châu Á là một ông Tây tóc hung, râu quai nón cao lớn. Còn tôi, một người châu Á nhỏ thó, da vàng mũi tẹt lại dẫn đầu đoàn đàm phán gồm một nhóm trợ lý tóc hung mũi lõ. Chính một nhà báo Mỹ ở Hong Kong phát hiện điều này và báo chí được dịp tha hồ bình luận.

Tôi suy nghĩ rất nhiều về cách thức làm sao đạt được mục đích của mình mà không gây thất vọng cho các đối tác đàm phán. Lúc đó, tài khéo xoay xở - một trong những vốn quí của người Việt - được dịp phát huy. Tôi phân tích rằng không thể nào yêu cầu các nước giảm ngay lập tức lượng hàng xuất khẩu, thế nhưng nếu yêu cầu họ xuất khẩu một cách hợp lý - một dạng hạn ngạch - thì chắc chắn họ sẽ không phản ứng nhiều. Cách thức này tỏ ra khá hiệu quả.

Đàm phán với Hong Kong, Đài Loan và Hàn Quốc cam go nhất. Lúc đó, đây là ba nhà xuất khẩu mới nổi nhưng đầy đe dọa đối với thị trường EEC. Trong khi dệt may chiếm một phần ba sản lượng xuất khẩu của các nước kém phát triển lúc bấy giờ, sản lượng hàng dệt của ba nước nói trên chiếm hơn hai phần năm, còn hàng quần áo chiếm tới ba phần tư.

Tôi kiên quyết giảm số lượng hàng của ba nước này vì họ xuất khẩu rất nhiều hàng nhái và hàng giả rẻ tiền. Người Hong Kong tỏ ra rất giận dữ. Có lúc họ từ chối đàm phán. Tôi nói với họ: “Hãy tìm cách tăng chất lượng hàng hơn là tăng số lượng. Bán năm cái áo sơmi với giá 3 đôla/chiếc chắc chắn là lãi hơn bán mười cái áo với giá 1 đôla/chiếc”. Sau đó, Hong Kong đi theo hướng này và họ ngỏ lời cảm ơn tôi vì đã tư vấn đúng đắn.

Tôi đã thực hiện cuộc marathon đàm phán hơn 30 hiệp định trong một thời gian kỷ lục là sáu tuần lễ. Ngay sau khi hoàn tất đàm phán hiệp định thứ 32, tôi lập tức phải nhập viện để phẫu thuật sỏi mật. 

Tôi còn giữ được một bài báo của Financial Times số ra ngày 3/12/1977 đưa tin về sự kiện EEC đàm phán dệt may với các nhà xuất khẩu châu Á. “Một cỗ máy nhỏ với chiến thuật kiểu Napoleon”, họ trích dẫn một vài người mô tả về tôi như vậy. Họ gọi tôi là “Nhân vật trong tuần” (Man of the week). Họ cũng tường thuật lại cuộc họp báo do tôi tổ chức. Tại cuộc họp báo đó, tôi đã tuyên bố rằng tôi chấp nhận công việc đi đàm phán với điều kiện tôi sẽ từ chức một cách rùm beng nếu tôi biết EEC đang đối xử không công bằng với các nhà cung cấp dệt may. 
Trần Văn Thình trong một bản tin nội bộ của Ủy ban châu Âu với chú thích “Trần: không có đối thủ”. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Trần Văn Thình trong một bản tin nội bộ của Ủy ban châu Âu với chú thích “Trần: không có đối thủ”. Ảnh: Tuổi Trẻ.

Tháng 10/1979, tôi được bổ nhiệm đi Thụy Sĩ với trọng trách là trưởng phái đoàn thường trực đầu tiên của EC bên cạnh các tổ chức quốc tế tại Geneva (Thụy Sĩ), đại sứ của EC tại GATT. Trước khi rời Brussels (Bỉ), tôi tới Bắc Kinh đàm phán hiệp định dệt may cuối cùng với Trung Quốc - một sự kiện nhiều điều đáng nhớ.
Đây là hiệp định đầu tiên về dệt may mà Trung Quốc ký kết với nước ngoài, vì vậy phía Trung Quốc rất cẩn trọng. Việc đàm phán bị kéo dài đã lâu. Tôi tới Bắc Kinh ngày thứ sáu 13/7/1979. Một cán bộ của Bộ Thương mại nói rằng anh ta được chỉ thị sẽ đáp ứng mọi yêu cầu về ăn nghỉ của tôi. 

Tôi ngỏ ý muốn đi Tây Tạng tham quan. Một tiếng sau anh cán bộ trả lời rằng Tây Tạng xa, đi và về phải mất bốn ngày nhưng sau này dù ký hay không ký được hiệp định dệt may thì Chính phủ Trung Quốc vẫn mời tôi thăm Tây Tạng. Vài năm sau, họ thực hiện lời hứa của mình.

Trong vòng bốn ngày, đàm phán luôn trong tình trạng căng thẳng bởi vị trưởng đoàn, một người đã lớn tuổi, luôn luôn giữ một quan điểm. Không hiểu sao tôi lại nhớ nhất đặc điểm là ông ấy đeo toàn răng giả. Người ta giới thiệu với tôi là ông ấy từng tham gia cuộc Vạn lý trường chinh.

Một hôm đàm phán đến tận 2 giờ sáng, vị trưởng đoàn yêu cầu nghỉ giải lao để uống trà và muốn gặp riêng tôi. Lúc chỉ còn hai người, ông ấy hỏi: “Trung Quốc và VN vừa có va chạm. Điều này có ảnh hưởng tới đàm phán không?”. Tôi trả lời: “Không có vấn đề gì vì trong cuộc đàm phán này, tôi đại diện cho quyền lợi của châu Âu”.

Tới ngày thứ năm, thứ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc - một phụ nữ khá lịch thiệp mà tôi không còn nhớ tên - mời tôi đi dạo và uống cà phê. Phiên dịch cho tôi là một người Pháp gốc Trung Quốc sinh ra ở Thượng Hải, lúc ấy là đại diện thương mại của EC ở đó. Chúng tôi đi dạo quanh một cái hồ rất đẹp, đi nửa tiếng đồng hồ nói đủ thứ chuyện, chẳng liên quan gì tới dệt may hay thương mại.  

Bỗng nhiên, bà thứ trưởng nói: “Tôi đã đồng ý hết mọi điều kiện ông đưa ra. Nhưng tôi muốn ký kết ngay hôm nay”. Tôi nói: “Văn kiện phải dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Trung Quốc, rồi phải so sánh đối chiếu, tôi sợ không kịp”. Nhưng bà ấy khăng khăng không chịu. Thế là đoàn đàm phán hai bên làm việc thâu đêm để ký kết hiệp định vào lúc 5 giờ sáng. Thỏa thuận này có giá trị năm năm và cho phép Trung Quốc tăng đáng kể số lượng hàng dệt may vào EEC. Sau này, tôi nhận được phản hồi từ Trung Quốc là họ rất hoan nghênh thỏa thuận đã đạt được.

Duyên nợ của tôi với Trung Quốc vẫn chưa hết. Sau đó, khi Trung Quốc đàm phán gia nhập GATT, họ lại chạm trán tôi. Không biết là may hay rủi. Cách thức đàm phán của họ lặp lại y như lần đàm phán hiệp định dệt may, cứ nhùng nhằng kéo dài. Một lần tôi nói thẳng: “Các ngài xin gia nhập GATT chứ không phải GATT xin gia nhập Trung Quốc”. Họ nổi giận, lập tức viết một bức thư gửi chủ tịch EC phàn nàn về tôi.

Bị Trung Quốc kiện cũng là điều không đơn giản, tôi có thể bị mất chức. Nhưng chủ tịch EC lúc bấy giờ là Jacques Delors nói với tôi: “Ông toàn quyền quyết định trong đàm phán. Những điều ông nói là đúng. Tôi không can thiệp gì cả”. Mặc dù có nhiều “kỷ niệm” đáng nhớ như vậy nhưng chính phủ Trung Quốc luôn coi trọng tôi. Trước khi VN và Pháp ký hiệp định lãnh sự miễn thị thực đối với hộ chiếu ngoại giao, tôi về VN vẫn phải mất thời gian cho khâu xin thị thực trong khi từ lâu Trung Quốc đã cho tôi hưởng qui chế miễn thị thực lâu dài.
Share:

Paul Trần Văn Thình vào nghề đàm phán thương mại (3)

Những bài học vỡ lòng đầu tiên về thương mại đa phương tôi có được là nhờ ông André Philip, bộ trưởng tài chính Pháp thời thủ tướng Paul Ramadier. 
Paul Trần Văn Thình. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Paul Trần Văn Thình. Ảnh: Tuổi Trẻ.


Tôi học cùng lớp với Loic Philip, con trai ông ấy, tại Trường Cevenol ở Chambon sur Lignon. Chúng tôi được ông thu nhận làm việc như những thực tập sinh. Nhờ đó, tôi có cơ hội tiếp xúc với nhiều nghị sĩ, giới tài phiệt và các quan chức.

>> Chuyện đời Paul Trần Văn Thình (1)

>> Những năm đầu ở Pháp của Paul Trần Văn Thình (2)

Cuối năm 1947, khi ông André Philip đi dự Hội nghị Havana ở Cuba, hội nghị tổ chức chưa đầy một tháng sau khi Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) được 23 nước ký kết tại Geneva (Thụy Sĩ), ông đưa tôi đi cùng để giúp việc.

Tạp chí L'Hebdo của Thụy Sĩ ngày 21-5-1987 đăng bài phỏng vấn Paul Trần Văn Thình với tựa đề: Paul Trần - chống hành động Rambo trong thương mại thế giới. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Tạp chí L'Hebdo của Thụy Sĩ ngày 21-5-1987 đăng bài phỏng vấn Paul Trần Văn Thình với tựa đề: Paul Trần - chống hành động Rambo trong thương mại thế giới. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, có hai tổ chức quốc tế đóng vai trò trụ cột trong các hoạt động kinh tế tài chính đa phương là Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế. Hội nghị Havana đặt ra tham vọng thành lập Tổ chức Thương mại quốc tế (International Trade Organization - ITO), một cơ chế đặc biệt của Liên Hiệp Quốc trên cơ sở các qui định của GATT. Tháng 3/1948, các nước tham gia đàm phán tại Havana thông qua Hiến chương ITO. Nếu ITO đi vào hoạt động, có thể coi đây chính là mô hình của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Thế nhưng sau đó, quốc hội một vài nước - trong đó có quốc hội Mỹ - không thông qua hiến chương của ITO. Vậy là dự án ITO khai tử. Những nhân chứng tham dự Hội nghị Havana lịch sử nay chỉ còn lại hai người. Đó là tôi và ông Julio Lacarte, người Uruguay.
Tôi không gặp ông Lacarte ở Havana, nhưng sau này khi ông ấy được bổ nhiệm là trưởng phái đoàn thường trực Uruguay bên cạnh các tổ chức quốc tế tại Geneva, chúng tôi cùng phát hiện rằng cả hai từng có mặt tại Havana thời đó.

Tôi tôn ông André Philip là sư phụ của mình. Còn nhớ lúc tôi 25 tuổi, ông ấy nói với tôi: “Anh không thể là một công chức dân chủ nếu ở nhà anh là một tên độc tài”. Ý ông ấy nói con người phải là một thể thống nhất, không thể làm chính trị theo kiểu áp đặt độc tài trong cuộc sống và gia đình nhưng lại đi hô hào về dân chủ và mở rộng tự do. Một người vũ phu ở nhà thì sẽ có ngày dùng bạo lực trên vũ đài chính trị. 

Sau khi lấy bằng tiến sĩ loại ưu, tôi cũng từng thực tập tại phòng marketing của hãng ôtô Renault. Nhưng các triết lý và tư tưởng về thương mại toàn cầu mà ông André Philip theo đuổi và truyền dạy cho tôi thúc giục tôi xin vào làm việc tại Ủy ban châu Âu (EC) ở Brussels (Bỉ). 

Đó là đầu năm 1961. Tôi lọt được vào vòng phỏng vấn. Hôm tôi đến trình diện, người trực tiếp phỏng vấn tôi là một ông sếp đứng tuổi. Vừa nhìn thấy tôi, ông ấy lắc đầu bảo: “Chúng tôi không cần ông, chúng tôi cần một người Pháp chính gốc”. Tôi điềm tĩnh nói: “Tôi có quốc tịch Pháp. Tôi nói tiếng Pháp”. Ông sếp đành nói tuột ra: “Tôi cần một người Pháp làm trợ lý cho tôi vì tôi là người Ý”.
Thế nhưng cuối cùng hội đồng xét duyệt vẫn chọn tôi. Ông người Ý không hài lòng. Ngày đầu tôi đi làm, ông ấy bảo: “Tôi không chọn ông. Nhưng chúng ta vẫn làm việc và hợp tác với nhau”.

Lúc đó tôi suy nghĩ mông lung lắm. Mới ra đời làm việc mà xem chừng bị gặp nhiều bất lợi vì màu da vàng và vóc dáng nhỏ bé, không biết cả cuộc đời mình rồi sẽ ra sao. Tôi vừa tự ái xen lẫn chút tự ti. Cuối cùng tôi chọn cách làm việc để khẳng định mình, quyết định không gây hấn gì với ông sếp cả.

Tôi làm việc cần mẫn. Thay vì làm 8 -9 giờ một ngày, tôi làm việc những 15-16 giờ. Tôi giữ thói quen dậy từ lúc 5 giờ sáng để bắt đầu một ngày làm việc cho tới tận bây giờ. Dần dần, tôi được ông sếp tín nhiệm, còn bản thân ông ấy trở nên lười, cứ việc khó là thảy cho tôi. Nhưng chúng tôi lại trở thành bạn thân.

Trần Văn Thình, đại diện EC tại GATT, trong cuộc chạm trán đầu tiên với Mickey Kantor - đại diện thương mại mới của chính quyền Clinton. Ảnh chụp năm 1993 trên tờ Le Figaro. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Trần Văn Thình, đại diện EC tại GATT, trong cuộc chạm trán đầu tiên với Mickey Kantor - đại diện thương mại mới của chính quyền Clinton. Ảnh chụp năm 1993 trên tờ Le Figaro. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Thời đó, người châu Á làm việc ở châu Âu rất hiếm. Có lần tôi được mời đi dự một cuộc họp cao cấp. Tới nơi họp, tôi chưa kịp trình bày thì anh gác cổng xua tay bảo: “Hôm nay không ai họp với người Nhật đâu”. Tôi đưa giấy tờ cho họ xem nhưng họ nhất định làm khó tôi. Tôi còn bị bực mình như vậy mấy lần nữa.

Tôi nhớ trong phòng của tôi có những 13 nhân viên nữ mà bà nào cũng không được xinh đẹp cho lắm. Hồi tôi mới vào làm, các bà ấy tỏ ra khó tính, mặt mũi lúc nào cũng cau có. Sau này, bà nào cũng trẻ ra, đẹp ra thế mới lạ. Mọi người bảo đó là nhờ sự vui vẻ và tốt tính của tôi đã "cảm hóa" các bà ấy. Tôi cũng thích tin là đúng vậy.
Suốt từ năm 1961, tôi phụ trách về chính sách thương mại với các nước đang phát triển. Duyên nợ của tôi sau này cũng gắn chặt với các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt là vùng châu Á và Mỹ Latin.

Năm 1971, tôi phát kiến ra hình thức chưa từng có tiền lệ trên thế giới giúp các nước đang phát triển được hưởng ưu đãi về thuế. Đó là GSP (chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập), cho phép các nước đang phát triển tham gia hệ thống này không phải chịu thuế xuất khẩu khi xuất hàng vào Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC). 

Tôi chịu trách nhiệm thảo ra kế hoạch này và đưa nó vào thực thi. Nhờ những đóng góp của tôi trong việc soạn thảo và thực thi kế hoạch này mà Chính phủ Thái Lan tặng tôi Huân chương Bạch tượng, còn Brazil tặng tôi huân chương cao quí nhất mang tên Thập tự miền Nam.

Năm 1972, tôi được bổ nhiệm là trưởng nhóm chuyên gia "Hàng hóa từ các nước đang phát triển - Các thỏa thuận quốc tế", chịu trách nhiệm đàm phán các thỏa thuận về cà phê, ca cao, dầu ôliu và cao su. 

Ở vị trí này, tôi thường xuyên phải làm việc với G77, nhóm các nước đang phát triển. Lúc đó, phát ngôn viên cho G77 cũng là một người Việt Nam, ông Lê Văn Lợi - đại sứ của chính quyền Sài Gòn cũ tại Liên Hiệp Quốc ở Geneva lúc bấy giờ. 

Chúng tôi từng chạm trán nhau nhiều lần trên các bàn đàm phán. Hai người Việt, một người đại diện cho quyền lợi của châu Âu, một người đại diện cho quyền lợi của các nước thuộc thế giới thứ ba. Ông Lợi đã về thăm lại quê hương năm 2004. Chúng tôi duy trì tình bạn thân thiết đến tận bây giờ.
(Tuổi Trẻ - Tháng 1/2007)
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?