Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn Fugger. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Fugger. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2016

Gia tộc giàu 700 năm tiết lộ vấn đề đau đầu của kinh tế châu Âu

Câu chuyện giữ vững gia sản và địa vị trên nấc thang kinh tế xã hội hơn 700 năm qua của một gia tộc tiết lộ nhiều tồn tại của nền kinh tế châu Âu.

Trung tâm mua sắm chính Piazza Santa Croce ở Florence, vùng Tuscany (Ý)

Lamberto Frescobaldi đặt hai ly rượu lên một thùng gỗ, trong tầng hầm rộng của nhà máy sản xuất rượu vang do công ty ông sở hữu. Nhà máy này nằm trong tòa lâu đài 1.000 tuổi cách thành phố Florence không xa. Bật nút chai Nipozzano, ông nhấp một ngụm và gật gù. Loại vang mà gia tộc ông từng cung cấp cho nhà điêu khắc Sculptor và Giáo hoàng Leo X vẫn tuyệt hảo.

Với Frescobaldi, 53 tuổi, dẫn dắt doanh nghiệp gia đình là công việc của niềm tin. Đó là cách bảo tồn triều đại bắt đầu từ những thương nhân buôn len từ khoảng năm 1000. “Bạn phải cảm thấy rằng bạn thật sự thừa kế gia sản, không sở hữu nó. Bạn chỉ cần vận hành đúng đắn và xúc tiến nó”, ông nói. Duy trì gia sản thừa kế kếch sù là điều mà nhiều thế hệ của gia đình Frescobaldi làm trong hơn 700 năm.

Tài sản gia tộc phổ biến hơn châu Á và Mỹ không hẳn là yếu tố thuận lợi đối với châu Âu, vì đây là dấu hiệu của tính di động xã hội thấp, khiến giáo dục, thu nhập và kết nối xã hội không phát triển qua nhiều thế hệ. Các gia đình giàu nhất ở Florentine ngày nay đã ở trên nấc đầu của bậc thang kinh tế xã hội gần 600 năm trước, theo một nghiên cứu mới do Ngân hàng Trung ương Ý thực hiện. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho thấy ở nhiều nước châu Âu, không chỉ của cải, thu nhập mà còn cả các ngành nghề cũng có xu hướng “kết dính”, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.


 Ông Lamberto Frescobaldi Bloomberg


Hơn 1/3 những người giàu nhất nước Ý thừa kế tài sản họ đang có. Ở Mỹ, tỷ lệ này là 29% còn ở Trung Quốc, tỷ lệ này là 2%, theo nghiên cứu công bố năm 2014 của Viện Peterson về Kinh tế Quốc tế. Đức có tỷ lệ tỉ phú do thừa kế cao nhất trong các quốc gia phát triển với 65%. Tựu chung, các cá nhân thừa kế gia sản chiếm khoảng một nửa số tỉ phú Tây Âu.

Việc thiếu tính di động xã hội là mối lo ngại với châu Âu, sản lượng kinh tế và số lượng việc làm có sẵn tại nơi này nhỏ hơn so với Mỹ. Nước Mỹ tăng trưởng thực tế 9,9% từ năm 2007, trong khi số liệu này của Liên minh châu Âu (EU) chỉ là 2,8% trong cùng giai đoạn. GDP đầu người ở EU thấp hơn gần 1/3 so với tại Mỹ khi điều chỉnh sức mua. Tỷ lệ thất nghiệp ở đây thì gần gấp đôi Mỹ.

Vì kinh tế Mỹ đang mở rộng, “họ cần nhiều kỹ sư, nhà hóa học, nhà kinh tế, nhà phân tích và nhân viên ngân hàng hơn là châu Âu”, Giáo sư danh dự ngành xã hội học Antonio Schizzerotto của Đại học Trento (Ý) nhận định. Ông Schizzerotto còn cho hay: “Số lượng vị trí công việc mới mở ra ở Mỹ cao hơn so với số lượng con ông cháu cha”.


 Lâu đài Nipozzano thuộc sở hữu của gia tộc Frescobaldi  Bloomberg


Ở thời điểm một số nền kinh tế tại lục địa già đang chững lại, sự giàu có và thừa kế xã hội nên được theo dõi chặt chẽ, vì nếu bất bình đẳng đạt đến một giới hạn nhất định, nó có thể tiếp tục hạn chế khả năng vực dậy tăng trưởng của một nước, Giáo sư Schizzerotto nói thêm.

Đối với Frescobaldi, tài sản của gia tộc ông có thể được gói gọn trong một từ: rượu vang. Kinh nghiệm đầu tiên ông có với thức uống màu đỏ là vào năm 6 tuổi, khi ông say xỉn và xỉu tại bữa tiệc hè với nhiều công nhân vườn nho.

“Họ không thể cho tôi uống nước, tôi là con trai của ông chủ”, ông Frescobaldi kể. Giờ đây, sau khi nhận tấm bằng nghề trồng nho tại Đại học California, Davis, Mỹ, ông ngồi ghế chủ tịch Marchesi Frescobaldi Group, doanh nghiệp sản xuất 11 triệu chai rượu vang mỗi năm, một trong những tên tuổi lớn nhất nước Ý.

 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ tỉ phú giàu nhờ thừa kế ở các quốc gia Bloomberg


Trước khi bước vào nghề làm rượu vang năm 1308, những người mang họ Frescobaldi buôn len và làm ngân hàng, tài trợ cho cuộc chiến của Vua Edward I ở xứ Wales và Pháp. Gia đình này xây cây cầu đầu tiên của thành phố Florence, Santa Trinita, và cũng là gốc của một trong những nhà soạn nhạc lớn cuối thời kỳ Phục hưng, đầu thời kỳ Baroque: ông Girolamo Frescobaldi.

Dòng dõi gia tộc Frescobaldi không phải là duy nhất trên đất Florence. Hai nhà nghiên cứu Guglielmo Barone và Sauro Mocetti của Ngân hàng Trung ương Ý từng so sánh hồ sơ những người nộp thuế năm 1427 và năm 2011 để theo dõi sự dịch chuyển qua các thế hệ. Họ phát hiện trạng thái kinh tế xã hội có duy trì lâu dài qua nhiều thế kỷ. Hai tác giả viết: “Những biến động chính trị, nhân khẩu học và kinh tế lớn xảy ra tại thành phố qua nhiều thế kỷ không thể tháo gỡ các nút thắt thừa kế kinh tế xã hội”.

Ở Đức, mức độ tập trung của tài sản kế thừa thậm chí còn lớn hơn. “Khó có nước nào mà gốc gác xã hội ảnh hưởng đến thu nhập một người nhiều như ở Đức. Các công dân giàu có nhất cũng là những người có thu nhập cao nhất”, Marcel Fratzscher, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế ở thủ đô Berlin viết trong quyển sách vừa xuất bản.


 Ông Count Alexander Fugger Babenhausen Bloomberg


Tỷ lệ tài sản gia tộc cao ở Đức là một phần kết quả của hệ thống thuế tồn tại đến năm nay. Cụ thể, hệ thống trên cho phép các doanh nghiệp gia đình, gồm phần đông các doanh nghiệp vừa vốn là xương sống của nền kinh tế, chuyển tiếp tài sản tài chính của họ khi gần như không phải đóng thuế bất động sản.

Count Alexander Fugger-Babenhausen, 34 tuổi, hậu duệ của người giàu nhất châu Âu vào thế kỷ 16, chia sẻ rằng duy trì tính vẹn toàn của gia sản là một trách nhiệm. Ông vừa trở về Đức để quản lý của cải gia đình và các hoạt động từ thiện sau khi làm việc tại ngân hàng đầu tư ở London (Anh).

“Đây không phải là khu vực năng động, nhanh chóng buộc bạn phải chấp nhận rủi ro cao”, ông nói khi đang ngồi tại Fuggerei - khu phức hợp nhà xã hội mà chủ ngân hàng Jakob Fugger thành lập năm 1521. Ông cho biết thêm: “Trong mọi quyết định chúng tôi làm cho Fuggerei, chúng tôi cố gắng xem xét điều đó và thận trọng. Sẽ là thảm họa nếu một sai lầm khiến sự vững bền kết thúc sau 19 thế hệ”. 140 căn hộ ở Fuggerei sống sót qua vô số cuộc chiến tranh, từng bị tàn phá một phần trong Thế chiến thứ hai nhưng sau đó đã được cải tạo.



Tượng đồng bán thân Jakob Fugger, người thành lập khu phức hợp nhà ở Fuggerei tại Augsburg (Đức) Bloomberg 

Share:

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Jacob Fugger - Người đàn ông giàu nhất trong lịch sử nhân loại?

Greg Steinmetz, người từng làm phóng viên của tờ Wall Street Journal và giờ là chuyên gia phân tích chứng khoán ở New York, cho rằng Fugger là một trong những doanh nhân có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử kinh tế thế giới.
Bức họa của tác giả Albrecht Durer miêu tả Jacob Fugger là một người đàn ông có đôi môi mỏng và ánh mắt khó tha thứ. Ông quàng một chiếc khăn lông trên vai và đội chiếc mũ màu nâu. Ở thời đó, cách ăn mặc này được coi là giản dị. Greg Steinmetz, người từng làm phóng viên của tờ Wall Street Journal và giờ là chuyên gia phân tích chứng khoán ở New York, cho rằng Fugger là một trong những doanh nhân có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử kinh tế thế giới. Thậm chí Fugger còn được cho là người giàu nhất trong lịch sử loài người.

Năm 1459, Fugger chào đời trong một gia đình khá giả làm nghề buôn sợi và hoạt động trong cả ngành ngân hàng ở Augsburg, một vùng thuộc miền Nam nước Đức. Ông trở nên giàu có và quyền lực bằng cách sử dụng vốn liếng một cách khá liều lĩnh và nhờ danh tiếng có được từ việc tài trợ cho những tham vọng bành trướng của Habsburgs.

Jacob đã tận dụng xuất sắc mối quan hệ với đế chế La Mã Thần thánh. Hoàng đế Frederick III đã nhận một khoản vay từ anh trai của Fugger để tránh bị hạ xếp hạng tín nhiệm. Jacob trở thành nhân viên ngân hàng đầu tiên mà con trai của Hoàng đế Frederick III - Vua Maximilian I, người đã thành lập đế quốc Áo Hung – tìm tới. Ông cũng có mối quan hệ thân thiết với vua Charles V của Tây Ban Nha. Các khoản vay khổng lồ của ông được đảm bảo bằng tài sản thế chấp, và các khách hàng Habsburg thường trả bằng những đặc quyền thay vì tiền mặt.

Fugger giành được quyền kiểm soát toàn bộ các loại hàng hóa như bạc từ Áo và đồng từ Hungary. Ông cho xây dựng một lò nấu kim loại để tinh chế đồng và bán với giá rất đắt. Khi ông gia nhập một cartel gồm các nhà sản xuất đồng ở Venice, họ đồng ý đẩy tăng giá bằng cách giảm nguồn cung, nhưng thay vào đó Fugger gây áp lực lên các đối thủ cạnh tranh và những người có cùng âm mưu. Ông khiến giá sụp đổ bằng cách khiến nguồn cung trên thị trường tăng vọt và những đối thủ cạnh tranh bị suy yếu.

Sau đó Fugger tài trợ vốn cho một chương trình của người Bồ Đào Nha với mục đích phân bổ lại hoạt động giao dịch tiêu và các loại gia vị khác ở Lisbon. Kế hoạch thành công đến nỗi vị thế thương mại của Venice bị giáng một đòn mạnh.

Khao khát thông tin về giao dịch và thương mại, Fugger lập nên một mạng lưới người đưa tin viết ra các bản báo cáo được in và phát cho các khách hàng dưới dạng một tờ báo. Có thể nói Fugger là người “phát minh” ra dịch vụ cung cấp tin tức đầu tiên trên thế giới.

Nhà kinh doanh tài ba đã huy động nguồn vốn mới cho các ngân hàng bằng cách khai thác các tài khoản tiết kiệm xuất hiện lần đầu tiên ở Augsburg với lãi suất 5%/năm, mặc dù loại hình này trái với lệnh cấm cho vay nặng lãi của nhà thờ Công giáo. Fugger đã trực tiếp tranh luận với Giáo hoang Leo X về điều này. Đến năm 1515 lệnh cấm đã được viết lại, với định nghĩa cho vay nặng lãi là một quá trình trong đó lợi nhuận được tạo ra mà không cần đến lao động, chi phí hay rủi ro.

Càng già, Fugger càng có nhiều kẻ thù muốn ông phải chết. Đầu tiên là các hiệp sĩ Teuton và sau đó là những người nông dân Đức đã vùng lên đấu tranh chống bị tầng lớp thương nhân bóc lột, trong đó Fugger là kẻ bị liệt kê đầu tiên. Một lãnh đạo của cuộc kháng chiến của người nông dân Đức năm 1520 nói rằng Chúa sẽ giết chết Fugger. Tuy nhiên, ông chết trên giường bệnh vào năm 1525.

Khi còn trẻ, Fugger từng thề rằng ông sẽ làm ra lợi nhuận chừng nào có thể. Khi qua đời, ông là một triệu phú với cuộc sống xa hoa trong cung điện ở Augsburg. Dù cho những thông tin về ông chính xác đến đâu, Jacob Fugger chắc chắn sẽ mỉm cười tự hào khi nghĩ rằng ông là người đàn ông giàu nhất thế giới.

Bài viết được dựa trên cuốn sách "The Richest Man Who Ever Lived: The Life and Times of Jacob Fugger" (tạm dịch: Người đàn ông giàu nhất thế giới từ trước đến nay: Cuộc đời và thời đại của Jacob Fugger) viết bởi Greg Steinmetz).
Theo Trí thức trẻ/Economist

Share:

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Lịch sử ngành ngân hàng thế giới (P3): Dòng họ Medici và Fugger ở thế kỷ 15 – 16

Nhà Medici và Fugger tích lũy gia sản khổng lồ bằng việc chăm sóc tài chính cho Giáo hoàng và các hoàng tộc.


Gia tộc Medici xứ Florence

Một trong những cái tên được biết tới nhiều nhất trong thời kỳ đầu của lịch sử ngân hàng thế giới là dòng họ Medici ở xứ Florence.

Xuất thân từ những người nông dân, rồi tham gia các hoạt động buôn bán và ngân hàng, dòng họ Medici dần trở thành một trong các gia đình quyền lực nhất châu Âu trong suốt thời gian từ giữa thế kỷ 14 đến 1748.

Dưới sự dẫn dắt của Giovanni Medici từ đầu thế kỷ 15 và sau đó là Cosimo, dòng họ xứ Toscan (thuộc Italia) dần mở rộng các hoạt động ngân hàng ra ngoài ranh giới xứ Florence với các chi nhánh tại Milan, Geneva, Bruges, Ancona, Pisa, London và Avignon. Chi nhánh tại Rome quản lý tài khoản của Đức giáo hoàng.

Tại Florence, ngân hàng Medici nhận tiền gửi của những người Florence giàu có. Các khoản tiền gửi này có thể được rút ra theo định kỳ từ ba tháng đến một năm và hưởng mức lãi suất khoảng 10% mỗi năm.

Dòng họ Medici cũng dần quản lý xứ Florence, thể hiện sức mạnh kết hợp giữa tài chính và chính trị. Sự kết hợp này đã vô cùng hữu ích vào năm 1452 khi cả hai xứ Naples và Venice gây chiến với Florence. Đối mặt cùng lúc với hai mối hiểm hoạ, Cosimo đã cho đòi các khoản nợ tại hai thành phố thù địch khiến cho chiến tranh không thể nổ ra bởi hai thành phố này không còn đủ nguồn tài chính để thuê quân lính.
Nhà Medici sau cùng cũng nhận được tước hiệu Công tước xứ Florence nhưng vị trí đứng đầu ngành ngân hàng đã lọt vào tay ngân hàng Đức – dòng họ Fugger.

“Dòng họ Medici đạt tới đỉnh cao dưới thời Lorenzo (1449-1492), cháu trai của Cosimo. Lorenzo được coi là hình ảnh mẫu mực của một quý ông thời kỳ Phục Hưng. Ông là người trị vì xứ Florence, nhà thơ, học giả, một người say mê nghệ thuật, và một chủ ngân hàng. 

Danh tiếng này, tuy vậy, cũng có giá của nó. Dưới thời kỳ Lorenzo, dòng họ Medici đã cho vua nước Anh Edward IV vay tiền để tài trợ cho Cuộc chiến Hoa hồng (Wars of the Roses). Khi vị vua nước Anh không thể trả nợ, ngân hàng đã bị mất một số tiền lớn và buộc phải đóng cửa chi nhánh tại London.

Dòng họ Medici cũng tham gia tích cực các hoạt động chính trị tại Nhà thờ Thiên chúa Giáo, và rất có uy tín với các thế lực ngầm. Dòng họ Medici luôn là những chủ ngân hàng đầy thủ đoạn, sẵn sàng tận dụng mọi cơ hội để loại bỏ đối thủ cạnh tranh.

Dòng họ Medici bắt đầu suy yếu từ thế kỷ 16 khi xứ Florence bị xâm lược nhiều lần. Vào thế kỷ 16, ngân hàng Medici thoát khỏi cảnh phá sản nhờ sự giúp đỡ của Fuggers, một ngân hàng lớn ở miền nam nước Đức. Đến thế kỷ 18, ngân hàng Medici chỉ còn là cái bóng mờ nhạt của chính mình. Nhưng tên tuổi của dòng họ Medici và ngân hàng Medici xứ Florence còn mãi trong lịch sử ngân hàng thế giới.”

–Jane E. Hughes và Scott B. MacDonald, 2002. International Banking: Text and Cases.
Dòng họ Fugger

Cũng giống như nhà Medici, nhà Fugger tích lũy gia sản khổng lồ bằng việc chăm sóc tài chính cho Giáo hoàng và các hoàng tộc. Cuối thế kỷ 15, quyền lực của châu Âu được chuyển về Habsburgs, nơi gia đình Fugger sinh sống.

Tổ tiên nhà Fugger làm nghề dệt vải tại Augsburg và những tài sản đầu tiên của gia đình đều năm trong ngành dệt. Người vay tiền nhà Fugger đầu tiên là một hoàng tử Habsburgs vào năm 1487, với khoản đảm bảo là mỏ đồng và bạc ở vùng Tirol. Kể từ đó, gia tộc này mở rộng và phát triển các hoạt động khai mỏ và kim loại quý.

Năm 1491, Maximilian, lúc này còn là hoàng tử của vương triều Roman Thần thánh, nhận khoản vay đầu tiên từ nhà Fugger và đảm bảo bằng các quyền lợi kinh tế thu được từ hai lãnh đại tại Áo. Sau khi lên ngôi hoàng đế ở Habsburgs, Maximilian vẫn tiếp tục phải vay tiền của gia tộc Fugger.

Người vay nhiều tiền nhất từ nhà Fugger là cháu nội của Maximilian, vua nước Đức Charles. Thừa hưởng từ cha ông ngai vàng của nước Đức và vương triều Roman nhưng để giữ tước vị, Charles phải cạnh tranh với Hoàng đế nước Pháp, Francis Đệ nhất. Để có tiền trang trải cho cuộc tranh cử, Charles tìm đến nhà Fugger. Một lượng tiền khổng lồ đã được sử dụng để hối lộ bảy người bỏ phiếu: 852.000 florin. Gần hai phần ba số tiền này do nhà Fugger tài trợ (544.000 florin). Chiến dịch vận động tranh cử thắng lợi. Charles V đăng quang.

Thời gian đó, mức lãi suất không bao giờ ở dưới 12%/năm. Và với một khoản vay nóng, nhà ngân hàng ở thế kỷ 16 dễ dàng nâng mức lãi suất lên 45%. Cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các hoàng đế mang lại lợi nhuận cao.

Các cuộc chiến liên tiếp và những khoản chi tiêu của vương triều đều đặn làm suy kiệt tài chính của Hoàng đề Charles. Cũng giống như những người đang trị vì các quốc gia châu Âu vào thời kỳ đó, chi phí của Charles V vượt xa những nguồn lợi có thể thu được. Phần chênh lệch được bù đắp bằng các khoản vay ngân hàng và thường được hoàn trả bằng cách nhượng lại những nguồn thu lợi của hoàng gia.

Nhờ đó, nhà Fugger được trao toàn quyền hưởng số lợi tức từ Tây Ban Nha cùng các mỏ bạc và thủy ngân vào năm 1525. Nhà ngân hàng này, từ đó, giữ vị thế đồng thời là người thu lợi tức và người quản lý tài sản của vương triều. Nhưng mức lãi suất cao của họ có thể nhanh chóng phá tan một vương quốc đã tham giá quá nhiều cuộc chiến không mang lại lợi nhuận.

“Dòng họ Fugger. Fugger là một trong các dòng họ nổi tiếng nhất trong ngành ngân hàng tại Đức vào giữa thời kỳ Trung cổ.
Cuối thế kỷ 15, dòng họ Fugger nổi lên như một gia đình buôn bán có thế lực tại thành phố Augsburg, và thường được nhắc tới như những người chủ ngân hàng chuyên phục vụ dòng họ Hapsburg. Năm 1487, Jakob Fugger (1459-1525) cho Sigismund- Hoàng tử xứ Tyrol- vay 20.000 duca (đồng tiền vàng cổ châu Âu). Để đảm bảo cho khoản vay, vị lãnh chúa dòng họ Hapsburg đã trao cho Jakob quyền kiểm soát các mỏ bạc tốt nhất vùng Schwarz và toàn bộ doanh thu thuế của tỉnh Tyrol.

Thời kỳ đó, nhu cầu sử dụng bạc rất lớn nhằm phục vụ công việc chế tác các đồ trang sức tinh xảo. Bạc cũng là phương tiện thanh toán, trao đổi xếp thứ hai sau vàng. Quyền kiểm soát các nguồn lực này vừa mang lại nguồn lợi khổng lồ vừa củng cố sức mạnh tài chính của dòng họ Fugger.

Với một khoản vay khác cho Hoàng tử Sigismund năm 1488, dòng họ Fugger đã có quyền kiểm soát hoạt động khai thác bạc trên toàn bộ lãnh thổ. Khi kế tục Sigismund nắm quyền cai quản Tyrol, năm 1490, Maximilian tiếp tục duy trì mối quan hệ tín dụng này. Ngay sau đó, năm 1491, Maximilian có thêm một khoản vay mới từ dòng họ Fugger nhằm tài trợ cho cuộc chiến thống nhất các lãnh địa thuộc dòng họ Hapsburg. Maximilian trở thành Hoàng đế của Đế chế Roman (Holy Roman Empire) vào năm 1493. Gia đình Fugger có một người bạn đầy quyền lực và một khách hàng gắn bó.

Đến năm 1508, công việc kinh doanh của dòng họ Fugger đã trải khắp châu Âu với các hoạt động đầu tư trong lĩnh vực dệt may, buôn bán hạt tiêu, bất động sản, và khai thác mỏ bạc và đồng. Ngân hàng Fugger cũng tham gia tài trợ cho các cuộc viễn chinh tại châu Mỹ.

Hệ thống kinh doanh quốc tế của gia đình Fugger cho phép họ cung cấp thêm một dịch vụ mới cho vương triều Hapsburg, khi đế chế này mở rộng và nằm rải rác ở nhiều vùng địa lý trên khắp lục địa châu Âu. Các lãnh địa chư hầu có nghĩa vụ nộp tiền cho vương triều Hapsburg. Họ thực hiện nghĩa vụ của mình bằng nhiều đồng tiền khác nhau và việc vận chuyển thường tốn rất nhiều thời gian và nguy hiểm.

Kết quả là việc sử dụng hệ thống của gia đình Fugger sẽ vô cùng tiện lợi cho hoàng gia. Với các lệnh chuyển đổi, tiền sẽ được chuyển tới Augsburg chỉ trong vòng hai tuần. Có thể hình dung một cách đơn giản, đại diện của gia đình Fugger tại Antwerp nhận tiền và phát hành một giấy ghi nhận tín dụng. Giấy chứng nhận này sẽ nhanh chóng được chuyển tới Đức và đổi thành tiền mặt tại ngân hàng Fugger ở Augsburg.

Gia tài của dòng họ Fugger, tuy vậy, cũng trở nên gắn bó vô cùng mật thiết với các hoạt động của khách hàng lớn nhất, vương triều Hapsburg. Dưới thời Charles V, người kế nghiệp Maximilian, chiến phí quá lớn trong các cuộc xung đột với người Ottoman, Pháp, và người Tin lành tại Đức đã đặt tình trạng tài chính của vương triều vào tình trạng căng thẳng đáng ngại. Mặc dù gia đình Fugger tin rằng họ đã gia hạn quá mức với vương triều Hapsburd, họ vẫn phải miễn cưỡng tiếp tục cung cấp các khoản tín dụng.

Sức mạnh tài chính của dòng họ Fugger bị tổn hại nghiêm trọng khi Philip II của Tây Ban Nha tuyên bố phá sản vào năm 1577. Gia sản của dòng họ Fugger sụt giảm nghiêm trọng ngay sau đó.”
–Jane E. Hughes và Scott B. MacDonald, 2002. International Banking: Text and Cases.
Tới cuối thế kỷ 16, dòng họ Fugger rút khỏi các hoạt động tài chính rủi ro, sau một số thảm họa gia đình, và duy trì hiện diện như một gia đình quí tộc sau khi bán đi phần lớn tài sản.

Từ đây xuất hiện những triều đại ngân hàng mới, trong đó nổi bật và quyền lực nhất là gia tộc Rothschild. Nhưng điểm đáng kể nhất của lịch sử ngân hàng thế kỷ 17 lại là mô hình kinh doanh với các dịch vụ thương mại hướng tới khách hàng thông thường nhiều hơn các vị hoàng đế.

Nguồn: historyworld.net (Bản dịch tiếng Việt của saga.vn)



>> Lịch sử ngành ngân hàng thế giới (P2): Ngân hàng cho các Hoàng đế châu Âu


>> Jacob Fugger - Người đàn ông giàu nhất trong lịch sử nhân loại?

 
Share:

Lịch sử ngành ngân hàng thế giới (P5): Ngân hàng quốc gia, Tiền giấy và Gia tộc Rothschild

Lịch sử ngân hàng của thế giới có điểm thú vị là các hệ thống ngân hàng quyền lực nhất luôn thuộc về dòng họ hoặc một nhóm người có chung tôn giáo, nguồn gốc địa lý.

Ngân hàng quốc gia: Thế kỷ 17 và 18

Venice, sau khi là thành phố đầu tiên lập ngân hàng cho việc giữ tiền và thanh toán bù trừ séc, cũng đi tiên phong trong việc cho phép một ngân hàng can dự vào tài chính chính phủ. Năm 1617, Banco Giro được thành lập để giải quyết các vấn đề mà Banco della Piazza di Rialto để lại sau khi thực hiện những khoản cho vay không đảm bảo.

Con nợ của ngân hàng chính là nhà nước Venice. Banco Giro ra đời trên nguyên tắc những chủ nợ của chính phủ chấp nhận nợ được thanh toán dưới dạng tín dụng với ngân hàng mới. Để giải quyết một vấn đề trước mắt, những cơ hội mới được tạo ra. Venice đã có một cơ chế tạo nguồn quỹ tài chính công trên cơ sở các khoản tín dụng được đảm bảo.

Mở rộng khái niệm này theo lô-gic đưa tới khái niệm ngân hàng quốc gia, được thành lập dưới dạng các liên kết với chính phủ.

Ngân hàng quốc gia đầu tiên ra đời là Ngân hàng Thụy Điển (Bank of Sweden), thành lập năm 1668. Cho tới nay ngân hàng này vẫn hoạt động và thường được nhắc tới với tư cách tổ chức xét và trao Giải thưởng Khoa học Kinh tế Tưởng nhớ Alfred Nobel.

Cũng rất lâu đời và giữ vai trò quant trọng trong lịch sử ngân hàng thế giới là Ngân hàng Anh (Bank of England) được thành lập năm 1694, ban đầu là một công ty cổ phần, với thương vụ đầu tiên là thu xếp khoản nợ 1,2 triệu bảng được vua nước Anh Willam sử dụng trong cuộc chiến với Louis XIV của Pháp (Ellen Hodgson Brown, 2008. Web of Debt).

Trong suốt thế kỷ 18, Ngân hàng Anh lần lượt thực hiện các công việc mà ngày nay được xếp vào nhóm chức năng hoạt động của ngân hàng trung ương. Ngân hàng này tổ chức việc bán trái phiếu chính phủ khi cần huy động nguồn tài chính. Nó cũng giữ vai trò ngân hàng thanh toán bù trừ cho các bộ và cơ quan chính phủ, hỗ trợ và xử lý các giao dịch thường nhật của các tổ chức này.

Ngân hàng Anh cũng trở thành ngân hàng của các ngân hàng khác tại London, và thông qua những ngân hàng này tiếp cận cộng đồng ngân hàng quốc tế. Các ngân hàng London trong nửa cuối thế kỷ 18 hoạt động như đại diện tại kinh đô tài chính của rất nhiều ngân hàng tư nhân qui mô nhỏ.

Toàn bộ các ngân hàng này đều sử dụng Ngân hàng Anh như nguồn tín dụng mỗi khi gặp sự cố. Để đảm bảo chức năng này, ngân hàng quốc gia cần một lượng vàng dự trữ rất lớn với toàn bộ lượng vàng của quốc gia được bảo quản cẩn mật trong các hầm chứa.

Tiền giấy: 1661-1821

Tiền giấy xuất hiện lần đầu tiên tại châu Âu vào thế kỷ 17 tại Thụy Điển, vài năm trước khi ngân hàng quốc gia đầu tiên ra đời. Năm 1656, Johan Palmstruch lập Stockholm Banco. Dù đây là ngân hàng tư nhân nhưng có mối liên hệ rất mật thiết với nhà nước. Một nửa lợi nhuận của ngân hàng này là khoản phải trả cho Bộ tài chính của Hoàng gia Thụy Điển. Năm 1661, sau khi thảo luận cùng chính phủ Thụy Điển, Palmstruch nhận được quyền phát hành giấy tín dụng có thể trao đổi. Khi đưa giấy này tới ngân hàng của Palmstruch, một số lượng tiền xu đúc bằng bạc đã được định trước sẽ được trao cho người xuất trình.

Giấy bạc Palmstruch được thiết kế rất ấn tượng. In trên mặt giấy là 8 chữ ký. Nếu đạt đủ lòng tin của dân chúng, đó sẽ là loại tiền tệ lý tưởng. Giấy bạc này có thể được sử dụng để mua hàng hóa trong chợ nếu từng người nắm giữ nó cùng có chung niềm tin rằng sẽ đổi được môt lượng tiền đúc thực sự khi cầm giấy đến ngân hàng.

Nhưng tai họa đã xảy ra. Palmstruch phát hành nhiều tiền giấy hơn số bạc có thể đổi cho khách hàng. Đến năm 1667 Palmstruch bị thất sủng, và đối diện với án tử hình, sau đó được giảm nhẹ xuống phạt tù, do gian lận.

Phải tới nửa thế kỷ sau, mới có một ngân hàng nữa ở châu Âu phát hành tiền giấy. John Law, người sáng lập Banque Générale tại Paris vào năm 1716, thực hiện phát hành tiền giấy vào tháng 1 năm 1719. Niềm tin của công chúng với đồng tiền này đã bị sụt giảm nghiêm trọng một năm sau đó. Tháng 5 năm 1720, chính phủ Pháp thông qua một sắc lệnh giảm một nửa giá trị của đồng tiền giấy này.

Với các hoạt động thương mại ngày càng phát triển trong thế kỷ 18, nhiều thử nghiệm tiếp tục được thực hiện với tiền giấy của ngân hàng. Tất cả đều dẫn tới một nhận thức rõ ràng về nhu cầu mở rộng cung tiền tệ dựa trên khả năng sẵn có các kim loại quý.

Sau khi các ngân hàng quốc gia ra đời, công chúng dần có niềm tin hơn vào các loại tiền giấy do những ngân hàng này phát hành và được đảm bảo bằng lượng tài sản dự trữ của chính phủ. Trong bối cảnh đó, thậm chí, một chính phủ còn có thể ban hành lệnh cấm tạm thời với việc thực hiện quyền đổi tiền giấy ra bạc. Qui định này đã được áp dụng thành công tại Anh trong suốt thời gian chiến tranh với Napoleon, từ 1797 đến 1821.

Với đồng tiền giấy do các chính phủ phát hành, mối nguy hiểm cố hữu chuyển từ khả năng phá sản sang lạm phát. Sau khi kết thúc cuộc chiến với Napoleon, chính quyền Anh bắt đầu sử dụng chế độ bản vị vàng để phòng ngừa nguy cơ này.

Đế chế Rothschild: Từ cuối thế kỷ 18

William IX, lãnh chúa cai quản vùng Hesse-Kappel của Đức và ông chủ của khối tài sản khổng lồ có nhiều năm quan hệ khăng khít với Mayer Amschel Rothschild, một nhà ngân hàng Do Thái và là nhà buôn ở Frankfurt. William đánh giá rất cao những lời khuyên của Rothschild trong lĩnh vực tài chính. Hai người cũng chia sẻ niềm đam mê sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật.

Vào năm 1801, William chính thức bổ nhiệm Rothschild làm người đại diện cho vương triều của mình và khuyến khích Rothschild sử dụng các kỹ thuật tài chính của mình hỗ trợ các hoàng gia châu Âu trong những năm Napoleon liên tục khuấy đảo lục địa châu Âu.

Rothschild không bỏ lỡ cơ hội này. Năm 1803, nhà Rothschild đã cung cấp khoản vay 20 triệu francs cho chính phủ Đan Mạch. Khoản vay dành cho Đan Mạch khởi đầu cho nhiều giao dịch của các chính phủ châu Âu với gia tộc Rothschild. Chỉ trong một thời gian ngắn, dòng họ Rothschild đã trở thành hệ thống ngân hàng quyền lực nhất châu Âu, thậm chí còn có uy thế vượt cả các đại gia tộc nổi danh từ trước như Medici và Fugger.

Hệ thống ngân hàng của nhà Rothschild nhanh chóng hiện diện tại các trung tâm giao thương quan trọng nhất châu Âu. Mayer Amschel có năm người con trai. Ông giữ người con cả, Anselm Mayer, ở bên cạnh để tiếp quản công việc của ngân hàng tại Frankfurt. Bốn người con còn lại chia nhau mở các chi nhánh. Solomon đến thành Viên. Nathay Mayer vượt biển sang London. Kalk phát triển tại Naples. Jacob phụ trách vùng Paris.

Gia tộc Rothschild đã đặt cược rất lớn vào thất bại của Napoleon. Mặc dù Jacob được Napoleon cho phép hoạt động tại Paris và có tham gia lo nguồn tài chính cho các hoạt động chiến tranh của Napoleon, tất cả các quốc gia đối đầu với Napoleon đều nhận được những khoản vay từ nhà Rothschild. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta đã tìm hiểu về cách thức kinh doanh và kiếm lợi nhuận từ chiến tranh của gia tộc này.

Bằng việc tài trợ cho cả hai bên tham gia cuộc chiến, nhà Rothschild luôn nhận được phần chia của người chiến thắng và là chủ nợ của kẻ chiến bại. Bằng hệ thống liên lạc được xây dựng từ trước chiến tranh, quan hệ với các thế lực cầm quyền, tiền và tài sản vẫn được chuyển qua lại giữa các chi nhánh của ngân hàng Rothschild ngay trong thời kỳ chiến tranh. Một trong vô số trường hợp lẫy lừng là việc Nathan chuyển một lượng tiền rất lớn cho chính phủ Anh tới Bồ Đào Nha (phải đi qua nước Pháp) để trang trải cho đội quân của Anh đang chiến đấu tại đây.

Khi chiến tranh kết thúc, danh tiếng của gia tộc Rothschild vang dội khắp châu Âu. Hệ quả của điều này là những quan hệ giao dịch tài chính khăng khít với chính phủ của nhiều quốc gia. Tiếng tăm này cũng giúp dòng họ Rothschild phát triển gia tài ngày một nhanh hơn. Cùng với sức mạnh tài chính hiển hiện, uy tín nhà Rothschild với các vương triều cũng rất cao, và đặc biệt, họ luôn có được những thông tin nhanh nhất và chuẩn ác nhất.

Khi đội quân của Napoleon tràn vào vùng Hesse-Kassel sau chiến thắng tại Jena năm 1806, người bảo trợ của Mayer Amschel Rothschild là William phải bỏ trốn và giao lại toàn bộ của cải cho nhà Rothschild. Trị giá lượng tài sản này vào khoảng nửa triệu bảng (tiền thời bấy giờ). Bất chấp nỗ lực của những người đại diện cho Napoleon trong việc yêu cầu Rothschild chuyển giao lượng tài sản này cho Hoàng đế mới thắng trận, nhà Rothschild vẫn giữ nguyên vẹn và chuyển lại toàn bộ số của cải trên, cùng tiền lãi cho người chủ thực sự vào năm 1815.

Nhờ có thông tin chính xác, ngày 20 tháng 6 năm 1815, Nathan Mayer Rothschild biết được chiến thắng của Công tước Wellington trong trận chiến lịch sử với Napoleon tại Waterloo hai ngày trước khi thắng lợi được quyết định thực sự trên chiến trường. Trước đó, tài năng quân sự của Wellington luôn bị nghi ngờ. Với thông tin quý báu này, dòng họ Rothschild đã giành thắng lợi tuyệt đối và vô cùng to lớn trên thị trường tài chính nước Anh. Chính phủ Anh nhận được tin thắng trận vào buổi chiều ngày chiến thắng. Trong khi đó, hệ thống truyền thông của nhà Rothschild, rất nổi tiếng với việc sử dụng chim bồ câu đưa tin, đã nhận được tin sớm hơn rất nhiều với những người truyền tin đợi sẵn ở hải cảng Ostend để chuyển đi những thông tin mới nhất.

Lịch sử ngân hàng của thế giới có điểm thú vị là các hệ thống ngân hàng quyền lực nhất luôn thuộc về dòng họ hoặc một nhóm người có chung tôn giáo, nguồn gốc địa lý. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi liền với các hoạt động thương mại nở rộ. Tuy vậy, các nhà ngân hàng thu lợi rất lớn từ các hoàng tộc, triều đình, và nhà nước. Những lợi ích này bao gồm cả của cải vật chất và quyền lực chính trị.

Cho tới thế kỷ 20 và 21, ngay cả khi nền kinh tế toàn cầu đã đạt tới qui mô vô cùng lớn về giá trị tiền tệ, và các thể chế chống độc quyền quốc tế được áp dụng rộng khắp, hệ thống tài chính-ngân hàng quốc tế về cơ bản vẫn nằm dưới sự kiểm soát của một nhóm đại gia tộc kinh doanh tiền tệ.

Nhiều học giả như Glyn Davies (2002), Murray N. Rothbard (1983), và Frederic S. Mishkin (2004) đều sử dụng chung thuật ngữ ngân hàng thương nhân (merchant bank) khi nhắc tới hình thái ngân hàng đầu tiên. Bắt nguồn từ các hoạt động buôn bán, những thương nhân giàu có bắt đầu cho người khác “mượn dùng” tài sản và tiền trong giao thương. Khi của cải tích lũy đủ lớn, các thương nhân này còn hỗ trợ tài lực cho các vương triều và hoàng gia, tạo dựng địa vị và quyền lực để trở thành các đại gia tộc.

Trong quá trình phát triển thương mại, khách hàng của các ngân hàng cũng mở rộng sang đông đảo tầng lớp thương gia và dân cư. Từ đó, hình thành các mô hình ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng bán lẻ…

Nguồn: historyworld.net (Bản dịch tiếng Việt của saga.vn)

Xem thêm:
>> 6 người tiên phong vĩ đại nhất lịch sử tài chính thế giới


 

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?