Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn Wall Street Journal. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Wall Street Journal. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Những điều đang âm thầm “giết chết” Warren Buffett

Lợi nhuận của tập đoàn Berkshire Hathaway - công ty của nhà đầu tư Warren Buffett- vẫn tăng nhưng bị ảnh hưởng đáng kể do phải đền bù những hợp đồng bảo hiểm tai nạn, theo hãng tin Wall Street Journal.

http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html

Bảo hiểm “gặp hạn”

Theo đánh giá của Buffett, ngành kinh doanh bảo hiểm có tiềm năng phát triển vô tận. Hiện tại, Berkshire vẫn đang được chèo lái bởi sức mạnh từ ngành bảo hiểm. Danh sách các công ty con bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ của tập đoàn đang ngày càng tăng lên.

Chúng cung cấp cho ông những số tiền lớn để tái đầu tư, nhờ đó, Berkshire có thể chọn các kênh có độ rủi ro thấp để đầu tư như mua cổ phiếu ưu đãi có cổ tức cố định của các doanh nghiệp uy tín như ngân hàng Bank of American và chuỗi cửa hàng Burger King.

Những đồng tiền đó, theo cách miêu tả dí dỏm của Buffett rằng chúng được mang về mà chỉ phải đổi lấy “những lời hứa”, tức tiền mặt ngày hôm nay đổi lấy số tiền được bảo hiểm không chắc đã cần đến tương lai. Tuy nhiên, cơ hội phát triển lớn cũng đồng nghĩa với thách thức, khó khăn và thiệt hại lớn khi những chuyện không may xảy ra.

Trong báo cáo quý III, lợi nhuận từ hoạt động của công ty do Warren Buffett điều hành đã giảm 3,7%, phần nhiều đến từ thu nhập thấp tại các công ty con của Berkshire trong lĩnh vực bảo hiểm, trong đó đáng kể nhất là GEICO, doanh nghiệp bảo hiểm ô tô lớn thứ hai của Hoa Kỳ.

Năm nay, GEICO với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm tài sản và bảo hiểm tai nạn, công ty đang phải đối mặt với số lượng tăng lên các lá thư đòi tiền bảo hiểm của khách hàng. Lợi nhuận của GEICO đã giảm 34% so với một năm trước xuống còn 414 triệu đô la, do phải trả một số tiền đền bù bảo hiểm lớn được thúc đẩy thêm bởi lạm phát.

Kết quả từ đối thủ trong ngành của GEICO, công ty bảo hiểm Allstate cũng báo cáo kết quả thua lỗ thậm chí là còn nặng hơn GEICO. Trước những rủi ro về tai nạn tăng cao, dự kiến của cả hai công ty sẽ tăng mức phí bảo hiểm của mình.

Ngoài lĩnh vực bảo hiểm, một lĩnh vực cũng được chú trọng của Berkshire là việc “tái bảo hiểm”. Trên thực tế, đây khá giống với việc bán buôn. Thay vì bán hàng nghìn hợp đồng nhỏ cho những người sở hữu nhà và lái xe như GEICO, các công ty tái bảo hiểm chỉ bán một số lượng nhỏ các hợp đồng lớn cho các công ty bảo hiểm khác, và chịu một phần sự rủi ro mà các khách hàng của họ phải chịu khi ký hợp đồng đó.

General và Berkshire Hathaway Reinsurance Group là hai công ty kinh doanh trong ngành tái bảo hiểm cũng như đều thuộc sở hữu chung của Buffett. Trong vụ nổ ở Thiên Tân, Trung Quốc, cả hai doanh nghiệp đã chịu một khoản lỗ chung lên đến 130 triệu đô la.

Bên cạnh đó, Buffett cũng bị lỗ bởi khoản đầu tư vào hãng công nghệ IBM. Vào thánh 10, gã khổng lồ công nghệ này thông báo doanh thu của hãng đã giảm 14% trong quý III xuống còn 19,6 tỷ đô la. Chưa hết, công ty cũng thông báo “tin xấu” về triển vọng của công ty ở phía trước.

Với số cổ phần 59,57 triệu cổ phiếu tại IBM, Buffett là cổ đông lớn nhất của công ty. Mặc dù đây không phải là lần đầu tiên IBM khiến Buffett “mất tiền”, nhưng ông vẫn kiên định bám trụ cũng như kỳ vọng sẽ kiếm được một khoản đáng kể từ giá trị của IBM trong dài hạn.

Thực phẩm “kéo” danh mục đầu tư

Trong số 10 cổ phiếu được chọn nằm trong top của danh mục đầu tư ở Berkshire, theo thông lệ, chỉ có 2/10 là tăng giá trị trong 12 tháng đã qua, bao gồm ngân hàng Wells Fargo và General Motor.

Giá trị sổ sách của công ty, một thước đo ưa thích của Buffett về giá trị tập đoàn, tăng nhẹ 3,3% lên 151 đô la cho một cổ phiếu hạng A trong 9 tháng đầu năm, so với cùng kỳ năm trước thì mức tăng là 7,1%.

Tương lai, chiến lược thúc đẩy sự tăng trưởng cho Berkshire của Buffett sẽ là mua lại hoặc thâu tóm các doanh nghiệp mới thay vì đầu tư vào cổ phiếu hay dựa vào từ sự mở rộng hoạt động bảo hiểm.

Động thái đầu tiên cho tuyên bố trên của Buffett là vụ thâu tóm hãng sản xuất thiết bị hàng không vũ trụ và quốc phòng Precision Castparts với trị giá 32 tỷ đô la vào tháng 8/2015 và dự kiến thỏa thuận này sẽ kết thúc vào đầu năm 2016.

Trong khi ngành kinh doanh bảo hiểm đang gặp hạn, thì những khoản đầu tư mới nhất của Buffett lại chắp cánh. Trong thương vụ đầu tư vào tháng 7 năm nay, cổ phần sở hữu của ông tại một trong số gã khổng lồ ngành thực phẩm của thế giới là Kraft Hein đã tăng giá trị đáng kể.

Trong quý này, Kraft Hein đạt lợi nhuận trước thuế là 7 tỷ đô la và công ty kỳ vọng sẽ kiếm đươc 4,4 tỷ USD sau thuế. Qua đó, làm lu mờ những điểm yếu trong ngành kinh doanh bảo hiểm chủ chốt - nơi lợi nhuận giảm.

Được thúc đẩy từ Kraft Hein, thu nhập ròng của Berkshire đạt 9,43 tỷ đô la, tương đương 5.737 đô la cho một cổ phiếu hạng A của công ty, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước, lần lượt là 4,62 tỷ đô la và 2.811 đô la/cổ phiếu. Doanh thu của công ty cũng tăng 15%, lên gần 59 tỷ đô la so với cùng kỳ.
Đinh Lộc
Theo Trí Thức Trẻ 
>> Tập đoàn của Warren Buffett đạt lợi nhuận kỷ lục

Share:

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Cả thế giới bị lừa vì cái gọi là ‘Nền kinh tế chia sẻ’!

Không ai đang chia sẻ bất cứ điều gì cho nhau cả, tất cả mọi người đều muốn kiếm tiền, rất đơn giản và rõ ràng.

“Nền kinh tế chia sẻ” (Sharing economy) là cụm từ khá phổ biến thời điểm hiện tại. Nó dùng để chỉ những dịch vụ như Uber (ứng dụng gọi xe taxi) hay Airbnb (dịch vụ đặt phòng trực tuyến toàn cầu).

Tuy nhiên không phải ai cũng là fan hâm mộ của “nền kinh tế chia sẻ”. Trong khi rất nhiều người trong lĩnh vực công nghệ và truyền thông vẫn sử dụng thuật ngữ này để ám chỉ những nền tảng như Uber và Airbnb - những ứng dụng dùng để kết nối giữa người mua và người bán thông qua các dịch vụ thì sự kết thúc của cụm từ này dường như đã được báo trước.

Các nhà phê bình bao gồm cả Steven Greenhous - cựu phóng viên tờ New York Times đã nói trong một buổi diễn thuyết tại Đại học Columbia rằng việc trao đổi giữa công việc và tiền lương không liên quan gì đến sự chia sẻ cả. Trong khi đó, chuyên gia Fred Wilson trong một bài viết vào năm 2014 đã nói rõ về việc “nền kinh tế chia sẻ” sẽ bị đánh bật bởi “nền kinh tế cho thuê” (rental economy). Không ai đang chia sẻ bất cứ điều gì cho nhau cả, tất cả mọi người đều muốn kiếm tiền, rất đơn giản và rõ ràng.

Một nghiên cứu đã được thực hiện để kiểm tra cụm từ này có thường xuyên xuất hiện trên ấn phẩm bản in của các tờ báo lớn hay không và nó đang ở tình trạng cạnh tranh cấp độ nào so với các đối thủ. Dưới đây là kết quả (dựa trên những nghiên cứu từ trong giai đoạn từ tháng 1 - 6 của các năm liên tiếp):

Có thể thấy ở trên, “nền kinh tế chia sẻ” bắt đầu trở nên phổ biến từ năm 2014. Tuy nhiên, thực chất cụm từ này đã xuất hiện từ khoảng những năm 2007 khi luật sư Lawrence Lessig sử dụng nó trong một bài báo trên tờ New York Times về sự ảnh hưởng của internet tới công việc. Nhiều năm sau đó, “nền kinh tế chia sẻ” trở thành xu hướng chính sau khi cuốn sách có tựa đề “What’s Mine is Yours: The Rise of Collaborative Consumption” xuất bản vào năm 2010 về cộng đồng trực tuyến ra đời.

Dẫu vậy, đến nay những ý kiến phản đối “nền kinh tế chia sẻ” xuất hiện ngày càng nhiều. Nguyên nhân thứ nhất là bởi cụm từ này không chính xác và thứ 2 là bởi các công ty như Uber và Airbnb chỉ đơn giản dùng nó là công cụ PR trong trận chiến với các nhà chức trách. Mục tiêu chính của các công ty này là sử dụng từ “chia sẻ” để truyền tải sự vị tha chứ không phải hàm ý về nhu cầu kinh doanh thông thường.

Chính vì vậy, thời kỳ hoàng kim của “nền kinh tế chia sẻ” sắp chấm dứt. Ngày càng nhiều phóng viên tránh dùng cụm từ này và mới đây nhất trên tờ Wall Street Journal xuất hiện cụm từ thay thế là "gig economy" (Từ gig ở đây ám chỉ những hợp đồng cho thuê ngắn hạn).

Với câu hỏi cái gì có thể thay thế được “nền kinh tế chia sẻ”, biểu đồ trên đã gợi ý đó chính là “gig economy” - một trong những ứng cử viên sáng giá nhất. Tuy nhiên, điểm hạn chế duy nhất là những công ty như Airbnb là họ liên quan nhiều đến các hợp đồng thuê chứ không phải thoả thuận lương. Trong khi đó, một số cụm từ khác như “nền kinh tế cho thuê” (rental economy) hay “nền kinh tế 1099” (1099 economy ý chỉ các hình thức thuế) lại chưa phát huy được hiệu quả trên các phương tiện truyền thông. Chính vì vậy, có lẽ trong dài hạn cụm từ “nền kinh tế theo yêu cầu” (on-demand economy) sẽ phù hợp nhất và đúng nhất với tất cả những công ty đang sống dưới vỏ bọc “chia sẻ”.

Ngoài ra, những cụm từ này cũng có khả năng sẽ phổ biến hơn khi cuộc tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ sắp tới bắt đầu. Các ứng cử viên như Hillary Clinton và Jeb Bush đã đề cập tới lao động và các vấn đề pháp lý gắn với nền kinh tế theo yêu cầu, cho thuê…


Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?