Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn luật chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn luật chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Không margin, tiền chảy vào UPCoM khó tăng

Quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ (margin) mới đã nói “không” với dòng tiền margin vào UPCoM. Không có huých từ margin, thị trường này dù đang bùng nổ hàng mới nhưng việc thu hút dòng tiền trong thời gian tới dự báo sẽ khó tăng.

 
Thống kê tại UPCoM trong 5 tháng qua, đây là giai đoạn bùng nổ các doanh nghiệp lên sàn cả về lượng và chất, nhưng thanh khoản trên sàn này không có sự cải thiện đáng kể. 

Với hơn 150 doanh nghiệp mới gia nhập trong thời gian này, vốn hóa UPCoM tăng gần 3 lần, nhưng giá trị giao dịch vẫn kém xa so với thị trường niêm yết HNX (xem bảng).

Ngoài các yếu tố như tỷ lệ cổ phiếu tự do lưu hành, mức độ quan tâm của nhà đầu tư tới UPCoM, mức độ minh bạch của doanh nghiệp còn hạn chế, thì quy định không cho phép giao dịch ký quỹ được xem là có ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng thu hút dòng tiền chảy vào sàn này.

 Giải thích về việc không mở margin cho sàn UPCoM, đại diện Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, các chỉ số phát triển thị trường đang cho thấy có sự phục hồi khá bền vững, nên Ủy ban nhận thấy không nên kích thích sự tăng trưởng của thị trường qua công cụ tiềm ẩn nhiều rủi ro là margin.


Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, một số công ty chứng khoán chia sẻ, nhiều nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng margin trên UPCoM. Thực tế, trên UPCoM có không ít mã chứng khoán chất lượng, nhưng thanh khoản không cao, do nhà đầu tư không được sử dụng margin. 

Trước đây, margin được nhận định là không có ý nghĩa nhiều đối với thanh khoản và sức hấp dẫn trên UPCoM, nhưng trong bối cảnh số lượng cổ phiếu lên sàn này tăng nhanh từ năm 2016 đến nay và dự báo tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới, thì margin sẽ có tác động tích cực.

Chính vì vậy, trong lần sửa đổi quy chế giao dịch ký quỹ vừa qua, Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) cũng như nhiều công ty chứng khoán đã đề xuất bổ sung nội dung cho vay giao dịch ký quỹ đối với các cổ phiếu có chất lượng trên UPCoM. 

Tuy nhiên, điều này đã không được chấp thuận và Quy chế giao dịch ký quỹ mới (hiệu lực từ 1/4/2017) không “điền tiên” các cổ phiếu UPCoM vào diện được margin. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, cho vay margin vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro, bởi vậy để giảm thiểu rủi ro mang tính đặc thù của nghiệp vụ này thì có hai cấp độ rất quan trọng phải đạt được và đều liên quan đến tính minh bạch. 

Thứ nhất, ở cấp độ thị trường, cổ phiếu phải được giao dịch trong môi trường lành mạnh, cơ sở định giá có tính xác thực cao, ít rủi ro bị thao túng giá. 

Thứ hai, ở cấp độ doanh nghiệp, cổ phiếu thuộc danh mục được vay margin phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao về minh bạch thông tin theo quy định pháp lý. Trong khi đó, các doanh nghiệp lên UPCoM không phải đáp ứng nhiều điều kiện khắt khe (minh bạch công bố thông tin, chất lượng doanh nghiệp) như doanh nghiệp niêm yết, nên cho phép giao dịch margin là rất rủi ro, không chỉ cho an toàn thị trường, mà cả với công ty chứng khoán lẫn nhà đầu tư.
ảnh 1
Với quy chế margin mới, bước đi mở đường của HNX là lập ra bảng UPCoM Premium gồm các doanh nghiệp tốt, đáp ứng tiêu chí về tài chính và minh bạch thông tin, đã không có “hồi kết đẹp” là mở quy định cho phép giao dịch ký quỹ với cổ phiếu thuộc bảng này.
 
Margin là điểm đặc thù của chứng khoán, là yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân. Trên các diễn đàn chứng khoán online, rất nhiều nhà đầu tư nóng lòng chờ đợi được margin trên UPCoM, thậm chí do có những hiểu lầm về câu chữ khiến không ít người tin rằng, cổ phiếu trên UPCoM, ít nhất là UPCoM Premium sẽ được giao dịch ký quỹ. Tuy nhiên, quy chế mới được đưa ra đã dẫn tới sự hụt hẫng đối với một bộ phận nhà đầu tư.

Một số chuyên gia đánh giá, việc nghiên cứu cho phép margin cổ phiếu của các doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt ngoài tăng tính hấp dẫn, tính thanh khoản của cổ phiếu, còn giúp lành mạnh hóa các quan hệ tài chính trên UPCoM, tăng khả năng đảm bảo an toàn các hoạt động cho vay của công ty chứng khoán. Bởi suy đến cùng, có cầu về margin nhiều khả năng sẽ có cung, một số công ty chứng khoán có thể “vượt rào”, âm thầm triển khai.

Vẫn theo các chuyên gia, margin không được áp dụng, UPCoM cần có những giải pháp khác để thu hút dòng tiền. 


ĐTCK
Share:

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

Đường dài từ 102 về 76

Bảy năm kể từ khi tiến trình cải cách công ty chứng khoán được bắt đầu từ năm 2009, số lượng các công ty chứng khoán đã giảm từ 102 về 76 vào cuối tháng 9-2016.

 Các công ty chứng khoán thành lập theo luật định, và sự đào thải của chúng cũng theo luật định. Ảnh: MINH KHUÊ

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC) không đặt mục tiêu đưa số lượng công ty chứng khoán về mức bao nhiêu và thời điểm nào sẽ đạt con số đó, nhưng ông Vũ Bằng, Chủ tịch SSC, trong một lần trao đổi với người viết, cho biết ở các nước Asean, mỗi nước chỉ có 20-40 công ty chứng khoán. Không lẽ phải cần đến 5-7 năm nữa, số lượng công ty chứng khoán ở Việt Nam mới giảm về con số 40-50?

Các công ty chứng khoán thành lập theo luật định, và sự đào thải của chúng cũng theo luật định. Cơ quan quản lý đã nỗ lực đẩy nhanh tiến trình cải cách khối này cả về lượng và chất bằng cách ban hành và kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu tài chính cơ bản. Khi một đơn vị không đáp ứng được các tiêu chí tài chính, nó bị đưa vào kiểm soát đặc biệt và trong thời gian kiểm soát nếu không khôi phục được các tiêu chí sẽ bị rút giấy phép hoạt động.

Thực ra cổ đông nhiều công ty chứng khoán cũng muốn chấm dứt hoạt động bởi rõ ràng họ nhìn thấy sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp chứng khoán và họ không có cơ hội tồn tại. Nhưng họ, đặc biệt các cổ đông sáng lập, muốn chuyển nhượng nhằm vớt vát được đồng nào hay đồng ấy số tiền đã góp vốn đầu tư, trong khi nhu cầu nhận chuyển nhượng hầu như không có. Để kinh doanh có lãi trong một thị trường chứng khoán còn quá nhỏ bé, thanh khoản thấp và mối quan tâm của người dân còn hạn chế, lại phải đầu tư lớn cho công nghệ và nhân lực, không mấy tổ chức, cá nhân muốn bỏ tiền vào.

Các công ty chờ tìm được người mua chỉ còn cách sa thải nhân viên, thu gọn chi nhánh, phòng giao dịch, giảm đầu tư để bảo toàn những đồng vốn còn lại. Những công ty chứng khoán may mắn chưa đẩy mạnh hoạt động tự doanh thì gửi vốn vào ngân hàng hưởng lãi. Công ty nào đã trót tự doanh đành canh thời điểm VN-Index phục hồi để thanh lý danh mục. Sự chờ đợi nào cũng có giới hạn. Đến khi cái giấy phép thành lập và hoạt động của họ không còn được ai đoái hoài tới, họ xin giải thể, chia tiền còn lại cho cổ đông. Công ty Chứng khoán Âu Việt hay Kim Long đã đi theo con đường này.


Quy mô và chất lượng các công ty chứng khoán đang tồn tại chưa phát triển đến độ có thể cáng đáng công việc tư vấn cải cách doanh nghiệp quốc doanh, thoái vốn nhà nước khỏi một loạt “ông lớn”, mà hiện vẫn phải nhờ cậy chủ yếu vào các tổ chức tài chính nước ngoài.
 
Sự may mắn tự nguyện giải thể không đến với tất cả. Một số công ty vướng vào vòng lao lý, số khác thua lỗ, nợ nần chồng chất. Trong các năm 2009-2011 không ít nhà đầu tư sử dụng dịch vụ ký quỹ, thua lỗ “cháy” tài khoản đã bỏ của chạy lấy người. Hậu quả các công ty chứng khoán phải gánh. Một số đơn vị buộc phải chấm dứt sự tồn tại.

Cho đến nay trong số các công ty chứng khoán còn trụ lại, vẫn còn 25 công ty thua lỗ với tổng số lỗ, theo dữ liệu của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (Hnx), là 611 tỉ đồng. Với số này khắc phục lỗ, trả hết nợ là câu chuyện không hề đơn giản.

Sáu tháng đầu năm nay, Hnx cho biết, 50 công ty chứng khoán có lãi với tổng lợi nhuận sau thuế hơn 1.800 tỉ đồng. Không chỉ cạnh tranh trong mảng tư vấn, tự doanh, môi giới vẫn là mảnh đất nơi công ty chứng khoán so kè từng cen ti mét thị phần. Hàng quí tốp mười các đơn vị có thị phần môi giới lớn nhất trên sàn TPHCM thay đổi liên tục ở vị trí từ thứ 3 đến thứ 10. Từ mức chiếm khoảng 50% thị phần môi giới toàn thị trường, nay tốp mười đã nắm giữ 60% thị phần, trong đó ba công ty đứng đầu là SSI, HSC và Bản Việt chiếm 28,33%. Khoảng cách về quy mô cũng như hiệu quả kinh doanh giữa các công ty đang phân hóa ngày một cách biệt. Những công ty dẫn đầu sẽ còn tiếp tục bứt phá trong khi nhóm sau “chen chúc” để không bị rớt khỏi “bảng phong thần”.

Đa dạng hóa dịch vụ ký quỹ không còn là nghiệp vụ duy nhất để giữ chân khách hàng trong bối cảnh các công ty có điều kiện phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn, hoặc phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Chưa kể hiện nay đầu tư chứng khoán phải dài hơi, chiến thuật “đánh nhanh thắng nhanh” không còn hiệu quả, nhà đầu tư không có lợi khi sử dụng dịch vụ ký quỹ với thời hạn vài tháng. Bất chấp mặt bằng lãi suất chung đã giảm, lãi suất cho vay margin ở đa số công ty vẫn rất cao, có đơn vị trên 12%, thậm chí 13%/năm. Ngay cả những công ty chứng khoán có ngân hàng mẹ đứng sau, lãi suất margin cũng không dưới 10%/năm.

Để thu hút khách hàng mới, các công ty phải đầu tư cho mảng phân tích doanh nghiệp, cung cấp thông tin về từng nhóm, thậm chí từng cổ phiếu. Họ không chỉ phát triển mối quan hệ với các công ty niêm yết để cập nhật thông tin, mà còn kết hợp tư vấn cổ phần hóa, niêm yết doanh nghiệp với hoạt động tự doanh cộng môi giới. Không ít nhà đầu tư “cá mập” (có doanh số giao dịch cao và thường xuyên) được “ăn theo” danh mục tự doanh của các công ty chứng khoán.

Trước đây các công ty chứng khoán còn đua nhau “mồi chài” các nhà đầu tư tổ chức, các quỹ nước ngoài, nay điều này dường như đã giảm bớt. Trong thời gian qua, không có nhiều các quỹ mới đủ lớn vào thị trường. Số tài khoản mới mở của nhà đầu tư ngoại chủ yếu cá nhân và theo một số môi giới, cá nhân nước ngoài giao dịch doanh số cao tương đối hiếm.

Ảnh hưởng của công ty chứng khoán lên thị trường tài chính, tiền tệ không mạnh mẽ như tác động của ngân hàng và tổng nợ xấu của công ty chứng khoán quá nhỏ so với nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng, thậm chí chưa bằng nợ xấu của một ngân hàng nhỏ. Nhờ thế tái cấu trúc công ty chứng khoán đã không gây nhiều xáo trộn. Diễn ra chậm chạp, nhưng cuối cùng sự thu hẹp số lượng công ty chứng khoán cũng đến. Sự thiếu vắng mà thị trường đang đòi hỏi chính là quy mô và chất lượng các công ty chứng khoán đang tồn tại chưa phát triển đến độ có thể cáng đáng công việc tư vấn cải cách doanh nghiệp quốc doanh, thoái vốn nhà nước khỏi một loạt “ông lớn”, mà hiện vẫn phải nhờ cậy chủ yếu vào các tổ chức tài chính nước ngoài.


TBKTSG
Share:

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2016

Sẽ tăng mức phạt và bổ sung các hành vi vi phạm trên TTCK

Chỉ trong tháng 8/2016, có 19 tổ chức, cá nhận bị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) xử phạt vi phạm hành chính, trong đó vi phạm công bố thông tin chiếm phần lớn.

 UBCK sẽ đổi mới phương pháp phân tích và hoàn chỉnh quy trình giám sát giao dịch

CTCP Quản lý quỹ Hùng Việt vừa bị UBCK xử phạt vi phạm hành chính 50 triệu đồng do báo cáo không đúng thời hạn theo quy định pháp luật (báo cáo quý IV/2014, báo cáo quý I/2015, báo cáo quý IV/2015…).

Trước đó, 2 công ty quản lý quỹ khác đã bị UBCK xử phạt. Cụ thể, UBCK ban hành quyết định cảnh cáo đối với CTCP Quản lý quỹ đầu tư An Phát do không thông báo về việc thay đổi người được ủy quyền công bố thông tin theo quy định pháp luật. 

UBCK phạt tiền tổng cộng 110 triệu đồng đối với CTCP Quản lý quỹ Hợp lực Việt Nam. Trong đó, Công ty này bị phạt tiền 60 triệu đồng do công bố thông tin không đúng thời hạn theo quy định pháp luật (công bố thông tin về kết quả họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2016 trên website UBCK chậm 76 ngày) và phạt tiền 50 triệu đồng do báo cáo không đúng thời hạn theo quy định pháp luật (báo cáo tháng 9/2014, báo cáo quý III/2014).

Bên cạnh xử phạt về vi phạm công bố thông tin, nhiều tổ chức, cá nhân cũng bị xử phạt do vi phạm trong giao dịch. Đáng chú ý là trường hợp cá nhân ông Hoàng Đức Dũng (quận Cầu Giấy, Hà Nội) bị xử phạt với số tiền hơn 1 tỷ đồng (tháng 7/2016) do thao túng cổ phiếu TNT. Đây là mức phạt cao nhất từ trước đến nay đối với một cá nhân. 

Trường hợp khác, với hành vi vi phạm quy định về ngăn ngừa xung đột lợi ích và giao dịch với các bên có quyền lợi liên quan đến công ty khi đã có nghị quyết HĐQT về việc cho các thành viên HĐQT vay tiền để đầu tư các dự án với tổng mức vốn vay 16 tỷ đồng, ông Trần Thanh Hiệp - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc CTCP CMISTONE Việt Nam (CMI) bị xử phạt hành chính số tiền 50 triệu đồng.

Cụ thể, CMI đã cho HĐQT vay 6 tỷ đồng thành lập CTCP CMISTONE Việt Lào để triển khai khai thác quặng sắt tại Lào; vay 5 tỷ đồng để mua toàn bộ 100% cổ phiếu của CTCP Công nghiệp Thương mại và Dịch vụ Hoành Sơn; vay 5 tỷ đồng để mua cổ phiếu CTCP Xây dựng Vạn Xuân. 

Ngoài ra, UBCK phạt tiền 60 triệu đồng đối với CMI do Công ty chậm công bố thông tin, bao gồm 2 báo cáo tài chính quý, 1 báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính bán niên soát xét, thông tin về việc ký kết hợp đồng với đơn vị kiểm toán, thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh…

Trong công tác thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm, thời gian qua, UBCK đã tăng cường giám sát nhằm phát hiện kịp thời và kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm. Riêng trong 6 tháng đầu năm 2016, UBCK đã ban hành 37 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân, với tổng số tiền phạt là 4,37 tỷ đồng. 

Mặc dù phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính nhiều vụ việc, nhưng ông Vũ Bằng, Chủ tịch UBCK chia sẻ, khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, Ủy ban phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, đặc biệt là cơ quan công an từ cấp thấp đến cấp cao nhất để xác định sai phạm. Đó là lý do luôn có một khoảng trễ trong xử lý vi phạm trên TTCK. 

Trong thời gian tới, UBCK sẽ đổi mới phương pháp phân tích và hoàn chỉnh quy trình giám sát giao dịch và giám sát tuân thủ. Những tín hiệu như chậm báo cáo tài chính, thông tin mang tính chất đồn thổi sẽ được UBCK phân rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành như: cơ quan kiểm toán, cơ quan thuế, ngân hàng…, từ đó phối hợp để xử lý kịp thời các hành vi sai phạm, tăng sức răn đe với các chủ thể trên TTCK.

Đại diện UBCK chia sẻ, hiện Ủy ban đã hoàn tất dự thảo sửa đổi Nghị định 108/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo hướng tăng các mức phạt và bổ sung các hành vi vi phạm. Theo đó, cơ quản quản lý sẽ tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát đối với các tổ chức, cá nhân trên thị trường chứng khoán, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan trong công tác thanh tra, giám sát, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh, công bằng, minh bạch của thị trường.
Hoàng Minh 
ĐTCK
Share:

Dự kiến thêm 67 ngành nghề kinh doanh được nới room 100%

Đây là điều thị trường đã chờ đợi kể từ khi Nghị định 60 được ban hành...
PAN Group là công ty đồ uống và thực phẩm thứ 2 sau Công ty Sữa Việt Nam (Vinamilk) được chấp nhận nới room cho nhà đầu tư nước ngoài lên 100%.
 
Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa công bố dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh đang được lấy ý kiến. Bộ đề xuất bỏ tới 67 ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong Luật Đầu tư 2014.

Theo đó, dự thảo quy định ngành, nghề kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng và môi trường.

Cụ thể, với dự thảo đã loại bỏ 67 ngành nghề kinh doanh. Đây cũng là các ngành sẽ không hạn chế về tỷ lệ room cho các nhà đầu tư nước ngoài. Tiêu biểu là ngành than, truyền hình theo yêu cầu, bảo dưỡng - bảo hành xe ôtô, sát hạch lái xe, môi giới bất động sản, vận hành cơ sở hạ tầng, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi,...

Trước đó, theo Nghị định số 60 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 1/9/2015, doanh nghiệp đại chúng không rơi vào các trường hợp đặc biệt thì nhà đầu tư nước ngoài hoàn toàn có thể sở hữu 100% cổ phần nếu không thuộc danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Tuy nhiên, thời gian qua danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư chưa được hoàn tất cho nên việc nới room 100% vẫn phải chờ đợi.

Bản dự thảo trên có thể là kết quả giúp Nghị định 60 thể hiện tác động lên thị trường. Theo đó, 67 ngành nghề bị loại bỏ ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện sẽ được phép nới room ngoại 100%.

Dự thảo cũng quy định nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu cổ phần không hạn chế trong tổ chức kinh tế trừ các trường hợp như: Thứ nhất, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

Thứ hai, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước.

Đáng chú ý, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng bổ sung thêm 14 ngành nghề vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, trong đó có kinh doanh dịch vụ quản lý, vận hành nhà chung cư, kinh doanh dịch vụ phát hành và phổ biến phim, kiểm toán năng lượng, hoạt động dịch vụ tư vấn du học, kinh doanh dịch vụ đăng ký và duy trì tên miền Internet...

Như vậy, danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã giảm từ 267 xuống còn 214 ngành nghề, giảm được 53 ngành nghề.

Danh sách 67 ngành nghề kinh doanh có điều kiện dự kiến bãi bỏ:

1. Kinh doanh dịch vụ đào tạo đại lý bảo hiểm.

2. Kinh doanh dịch vụ tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa.

3. Kinh doanh dịch vụ mua bán nợ.

4. Kinh doanh dịch vụ giám định thương mại.

5. Kinh doanh ngành, nghề có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ.

6. Kinh doanh dịch vụ nổ mìn.

7. Kinh doanh than.

8. mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài.

9. Kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp với thiết bị áp lực, thiết bị nâng đặc thù chuyên ngành công nghiệp, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, trang thiết bị khai thác mỏ, dầu khí, trừ các thiết bị, phương tiện thăm dò, khai thác trên biển.

10. Hoạt động liên kết đào tạo nghề trình độ trung cấp, cao đẳng với cơ sở dạy nghề của nước ngoài, cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài.

11. Kinh doanh dịch vụ đánh giá kỹ năng nghề.

12. Kinh doanh dịch vụ kiểm định chất lượng chương trình liên kết đào tạo nghề với cơ sở dạy nghề nước ngoài và cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

13. Kinh doanh dịch vụ kiểm định kỹ thuật an toàn lao động đối với các máy, thiết bị vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động.

14. Kinh doanh dịch vụ chứng nhận và công bố hợp quy.

15. Kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng xe ôtô.

16. Kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới.

17. Kinh doanh dịch vụ sát hạch lái xe.

18. Kinh doanh dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về môi giới bất động sản, định giá bất động sản, quản lý điều hành sàn giao dịch bất động sản.

19. Kinh doanh dịch vụ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.

20. Kinh doanh dịch vụ lập, thẩm tra xây dựng dự án đầu tư xây dựng.

21. Kinh doanh dịch vụ quản lý, vận hành hệ thống cơ sở hạ tầng dùng chung.

22. Nhập khẩu thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến điện.

23. Dịch vụ gia công, tái chế, sửa chữa, làm mới sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng thuộc danh mục sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cấm nhập khẩu cho đối tác nước ngoài.

24. Kinh doanh dịch vụ truyền hình theo yêu cầu.

25. Hoạt động của trung tâm giáo dục Quốc phòng - An ninh sinh viên.

26. Kinh doanh ngư cụ và trang thiết bị khai thác thuỷ sản.

27. Kinh doanh dịch vụ thử nghiệm, khảo nghiệm thuốc thú y (bao gồm thuốc thú y, thuốc thú y thủy sản, vắc xin, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y, thú y thủy sản).

28. Kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

29. Kinh doanh, khảo nghiệm phân bón hữu cơ.

30. Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi.

31. Xuất khẩu, nhập khẩu động vật, thực vật hoang dã quý hiếm, trên cạn nguy cấp cần kiểm soát theo Phụ lục của Công ước CITES.

32. Kinh doanh cây cảnh, cây bóng mát, cây cổ thụ từ rừng tự nhiên trong nước.

33. Kinh doanh củi than từ gỗ hoặc củi có nguồn gốc từ gỗ rừng tự nhiên trong nước.

34. Kinh doanh tinh, phôi, trứng giống và ấu trùng.

35. Kinh doanh dịch vụ chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất, chất xử lý cải tạo môi trường trong nuôi trồng thủy sản
36. Kinh doanh dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng về đấu thầu.

37. Kinh doanh dịch vụ của đại lý đấu thầu.

38. Kinh doanh dịch vụ tư vấn đánh giá dự án đầu tư.

39. Kinh doanh dịch vụ đào tạo đánh giá dự án đầu tư.

40. Kinh doanh dịch vụ ngân hàng mô.

41. Kinh doanh dịch vụ hỗ trợ sinh sản, lưu giữ tinh trùng, lưu giữ phôi.

42. Kinh doanh dịch vụ xét nghiệm vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm.

43. Kinh doanh dịch vụ điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

44. Kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế.

45. Kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ.

46. Kinh doanh dịch vụ thực hiện kỹ thuật mang thai hộ.

47. Kinh doanh dịch vụ đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh học (BA/BE) của thuốc.

48. Kinh doanh dịch vụ thử thuốc trên lâm sàng.

49. Hoạt động của cơ sở phân loại trang thiết bị y tế.

50. Kinh doanh dịch vụ kiểm định trang thiết bị y tế.

51. Kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu công nghiệp.

52. Kinh doanh dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường.

53. Kinh doanh mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy.

54. Kinh doanh dịch vụ đánh giá, định giá và giám định công nghệ.

55. Kinh doanh dịch vụ tổ chức lễ hội.

56. Kinh doanh tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh.

57. Kinh doanh trò chơi điện tử (trừ kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài và kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng trên mạng).

58. Kinh doanh dịch vụ tư vấn điều tra, đánh giá đất đai.

59. Kinh doanh dịch vụ về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

60. Kinh doanh dịch vụ xây dựng hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, xây dựng phần mềm của hệ thống thông tin đất đai.

61. Kinh doanh dịch vụ đấu giá quyền sử dụng đất.

62. Kinh doanh dịch vụ thoát nước.

63. Kinh doanh dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết.

64. Kinh doanh dịch vụ thu hồi, vận chuyển, xử lý sản phẩm thải bỏ.

65. Sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.

66. Nhập khẩu hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành của Ngân hàng Nhà nước (cửa kho tiền).

67. Hoạt động in, đúc tiền
(Vneconomy)


Share:

HNX cho đặt lệnh cùng mua, cùng bán một chứng khoán từ 12/9

Từ 12/9 tới, nhà đầu tư có thể đặt lệnh cùng mua, cùng bán một loại chứng khoán trong phiên khớp lệnh liên tục trên sàn Hà Nội...


Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) vừa thông báo một số quy chế mới trong giao dịch chứng khoán niêm yết trên HNX, áp dụng từ 12/9/2016. Điều này được kỳ vọng sẽ giúp thị trường thêm sôi động, với giá trị giao dịch tăng mạnh trong thời gian tới.

Theo đó, quy chế giao dịch mới được ban hành theo Thông tư số 203 hướng dẫn về giao dịch trên thị trường chứng khoán thay thế Thông tư số 74 (năm 2011) với nhiều điểm thay đổi cơ bản đối với hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường.

Quy chế giao dịch mới không cho phép nhà đầu tư sửa, hủy lệnh đã đặt tại phiên khớp lệnh định kỳ đóng cửa, kể cả lệnh đã được đặt từ phiên khớp lệnh liên tục trước đó.

Nội dung này nhằm hạn chế việc nhà đầu tư thực hiện các biện pháp thao túng giá tại phiên khớp lênh định kỳ đóng cửa, đồng thời cũng thống nhất với quy định trên toàn thị trường về sửa, hủy lệnh tại phiên này.

Tuy nhiên việc sửa, hủy lệnh đối với các lệnh đặt hoặc phần còn lại của lệnh đặt và thứ tự ưu tiên về lệnh sửa tại phiên khớp lệnh liên tục vẫn giữ nguyên so với quy chế hiện hành.

Với giao dịch chứng chỉ quỹ ETF, HNX sẽ áp dụng đơn vị yết giá là 1 đồng, thay cho mức 100 đồng hiện nay.

Cũng theo quy định mới, từ 12/9 tới, nhà đầu tư có thể đặt lệnh cùng mua, cùng bán một loại chứng khoán trong phiên khớp lệnh liên tục.

Theo HNX, quy định này đã mở ra cơ hội giao dịch cho các nhà đầu tư khi có thể sử dụng tài khoản của mình để thực hiện cùng mua, cùng bán một loại chứng khoán.

Tuy nhiên, hành vi này bị cấm trong phiên khớp lệnh định kỳ đóng cửa (trừ trường hợp các lệnh cùng mua, cùng bán được chuyển từ phiên liên tục sang) nhằm tránh khả năng thao túng giá của các nhà đầu tư lớn, các nhà đầu tư tổ chức.

Việc áp dụng quy định này được kỳ vọng sẽ góp phần làm tăng thanh khoản, giúp thị trường sôi động hơn so với quy định chỉ được mua hoặc bán chứng khoán trong một phiên như hiện nay.

Cũng theo HNX, giao dịch trong ngày, giao dịch hàng chờ về có thể coi là những thay đổi cơ bản tại Thông tư 203, tuy nhiên các hoạt động giao dịch này sẽ được cho phép triển khai sau khi có những hướng dẫn cụ thể của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

HNX cho biết đang gấp rút hoàn thiện khung pháp lý cho việc triển khai hoạt động tạo lập thị trường để có thể ban hành quy định về giao dịch này và đưa vào áp dụng trong thời gian tới.
(Vneconomy)

Share:

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2016

Nhà đầu tư chứng khoán sắp không được chuyển khoản nội bộ

Một trong những dịch vụ mà nhà đầu tư vẫn được sử dụng tại các công ty chứng khoán là chuyển khoản nội bộ sẽ bị chấm dứt từ 1/7 tới đây.

Trong khi các dịch vụ như giao dịch trong ngày hay bán chứng khoán chờ về vẫn chưa được áp dụng, thì tới đây 1/7, nhà đầu tư sẽ bị ngừng cung cấp dịch vụ chuyển tiền nội bộ giữa các tài khoản giao dịch chứng khoán .

Đây là thông báo mà một số công ty chứng khoán đã chuyển tới nhà đầu tư trong những ngày cuối tháng 6.

Điển hình như CTCP Chứng khoán SHB (SHBS) vừa thông báo ngừng cung cấp dịch vụ này.
SHBS cho biết đây là yêu cầu của Thông tư số 203/2015/TT-BTC ngày 21/12/2015 về việc Hướng dẫn giao dịch trên thị trường chứng khoán.

Theo đó, “Mọi hoạt động thanh toán, giao dịch chi trả tiền cho nhà đầu tư phải được thực hiện qua ngân hàng thương mại. Công ty chứng khoán không được nhận chuyển tiền nội bộ giữa các tài khoản của nhà đầu tư”.
(BizLive)
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán


Share:

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016

Ủy ban Chứng khoán để ngỏ thời điểm áp dụng T+0

Về lý thuyết, cơ chế giao dịch trong ngày (T+0) và bán chứng khoán chờ về, sẽ được áp dụng từ ngày 1/7/2016 khi Thông tư 203/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về giao dịch trên TTCK có hiệu lực. Tuy nhiên, nhà quản lý đang để ngỏ thời điểm triển khai các nghiệp vụ mới này vì chờ sự sẵn sàng của thị trường.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vq7yUkCAZFo

Nhiều thắc mắc về giao dịch T+0

Liên quan đến nhiều quy định mới trong lĩnh vực chứng khoán sắp triển khai, tại Hội nghị tập huấn các văn bản pháp quy mới, do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) tổ chức cuối tuần qua, các câu hỏi mà nhiều thành viên thị trường đặt ra tập trung xoáy vào cơ chế giao dịch T+0, bán chứng khoán chờ về quy định tại Thông tư 203/2015.

Giải đáp một câu hỏi “nóng” được nhiều thành viên thị trường đặt ra là, bao lâu sau thời điểm Thông tư 203/2015 có hiệu lực, T+0 sẽ được áp dụng, ông Nguyễn Sơn, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, UBCK cho hay, các quy định khác sẽ có hiệu lực ngay khi văn bản này có hiệu lực.

Tuy nhiên, riêng quy định về giao dịch trong ngày và bán chứng khoán chờ về sẽ chưa có hiệu lực ngay, vì đây là các nghiệp vụ khá phức tạp, đòi hỏi nhiều yêu cầu cao về hệ thống công nghệ, quản trị rủi ro, nên cần có thời gian để các CTCK, Sở Giao dịch Chứng khoán, Trung tâm lưu ký (VSD) hoàn chỉnh hệ thống, cũng như quy chế vận hành, quản trị rủi ro. 

UBCK sẽ sớm có hướng dẫn chi tiết về các nghiệp vụ này để các thành viên thị trường có cơ sở chuẩn bị mọi mặt trước khi triển khai, sao cho đảm bảo mang lại hiệu quả cao, an toàn. 

“Có trình độ phát triển khá cao, nhưng mãi đến tháng 6/2014, TTCK Đài Loan mới triển khai giao dịch trong ngày. Trong 6 tháng đầu, để đảm bảo nguyên tắc thận trọng, giảm thiểu rủi ro, họ chỉ dám cho phép mua trước, bán sau…”, ông Sơn nói.

Vì tính chất rủi ro cao của T+0 mà khá nhiều ý kiến quan ngại và cho rằng nếu UBCK không có chế tài xử lý mạnh với các CTCK vi phạm quy định về tuân thủ nghĩa vụ thanh toán, an toàn tài chính, không tự giác tuân thủ chuẩn mực đạo đức hành nghề, thì có thể gây nên những hệ lụy tiêu cực đối với thị trường. 

Vì yếu tố này mà theo đại diện UBCK, Top 5 CTCK lớn nhất đã có trao đổi, đề nghị UBCK cần có các chế tài đủ mạnh, cũng như các biện pháp giám sát, quản lý rủi ro chặt chẽ để đảm bảo cho triển khai T+0 hiệu quả. 

Liên quan đến xử lý rủi ro khi triển khai T+0, một số thành viên thị trường thắc mắc, trong trường hợp NĐT mất khả năng thanh toán tiền, cũng như không thể chuyển giao chứng khoán, thì cơ chế nào để giảm thiểu rủi ro hệ thống? Phó Chủ tịch UBCK Nguyễn Thành Long cho biết, Thông tư 203/2015 đã thiết kế nhiều lớp bảo vệ rủi ro để xử lý vấn đề này. 

Đầu tiên, CTCK rà soát xem trong tài khoản tự doanh của mình có đủ chứng khoán cho khách hàng vay không. Nếu không đủ, CTCK phải vay từ các CTCK khác để giúp khách hàng đảm bảo khả năng chuyển giao chứng khoán bị thiếu hụt. 

Nếu bước này không giải quyết được, thì CTCK phải vay chứng khoán từ hệ thống vay và cho vay chứng khoán (SBL) của VSD. 

Đến bước này mà vẫn không xong, thì CTCK phải cưỡng chế giao dịch để có chứng khoán chuyển giao. Với trường hợp khách hàng thiếu tiền, thì CTCK phải cho khách hàng vay để thanh toán. 

Bán chứng khoán chờ về, bao giờ?

Giải đáp câu hỏi mà nhiều thành viên thị trường thắc mắc: thế nào là chứng khoán chờ về, ông Sơn cho hay, đó là chứng khoán mà NĐT mua và đã khớp lệnh vào ngày T, nhưng chưa hoàn tất quá trình chuyển quyền sở hữu. UBCK đang xây dựng phương án hướng dẫn chi tiết triển khai nghiệp vụ này theo hướng chỉ cho phép bán chứng khoán chờ về vào sáng T+2.

Thêm một thắc mắc mà các thành viên thị trường đặt ra là chứng khoán chờ về có bao gồm chứng khoán thực hiện quyền (nhận cổ tức bằng cổ phiếu) hay không, ông Long khẳng định chứng khoán chờ về không bao gồm chứng khoán thực hiện quyền, nhận cổ tức bằng cổ phiếu, vì khó xác định thời điểm loại chứng khoán này về tài khoản. 

“Việc xây dựng hướng dẫn chi tiết cho thực hiện giao dịch trong ngày, bán chứng khoán chờ về đang được UBCK khẩn trương tiến hành, đảm bảo khi đưa vào triển khai sẽ an toàn, mang lại công cụ mới cho NĐT, góp phần cải thiện thanh khoản cho thị trường…”, ông Long nói.   
 
Vốn chủ sở hữu thấp hơn vốn pháp định, CTCK sẽ bị đình chỉ hoạt động

Ông Bùi Hoàng Hải, Vụ trưởng Vụ Quản lý kinh doanh chứng khoán, UBCK 

Theo quy định hiện hành tại Thông tư 210/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập và hoạt động của CTCK, nếu CTCK có vốn chủ sở hữu thấp hơn vốn pháp định và bị kiểm soát đặc biệt, mà không khắc phục được tình trạng này, thì bị đình chỉ hoạt động. Tuy nhiên, để thúc đẩy quá trình tái cơ cấu khối CTCK diễn ra hiệu quả hơn, một quy định mới tại Thông tư 07/2016 (sửa đổi Thông tư 210/2012), mà Bộ Tài chính ban hành ngày 18/1/2016 là các CTCK sẽ bị đình chỉ hoạt động nếu không khắc phục được tình trạng có vốn chủ sở hữu thấp hơn vốn pháp định.

Một điểm mới nữa của Thông tư 07/2016 là quy định lại các mốc giao dịch làm thay đổi quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp: vượt quá hoặc xuống dưới các mức sở hữu 10%, 25%, 50%, 75% vốn điều lệ đã góp của CTCK, thì phải được UBCK chấp thuận. 

Đối với trường hợp CTCK tăng vốn điều lệ, điểm mới của Thông tư 07/2016 là bỏ quy định phải nộp báo cáo tài chính hoặc xác nhận của tổ chức kiểm toán đối với các trường hợp phát hành từ các nguồn vốn chủ sở hữu. Với trường hợp giảm vốn điều lệ, Thông tư 07/2016 yêu cầu CTCK lập báo cáo tài chính sau khi mua lại cổ phiếu bằng xác nhận của tổ chức kiểm toán về kết quả mua lại cổ phiếu.

Đặc biệt, Thông tư 07/2016 bổ sung nguyên tắc trong quá trình nắm giữ chứng khoán, tiền của khách hàng trên tài khoản chuyên dụng đứng tên CTCK, thì đó là tài sản của khách hàng, chứ không phải là tài sản của CTCK. Do đó, khi CTCK giải thể, phá sản, thì phải thanh toán các tài sản này cho khách hàng.

Quản chặt hoạt động phát hành chứng khoán

Bà Lê Thị Thu Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Chào bán chứng khoán, UBCK

Có nhiều điểm mới tại Thông tư 162/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn chào bán chứng khoán ra công chúng, mua lại cổ phiếu, bán cổ phiếu quỹ và chào mua công khai cổ phiếu vừa có hiệu lực (thay thế Thông tư 130/2012 và Thông tư 204/2012 của Bộ Tài chính). Theo đó, trong hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng, tổ chức phát hành phải bổ sung tài liệu là báo cáo tình hình sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán gần nhất được công ty kiểm toán xác nhận.

Liên quan đến ý kiến của kiểm toán tại báo cáo tài chính năm trong hồ sơ chào bán chứng khoán ra công chúng, điểm mới tại Thông tư 162/2015 là yêu cầu ý kiến của kiểm toán phải thể hiện chấp nhận toàn bộ. Trường hợp ý kiến kiểm toán là ý kiến ngoại trừ thì khoản ngoại trừ phải không ảnh hưởng đến điều kiện chào bán và không phải là các khoản ngoại trừ trọng yếu.

UBCK sẽ tìm phương án giúp cổ đông nhỏ dễ bán cổ phiếu

Tại Hội nghị, một câu hỏi đáng chú ý được nêu ra từ đại diện một DN (tại Phú Thọ) có vốn điều lệ 125 tỷ đồng, 1.300 cổ đông đang đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM, đó là cổ đông là người lao động chỉ nắm 100, 200 cổ phiếu, nay họ muốn bán mà phải xuống Hà Nội mở tài khoản tại CTCK, rồi sau đó mới đặt lệnh bán được là quá bất tiện, gây khó khăn cho cổ đông. Nếu vấn đề này không được giải quyết, sẽ gây khó cho công ty trong quan hệ với các cổ đông, khó giảm số lượng cổ đông để tiết kiệm chi phí tổ chức ĐHCĐ.

Đại diện UBCK, ông Nguyễn Sơn chia sẻ vướng mắc mà DN đang gặp phải, đồng thời cho rằng, về nguyên tắc, khi DN đã đăng ký giao dịch trên UPCoM, thì khi muốn giao dịch cổ phiếu, cổ đông phải mở tài khoản giao dịch tại CTCK. Tuy nhiên, từ tình huống mà DN đặt ra, với tư cách là đầu mối tổ chức và vận hành sàn UPCoM, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội cần tìm kiếm phương án tháo gỡ, trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị lên UBCK để tạo thuận lợi cho các cổ đông và DN.
Hữu Hòe-ĐTCK

Share:

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

Đã ký thông tư hướng dẫn chứng khoán và thị trường chứng khoán phái sinh

Thông tư cũng quy định cụ thể về ký quỹ, điều kiện đối với tài sản ký quỹ, xử lý trong trường hợp mất khả năng thanh toán.

Theo một nguồn tin riêng của chúng tôi, Bộ Tài chính đã ký ban hành Thông tư hướng dẫn về chứng khoán phái sinh (CKPS) và thị trường chứng khoán phái sinh, đem đến một tin vui cho thị trường chứng khoán Việt Nam trong đầu năm 2016.

Trước đó, ngày 11/3/2014 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 366/QĐ-TTg về xây dựng và phát triển thị trường CKPS tại Việt Nam, đưa ra lộ trình vận hành thị trường này trong năm 2016. Theo đó, về hệ thống pháp lý, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 42/NĐ-CP ngày 5/5/2015 và Bộ Tài chính vừa ký ban hành Thông tư hướng dẫn về CKPS, chi tiết hơn các nội dung quy định của Nghị định. Như vậy, hệ thống pháp lý cơ bản là đã hoàn thiện, cho phép triển khai thị trường phái sinh theo kế hoạch.

Tại Thông tư, các điều kiện áp dụng cho các tổ chức kinh doanh chứng khoán muốn kinh doanh CKPS được chi tiết hơn như quy định các chỉ tiêu an toàn vốn, trích lập dự phòng, số năm kinh doanh không bị lỗ, ý kiến của kiểm toán...; điều kiện đối với công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đăng ký cung cấp hoạt động bù trừ, thanh toán cho giao dịch CKPS trên TTCKPS tại Việt Nam. Quy trình đăng ký với UBCK để được phép kinh doanh CKPS cũng như quy trình xử lý khi tổ chức kinh doanh chứng khoán bị đình chỉ, chấm dứt hoạt động bắt buộc và tự nguyện.

Thông tư cũng quy định cụ thể về ký quỹ, điều kiện đối với tài sản ký quỹ, xử lý trong trường hợp mất khả năng thanh toán.

Phạm vi điều chỉnh của Thông tư tập trung hướng dẫn đối với hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ và hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu.
Phạm Nguyên
Theo Trí thức trẻ
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán
Share:

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2016

Chính thức ban hành thông tư về chứng khoán phái sinh

Bộ Tài chính vừa ký thông tư về chứng khoán phái sinh và UBCK đang rà soát lại các văn bản liên quan đến chứng khoán phái sinh để đưa vào vận hành như cam kết.
http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html

Thông tin trên được ông Nguyễn Thành Long, Phó chủ tịch UBCK cho biết tại hội thảo lấy ý kiến các thành viên thị trường về Dự thảo Thông tư hướng dẫn chào bán và giao dịch chứng quyền có bảo đảm tổ chức sáng nay (8/1) tại TP. HCM.

Cũng theo ông Long, bên cạnh các sản phẩm phái sinh dành cho tổ chức đầu tư, cũng cần chú ý phát triển sản phẩm phái sinh dành cho nhà đầu tư cá nhân, mà chứng quyền có bảo đảm (covered Warrant) là một sản phẩm như thế.

Chứng quyền có đảm bảo là sản phẩm phái sinh đơn giản, nên có thể vận hành trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thị trường chứng khoán hiện nay. 

Chứng quyền có đảm bảo là công cụ tài chính có tính chất như một quyền chọn, được phát hành bởi một tổ chức tài chính hay một CTCK, cho phép người nắm giữ quyền được mua hoặc bán tài sản cơ sở với một khối lượng xác định từ tổ chức phát hành tại một mức giá vào hoặc trước thời điểm được xác định. 

Sản phẩm có tên gọi covered Warrant ở Đức, Anh; diierivative Warrant tại Thái Lan, Hồng Kông; structured Warrant tại Singapore; call (put) Warrant tại Đài Loan, Malaysia; Equity - Linked Warrant tại Hàn Quốc.

Lợi ích của covered Warrant là có tác dụng đòn bẩy cao, giúp nhà đầu tư bỏ ra khoản vốn thấp hơn nhiều nếu đầu tư vào tài sản cơ sở (là cổ phiếu, chứng khoán), nhưng có thể thu lợi nhuận kỳ vọng khi giá cổ phiếu biến động. Trong trường hợp thị trường diễn biến không theo ý muốn, thì nhà đầu tư cũng giới hạn khoản lỗ tối đa là phí mua covered Warrant.

Theo lộ trình trong quý I/2016, Thông tư hướng dẫn chào bán và giao dịch chứng quyền có đảm bảo sẽ được ký ban hành.
Thu Hương - ĐTCK

Share:

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016

Mua bán chứng khoán trong ngày sẽ được thực hiện từ ngày 1/7

Thông tư số 203/2015/TT-BTC thay thế cho Thông tư 74/2011/TT-BTC hướng dẫn giao dịch trên thị trường chứng khoán đã được chính thức ban hành. Các công ty sẽ còn chưa đến 6 tháng để chuẩn bị cho giao dịch trong ngày và bán khống trong ngày.

http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html

Dự kiến, Thông tư mới sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2016 và như vậy nếu tính cả đợt nghỉ Tết Âm lịch, các công ty chứng khoán sẽ còn chưa đến 6 tháng để chuẩn bị về hạ tầng công nghệ cho sự thay đổi này.
 
Nhìn chung, văn bản luật này đã cho thấy phần nào sự lắng nghe của cơ quan quản lý khi không còn đưa ra những điều kiện khắt khe đối với công ty chứng khoán. Theo đó, để có thể cung cấp dịch vụ giao dịch trong ngày và bán khống trong ngày, các công ty chứng khoán chỉ cần đáp ứng điều kiện giao dịch ký quỹ.
 
http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html
 
Một số quy định cụ thể về giao dịch bao gồm tài khoản cho hoạt động giao dịch trong ngày là tài khoản riêng hoặc tài khoản được hạch toán dưới hình thức tiểu khoản của tài khoản giao dịch hiện có của khách hàng 
 
Nhà đầu tư không được thực hiện các giao dịch trong ngày đối với giao dịch lô lẻ và thỏa thuận. Và danh sách các chứng khoán sẽ được các công ty chứng khoán lựa chọn dựa trên danh sách được giao dịch ký quỹ 
 
Giao dịch trong ngày và vay chứng khoán để hỗ trợ thanh toán được thực hiện sẽ không được thực hiện trong 5 ngày trước ngày đăng ký cuối cùng để chốt quyền.
 
Tuy nhiên, không phải mọi ý kiến phản hồi của các công ty chứng khoán đều được áp dụng trong Thông tư lần này. Vẫn sẽ có sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Cụ thể, do nhà đầu tư nước ngoài không được tham gia giao dịch ký quỹ, các giao dịch trong ngày hay bán khống trong ngày cũng sẽ bị cấm.
 
Bên cạnh quy định về giao dịch, Thông tư 203 cũng cụ thể hóa việc mua cổ phiếu quỹ. Theo đó, các tố chức niêm yết, tố chức đăng ký giao dịch không được công bố về mức giá cụ thể dự kiến thực hiện mà chỉ được công bố nguyên tắc xác định giá giao dịch đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua (nếu có).
Share:

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Cá nhân chỉ đầu tư gián tiếp ra nước ngoài dưới hình thức thưởng cổ phiếu

Nhà đầu tư là cá nhân có quốc tịch Việt Nam chỉ được thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài dưới hình thức tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nước ngoài.

Nội dung trên được nêu tại Nghị định quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

Cũng theo Nghị định này, hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của tổ chức kinh tế được thực hiện theo phương thức: Tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài và Ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

Tổ chức tự doanh, tổ chức nhận ủy thác được đầu tư gián tiếp ở nước ngoài theo hình thức: Trực tiếp mua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác ở nước ngoài; đầu tư thông qua việc mua, bán chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán ở nước ngoài, ủy thác đầu tư cho các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cụ thể về loại, tiêu chí lựa chọn công cụ đầu tư ở nước ngoài trong từng thời kỳ. Nhà đầu tư chỉ được đầu tư gián tiếp ra nước ngoài vào các công cụ đầu tư do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định.

Tổ chức tự doanh, tổ chức nhận ủy thác là ngân hàng thương mại, công ty tài chính tổng hợp chỉ được tự doanh đầu tư, nhận ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài vào công cụ đầu tư là trái phiếu, các công cụ trên thị trường tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định.

Về nguồn vốn, Nghị định quy định, tổ chức tự doanh (trừ ngân hàng thương mại và công ty tài chính tổng hợp) được sử dụng ngoại tệ tự có trên tài khoản và ngoại tệ mua từ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối tại Việt Nam theo hạn mức tự doanh được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác nhận đăng ký để thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

Tổ chức ủy thác (trừ ngân hàng thương mại và công ty tài chính tổng hợp) chỉ được sử dụng ngoại tệ tự có trên tài khoản để thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thông qua hình thức ủy thác cho tổ chức nhận ủy thác.

Ngân hàng thương mại, công ty tài chính tổng hợp tự cân đối nguồn ngoại tệ để thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài trên cơ sở đảm bảo tuân thủ quy định về trạng thái ngoại tệ, các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng.

Nhà đầu tư không được sử dụng nguồn vốn vay bằng đồng Việt Nam từ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để mua ngoại tệ đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

Nhà đầu tư không được sử dụng nguồn vốn vay ngoại tệ trong nước và nước ngoài để đầu tư gián tiếp ra nước ngoài trừ tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu từ 65% vốn điều lệ trở lên, tổ chức kinh tế khác thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài với tổng mức đầu tư từ 800 tỷ đồng trở lên.
Theo Phương Nhi
Chinhphu.vn

Share:

Quy định việc ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài

Nghị định số 135/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định tổ chức kinh tế chỉ được đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thông qua hình thức ủy thác đầu tư cho các tổ chức được phép nhận ủy thác đầu tư theo quy định.

Riêng trường hợp tổ chức tự doanh đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp ra nước ngoài và giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp ra nước ngoài này còn hiệu lực, tổ chức tự doanh không được thực hiện ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thông qua tổ chức nhận ủy thác.

Để được ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, tổ chức kinh tế phải đáp ứng các điều kiện sau:

1- Có lãi trong 05 năm liên tục liền trước năm thực hiện ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài được thể hiện trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập bởi các tổ chức kiểm toán độc lập và không có ý kiến ngoại trừ trọng yếu theo quy định của Bộ Tài chính (không áp dụng đối với quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán);

2- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, không có nợ thuế đối với ngân sách nhà nước;

3- Có tài liệu chứng minh về nguồn ngoại tệ trên tài khoản để ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài là ngoại tệ tự có;

4- Có phương án đầu tư gián tiếp ra nước ngoài được cấp có thẩm quyền của tổ chức kinh tế (đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, hội đồng thành viên và tương đương) hoặc cấp có thẩm quyền khác thông qua theo quy định của pháp luật;

5- Tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước (đối với trường hợp tổ chức ủy thác là tổ chức kinh tế có sở hữu vốn nhà nước).

2 tổ chức được nhận ủy thác

Đối tượng được phép nhận ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài gồm: Công ty quản lý quỹ; Ngân hàng thương mại.

Để được thực hiện hoạt động nhận ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, tổ chức nhận ủy thác phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động nhận ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

Để được xem xét, cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động nhận ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, tổ chức nhận ủy thác phải đáp ứng 6 điều kiện sau:

1- Có lãi trong 05 năm liên tục liền trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động nhận ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài được thể hiện trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán và không có ý kiến ngoại trừ trọng yếu theo quy định của Bộ Tài chính. Báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi các tổ chức kiểm toán độc lập do Bộ Tài chính chấp thuận và công bố theo quy định về kiểm toán độc lập đối với đơn vị có lợi ích công chúng (áp dụng với tổ chức nhận ủy thác là công ty quản lý quỹ);

2- Có lãi trong 05 năm liên tục liền trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động nhận ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài được thể hiện trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán và không có ý kiến ngoại trừ trọng yếu theo quy định của Bộ Tài chính. Báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập không nằm trong danh sách các tổ chức kiểm toán không được kiểm toán đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố (áp dụng với tổ chức nhận ủy thác là ngân hàng thương mại);

3- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, không có nợ thuế với ngân sách nhà nước;

4- Có quy định nội bộ về quản lý hoạt động nhận ủy thác đầu tư ra nước ngoài, trong đó có nội dung về nhận dạng và quản trị rủi ro liên quan đến hoạt động nhận ủy thác để đầu tư gián tiếp ra nước ngoài;

5- Có cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự để đảm bảo thực hiện hoạt động nhận ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật;

6- Tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật chuyên ngành về các chỉ tiêu an toàn tài chính, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức nhận ủy thác.

Về nguyên tắc nhận ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, Nghị định quy định hoạt động nhận ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản theo quy định. Tổ chức nhận ủy thác không được sử dụng vốn nhận ủy thác trái với mục đích, nội dung ủy thác được quy định tại hợp đồng ủy thác đầu tư và quy định; không được ủy thác lại cho bên thứ ba ở trong nước.

Tổ chức nhận ủy thác được hưởng phí ủy thác trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan và có trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn tổ chức ủy thác thực hiện ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài theo đúng quy định.
Theo Phương Nhi
Báo Chính phủ


Share:

6 tổ chức được tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài

Theo Nghị định 135/2015/NĐ-CP quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài vừa được Chính phủ ban hành thì có 6 tổ chức được phép tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html

6 tổ chức gồm: 1- Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ; 2- Quỹ đầu tư chứng khoán thông qua công ty quản lý quỹ (quỹ đầu tư chứng khoán), công ty đầu tư chứng khoán; 3- Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm; 4- Ngân hàng thương mại; 5- Công ty tài chính tổng hợp; 6- Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

Theo quy định để được tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, tổ chức tự doanh phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp ra nước ngoài (không áp dụng đối với Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán).

Tổ chức tự doanh là quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán muốn tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thì phải được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận cho phép đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước mới được cấp phép

Nghị định quy định rõ điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp ra nước ngoài đối với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Theo đó, các tổ chức này phải đáp ứng 6 điều kiện sau:

Tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài là việc tổ chức được phép tự doanh thực hiện mua, bán chứng khoán và giấy tờ có giá khác ở nước ngoài hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài cho chính mình.
1- Có lãi trong 5 năm liên tục liền trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp ra nước ngoài được thể hiện trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán và không có ý kiến ngoại trừ trọng yếu theo quy định của Bộ Tài chính. Báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi các tổ chức kiểm toán độc lập được Bộ Tài chính chấp thuận và công bố theo quy định về kiểm toán độc lập đối với đơn vị có lợi ích công chúng;

2- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, không có nợ thuế đối với ngân sách nhà nước;

3- Có quy trình nội bộ, cơ chế kiểm soát, kiểm toán nội bộ, nhận dạng và quản trị rủi ro liên quan đến hoạt động tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài;

4- Tuân thủ quy định hiện hành của pháp luật chuyên ngành về vốn, các chỉ tiêu an toàn tài chính, giới hạn đầu tư của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm;

5- Có cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự để đảm bảo thực hiện tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật;

6- Tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước (đối với tổ chức kinh tế có sở hữu vốn nhà nước).

Điều kiện đối với doanh nghiệp chứng khoán

Để được chấp thuận cho phép đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện sau:

1- Điều lệ của quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán có quy định cho phép đầu tư gián tiếp ra nước ngoài;

2- Công ty quản lý quỹ thực hiện việc quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán đầu tư gián tiếp ra nước ngoài có quy trình nội bộ, cơ chế kiểm soát, kiểm toán nội bộ, nhận dạng và quản trị rủi ro liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài; đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính theo quy định của Bộ Tài chính; có cơ sở vật chất, kỹ thuật, nhân sự đảm bảo thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật.

Trường hợp công ty đầu tư chứng khoán tự quản lý vốn thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thì phải có quy trình nội bộ, cơ chế kiểm soát, kiểm toán nội bộ, nhận dạng và quản trị rủi ro liên quan đến hoạt động tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài; có cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự để đảm bảo thực hiện tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật.

3- Tài sản đầu tư ở nước ngoài của quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán phải được lưu ký tại một tổ chức được cấp phép hoạt động lưu ký theo quy định pháp luật nước ngoài và đã ký hợp đồng lưu ký với ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát tại Việt Nam của quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán.

Điều kiện đối với ngân hàng thương mại

Đối với tổ chức tự doanh là ngân hàng thương mại, công ty tài chính tổng hợp, để được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, các tổ chức này phải đáp ứng các điều kiện sau:

1- Được phép hoạt động ngoại hối trên thị trường quốc tế;

2- Có lãi trong 5 năm liên tục liền trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp ra nước ngoài được thể hiện trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán và không có ý kiến ngoại trừ trọng yếu theo quy định của Bộ Tài chính. Báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi các tổ chức kiểm toán độc lập không nằm trong danh sách các tổ chức kiểm toán không được kiểm toán đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố;

3- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, không có nợ thuế với ngân sách nhà nước;

4- Có quy trình nội bộ, cơ chế kiểm soát, kiểm toán nội bộ, nhận dạng và quản trị rủi ro liên quan đến hoạt động tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài;

5- Có cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự để đảm bảo thực hiện tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật;

6- Tuân thủ quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng;

7- Tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước (đối với ngân hàng thương mại, công ty tài chính tổng hợp có sở hữu vốn nhà nước).

Còn Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài theo quy định của Chính phủ.
(Báo Chính phủ)

Share:

Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2016

Một cá nhân bị phạt hơn 700 triệu đồng vì thao túng giá chứng khoán

Căn cứ kết quả giám sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và kết quả xác minh của cơ quan Công an, UBCKNN vừa ban hành quyết định về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trần Thanh Hữu (ngụ Hà Nội) do đã có hành vi thao túng giá cổ phiếu với tổng số tiền phạt lên đến 705 triệu đồng.
 Nhà đầu tư giao dịch tại sàn chứng khoán Maybank KimEng. Ảnh: N.Hiền 

Cụ thể, ông Hữu bị phạt tiền 600 triệu đồng do đã sử dụng 3 tài khoản để giao dịch với mục đích tạo cung cầu giả tạo, thao túng giá cổ phiếu của Công ty cổ phần CMISTONE (Mã chứng khoán là CMI). Thời gian thực hiện giao dịch từ  ngày 26-9-2013 đến 13-1-2014.

Ngoài ra, ông Hữu còn bị phạt 62,5 triệu đồng do đã sử dụng 2 tài khoản khác giao dịch mua bán cổ phiếu CMI trong khoảng thời gian từ ngày 29-8-2013 đến 1-10-2014 nhằm che giấu quyền sở hữu thực sự để trốn tránh nghĩa vụ công bố thông tin theo quy định; phạt 42,5 triệu đồng do đã thực hiện giao dịch chứng khoán không đúng quy định của pháp luật.

UBCKNN cũng vừa ra quyết định xử phạt hành chính đối với ông Nguyễn Văn Hùng (ngụ Hà Nội) số tiền 62,5 triệu đồng. Trong thời gian từ ngày 13-8-2013 đến ngày 20-1-2014, ông Nguyễn Văn Hùng đã sử dụng tài khoản đứng tên người khác giao dịch mua bán cổ phiếu CMI nhằm che giấu quyền sở hữu thực sự đối với cổ phiếu CMI để trốn tránh nghĩa vụ công bố thông tin theo quy định.

Share:

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2016

Chính thức được phép bán chứng khoán chờ về

Quy định mới này giúp tiết giảm chi phí trong hoạt động giao dịch của nhà đầu tư, thúc đẩy vòng quay tiền nhanh hơn, nhưng vẫn bảo đảm khả năng kiểm soát rủi ro của thị trường. 
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VoYPdE-fesV
 
Trao đổi riêng với ĐTCK, một lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) cho biết, Thông tư 203/2015 thay thế Thông tư 74/2011 hướng dẫn về giao dịch chứng khoán, mà Bộ Tài chính vừa ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/7/2016 cho phép triển khai nhiều nghiệp vụ giao dịch mới.

Nhiều cải cách về phương thức giao dịch

“So với quy định hiện hành, điểm mới của Thông tư 203/2015 là cho phép nhà đầu tư được vừa mua vừa bán chứng khoán. Qua đó chính thức bỏ quy định nhà đầu tư không được thực hiện các giao dịch ngược chiều, cơ chế giao dịch chưa đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư như hiện tại”, một lãnh đạo UBCK nói.

Đại diện UBCK cho biết, một điểm mới nữa của Thông tư 203 là cho phép nhà đầu tư có thể thực hiện lệnh giao dịch khi có bảo lãnh thanh toán của ngân hàng lưu ký.

Điều này phù hợp với thực tế và thông lệ quốc tế khi áp dụng với các nhà đầu tư tổ chức, các quỹ đầu tư lớn, bởi họ luôn duy trì tài khoản lưu ký, bao gồm cả tài khoản tiền tại ngân hàng giám sát tách biệt khỏi tài khoản giao dịch tại CTCK. Quy định mới này giúp tiết giảm chi phí trong hoạt động giao dịch của nhà đầu tư, thúc đẩy vòng quay tiền nhanh hơn, nhưng vẫn bảo đảm khả năng kiểm soát rủi ro của thị trường.  

Thông tư 203 còn mở ra cơ sở pháp lý cho triển khai hoạt động tạo lập thị trường. Đây là một nghiệp vụ phổ biến tại các TTCK quốc tế, nhưng lại chưa được tổ chức nhiều tại Việt Nam. Việc triển khai nghiệp vụ này sẽ giúp các CTCK lớn tiếp cận dần với nghiệp vụ theo thông lệ quốc tế, tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập, đặc biệt là từng bước triển khai mô hình ngân hàng đầu tư trong giai đoạn phát triển mới theo chiều sâu của TTCK.
Để giảm thiểu rủi ro khi triển khai giao dịch trong ngày, Thông tư 203 định rõ các nguyên tắc về hỗ trợ thanh toán đối với các giao dịch trong ngày theo nhiều lớp bảo vệ.
“Thông tư 203 tạo cơ sở pháp lý cho phép triển khai giao dịch bán chứng khoán chờ về và giao dịch trong ngày”, lãnh đạo UBCK nói và cho biết thêm, với giao dịch bán chứng khoán chờ về, nhà đầu tư được đặt lệnh bán đối với số lượng chứng khoán đã có sẵn trên tài khoản lưu ký của nhà đầu tư tại ngày giao dịch và số chứng khoán sẽ nhận được trước hoặc tại ngày thanh toán từ các giao dịch mua đã thực hiện trước đó.

Với giao dịch trong ngày, đây là giao dịch mua và bán cùng một loại chứng khoán với cùng một khối lượng giao dịch, thực hiện trên cùng một tài khoản và trong cùng một ngày giao dịch. Việc đưa ra cơ chế này nhằm đáp ứng một trong các yêu cầu giúp nâng hạng TTCK Việt Nam. 

Để giảm thiểu rủi ro khi triển khai giao dịch trong ngày, Thông tư 203 định rõ các nguyên tắc về hỗ trợ thanh toán đối với các giao dịch trong ngày theo nhiều lớp bảo vệ. 

Lớp đầu tiên được triển khai tại CTCK. Theo đó, CTCK có quyền lựa chọn loại chứng khoán để triển khai giao dịch này và có quyền yêu cầu nhà đầu tư ký quỹ. 

Trường hợp CTCK cảm thấy không đủ khả năng thực hiện thanh toán nếu như khách hàng không có đủ tiền, chứng khoán để thực hiện, thì CTCK phải từ chối thực hiện giao dịch. 

CTCK cần nhận thức rằng, họ có trách nhiệm thanh toán thay cho nhà đầu tư trong trường hợp nhà đầu tư không có đủ số chứng khoán để chuyển giao hoặc không đủ tiền để thanh toán. CTCK phải sử dụng nguồn chứng khoán từ tài khoản tự doanh (nếu có) hoặc vay chứng khoán để chuyển giao theo cơ chế hỗ trợ thanh toán của Trung tâm lưu ký (VSD).

Lớp quản lý rủi ro tiếp theo là cơ chế hỗ trợ thanh toán mà VSD đang thực hiện. Lớp quản lý rủi ro kế tiếp là hệ thống chỉ tiêu nhằm hạn chế các giao dịch mua bán trong ngày của UBCK theo thông lệ quốc tế. 

Ví dụ như tổng giá trị giao dịch trong ngày tại mỗi CTCK không được vượt quá một tỷ lệ nhất định so với vốn chủ sở hữu của công ty; đồng thời tối đa không được vượt quá một tỷ lệ nhất định so với giá trị giao dịch bình quân/ngày của tháng liền trước của chính CTCK đó... 

Các chỉ tiêu này sẽ được UBCK xây dựng tại quy chế hướng dẫn giao dịch trong ngày và ban hành sau khi nền tảng công nghệ tại các CTCK, Sở Giao dịch chứng khoán, VSD bảo đảm đủ điều kiện thực hiện. 

Các cơ chế giao dịch bán chứng khoán chờ về và giao dịch trong ngày, theo lãnh đạo UBCK đã được thực hiện trên các TTCK quốc tế, qua đó không những làm tăng vòng quay chứng khoán, thúc đẩy thanh khoản, mà quan trọng hơn, giúp nhà đầu tư thực hiện đầy đủ hơn quyền sở hữu tài sản của họ.
Tuy nhiên, đây là những cơ chế giao dịch hiện đại, chỉ thực hiện được trên nền tảng cơ sở hạ tầng công nghệ hiện đại. Các thành viên thị trường sẽ mất một khoảng thời gian tương đối dài để hoàn thiện hệ thống mới có thể triển khai được các giao dịch này. 

Khắc phục kẽ hở

Thông tư 203 còn có một số quy định mới nhằm khắc phục những hạn chế phát sinh trên thị trường trong thời gian qua.

Cụ thể, lãnh đạo UBCK cho biết đó là quy định cấm tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán công bố thông tin về các giao dịch mua lại cổ phiếu, bán cổ phiếu quỹ, nhưng không thực hiện đặt lệnh giao dịch trong thời gian đăng ký giao dịch cổ phiếu quỹ; cấm công bố thông tin về các mức giá dự kiến thực hiện khi giao dịch cổ phiếu quỹ… 

Bên cạnh đó, có quy định CTCK không được thanh toán, nhận thanh toán giao dịch chứng khoán bằng tiền hoặc chuyển khoản trực tiếp cho bên thứ 3.

Hướng điều chỉnh trên không chỉ khắc phục những kẽ hở dẫn đến một số biểu hiện tiêu cực hiện tại, mà còn hứa hẹn tạo ra những bước cải cách mới trên thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Hữu Hòe - ĐTCK
 
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?