Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2017

Bạn đang CHƠI CHỨNG KHOÁN hay ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN?

Đây là chia sẻ của một chuyên gia tư vấn đầu tư chứng khoán đã hoạt động lâu năm trên thị trường. Theo anh, khi tham gia TTCK, người tham gia cần xác định rõ mục đích và có sự nghiêm túc. Như vậy mới tránh được rủi ro và đạt được mục đích của mình.

Tôi tự thấy mình may mắn và có duyên đối với chứng khoán vì phần lớn tài sản tôi có được lúc này cũng là từ chứng khoán. Gắn bó với thị trường từ cuối năm 2005 đến nay, đã chứng kiến sự thăng trầm của thị trường và cùng với biến động đó, kinh nghiệm đầu tư của tôi cũng ngày một tăng lên.

Có thể nhờ kết quả đó mà nhiều người quen tới gặp và nhờ tôi tư vấn “chơi chứng khoán”. Tôi thường nói với họ rằng: tư vấn “chơi chứng khoán” thì tôi không tư vấn, nếu muốn “đầu tư chứng khoán” thì tôi sẵn sàng chia sẻ. Chẳng phải là bắt bẻ câu chữ nhưng với tôi khi tham gia thị trường chứng khoán người tham gia cần xác định rõ mục đích và sự nghiêm túc khi tham gia, có như vậy mới tránh được rủi ro và đạt được mục đích của mình.

Sự nghiêm túc trong đầu tư mà tôi nói đến ở trên là việc xác định “đầu tư” hay là “chơi” chứng khoán. Nếu là “chơi” thì việc lãi lỗ chỉ là một yếu tố nhỏ khi tham gia giống như ta chơi một trò chơi nào đó; còn nếu xác định là “đầu tư” thì tự người tham gia họ đề caotrách nhiệm với đồng tiền bỏ ra.

Người tham gia cũng cần xác định trước mục đích tham gia thị trường để làm gì: Để làm giàu, để thử tìm kiếm một cơ hội kinh doanh, để thỏa sự tò mò, hoặc đơn giản là để chơi cho biết,… từ đó có kế hoạch phân bổ nguồn lực: thời gian, công sức, tiền bạc…. vào lĩnh vực này.

Không chỉ riêng với chứng khoán, ở bất kỳ lĩnh vực nào, khi tham gia đầu tư người đầu tư cần phải hiểu cách thức vận hành của lĩnh vực đó. Đặc biệt là lĩnh vực chứng khoán, tìm hiểu và hiểu rõ các quy định cơ bản của thị trường sẽ hạn chế những rủi ro và họ có thể mua / bán được ở mức giá tốt nhất có thể.

Những kiến thức cơ bản về các lệnh giao dịch, đơn vị yết giá, lô giao dịch, phiên giao dịch, rồi thì tính biên độ trần sàn, điều chỉnh giá khi hưởng quyền,…những kiến thức cơ bản này không khó và không xa lạ với nhà đầu tư lâu năm, nhưng nếu tham gia thị trường mà chưa có những kiến thức này sẽ khiến nhà đầu tư mới lúng túng, do dự và có thể lỡ cơ hội đầu tư hoặc thiệt hại không đáng có.

Một điểm nữa cần lưu ý là nhà đầu tư cần hiểu rõ mình có gì và thế mạnh của mình là gì để tận dụng và khai thác tốt nhất lợi thế đó. Những lợi thế của nhà đầu đó là lĩnh vực kinh doanh chính của họ đang làm; chắc chắn họ sẽ hiểu sâu về lĩnh vực kinh doanh và các doanh nghiệp tương tự trong ngành của mình.

Việc đánh giá và nhìn nhận triển vọng các doanh nghiệp trong ngành sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn, họ có thể dễ lượng hóa được những biến động và rủi ro tác động tới ngành và doanh nghiệp đó, đây chính là lợi thế lớn mà không phải nhà đầu tư nào cũng có được.

Chẳng hạn, khi giá nguyên liệu đầu vào tăng thì họ có thể lượng hóa ngay được sẽ tác động nhiều hay ít tới giá vốn cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp trong quý hoặc năm tiếp theo. Vì vậy, lời khuyên của tôi với người mới tham gia là hãy nghiên cứu một doanh nghiệp trong ngành họ đang làm.Sau khi thành công và đủ tự tin thì nhà đầu tư mới tìm hiểu ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác.

Xác định đặc tính của vốn đầu tư là yếu tố quan trọng quyết định lớn tới thành công. Nhà đầu tư cần xác định rõ về đặc tính nguồn vốn của mình là nhiều hay ít, ngắn hay dài, có dùng đòn bẩy tài chính không (vay vốn người quen chẳng hạn)... từ đó vạch ra kế hoạch đầu tư và thực hiện. Nếu nguồn vốn là dài hạn, nhà đầu tư có thể chủ động đầu tư và không bị vỡ kế hoạch giữa chừng do bị rút vốn sơm hơn kế hoạch.

Quy mô vốn lớn hay nhỏ đều có những lợi thế riêng.

Sau khi đã nghiên cứu kỹ về doanh nghiệp mục tiêu, nhà đầu tư cần đưa ra được một vài lý do chính khi ra quyết định đầu tư cổ phiếu đó: Kỳ vọng vào yếu tố nào của Doanh nghiệp? Thị trường có đánh giá cao khi doanh nghiệp đạt được yếu tố đó không? Giá mục tiêu thoái vốn của cổ phiếu đó?



Khang Duy
Theo Trí thức trẻ
Share:

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Tổ chức đại hội đồng cổ đông: Những điểm cần đặc biệt quan tâm

Đến hẹn lại lên, sau dịp Tết Nguyên đán, các công ty niêm yết lại tất bật chuẩn bị cho một mùa Đại hội đồng cổ đông (ĐHCĐ) sắp bắt đầu. Vì tính chất quan trọng của ĐHCĐ nên có một số điểm mà các công ty cần đặc biệt quan tâm để đảm bảo một kỳ ĐHCĐ hiệu quả, tuân thủ các quy định, đáp ứng các thông lệ quản trị công ty tốt trên thế giới.

 
ĐHCĐ thường niên là dịp để thực hiện các quyền của cổ đông như gặp gỡ và đối thoại trực tiếp với lãnh đạo công ty, đặt câu hỏi thảo luận về kết quả hoạt động kinh doanh và biểu quyết cho các vấn đề quan trọng của công ty như phân chia lợi nhuận, đầu tư, đề cử, bầu cử thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT).

Tham dự ĐHCĐ một cách hiệu quả sẽ giúp cổ đông thực hiện các quyền và bảo vệ lợi ích của mình, cũng như khuyến khích việc áp dụng các thực hành quản trị công ty tốt. 

Thông báo mời tham dự đại hội

Trong các thủ tục triệu tập ĐHCĐ trước khi đại hội diễn ra, việc chuẩn bị và công bố tài liệu họp ĐHCĐ là một trong những bước quan trọng nhất. Bộ tài liệu này giúp cung cấp đầy đủ thông tin cho cổ đông, đặc biệt là những thông tin liên quan đến các vấn đề trọng yếu cần được thông qua tại đại hội. 

Theo quy định của Thông tư 155/2015/TT-BTC, bên cạnh việc gửi thông báo và thư mời họp cho các cổ đông, toàn bộ tài liệu họp ĐHCĐ phải được công bố trên trang web của công ty chậm nhất là 10 ngày trước khi khai mạc đại hội. Tuy nhiên, theo thông lệ tốt về quản trị công ty trong khu vực ASEAN, thời hạn gửi thư mời và công bố thông tin tài liệu về họp ĐHCĐ tối thiểu là 21 ngày. 

Bộ tài liệu họp ĐHCĐ được công bố càng sớm, các cổ đông càng có thêm thời gian để xem xét các thông tin về hoạt động kinh doanh của công ty, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến các vấn đề nghị sự, cũng như sắp xếp thời gian để tham dự đại hội. 

Những tài liệu này trên trang thông tin điện tử của công ty nên được để ở chế độ công khai để tất cả các cổ đông và các bên liên quan đều có thể truy cập. 

Bên cạnh đó, thông báo và tài liệu ĐHCĐ nên được dịch sang tiếng Anh và được công bố cùng thời điểm với tài liệu bằng tiếng Việt. Việc các công ty gửi thư mời và tài liệu họp bằng tiếng Anh trong thời gian ngắn trước khi đại hội diễn ra, hoặc việc tài liệu họp bằng tiếng Anh không được dịch đầy đủ, hay chứa các thông tin sơ lược hơn so với bản bằng tiếng Việt, sẽ gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các công ty cần lưu ý cải thiện những vấn đề này để loại bỏ trở ngại đối với việc biểu quyết từ cổ đông nước ngoài, đảm bảo đối xử công bằng giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Dự thảo nghị quyết đại hội và quy trình biểu quyết

Nhằm tạo điều kiện cho các cổ đông tham gia một cách hiệu quả và biểu quyết tại ĐHCĐ, tài liệu họp ĐHCĐ phải bao gồm những thông tin sau: thời gian và địa điểm họp, chương trình họp, mẫu giấy uỷ quyền, phiếu biểu quyết, tài liệu về các vấn đề được thảo luận trong đại hội, dự thảo nghị quyết. 

Trong đó, tài liệu và các vấn đề của dự thảo nghị quyết cổ đông cần được trình bày chi tiết, cụ thể vì đây là nguồn thông tin quan trọng để các cổ đông tham khảo và làm cơ sở ra quyết định. 

Theo thông lệ tốt về quản trị công ty, mỗi mục trong dự thảo nghị quyết cần có cơ sở, thông tin và giải trình chi tiết tương ứng. Chẳng hạn, khi công ty đề nghị cổ đông biểu quyết chọn công ty kiểm toán cho năm tài chính tiếp theo, hoặc ngay cả biểu quyết đồng ý uỷ quyền cho HĐQT chọn công ty kiểm toán, thì trong tài liệu họp vẫn cần nêu rõ danh sách các công ty kiểm toán được HĐQT xem xét chọn và những thông tin cần thiết khác để cổ đông tìm hiểu, lựa chọn hoặc cho ý kiến.

Trong trường hợp có bầu thành viên HĐQT hoặc Ban kiểm soát, quá trình đề cử cần được bắt đầu sớm, ít nhất là 3 tháng trước khi đại hội diễn ra để cả cổ đông và HĐQT có đủ thời gian để chọn ra những ứng viên phù hợp. 

Để quá trình này được diễn ra thuận lợi, các thông tin về tiêu chí tuyển chọn thành viên HĐQT và quy định liên quan đến ứng cử, đề cử thành viên HĐQT phải được công khai. Sau đó, danh sách và thông tin chi tiết về tiểu sử của các ứng cử viên, bao gồm trình độ chuyên môn, ngày bổ nhiệm đầu tiên, kinh nghiệm và nhiệm kỳ thành viên HĐQT trong các công ty niêm yết khác, phải được gửi kèm trong tài liệu họp. 

Thông tin về các vị trí trong HĐQT tại các công ty niêm yết khác mà ứng viên đang nắm giữ thường ít được các doanh nghiệp quan tâm. Tuy nhiên, đây là thông tin mà các công ty niêm yết Việt Nam cần lưu ý công bố, bởi chúng giúp cổ đông đánh giá phẩm chất, năng lực, các mối quan hệ và quan điểm độc lập của ứng cử viên. 

Bên cạnh những tài liệu được quy định trong luật nêu trên, các quy định về thủ tục biểu quyết, đề cử, bầu cử cùng những quy định liên quan đến các quyền của cổ đông cũng cần được kèm theo trong bộ tài liệu. Nắm rõ những quy định và thủ tục này sẽ giúp cổ đông thực hiện hiệu quả và đầy đủ các quyền cổ đông tại đại hội. Tuy những quy định này có thể được tìm thấy trong Điều lệ công ty, nhưng thông lệ cho thấy, các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN vẫn trình bày đầy đủ trong bộ tài liệu mời tham dự đại hội.

Thủ tục uỷ quyền tham gia và biểu quyết tại đại hội

Công ty có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi để tất cả các cổ đông có thể tham gia và biểu quyết, dù trực tiếp hay vắng mặt, thông qua việc uỷ quyền đại diện tham gia ĐHCĐ, hoặc biểu quyết bằng thư bảo đảm khi cổ đông có yêu cầu. 

Vinamilk là một trong số ít những doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam có đính kèm quy định cụ thể về quy trình biểu quyết từ xa trong tài liệu mời họp dành cho cả cổ đông trong nước và nước ngoài. 

Cổ đông của Vinamilk khi nhận được thư mời họp sẽ được nhận kèm một mã vạch riêng biệt. Với mã vạch này, cổ đông sẽ truy cập được thẻ biểu quyết và phiếu bầu cử của mình trên trang web Công ty. Sau đó, cổ đông sẽ in thẻ biểu quyết và phiếu bầu cử của mình, cho vào phong bì dán kín có niêm phong và gửi bằng hình thức thư bảo đảm về Công ty chậm nhất là 24 giờ trước thời điểm diễn ra đại hội. 

Hình thức biểu quyết từ xa trên giúp dỡ bỏ các trở ngại đối với các cổ đông ở xa, cổ đông nước ngoài và những cổ đông không thể sắp xếp thời gian để tham dự. 

Ngoài ra, chuẩn mực quản trị tốt của khu vực ASEAN khuyến khích việc sử dụng hệ thống biểu quyết điện tử (E-Voting) và biểu quyết thông qua họp ĐHCĐ trực tuyến. Hình thức này cho phép các cổ đông thực hiện quyền bầu cử và tham gia thảo luận, dù không thể có mặt tại đại hội. Việc sử dụng hệ thống trực tuyến cũng giúp các cổ đông vắng mặt tham gia vào những nội dung mới phát sinh hoặc thay đổi trong đại hội. Hệ thống E-Voting khi được triển khai và sử dụng không những hỗ trợ các cổ đông tham gia đại hội, mà còn giúp phía doanh nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí do đạt được tỷ lệ cổ đông dự họp tối thiểu cho phép tổ chức đại hội.

Tính độc lập của ban kiểm phiếu

Các doanh nghiệp cần lưu ý đến việc bổ nhiệm một bên độc lập để giám sát quá trình kiểm phiếu tại ĐHCĐ. Bên độc lập này sẽ giữ vai trò quan sát quá trình biểu quyết, thẩm định kết quả biểu quyết và đảm bảo quy trình kiểm phiếu được diễn ra đúng trình tự. Người giữ vai trò này phải độc lập với công ty và cổ đông lớn, ví dụ đại diện đơn vị kiểm toán, đơn vị tư vấn luật, hay các cổ đông thiểu số của công ty. 

Một ví dụ điển hình trong khu vực là Công ty PTT Global Chemical Public Company Limited. Đây là công ty lọc hoá đầu hàng đầu Thái Lan, cổ phiếu của công ty này được vinh danh trong Top 5 doanh nghiệp niêm yết có điểm số quản trị công ty cao nhất trong khu vực ASEAN năm 2015. Trong biên bản họp ĐHCĐ năm 2016 của Công ty nêu rõ hai vị đại diện đến từ Công ty luật Baker & McKenzie và một vị đại diện của cổ đông thiểu số đóng vai trò giám sát quá trình kiểm phiếu. 

Hiện nay, tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp chỉ dừng lại ở việc có thành lập Ban kiểm phiếu trong đại hội và các thành viên đa phần là thành viên Ban kiểm soát, hoặc nhân viên công ty. Việc bổ nhiệm một bên độc lập kiểm định quá trình kiểm phiếu sẽ giúp quá trình biểu quyết và bầu cử tại đại hội được diễn ra minh bạch hơn.

Dành thời gian cho cổ đông chất vấn

Chương trình họp của đại hội cần được sắp xếp hợp lý và đảm bảo dành thời gian để các cổ đông đặt câu hỏi trực tiếp cho các cấp lãnh đạo. Cổ đông có quyền đặt câu hỏi hoặc kiến nghị và được giải đáp thích đáng tại ĐHCĐ. Phần chất vấn trong đại hội là một trong những cách khuyến khích sự tham gia đóng góp của cổ đông vào những vấn đề quan trọng của công ty. 

Theo thông lệ tốt về quản trị công ty, phần chất vấn tại đại hội không nên bị giới hạn về mặt thời gian để tất cả các cổ đông nếu có thắc mắc hay ý kiến đều được có cơ hội phát biểu. Để thuận tiện cho quá trình đặt câu hỏi và thảo luận tại đại hội, công ty có thể tạo điều kiện cho cổ đông gửi các câu hỏi trước khi đại hội diễn ra. Tất cả những câu hỏi thích đáng từ phía cổ đông đều phải được giải đáp thoả đáng và ghi nhận đầy đủ, chi tiết trong biên bản đại hội. 

Biên bản đại hội của Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen là một ví dụ điển hình của thực hành quản trị công ty tốt này, trong đó Công ty tường thuật nội dung và chi tiết các câu trả lời của đại diện công ty. Các biên bản của các doanh nghiệp trong khu vực còn nêu rõ nội dung của từng vị lãnh đạo khi trả lời câu hỏi của từng cổ đông.

Kịp thời công bố các tài liệu quan trọng sau đại hội

Sau khi tổ chức thành công ĐHCĐ, các công ty phải đảm bảo tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về công bố thông tin ngay sau đại hội. Nghị quyết và biên bản ĐHCĐ phải được công bố trên trang web công ty và gửi cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán trong vòng 24 giờ kể từ khi kết thúc đại hội. 

Ngoài ra, chuẩn mực quản trị công ty trong khu vực ASEAN yêu cầu công ty công bố cả bản tiếng Anh của hai tài liệu này trong thời hạn như trên để đảm bảo cổ đông nước ngoài được bình đẳng về quyền được tiếp cận thông tin như cổ đông trong nước. 

Kết quả biểu quyết nêu trong cả nghị quyết lẫn biên bản họp phải nêu đủ tỷ lệ phiếu thuận, phiếu chống và cả phiếu trắng, chứ không chỉ nêu tỷ lệ thông qua tại đại hội. Biên bản ĐHCĐ cần đảm bảo nêu đầy đủ danh sách các thành viên HĐQT, Ban kiểm soát và Ban điều hành tham dự ĐHCĐ cũng như các diễn biến cụ thể trong đại hội, đặc biệt là phần chất vấn và trả lời chất vấn của các cổ đông. Những thông tin trên giúp người đọc hình dung được mức độ cam kết của ban lãnh đạo công ty và mức độ minh bạch và hiệu quả của ĐHCĐ.
Nguyễn Thu Hiền* - Nguyễn Ngọc Hạnh Nguyên
Trường Đại học Bách khoa TP.HCM
* TS. Nguyễn Thu Hiền là thành viên Hội đồng đánh giá Quản trị công ty khu vực ASEAN từ năm 2012 đến nay trong dự án Thẻ điểm Quản trị công ty ASEAN của Diễn đàn Thị trường vốn khu vực ASEAN. 

ĐTCK
Share:

Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2017

Công ty chứng khoán cũng phải theo chuẩn Basel II

Việc nhiều công ty chứng khoán (CTCK) thực hiện phát hành trái phiếu và cho vay giao dịch ký quỹ đã làm xuất hiện câu hỏi: Liệu các CTCK có đang là một “ngân hàng ngầm”?

 
Về vấn đề này, ông Hoàng Phú Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý kinh doanh chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán cho rằng, “ngân hàng ngầm” là khái niệm chỉ hoạt động của các tổ chức tài chính thực hiện các hoạt động kinh doanh như ngân hàng nhưng không chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý chuyên ngành; hoàn toàn khác so với hoạt động của CTCK.

Ông có thể cho biết tình hình phát hành trái phiếu của các CTCK trong thời gian vừa qua như thế nào?

Công tác giám sát của chúng tôi cho thấy, từ năm 2015 đến nay, các CTCK, đặc biệt là các công ty có tình hình tài chính kinh doanh khả quan đã thực hiện phát hành trái phiếu ngắn hạn và dài hạn huy động vốn của các tổ chức, cá nhân có nhu cầu. 

Tổng dư nợ (bao gồm cả dư nợ trái phiếu và dư nợ khác) của các CTCK tính đến cuối năm 2015 và 2016 lần lượt là 27.034 tỷ đồng và 30.793 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu của các CTCK tính tới thời điểm cuối năm 2015 là 44.164 tỷ đồng và cuối năm 2016 là 44.728 tỷ đồng.

Ông có nhận định như thế nào về việc phát hành trái phiếu và nguyên nhân của các đợt phát hành này?

Chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và biến động bất lợi của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam các năm tiếp theo, việc huy động vốn của các CTCK gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là từ sau năm 2010. Thời gian gần đây, việc các CTCK thành công trong việc phát hành trái phiếu (chủ yếu là trái phiếu không có tài sản đảm bảo) để huy động vốn cho đầu tư phát triển là một tín hiệu đáng mừng. 

Điều này thể hiện niềm tin của công chúng đầu tư vào hệ thống các CTCK, tính minh bạch thông tin của các công ty này. Đồng thời, việc huy động vốn qua phát hành trái phiếu góp phần đa dạng hóa các nguồn vốn trong hoạt động của CTCK, giảm áp lực vốn đối với cổ đông so với thời gian trước đây.
ảnh 1
 Ông Hoàng Phú Cường

Theo tôi, việc phát hành trái phiếu có diễn biến như trên do TTCK Việt Nam từ năm 2015 đến nay luôn có sự tăng trưởng tích cực (năm 2015 tăng 6,1%, năm 2016 tăng 14,8%). Kênh đầu tư chứng khoán vẫn tiếp tục là một kênh hấp dẫn các nhà đầu tư. Cùng với sự tăng trưởng chung của TTCK, kết quả kinh doanh của các CTCK từ năm 2013 đến nay đã dần được cải thiện, số CTCK có lãi đạt trên 48% (trước năm 2012 là 35%), trên 90% các công ty đã có tỷ lệ an toàn tài chính trên mức an toàn tối thiểu. 

Vì vậy, trên cơ sở pháp luật cho phép, đáp ứng nhu cầu của thị trường và phát huy vai trò của mình trên TTCK, các CTCK đã thực hiện các giao dịch huy động vốn như vay vốn tín dụng, phát hành công cụ nợ để đầu tư phát triển, tăng cường tính chủ động của mình trên thị trường. Dư nợ vay của các CTCK vẫn trong giới hạn cho phép là không quá 3 lần vốn chủ sở hữu.

Mặc dù vậy, chúng tôi cũng muốn lưu ý người mua trái phiếu cần phải xem xét kỹ loại trái phiếu mà mình mua. Một trong những rủi ro khi đầu tư trái phiếu là khả năng thanh toán của CTCK khi đáo hạn trái phiếu. Vì vậy, nhà đầu tư cần chủ động xem xét, đánh giá những CTCK có thực lực tài chính mạnh, quản trị tốt. Những thông tin về tài chính, tỷ lệ an toàn tài chính hiện được công bố công khai để nhà đầu tư có thể tìm hiểu. Đối với các CTCK phát hành trái phiếu, cần nghiêm túc và có trách nhiệm trong việc sử dụng vốn huy động để đảm bảo khả năng trả nợ đủ và đúng hạn theo cam kết với nhà đầu tư. 

Hiện nay có ý kiến cho rằng, các CTCK đang hoạt động như những ngân hàng ngầm - shadow banking. Ông có ý kiến gì về nhận định này?

Theo Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), “shadow banking” là các tổ chức tài chính thực hiện các hoạt động kinh doanh như ngân hàng nhưng không chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý chuyên ngành. 

Việc huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu và cho vay thông qua nghiệp vụ giao dịch ký quỹ của các CTCK trong thời gian qua không phải là hoạt động “shadow banking”. Có nhiều lý do cho việc này.

Trước hết, hành vi phát hành trái phiếu chịu sự quản lý bởi các văn bản pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành. Việc huy động vốn qua phát hành trái phiếu của CTCK phải tuân thủ quy định của Luật Doanh nghiệp, Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, các quy định pháp lý về chứng khoán và TTCK trên cơ sở đáp ứng một số điều kiện, đặc biệt là các điều kiện liên quan đến khả năng sinh lời và tính minh bạch. Hoạt động sử dụng vốn cho giao dịch ký quỹ cũng chịu sự điều chỉnh chặt chẽ bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Chứng khoán, Nghị định 86/2016/NĐ-CP, Thông tư 203/2015/TT-BTC.

Thứ hai, các CTCK cũng chịu sự quản lý bởi các quy định an toàn vốn theo chuẩn của Basel II (Thông tư 226/2010/TT-BTC và Thông tư 165/2012/TT-BTC) và quy định hạn mức huy động vốn (không quá 3 lần vốn chủ sở hữu (Thông tư 210/2012/TT-BTC). Các khoản vốn CTCK huy động (bao gồm cả việc huy động qua phát hành trái phiếu) được sử dụng thông qua các hoạt động kinh doanh đều phải giảm trừ khỏi vốn khả dụng hoặc tính rủi ro tương ứng, nhằm đảm bảo một mức an toàn tối thiểu.

Cũng như các ngành nghề tài chính tương tự như ngân hàng, bảo hiểm chịu sự quản lý bởi các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, các CTCK được trực tiếp quản lý bởi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo Luật định. Đồng thời, hiện nay, một số CTCK thuộc các ngân hàng thương mại gián tiếp chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Mô hình này tương tự các mô hình quản lý TTCK của các nước tiên tiến trên thế giới.

Qua công tác giám sát của chúng tôi, tính đến hết năm 2016, tổng dư nợ (bao gồm vay trái phiếu và dự nợ khác) chưa vượt quá 1/3 tổng vốn chủ sở hữu của các CTCK (quy định cho phép dư nợ không vượt quá 3 lần vốn chủ sở hữu), dư nợ cho vay giao dịch ký quỹ khoảng 20.000 tỷ đồng và giá trị tài sản đảm bảo cho các khoản vay giao dịch ký quỹ luôn duy trì ở mức gần 3 lần dư nợ. Ngoài ra, trong quá trình cho vay giao dịch ký quỹ, CTCK phải tuân thủ dư nợ cho vay không được vượt quá 200% vốn chủ sở hữu, danh mục các chứng khoán được phép cho vay ký quỹ theo quy định và tỷ lệ cho vay không vượt quá 50% giá trị giao dịch.

Việc huy động vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu của các CTCK theo chúng tôi là một bước phát triển của các CTCK Việt Nam theo hướng hình thành các ngân hàng đầu tư, đóng vai trò là các định chế tài chính trung gian trên TTCK, thực hiện các chức năng luân chuyển vốn từ nơi có nhu cầu đầu tư đến nơi có nhu cầu cần vốn, phù hợp với định hướng phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2050 và phù hợp với thông lệ quốc tế.

>> Một loạt công ty chứng khoán lớn đang đối mặt nguy cơ rủi ro “ngân hàng ngầm”?
ĐTCK
Share:

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2017

Khối ngoại giao dịch mạnh các cổ phiếu lớn trong phiên 17/1

Sau phiên mua ròng khá tích cực hôm qua, nhà đầu tư nước ngoài đã trở lại trạng thái bán ròng nhẹ trong phiên 17/1. Đáng chú ý trên sàn HOSE, khối này chủ yếu tập trung giao dịch mua-bán mạnh các cổ phiếu có vốn hóa lớn.

 
Thống kê trên sàn HOSE, khối ngoại mua vào 11,26 triệu đơn vị, tăng 90,69% so với phiên đầu tuần; tổng giá trị mua vào đạt 591,93 tỷ đồng, tăng 50,97% so với phiên trước đó.

Trong khi đó, khối này đã bán ra 13,81 triệu đơn vị, giá trị 618,91 tỷ đồng, tăng 89,87% về lượng và 71,81% về giá trị so với phiên trước.
Qua đó, khối này đã bán ròng 2,55 triệu đơn vị, tăng 86,34% so với phiên đầu tuần, tổng giá trị bán ròng tương ứng 26,98 tỷ đồng, trong khi phiên hôm qua mua ròng 31,85 tỷ đồng.

Hôm nay, SBT là cổ phiếu được mua ròng mạnh nhất, với khối lượng mua ròng đạt 967.950 cổ phiếu, tương ứng tổng giá trị mua ròng đạt 24,16 tỷ đồng. 

Trong khi đó, VNM lùi về vị trí thứ 2 khi được mua ròng 189.420 cổ phiếu, giá trị 23,93 tỷ đồng.

Đứng ở các vị trí tiếp theo là các cổ phiếu có vốn hóa lớn như SAB (20,86 tỷ đồng), CTG (15,5 tỷ đồng), NVL (9,55 tỷ đồng), ROS (6,48 tỷ đồng).

Trái lại, HPG dẫn đầu trong danh mục bán ròng về giá trị đạt 40,24 tỷ đồng, tương ứng khối lượng bán ròng đạt 955.980 cổ phiếu. 

Còn xét về khối lượng, KBC là cổ phiếu bị bán ròng mạnh nhất đạt 1,55 triệu cổ phiếu, giá trị hơn 21 tỷ đồng. Tiếp đó, BID bị bán ròng 1,02 triệu cổ phiếu, giá trị 16,56 tỷ đồng.

Các cổ phiếu khác cũng bị bán ròng khá mạnh như VIC (414.890 cổ phiếu, giá trị 17,7 tỷ đồng), HSG (356.130 cổ phiếu, giá trị 17,38 tỷ đồng).

Đáng chú ý trong phiên hôm nay, khối ngoại đã giao dịch thỏa thuận hơn 2,3 triệu cổ phiếu VNM, với tổng giá trị lên tới 290,9 tỷ đồng.
Trên sàn HNX, khối ngoại giảm mạnh mua vào với khối lượng chỉ đạt 289.200 đơn vị, giảm 71% so với phiên đầu tuần; giá trị mua vào đạt 4,6 tỷ đồng, giảm tới 89,67% so với phiên trước đó. 

Ngược lại, khối này giảm mạnh bán ra 306.644 đơn vị, giá trị 5,77 tỷ đồng, tăng 132,5% về lượng và 110,58% về giá trị so với phiên trước đó.

Qua đó, khối này đã bán ròng 17.444 đơn vị với tổng giá trị tương ứng 1,17 tỷ đồng; trong khi phiên hôm qua mua ròng 868.154 đơn vị, giá trị 41,79 tỷ đồng.

Hôm nay, DBC được mua ròng mạnh nhất với khối lượng 25.500 cổ phiếu, giá trị mua ròng tương ứng hơn 913 triệu đồng.

Tiếp đó, VKC được mua ròng 45.000 cổ phiếu, giá trị 742,5 triệu đồng.

Ở chiều ngược lại, LAS dẫn đầu danh mục bị bán ròng đạt 160.194 cổ phiếu, giá trị bán ròng tương ứng 2,32 tỷ đồng.

Đứng ở vị trí thứ 2 là MAS bị bán ròng 6.100 cổ phiếu, giá trị gần 848 triệu đồng.

Tính chung trên cả 2 sàn trong phiên 17/1, khối ngoại đã bán ròng 2,57 triệu đơn vị, tăng mạnh so với con số bán ròng 0,5 triệu cổ phiếu trong phiên hôm qua. Tổng giá trị bán ròng tương ứng 28,15 tỷ đồng, trong khi phiên trước đó mua ròng 73,64 tỷ đồng.


ĐTCK
Share:

Vì sao vốn ngoại khó vào công ty quản lý quỹ nội?

Trong vài năm trở lại đây, các quỹ mở và quỹ nội địa rất chật vật trong việc huy động thêm vốn từ nhà đầu tư nước ngoài. Vì sao lại có hiện trạng này khi TTCK Việt Nam luôn nhận được những lời đánh giá là tiềm năng và hấp dẫn trên các diễn đàn khu vực và quốc tế?
 
Ngày 13/9, Công ty TNHH Quản lý Quỹ SSI (SSIAM) thông báo kết thúc giai đoạn huy động vốn của Quỹ đầu tư Tăng trưởng Việt Nam DAIWA-SSIAM II do SSIAM đồng quản lý với Daiwa Corporate Investment Co., Ltd (thuộc Tập đoàn Daiwa Securities – Nhật Bản).

Với mức vốn cam kết là 39,4 triệu USD đến từ các nhà đầu tư tổ chức trong và ngoài nước, bao gồm vốn góp của Tập đoàn Daiwa và SSI. Đây có lẽ là một trong những đợt huy động vốn ngoại lớn nhất do một công ty quản lý quỹ nội địa thực hiện. Đây cũng là quỹ đầu tư vốn tư nhân (Private Equity) thứ hai được tiếp tục thành lập và đồng quản lý bởi 2 định chế tài chính hàng đầu của Nhật Bản và Việt Nam. Trước đó, tháng 12/2015, SSIAM cũng huy động để quản lý thành công Quỹ Vietnam Value and Income Fund, dưới dạng Special Investment Fund trong hệ thống quỹ của Andbank Asset Management đăng ký tại Luxembourg, với vốn từ các nhà đầu tư châu Âu, đầu tư vào cổ phiếu niêm yết ở TTCK Việt Nam.

Theo đánh giá từ phía SSIAM, qua tiếp xúc với các nhà đầu tư nước ngoài, họ vẫn nhìn nhận Việt Nam là một trong các quốc gia mới nổi năng động nhất trong khu vực Đông Nam Á, với nhiều lợi thế về dân số, chi phí lao động…, cũng như lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do, nhất là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). TTCK Việt Nam cũng được đánh giá là một thị trường phát triển nhanh, với nhiều cơ hội đầu tư giá trị tại mức định giá thấp so với các TTCK trong khu vực. Nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm và sẵn sàng bỏ vốn đầu tư vào các quỹ có chiến lược đầu tư phù hợp, được quản lý bởi một đơn vị quản lý quỹ có năng lực.

Tuy nhiên, SSIAM hay một số công ty quản lý quỹ lớn khác như MBCapital (huy động nguồn vốn từ nhà đầu tư Nhật Bản); VFM… là những cái tên hiếm hoi trong số 43 công ty quản lý quỹ được cấp phép tại Việt Nam thu hút được dòng vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư trở lại vào thị trường Việt Nam. Lãnh đạo một công ty quản lý quỹ nội có trụ sở tại TP. HCM cho biết, các công ty quản lý quỹ nội địa phải cạnh tranh rất gay gắt với các công ty quản lý quỹ nước ngoài để thu hút nguồn tài chính.

“Chúng ta thường cho rằng, các công ty quản lý quỹ nội là những đơn vị am hiểu TTCK Việt Nam nhất, cũng như sở hữu đội ngũ các giám đốc đầu tư, chuyên viên phân tích được đào tạo tốt và dày kinh nghiệm nhất, đồng thời theo dõi sát các công ty mà quỹ đang hoặc sẽ đầu tư, nhưng không có nghĩa điều này đảm bảo nhà đầu tư ngoại sẽ thích đầu tư thông qua các công ty quản lý quỹ nội địa. Trong 2-3 năm gần đây, số vốn mà các công ty quản lý quỹ thu hút thêm có tăng, nhưng tăng không đáng kể. Không phải các công ty quản lý quỹ không nỗ lực, mà thực tế môi trường gọi vốn ngoại rất khó khăn”, vị lãnh đạo trên chia sẻ.

Ngoài lý do về việc nhiều quỹ hoạt động kém minh bạch, hiệu quả, ảnh hưởng đến uy tín chung của ngành, thì cũng cần phải nhấn mạnh thêm rằng, một số quy định hiện tại đang là rào cản cho quá trình kêu gọi vốn ngoại của các công ty quản lý quỹ nội.

Về thuận lợi, UBCK đã ký biên bản ghi nhớ với phần lớn các cơ quan quản lý TTCK thuộc Liên minh châu Âu và Khu vực kinh tế châu Âu như: Anh, Thuỵ Điển, Ý, Pháp… Qua đó, tạo điều kiện cho các công ty quản lý quỹ nội địa có thể thu hút dòng vốn từ châu Âu. Ngoài ra, Nghị định 60/2015/NĐ-CP của Chính phủ đã loại trừ quỹ mở ra khỏi các quỹ đầu tư chứng khoán có tỷ lệ sở hữu nước ngoài đạt từ 51% trở lên sẽ được coi là nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn và mua chứng khoán, nên không hạn chế vốn nước ngoài đầu tư vào quỹ mở nội địa.

Tuy nhiên, vướng mắc lớn nhất là nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào các quỹ mở của Việt Nam thì cần phải sang Việt Nam mở các tài khoản tại các công ty chứng khoán đang hoạt động ở Việt Nam và tài khoản vốn đầu tư gián tiếp (tài khoản CCA) tại ngân hàng ở Việt Nam. Điểm khó xuất hiện khi các nhà đầu tư mua vào phải chuyển tiền vào “tài khoản vốn đầu tư trực tiếp” của doanh nghiệp nước ngoài, trong khi tiền và tài khoản của nhà đầu tư phải được phân biệt hoàn toàn với tiền và tài khoản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việc quy định không rõ ràng khiến nhà đầu tư nước ngoài không khỏi băn khoăn.

Ngoài ra, về đầu tư gián tiếp, hiện nay, Luật Đầu tư mới đã bỏ khái niệm “tài khoản vốn đầu tư gián tiếp”, nhưng trong các văn bản của ngân hàng vẫn ghi “tài khoản vốn đầu tư gián tiếp”. Tài khoản này được hiểu là bất kỳ nhà đầu tư nào muốn đầu tư vào TTCK hoặc doanh nghiệp nội địa tại Việt Nam sẽ tạm coi là “nhà đầu tư gián tiếp” và phải thành lập “tài khoản vốn đầu tư gián tiếp”. Mặc dù vậy, vướng mắc ở chỗ là quy định yêu cầu đóng vào bằng đồng nội tệ, trong khi họ đầu tư bằng ngoại tệ. Điều này khiến nhà đầu tư phải chịu thêm khoản chi phí rủi ro về tỷ giá.

Theo mong mỏi của nhiều công ty quản lý quỹ, bài toán trên dù khó, nhưng cần sớm giải quyết mới mong đẩy mạnh thu hút vốn ngoại về thị trường Việt Nam thông qua các công ty này.   

  ĐTCK
Share:

Quỹ nội cần thay đổi để hội nhập

“Việc Việt Nam tham gia vào nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới sẽ giúp ngành quản lý quỹ, trong đó có Baoviet Funds, đón nhận nhiều cơ hội tăng trưởng nhờ nền kinh tế phục hồi và dòng vốn ngoại đổ vào thị trường. Nhưng để thành công và thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn nữa, chúng ta phải có chiến lược hoạt động đúng đắn và minh bạch hóa thông tin nhiều hơn”. 

 
Đó là chia sẻ của ông Đậu Minh Lâm, Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ Bảo Việt (BVF). 

Trong lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán các nước, các quỹ đầu tư, nhà đầu tư tổ chức đóng vai trò khá quan trọng, giúp thị trường có thể vận hành một cách chuyên nghiệp. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam, vai trò này của các công ty quản lý quỹ chưa thực sự rõ ràng. Ông có thể lý giải điều này?

Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn nằm trong nhóm thị trường cận biên (frontier market), quy mô thị trường còn nhỏ và thiếu một số yếu tố quan trọng để thu hút mạnh mẽ nhà đầu tư tổ chức, đặc biệt là các nhà đầu tư tổ chức nước ngoài… 

Hơn nữa, hiện nay, nhà đầu tư cá nhân sẵn sàng chấp nhận rủi ro đầu cơ cao trong một thị trường chưa hoàn hảo về mặt thông tin để có thể thu được lợi nhuận cao hơn, đồng thời, việc đầu tư trực tiếp trên thị trường chứng khoán đang thuận lợi và nhanh chóng hơn việc đầu tư qua các quỹ mở, nếu xét tới yếu tố chu kỳ thanh toán.

Mặt khác, cơ bản các nhà đầu tư cá nhân đều có mục tiêu đầu tư tương đối ngắn hạn. Do vậy, cơ hội để các công ty quản lý quỹ, các quỹ đầu tư thu hút vốn từ các nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư cá nhân còn thấp. 

Theo đó, sẽ cần thời gian và nhiều chính sách tốt, phù hợp để nhiều loại hình quỹ đầu tư đa dạng được hình thành, các quỹ lớn nước ngoài quan tâm hơn, cũng như nhà đầu tư cá nhân quen dần và tin tưởng hơn vào hoạt động của các quỹ đầu tư, đồng thời, các quỹ đầu tư, đặc biệt là các quỹ mở, cũng cần có thời gian để chứng minh tính ưu việt và vượt trội hơn trong hiệu quả đầu tư, cũng như khả năng quản lý rủi ro.
Việc cơ quan quản lý nhà nước từng bước đưa ra các chính sách ưu đãi hơn về phí và thuế cho ngành quản lý quỹ cũng sẽ là bước đầu giúp thu hút nhà đầu tư đầu tư qua các quỹ đầu tư, thay vì đầu tư trực tiếp.
ảnh 1
Ông Đậu Minh Lâm 
 
Cơ hội thị trường phía trước là rất rõ ràng, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới sau khi đã ký nhiều hiệp định thương mại tự do quan trọng. Và ngành quản lý quỹ sẽ trở thành cầu nối quan trọng giữa nhà đầu tư ngoại với các doanh nghiệp trong nước. Vậy theo ông, các công ty quản lý quỹ sẽ phải thay đổi theo hướng nào để có thể hoàn thành tốt vai trò của mình trong thời gian tới?
 
Sự chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế, cùng với việc tham gia các hiệp định thương mại quan trọng, có thể thấy, rõ ràng, môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng trở nên hấp dẫn. Tuy nhiên, chúng ta cũng sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh về thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài mạnh mẽ của các thị trường khác trong khu vực như Singapore, Indonesia, Philippines, Thailand, Malaysia, Myanmar… 

Các công ty quản lý quỹ với vai trò là cầu nối giữa nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước cần phải chứng minh được hiệu quả hoạt động đầu tư tốt, thông tin minh bạch và công tác quản lý rủi ro chuyên nghiệp. 

Thứ nhất, để có thể kết nối hiệu quả, các công ty quản lý quỹ cần phải hiểu rất rõ về thị trường nội địa, hiểu rõ về tiềm năng của các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như các đặc  tính, lợi thế và bất lợi của các doanh nghiệp này, nâng cao khả năng phân tích chuyên sâu về các doanh nghiệp Việt Nam, thấu hiểu thị trường một cách cặn kẽ. Qua đó, mới có thể giúp nhà đầu tư nước ngoài hiểu rõ về thị trường Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam, đặt niềm tin vào các công ty quản lý quỹ, các quỹ đầu tư tại thị trường Việt Nam.

Thứ hai, việc xây dựng các nền tảng cơ bản như: đội ngũ nhân sự có chất lượng, hoạt động quản lý rủi ro tốt và hệ thống công nghệ thông tin theo tiêu chuẩn quốc tế cũng là những yếu tố then chốt mà các công ty quản lý quỹ cần quan tâm.

Thứ ba, các công ty quản lý quỹ hoạt động tại thị trường cần mở rộng và phát huy tối đa mạng lưới trên thị trường. Đồng thời, cần phát triển các sản phẩm đầu tư đa dạng để thu hút các đối tượng nhà đầu tư khác nhau. 

Ông có thể chia sẻ cụ thể về những định hướng và kế hoạch Baoviet Fund triển khai trong thời gian sắp tới nhằm đón nhận những cơ hội mới mà thị trường đang mang lại?

Mục tiêu của chúng tôi trong thời gian tới là nằm trong nhóm dẫn đầu thị trường về đa dạng hóa các sản phẩm, trên cơ sở các thế mạnh riêng có của mình và hệ thống Bảo Việt như năng lực đầu tư, hệ thống phân phối, dịch vụ đồng bộ… 

Vừa qua, chúng tôi đã ra mắt quỹ mở thứ ba với tên gọi Quỹ đầu tư cổ phiếu triển vọng Bảo Việt (BVPF). Quỹ BVPF ra đời với mục tiêu mang lại lợi nhuận bền vững và vượt trội cho nhà đầu tư. 

Hiện nay, chúng tôi đang trong quá trình nghiên cứu và sẽ sớm cho ra mắt thêm các chuỗi sản phẩm khác phù hợp với nhu cầu của thị trường như: quỹ hưu trí, quỹ đầu tư bất động sản và các sản phẩm chuyên biệt… cho nhà đầu tư cá nhân và tổ chức lựa chọn. 

Hệ thống phần mềm quản lý đầu tư chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế (IMS) vừa được đưa vào vận hành chính thức sẽ là công cụ hữu hiệu để chúng tôi nhanh chóng triển khai các sản phẩm tài chính cá nhân có độ phức tạp cao, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và từng bước tiếp cận các nhà đầu tư chuyên nghiệp nước ngoài. 

Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ hướng tới mở rộng đối tượng khách hàng, đặc biệt là những nhà đầu tư cá nhân sở hữu lượng tài sản lớn.

Ông có đề xuất gì về cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ cho việc phát triển của ngành quản lý quỹ nói chung trong thời gian sắp tới?

Thời gian qua, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã có những động thái rất tích cực trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho các sản phẩm mới như quỹ đầu tư bất động sản (REIT), quỹ hưu trí tự nguyện (pension)… 

Thị trường luôn cần sự đa dạng sản phẩm và để ngành quản lý quỹ có những bước phát triển mạnh mẽ hơn nữa, chúng tôi kỳ vọng các sản phẩm mới như chứng khoán phái sinh, quỹ REIT… sớm được đưa vào thực tiễn. 

Đồng thời, các cơ quan quản lý nhà nước  tiếp tục đưa thêm nhiều sản phẩm khác nữa để thị trường từng bước phát triển bền vững. Bên cạnh đó, cũng cần có những giải pháp để phát triển hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn chỉnh và đồng bộ, qua đó rút ngắn chu kỳ thanh toán, giúp tăng thanh khoản trên thị trường chứng khoán.

Một yếu tố quan trọng khác chính là tính  minh bạch và lành mạnh của thị trường. Vì vậy, cơ quan quản lý nhà nước cần có giải pháp để các thành phần tham gia thị trường phải minh bạch hóa thông tin, tuân thủ các yêu cầu về quản lý rủi ro một cách chặt chẽ; đồng thời, cần có chế tài mạnh mẽ khi xử lý vi phạm, giúp cho thị trường phát triển một cách lành mạnh, bền vững và tăng sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài, cũng như các quỹ đầu tư lớn. 

Cơ quan quản lý nhà nước sẽ là cây cầu nối hiệu quả nhất giữa các thành viên thị trường với thị trường khu vực và thế giới, thông qua việc đẩy mạnh quảng bá về thị trường Việt Nam và tổ chức các chương trình thúc đẩy hợp tác kinh tế với các nước. 

Đối với ngành quản lý quỹ, tôi kỳ vọng sẽ có nhiều chính sách ưu đãi hơn khi nhà đầu tư đầu tư qua quỹ so với đầu tư trực tiếp, để từng bước tạo ra các quỹ đầu tư lớn với mục tiêu đầu tư dài hạn, mang lại sự ổn định và phát triển bền vững cho thị trường.
 
Theo Việt Dương thực hiện.
Đặc san 20 năm thị trường chứng khoán Việt Nam
Share:

Dọn đường cho nhà tạo lập thị trường cổ phiếu

Muốn duy trì được thanh khoản cho cổ phiếu, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ giao dịch bên ngoài. Câu chuyện này không hề mới, nhưng chứa đựng những rủi ro pháp lý cho cả người cung cấp và sử dụng dịch vụ. 
 
Mới đây, Sở GDCK Hà Nội (HNX) đã thực hiện lấy ý kiến các thành viên về “Phương án tổ chức hoạt động tạo lập thị trường của các thành viên trên Sở GDCK Hà Nội”, mở ra cơ hội xuất hiện các nhà tạo lập thị trường chính danh trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 

Bước chuyển mình
 
Thông tư 203/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 21/12/2015 hướng dẫn về giao dịch trên TTCK có hiệu lực từ ngày 1/7/2016 có một điểm khá mới, quy định khá chi tiết về hoạt động tạo lập thị trường của công ty chứng khoán.


Theo đó, các công ty chứng khoán thỏa mãn điều kiệntheo quy định tại Thông tư 203 được đăng ký là thành viên tạo lập thị trường với Sở GDCK, trên cơ sở Hợp đồng tạo lập thị trường ký đối với tổ chức phát hành. Ngân hàng giám sát, công ty chứng khoán là thành viên lập quỹ, công ty chứng khoán đáp ứng được các quy định là nhà tạo lập thị trường được đăng ký là thành viên tạo lập thị trường cho quỹ ETF trên cơ sở hợp đồng ký với công ty quản lý quỹ.
Ngoài việc quy định điều kiện, Thông tư 203 cũng giao quyền cho các Sở GDCK trong việc xây dựng và ban hành Quy chế hướng dẫn hoạt động tạo lập thị trường sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận, có quyền chấm dứt hợp đồng đối với thành viên, hoặc đình chỉ hoạt động tạo lập thị trường của thành viên đối với một hoặc một số chứng khoán trong trường hợp thành viên không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trách nhiệm và vi phạm các điều khoản khác của hợp đồng theo Quy chế của Sở GDCK.

Gần đây nhất, HNX đã thực hiện lấy ý kiến về Dự thảo Quy chế tạo lập thị trường tới các công ty chứng khoán, với lộ trình dự kiến là trong tháng 10/2016 đưa ra Dự thảo để các công ty chứng khoán nghiên cứu và đóng góp ý kiến, tháng 11 và 12/2016 ban hành Quy chế, tháng 12/2016 tổ chức giới thiệu Quy chế và đầu năm 2017 bắt đầu áp dụng thí điểm.

Như vậy, nếu không có gì thay đổi, đầu năm 2017, thị trường có thể sẽ bắt đầu có những nhà tạo lập thị trường chính quy.




Cơ hội xóa sổ tình trạng cổ phiếu “chết”thanh khoản
Có một thực tế là, nhu cầu của các doanh nghiệp niêm yết về duy trì thanh khoản cổ phiếu vẫn luôn tồn tại. Thế nhưng, vì những rủi ro pháp lý, các công ty phát hành cũng không dễ dàng công khai thực hiện. Còn với các công ty chứng khoán, lâu nay vẫn mất nguồn thu này do việc triển khai chủ yếu diễn ra tự phát từ các phòng giao dịch. Và đương nhiên, cả người thực hiện lẫn người đưa yêu cầu thực hiện đều có nguy cơ vi phạm pháp luật.

Tuy nhiên, với việc hợp pháp hóa hình thức này, với những quy định dự kiến là khá ngặt nghèo về điều kiện và nghĩa vụ giao dịch của nhà tạo lập, hoạt động này sẽ có cơ hội được phát triển mạnh mẽ. 

Đồng thời, với Dự thảo của HNX về việc yêu cầu thành viên tạo lập thị trường phải đặt lệnh mua hoặc bán với mã mình ký hợp đồng trong trường hợp cổ phiếu không có người đặt lệnh mua/bán, hoặc chỉ có lệnh 1 chiều mua hoặc bán, là yếu tố quan trọng giúp các mã chứng khoán luôn có thanh khoản trong bất kỳ điều kiện nào của thị trường. Điều quan trọng là doanh nghiệp có sẵn sàng chi trả cho dịch vụ này và công ty chứng khoán sẽ thực hiện như thế nào?  
ĐTCK  

Share:

Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2016

Năm giai đoạn phát triển đến khi bạn trở thành ngôi sao trên các diễn đàn chứng khoán

Khởi đầu với chứng khoán sẽ khó khăn và thua lỗ, nhưng hãy cố gắng đến giai đoạn 5, bạn sẽ thấy mình "siêu việt" như thế nào.

Giai đoạn 1: CHƯA NHẬN RA MÌNH THIẾU NỘI CÔNG

Ở giai đoạn này, các trader mới bắt đầu tham gia thị trường. Họ chưa có kiến thức tốt về phân tích cơ bản, phân tích kĩ thuật. Tuy nhiên, sự thành công của 1 số cá nhân hoặc mong muốn kinh doanh vào một kênh đầu tư lợi nhuận cao đã lôi kéo họ đến kênh đầu tư này.
Điều ngạc nhiên là trong giai đoạn này, các trader có thể có một ít thành công nhất định hoặc thua lỗ không đáng kể và họ nghĩ là họ hoàn toàn có khả năng kiếm tiền ở kênh đầu tư này. Do đó, các trader sẽ tăng số lượng cũng như khối lượng giao dịch. Nhưng sau đó họ sẽ bắt đầu thua.

Giai đoạn này có thể kéo dài từ 1 – 3 tuần.

Giai đoạn 2: NHẬN RA MÌNH CHƯA ĐỦ CÔNG LỰC

Ở giai đoạn này, nhà đầu tư bắt đầu nhận thấy mình còn thiếu kiến thức về thị trường này. Họ sẽ nghiên cứu bằng sách vở, web-site, vào các diễn đàn giao dịch để học hỏi kinh nghiệm và cố gắng thử cách này đến cách khác để kiếm lời, từ các công cụ phân tích kỹ thuật như MA, Fibonacci, DMI, ADX… cho đến các robot tự động trên mạng, hoặc cả các hệ thống giao dịch của các bậc tiền bối đi trước, và thậm chí cả các INDICATOR mà bạn tự nghiên cứu ra theo cách của bạn.

Tuy nhiên, điều đáng buồn là trong khi mọi người khác có thể kiếm lời, bạn vẫn sẽ thua. Vì bạn chưa tìm ra được bộ công cụ phù hợp với bạn, và bạn chưa có được cảm nhận tốt về thị trường sẽ đi như thế nào trong hôm nay.

Giai đoạn này thay đổi tùy theo mỗi người, có thể là một vài tháng, có thể là một vài năm. Trong giai đoạn này, bạn có thể sẽ bị cháy 1, 2 tài khoản. Và tôi khuyên bạn nên cháy tài khoản ảo thay vì tài khoản thật. Và cho đến một lúc nào đó, bạn sẽ nhảy sang một trang mới trong sự nghiệp trader của mình, đó là giai đoạn 3.

Giai đoạn 3: THỜI KHẮC EUREKA

Trong giai đoạn này, bạn chợt nhận ra rằng các hệ thống giao dịch sẽ không tạo sự khác biệt cho các trader. Bạn thấy rằng bạn có thể kiếm tiền chỉ với đường trung bình đơn giản SMA nhưng phải kèm với một cái đầu lạnh và phương pháp quản lý tài chính tốt. Bạn sẽ bắt đầu tìm hiểu về tâm lý giao dịch, quản lí nguồn vốn và thời khắc Eureka sẽ đến với bạn.

Đến lúc này, bạn sẽ nhận ra rằng, không có ai, bao gồm bạn và cả người khác có thể dự đoán được thị trường sẽ đi về đâu trong 10 giây nữa, 20 phút nữa. Bạn sẽ bắt đầu đề ra hệ thống giao dịch của riêng bạn và đặt ra các ngưỡng rủi ro để ngừng giao dịch. Tỉ lệ thành công của bạn sẽ tăng dần, và bạn biết hệ thống giao dịch của bạn hoạt động tốt dựa trên quản lý nguồn vốn và đòn bẩy tốt.

Giai đoạn 4: NHẬN RA MÌNH ĐÃ ĐỦ NĂNG LỰC

Trong giai đoạn này, bạn chỉ vào và ra thị trường khi hệ thống của bạn cho dấu hiệu. Bạn có thể thua dễ dàng nhưng bạn biết bạn thắng nhiều hơn thua, và bạn sẽ hạn chế việc thua đến mức tối thiểu. Giai đoạn này kéo dài khoảng 6 tháng.

Giai đoạn 5: KHÔNG QUAN TÂM MÌNH ĐỦ NĂNG LỰC

Giai đoạn này, tài khoản của bạn sẽ tăng lên nhanh chóng. Bạn vào/ra thị trường như một cổ máy, và việc đó bạn xem bình thường như lái xe. Bạn biết cách kiềm chế cảm xúc, và giữ một cái đầu lạnh khi giao dịch.

Trong các diễn đàn, bạn là ngôi sao, và mọi người sẽ lắng nghe những gì bạn nói. Giao dịch có thể không còn hấp dẫn với bạn nữa, vì như mọi thứ trong đời khi bạn đã quá giỏi bạn sẽ có dấu hiệu chán, và bạn chỉ xem đó là một công việc kiếm tiền mà thôi. Mặc dù bạn là một trader thành công, nhưng bạn sẽ không buồn nói với mọi người, bởi vì đó chỉ là một công việc như bao việc khác mà thôi.
Theo Trí thức trẻ/BSC
Share:

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

Lịch sử Libor (Kỳ 2): Từ con số vô danh đến bê bối chấn động thị trường tài chính quốc tế

Zombanakis hiểu rằng, không có một công ty nào có thể cho một quốc gia đang phát triển đang không có đủ dự trữ ngoại hối để trả nợ vay 80 triệu USD. Do đó, ông đã đưa ra một thỏa thuận chia sẻ rủi ro đến cho một loạt các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Dần dần, loại lãi suất đó đã trở thành ngôi sao trên thị trường ngân hàng mà ông không ngờ tới.

Libor là loại lãi suất quan trọng chi phối nhiều giao dịch trong hệ thống tiền tệ tài chính quốc tế. Vậy Libor ra đời như thế nào và cơ chế hoạt động của nó ra sao?

Vào đầu những năm 70, mặc dù thị trường eurodollar (tức những đồng USD được giao dịch ở bên ngoài nước Mỹ) lúc đó đã được đánh giá là khá phát triển với sự tham gia của rất nhiều ngân hàng bên ngoài Mỹ, Minos Zombanakis vẫn phát hiện ra một lỗ hổng: Thị trường thiếu vắng một khối lượng nợ lớn dành cho những người đang tìm nguồn tài sản bổ sung cho thị trường trái phiếu. Zombanakis thuyết phục cấp trên của mình ở New York cung cấp cho ông 5 triệu USD để xây dựng một chi nhánh ở London. Ông là thành viên của một nhóm nhỏ bao gồm các nhà tài chính quốc tế - những người mở ra cánh cửa cho vay xuyên biên giới lần đầu tiên cho phố Wall kể từ sau cuộc khủng hoảng 1929.

Năm 1956, Zombanakis gặp Farmanfarmaian (về sau là Thống đốc NHTW Iran) lần đầu tiên và kể từ đó họ kết giao tình bạn. Cũng chính vì lẽ đó mà khi chính phủ Iran cần tiền, ông Farmanfarmaian đã đến thẳng văn phòng của Manny Hanny tại phố Upper Brook, Mayfair, London. Zombanakis hiểu rằng, không có một công ty nào có thể cho một quốc gia đang phát triển đang không có đủ dự trữ ngoại hối để trả nợ vay 80 triệu USD. Do đó, ông đã đưa ra một thỏa thuận chia sẻ rủi ro đến cho một loạt các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Với mức lãi suất ở Anh là 8% và lạm phát đang gia tăng, các ngân hàng lúc đó rất thận trọng trong việc cam kết cho vay ở mức lãi suất cố định trong một thời gian dài. (Chi phí đi vay có thể tăng vượt quá khả năng chi trả)

Cuối cùng, Zombanakis và nhóm của ông đã đưa ra một giải pháp: cho vay với một mức lãi suất được chỉnh sửa mỗi tháng một lần và nguồn cung nợ là một chuỗi các khoản ký quỹ. Thực ra công thức tính lãi suất này khá đơn giản. Trước khi nợ đáo hạn, các ngân hàng thành viên sẽ đưa ra báo cáo chi phí cấp vốn. Mức lãi suất trung bình sau khi được tổng hợp từ tất cả các ngân hàng thành viên, cộng với một khoản lợi nhuận sẽ là giá của khoản nợ cho thời hạn tiếp theo. Zombanakis gọi đó là lãi suất liên ngân hàng London, và từ đó cái tên Libor ra đời.

Bảng lãi suất tổng hợp dùng để tính ra lãi suất Libor từ những ngày đầu tiên và ngày nay cũng đang được áp dụng theo công thức này.
Bảng lãi suất tổng hợp dùng để tính ra lãi suất Libor từ những ngày đầu tiên và ngày nay cũng đang được áp dụng theo công thức này.

Đến năm 1982, thị trường cho vay hợp vốn đã tăng lên đến 46 tỷ USD, số lượng tổ chức tài chính tham gia vào thị trường này tăng vọt. Hầu như tất cả các khoản nợ đều sử dụng Libor để tính lãi suất. Chẳng bao lâu, Libor đã lan ra bên ngoài thị trường nợ, với vai trò như một thước đo chi phí đi vay đơn giản, công bằng và trông có vẻ độc lập. Năm 1970, chuyên gia tài chính Evan Galbraith – người sau đó trở thành đại sứ Mỹ tại Pháp dưới thời Tổng thống Ronald Reagan đã đưa ra gợi ý gắn một loại trái phiếu đầu tiên với Libor hay còn được biết với tên gọi trái phiếu lãi suất thả nổi.


Một thời gian sau khi mà số lượng tổ chức tham gia vào thị trường lãi suất Libor tăng vọt, công thức tính Libor loại bỏ 4 lãi suất cao nhất và thấp nhất.
Một thời gian sau khi mà số lượng tổ chức tham gia vào thị trường lãi suất Libor tăng vọt, công thức tính Libor loại bỏ 4 lãi suất cao nhất và thấp nhất.

Khi thị trường tài chính London bắt đầu cất cánh, mọi thứ trở nên phức tạp hơn. Trong vòng vài năm, Libor từ một công cụ định giá chi phí cho vay nợ và trái phiếu đã trở thành một chỉ số chuẩn cho các thỏa thuận phái sinh giá trị hàng trăm tỷ USD. Đứng đầu trong số các thỏa thuận phái sinh là hợp đồng hoán đổi lãi suất – cho phép các công ty giảm thiểu rủi ro biến động lãi suất. Hợp đồng này được phát minh ra trong thời kỳ lãi suất toàn cầu biến động cực mạnh trong những năm 70 và 80.

Mô hình của hợp đồng này khá đơn giản. Hai bên đồng ý hoán đổi chi trả lãi suất với một mức cố định trong một khoảng thời gian cố định, bởi (ở thể đơn giản nhất) một bên trả lãi suất cố định với hy vọng là lãi suất sẽ tăng, trong khi bên còn lại trả lãi suất thả nổi với hy vọng lãi suất sẽ giảm. Phần biến động của hợp đồng này được cố định cho Libor. Bởi loại hợp đồng này yêu cầu lượng tài sản ký quỹ thấp, do đó không chỉ có các công ty mà giới giao dịch cũng cần dùng như một hình thức đầu cơ lãi suất rẻ hơn so với trái phiếu chính phủ.

Dần dần Libor ngày càng trở nên quan trọng và ở thời điểm nó giống như ngôi sao của thị trường tài chính toàn cầu, áp lực đặt lên việc thiết lập lãi suất ngày một tăng cao. Tháng 10/1984, Hiệp hội ngân hàng Anh (BBA) – một tổ chức vận động được thành lập năm 1919 với nhiệm vụ bảo vệ cho lãi suất của Anh đại diện tổng hợp lãi suất Libor từ những ngày đầu đã tham vấn Bank of England và một vài ngân hàng khác về cách tính toán Libor.

Năm 1986, Hiệp hội ngân hàng Anh thêm tiền tố BBA vào trước tên lãi suất Libor trở thành BBA Libor và được tính bằng đồng bảng, USD và đồng yên. BBA thành lập một hiệp hội các ngân hàng bỏ phiếu mỗi ngày và mở rộng phạm vi chấp nhận lãi suất cho cả 4 ngân hàng đưa ra mức lãi suất cao nhất và thấp nhất. Như vậy, lãi suất này lại quay trở về với công thức ban đầu mà Zombanakis đưa ra. Sang đến thế kỷ 21, lãi suất Libor đã được mở rộng cho 10 loại tiền tệ và quy trình tính lãi suất đã được điện tử hoá, ngoài ra không có gì thay đổi.

Vụ bê bối thao túng chấn động 4 năm trước khiến nhiều người giật mình. Tuy nhiên, thực tế, thao túng Libor dễ hơn nhiều so với mọi người tưởng tượng. Lý do khiến giới chức trên toàn thế giới không nhận ra điều này đó là vì ngay cả những ngân hàng cho vay nộp bảng lãi suất quá thấp hoặc quá cao có mặt trong danh sách tính toán lãi suất cuối cùng cũng vẫn có thể ảnh hưởng đến kết quả Libor bởi họ đã kéo một lãi suất trước đó đã bị loại bỏ trở lại bảng.

Với rất nhiều vị thế khác nhau, giới giao dịch chỉ cần một vài 0,01% là có thể tạo ra một khoản lợi nhuận khổng lồ, và sức ảnh hưởng của họ thì rất nhỏ, đủ để tránh khỏi tầm ngắm của giới chức. Trong một danh mục hoán đổi lãi suất trị giá 100 tỷ USD, một ngân hàng có thể giành được hàng triệu USD từ sự thay đổi của 0,01%.

Cách tính toán Libor không chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận mà các ngân hàng và giới đầu tư thạo đời kiếm được nhờ các giao dịch phái sinh, nó còn phản ánh mức lãi suất người mua nhà trả cho khoản thế chấp của họ mỗi tháng. Và những người nghèo có hồ sơ tín dụng xấu cũng bị ảnh hưởng một cách không công bằng. Cụ thể như ở Ohio, 90% khoản cho vay thế chấp dưới chuẩn năm 2008 gắn với Libor.

Trải qua nửa thế kỷ, Libor vẫn là một chỉ số quan trọng và cố định trong hệ thống tài chính toàn cầu. Sau vụ bê bối chấn động năm 2012, giới chức đã đề cập đến việc kết thúc cuộc đời của loại chỉ số cơ bản này và thay thế nó bằng một chỉ số khác phản ánh tình hình giao dịch thực tế nhiều hơn là dựa trên những gì các ngân hàng nói. Nhưng điều đó là không thể xảy ra, bởi con số này đã có mặt trong rất nhiều hợp đồng tồn tại đến hàng chục năm.

Năm 2014, BBA bị cắt bỏ vai trò quản lý Libor và bị thay thế bởi Intercontinental Exchange – cơ quan quản lý giao dịch phái sinh của nước Mỹ. Ngày nay Libor được dựa trên một phần là các giao dịch thực tế, nhưng vẫn bao gồm sự tham gia của các ngân hàng.

Anh Sa
Theo Trí thức trẻ/Bloomberg
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?