Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn nước mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nước mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2017

Đây là người đàn ông sẽ đảo lộn trật tự kinh tế thế giới?

Peter Navarro cho rằng “trật tự tự do giao thương” mà thế giới đã duy trì suốt 70 năm qua là không công bằng đối với nền kinh tế lớn nhất thế giới. Những nước như Trung Quốc đang triển khai chiến thuật “xâm lược bằng cách mua lại”, thâu tóm nhiều tài sản Mỹ.


Hôm 6/3, trong 1 bài phát biểu trước Hội đồng kinh doanh kinh tế quốc gia (NABE), Chủ tịch Ủy ban thương mại Mỹ Peter Navarro đã đưa ra những vấn đề chủ chốt trong chương trình nghị sự về thương mại của mình.

Luận điểm đáng chú ý nhất trong bài phát biểu của ông cho rằng “trật tự tự do giao thương” mà thế giới đã duy trì suốt 70 năm qua là không công bằng đối với nền kinh tế lớn nhất thế giới. Những thỏa thuận tồi tệ khiến những việc làm giá trị nhất bị cướp khỏi tay người Mỹ. Mỹ cũng bị cô lập trên thị trường nước ngoài. Những nước như Trung Quốc đang triển khai chiến thuật “xâm lược bằng cách mua lại”, thâu tóm nhiều tài sản Mỹ.

Không chỉ riêng Trung Quốc bị chỉ trích, Navarro đã liệt kê 15 quốc gia khác, thậm chí trong đó có rất nhiều nước là đồng minh của Mỹ. Ông khẳng định những nước này đang khiến thâm hụt thương mại của Mỹ gia tăng bằng cách xuất siêu. Theo Navarro, đây chính là nguyên nhân khiến kinh tế Mỹ trì trệ trong nhiều thập kỷ gần đây.

Bài phát biểu này bổ sung thêm cho bài bình luận được đăng trước đó trên tờ Wall Street Journal – bài viết làm dấy nên nỗi lo sợ trong cộng đồng kinh tế học. Trong đó Navarro tuyên bố ông sẽ đi theo những nước được gọi là thao túng tiền tệ và không có nghĩa vụ phải hiểu về Export-Import Bank - ngân hàng chuyên giúp đỡ nguồn vốn cho các doanh nghiệp đầu tư và mở rộng hoạt động ở nước ngoài (ngân hàng này đã bị phe cánh hữu chỉ trích).

Ông cũng muốn Mỹ “ép” các nước như Đức phải hủy bỏ đồng euro và xóa bỏ các hiệp định thương mại đã tồn tại lâu đời. Ông không thừa nhận những lập luận như nếu làm vậy Mỹ sẽ bị trả đũa hoặc tự động hóa mới là thứ khiến việc làm không thể quay trở lại như trước.

Nhìn vào những lý lẽ này, một số người cho rằng Navarro đã trở thành “người đàn ông nguy hiểm nhất đối với kinh tế thế giới”.

Hãy cho người đàn ông này một cỗ máy thời gian

“Chúng tôi đang cố gắng hướng về tương lai”, Navarro khẳng định khi miêu tả nền kinh tế Mỹ mà ông đang hướng đến.

Tuy nhiên, thực sự thì viễn cảnh mà Chủ tịch Ủy ban thương mại Mỹ đưa ra lại tồn tại đâu đó trong những năm 1970. Navarro muốn mang những việc làm “cấp 2 và cấp 3”, những việc làm gắn chặt với chuỗi cung tứng toàn cầu, quay trở lại nước Mỹ để giảm thâm hụt thương mại với các quốc gia khác.

Theo ông, thâm hụt thương mại chính là lực cản lớn nhất đối với nền kinh tế. Nhưng đây có vẻ là một suy nghĩ sai lầm. Thâm hụt thương mại không hề liên quan đến tăng trưởng GDP. Và đối với những việc làm mà ông muốn đem về, một phần đã “chạy” sang những nước có chi phí nhân công thấp nhưng cũng có một phần không nhỏ mất đi vì tự động hóa – điều mà Navarro không công nhận.

“Hoạt động sản xuất hàng hóa công nghiệp có hệ số nhân việc làm cao hơn và cũng đem lại mức lương cao hơn”, ông nói. “Để có thể tăng số việc làm mới và tăng lương, để những nơi từng là trung tâm công nghiệp hùng mạnh như Ohio, Michigan, North Carolina và Pennsylvania có thể hồi sinh, chúng ta phải tập trung vào việc mở rộng và hậu thuẫn cho các vùng công nghiệp bằng những chính sách ưu đãi về thuế, luật lệ quản lý hay năng lượng.

Nhưng sự thật là ở thời điểm hiện tại, khu vực hứa hẹn nhất và đóng vai trò quan trọng nhất đối với kinh tế Mỹ lại không phải là công nghiệp. Đó là ngành dịch vụ, từ những nhân viên trong siêu thị đến tài xế taxi hay nhân viên ngân hàng và y tá. Và mức lương của ngành này cũng có rất nhiều cấp bậc.
Có tới 76,5% lao động Mỹ làm việc trong ngành dịch vụ, so với mức 10,4% của ngành sản xuất.
Có tới 76,5% lao động Mỹ làm việc trong ngành dịch vụ, so với mức 10,4% của ngành sản xuất.

Ông Navarro quả quyết rằng thay vì đào tạo nhân lực cho ngành dịch vụ, Chính phủ nên tập trung vào việc “lấy lại chuỗi cung ứng và khả năng sản xuất”.

Ông còn gắn vấn đề thâm hụt thương mại và sản xuất của nước Mỹ vào 16 nước được cho là “có vấn đề”, bao gồm nhiều đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đức.

“Trong khi tỷ lệ người lao động Mỹ làm trong ngành sản xuất hiện chỉ là 8%, ở Đức – một trong những nước tự động hóa phát triển mạnh nhất thế giới, tỷ lệ vẫn là 20%”.

Năm 2014, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ước tính nếu ngành sản xuất của Mỹ đứng riêng rẽ, nó sẽ là nền kinh tế lớn thứ 8 thế giới. Toàn bộ nền kinh tế Đức lớn thứ 4 thế giới. Lee Branstetter, giáo sư ĐH Carnegie Mellon, mỉa mai nói với Business Insider rằng “thứ tốt nhất mà người Đức có thể làm là những bộ chế hòa khí. Họ làm ra ổ trục bánh xe và hệ thống phun xăng. Thật kỳ lạ là chuyên gia kinh tế hàng đầu trong nội các của ông Trump lại muốn chúng ta giống như vậy”.

Kẻ thù ở khắp nơi

Nếu Navarro muốn nước Mỹ giống với Đức, Mỹ sẽ giống như “một người phụ nữ da trắng độc thân”. Ông ghen tị với ngành công nghiệp của nước Đức, nhưng ông cũng gọi Đức là một kẻ thao túng tiền tệ để ở trong Eurozone.

“Đức sử dụng lý lẽ là thành viên của eurozone để không ký hiệp định thương mại song phương với Mỹ - điều có thể đúng mà cũng có thể sai. Đức sẽ là một trong những nguồn khiến Mỹ thâm hụt thương mại mà chúng ta khó đối phó nhất”, ông nói.

Lập luận này có thể đúng, nhưng điều đáng lo ngại là Navarro đang muốn can thiệp cả vào chuyện nội bộ của nước khác. Ông còn tỏ ra lo ngại về làn sóng thâu tóm doanh nghiệp Đức của Trung Quốc: “Sự thật là – tôi chưa thể kiểm chứng thông tin này, nhưng một số người nói với tôi thông tin này là đúng – mỗi ngày trôi qua đều có 1 doanh nghiệp Đức bị Trung Quốc thâu tóm”.

Những lo ngại về nguy cơ các đối tác thương mại trả đũa và Mỹ sẽ phải trả giá đắt bị Peter Navarro bác bỏ hoàn toàn. “Đối với tôi, đây là lập luận vô căn cứ bởi nó giả định rằng những người nghèo nhất trong xã hội Mỹ sẽ có thể mua hàng hóa rẻ hơn cùng với một việc làm tốt và mức lương tốt”.

Lập luận của Navarro khiến các chuyên gia kinh tế “đứng ngồi không yên” vì lo lắng. Tuy nhiên điều may mắn là những động thái gần đây cho thấy đội ngũ kinh tế của Tổng thống Trump vẫn chưa vội vã hành động.

Tuần trước, Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross nói với CNBC rằng ông không coi Đức là nước thao túng tiền tệ. Và ít nhất tới tháng 4 Bộ trưởng Tài chính Steve Mnuchin mới đưa ra quyết định liệu Trung Quốc có thao túng tiền tệ hay không.

Thu Hương
Theo Trí thức trẻ/Business Insider
Share:

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

7 bài học kinh doanh trường Harvard dạy bạn

Dưới đây là 7 bài học kinh doanh của Trường Harvard mà tác giả Richard Feloni rút ra sau khi tham gia một khóa học kinh doanh trực tuyến của ngôi trường nổi tiếng này. Bài viết đăng trên Business Insider.

Richard Feloni cho biết, thông qua những bài tập tình huống sát với thực tế, các học viên được cung cấp những kiến thức nền tảng nhất liên quan đến cách thức hoạt động của một công ty cũng như những chiến thuật kinh doanh đánh vào yếu tố tâm lý của người tiêu dùng, giúp tối đa hóa lợi nhuận cho những công ty này.

1. Người chiến thắng cũng có thể là kẻ thua cuộc

Điều này thể hiện rõ nhất trong các buổi đấu giá sôi động trên thế giới. Nếu những người tham gia phiên đấu giá không nắm đầy đủ thông tin về giá trị món hàng thì việc người nào đó giành chiến thắng sẽ là chuyện rất ngẫu nhiên. Đó có thể là bất kỳ ai miễn là họ trả giá cao hơn những người khác.

Feloni lý giải, việc một người định giá món hàng thấp hơn giá trị thực của chúng và người trả đúng giá trị của món hàng có một điểm chung là chúng chẳng mang về cho họ chút lợi nhuận nào (thặng dư= 0). Nhưng họ đều không thắng đấu giá.

Người chiếm được quyền sở hữu món đồ đó - tức người thắng đấu giá nhờ trả giá cao hơn 2 người kia - là người đã định giá quá cao giá trị của món hàng. Trong trường hợp này, không những không có lợi nhuận, họ còn bị "thâm hụt" do phải trả cao hơn giá trị thật của sản phẩm.

2. Những bộ sản phẩm tối đa hóa giá trị đồng nghĩa với sự lãng phí

Hầu như ai cũng từng một lần mua trọn bộ một gói sản phẩm mà trong đó có những thứ bản thân thực sự không cần đến.

Ví dụ: Bạn thật sự cần Microsoft Word, và có khả năng sử dụng Power Point, rồi bạn phát hiện ra mình có thể dùng Excel trong một vài tình huống. Thế nên, so với việc chỉ mua Word như dự tính ban đầu, bạn thấy sẽ tiện lợi hơn nếu có nguyên bộ sản phẩm, và rồi bạn bắt đầu cân nhắc việc trả thêm tiền để mua trọn bộ sản phẩm.

Cái hay của việc kinh doanh gói sản phẩm này là nó tối đa hóa doanh thu cho doanh nghiệp không phải vì nhu cầu thực sự của khách hàng, mà vì sở thích của họ.

Cuối cùng, Microsoft sẽ chiến thằng bằng cách tạo ra chính sách phân biệt giá, một chiến lược mà trong đó những hàng hóa giống nhau sẽ được bán với mức giá chênh lệch tại những thị trường khác nhau; giống như việc bạn phải trả đủ tiền cho bộ sản phẩm gồm khăn giấy (theo nhu cầu của mình) và thêm một vài loại khăn giấy đang khuyến mãi khác chỉ vì bạn được tặng phiếu giảm giá.

3. Giá trần và giá sàn có thể chỉ làm phức tạp hóa vấn đề

Năm 2012, nước Mỹ bị tàn phá nặng nề bởi siêu bão Candy. Khi đó, tại bang New York, các nhà bán lẻ xăng dầu đã lợi dụng tình trạng khan hiếm nhiên liệu để bán chúng với giá "cắt cổ".
Người dân New York xếp hàng dài chờ đổ xăng

Việc người dân đổ xô đi mua nhiên liệu với giá cao đã khiến giá cả bị "đội" lên, nguồn cung thì khan hiếm trong khi nhu cầu mua hàng lại ngày một tăng cao. Điều này dẫn đến việc New York xảy ra tình trạng thiếu hụt nhiên liệu và người dân phải xếp hàng dài chờ mới mua được nhiên liệu.

Ngay sau sự việc đó, Chính quyền bang New York đã phải ban hành đạo luật "Chống giá cắt cổ" (anti-price gouging law) nhằm ngăn chặn tình trạng này. Mức "giá trần" được đặt ra. Đây là mức giá cao hơn giá cân bằng (giá sàn - là giá trị mà tại đó lượng cung sẽ bằng lượng cầu) và các công ty không được tăng vượt mức giá này.

Tuy nhiên, việc không được bán với giá vượt mức "giá trần" khiến các công ty ở những bang khác không đủ động lực để vận chuyển xăng dầu đến bán cho khách hàng ở New York, tình trạng khan hiếm lại càng nặng hơn, dẫn tới việc xảy ra xô xát giữa người dân khi họ không kiếm được khí đốt dùng để sưởi ấm cho mùa Đông.

Trường hợp giá trần, giá sàn không có tác dụng cũng xảy ra tương tự đối với mức lương tối thiểu, khi chính quyền quyết định áp mức giá sàn (giá tối thiểu) cho một thị trường lao động có độ co giãn. Khi đó, đã có nhiều công nhân chấp nhận làm tăng ca để được trả thêm tiền, dẫn đến tình trạng dư thừa sức lao động và kéo theo tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.

4. Chi phí cố định không liên quan tới việc định giá sản phẩm

Những chi phí cố định như tiền thuê nhà hay đầu tư trang thiết bị sẽ không chịu ảnh hưởng bởi việc tăng hay giảm giá sản phẩm. Cho dù loại chi phí này có ảnh hưởng đến quyết định sáp nhập hay tiếp tục kinh doanh của công ty thì nó cũng không liên quan đến việc định giá sản phẩm.

Ví dụ: Nếu bạn bỏ ra 300.000USD để mở một quán cà phê và bán một ly cà phê với giá 2USD thì bất cứ khoản tiền nào kiếm được từ 2USD cũng là lợi nhuận. Vì thế, nếu bạn quyết định hạ giá bán ly cà phê thấp hơn 2USD (để cạnh tranh với đối thủ khác) thì con số 300.000USD ban đầu cũng không "ảnh hưởng" gì, chỉ có mức lợi nhuận mà bạn kiếm được bị giảm đi thôi.

Do đó, chi phí cố định không được lấy làm cơ sở để định giá sản phẩm. Giá bán sản phẩm được xác định dựa trên chi phí sản xuất (như nguyên vật liệu, bao bì, nhân công...)

5. Mẫu ngẫu nhiên được tin cậy

Nếu bạn đang đo lường mức độ tác động của một biến số đối với mật độ phân bố dân cư, ví dụ như khoảng cách từ khu vực ngoại ô đến trung tâm thành phố ảnh hưởng thế nào tới giá nhà đất nơi đó, thì mức trung bình mẫu sẽ có phân phối chuẩn (còn được gọi là Đường cong chuông), theo Định lý giới hạn trung tâm.

Mức trung bình của Đường cong chuông này sẽ cho kết quả xấp xỉ với mức trung bình thực của mật độ dân cư tại đó.
Định lý giới hạn trung tâm

Tuy nhiên, trong thực tế, không ai lại tốn nhiều thời gian và nguồn lực để khảo sát một lượng lớn mẫu và ngồi tính toán trung bình.

Thay vì vậy, với độ tin cậy khoảng 95%, từ giá trị trung bình một số mẫu đã có, ta sẽ tính được độ lệch chuẩn của mức trung bình dân số. Nếu không đi sâu vào toán học thì đây là cách chúng ta có thể tự tin xác định phạm vi các giá trị được tính từ một mẫu.

6. Khấu hao tài sản và giá trị hàng tồn kho không phụ thuộc tình hình kinh doanh

Khi một nhà máy đóng chai "tậu" được một máy đóng chai mới thì công ty sẽ quyết định cách tính giá trị hao mòn của nó - tức là cách xác định khấu hao dựa vào thời gian sử dụng.

Có hai cách chính để lựa chọn là khấu hao nó theo phương pháp đường thẳng (tức mức khấu hao hằng năm sẽ không thay đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản), và phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh (tức chi phí được ghi nhận trong những năm đầu sẽ nhiều hơn so với những năm sau đó).

Tương tự, khi một công ty sản xuất nước trái cây thay đổi giá của một sản phẩm thì có thể định giá giá trị hàng tồn kho của mình bằng hai phương pháp: Đó là nhập trước - xuất trước (FIFO), tức là những chai nước ép được nhập vào kho lâu nhất sẽ được ghi nhận là xuất đầu tiên; hoặc là Nhập sau - xuất trước (LIFO), tức những hàng hóa nhập kho gần nhất sẽ được xuất ra trước.

Cả hai phương pháp này đều không phụ thuộc vào tình hình kinh doanh thực tế của công ty.

7. Cách dòng tiền lưu thông tiết lộ "sức khỏe" của công ty

Những thông báo định kỳ về dòng tiền hiện có của công ty cho thấy cách mà lượng tiền mặt này dịch chuyển "ra", "vào" từ những hoạt động như kinh doanh (sản xuất sản phẩm), đầu tư (khoản tiền mặt chủ yếu sẽ liên quan đến những tài sản dài hạn như bất động sản, trang thiết bị), và những hoạt động tài chính (tiền mặt tăng lên liên quan đến việc tăng vốn đầu tư hay chi trả lợi nhuận cho các nhà đầu tư).

Và sau đây là cách giải thích cụ thể hơn:

- Khởi nghiệp: Thông thường dòng tiền trong giai đoạn này sẽ đi ra, "đổ" vào công việc kinh doanh, đầu tư bên ngoài cùng hoặc chi trả cho những biến động lớn trong ngành tài chính.

- Sinh lãi (Giai đoạn tăng trưởng): Lượng tiền mặt thu được từ hoạt động kinh doanh sẽ "chảy" vào ngân sách công ty, đồng thời dòng tiền sẽ chuyển ra bên ngoài tiếp tục đổ vào dự án đầu tư, hay mất mát do những biến động tài chính.

- Mở rộng vốn (Giai đoạn ổn định): Tương tự như giai đoạn tăng trưởng, tuy nhiên lúc này sẽ có một ít dòng vốn ra khỏi công ty dành cho việc đầu tư, thay thế thiết bị đã cũ và lượng tiền mặt đổ vào hoạt động tài chính bên ngoài cũng nhiều hơn (dùng để trả các khoản vay hoặc chi trả cổ tức cho cổ đông).

- Thoái vốn (Giai đoạn suy giảm): Lúc này công ty đang trong giai đoạn suy giảm nên dòng vốn thường lưu thông ra bên ngoài nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh, đồng thời sẽ có thêm dòng vốn chảy vào công ty nhờ những hoạt động đầu tư (ví dụ: bán tháo các tài sản không dùng đến), và dòng vốn lưu thông ra-vào từ những hoạt động tài chính (nhiều khả năng công ty không tìm những khoản vay mới hoặc gặp khó khăn trong việc trả lương cho nhân viên).
 (Doanh Nhân Sài Gòn)

>> 12 lời khuyên khiến bạn phải bỏ việc ngay lập tức để trở thành doanh nhân

Share:

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

12 bài học kinh doanh từ Starbucks

Năm 1971, một tiệm café được mở tại khu chợ lịch sử Pike Place ở Seattle. Quán café này sau đó đã trở thành tiệm café của thương hiệu café lớn nhất thế giới - Starbucks.

Với hơn 21.000 cửa hàng tại 65 quốc gia, Starbucks hiện là một trong những công ty tăng trưởng nhanh nhất nước Mỹ. Công ty này đã mở rộng mạng lưới từ 425 cửa hàng vào năm 1994 đến 19.767 cửa hàng vào năm 2013.

Theo INC, có 12 bài học kinh doanh mà các doanh nghiệp (DN) có thể học được từ thương hiệu này. 

1. Bám sát sứ mệnh 

Starbucks chỉ có duy nhất sứ mệnh đơn giản là nuôi dưỡng và truyền cảm hứng cho cộng đồng. Starbucks vừa là một người bạn, một ly café và một đồng nghiệp của khách hàng.

Sứ mệnh này đã theo sát công ty trong suốt 4 thập kỷ qua. Định vị bản thân không chỉ là một tiệm café đơn tuần, Starbucks biến các cửa hàng của mình thành nơi để khách hàng có thể tạm trốn khỏi những bộn về của công việc thường nhật. Mặt khác, cửa hàng còn trở thành trung tâm của những cuộc tụ họp bạn bè hoặc đàm phán công việc dành cho các doanh nhân.

Starbucks muốn đưa đến thông điệp rằng, bất kể khách hàng bao nhiêu tuổi, sống ở đâu, làm nghề gì thì đều có chung một trải nghiệm tại Starbucks.

2. Hỏi ý kiến khách hàng
Nếu bạn từng đến những quán Starbucks nằm ngoài địa điểm quen thuộc mình hay đến, bạn có thể sẽ nhận ra rằng nhân viên của quán thỉnh thoảng sẽ hỏi bạn đang tìm kiếm điều gì. Đây là một kỹ thuật đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả trong dịch vụ chăm sóc khách hàng mà những người kinh doanh dịch vụ đều biết.


Khi bạn tìm hiểu được nhu cầu tìm kiếm hiện tại của khách hàng, bạn có thể cùng người đó tìm ra những lựa chọn phù hợp cho bản thân. Điều này giúp gia tăng sự gắn kết của khách hàng với DN.

3. Hiểu khách hàng, hiểu cả nhân viên
 
Nhân viên là cánh tay trung gian giúp bạn chuyển tải những giá trị trong dịch vụ đến khách hàng. Vì vậy, bạn cần phải hiểu cả nhân viên của bạn. Khi đã hiểu, bạn sẽ khai thác được những tiềm lực của mỗi nhân viên của mình.


Dòng sản phẩm độc quyền Frappuccino của Starbucks là sáng tạo của một nhân viên tên Dina Campion của Công ty.

4. Hãy sáng tạo
Cửa hàng Starbucks ở New Delhi
Starbucks được xây dựng trên nền tảng gắn kết chặt chẽ với các giá trị cốt lõi ban đầu, song công ty cũng là nơi phát huy mạnh mẽ sự sáng tạo.

Ví dụ, khi nhận ra rằng khách hàng có nhu cầu ngồi lại quán lâu hơn, Starbucks đã bắt đầu cung ứng dịch vị Wifi miễn phí từ năm 2010. Khi nhận ra rằng khách hàng muốn các sản phẩm chế biến tại nhà, Starbucks đẩy mạnh cung ứng bộ café pha sẵn mang tên Via và hệ thống máy pha café Verismo.

Hiện nay, Công ty còn cho phép khách hàng trả tiền qua ứng dụng của iPhone. Đây là công ty đầu tiên áp dụng công nghệ này trong thị trường kinh doanh dịch vụ café tại Mỹ.

Duy trì những yếu tố cốt lõi truyền thống là tốt, nhưng hãy đủ linh hoạt để chấp nhận và chào đón các thay đổi mới để thích nghi với môi trường kinh doanh đang không ngừng thay đổi. 

5. Hãy có trách nhiệm 

Trong cung cấp dịch vụ, thỉnh thoảng chúng ta luôn có những sai lầm, ví dụ ghi nhầm thức uống, tính nhầm hóa đơn... Điều tạo nên khác biệt giữa các đơn vị chính là khả năng nhanh chóng nhận lỗi và sửa sai đối với khách hàng.

Bạn cần đảm bảo là đã tập huấn cho nhân viên đủ linh hoạt để xử lý có trách nhiệm trong các tính huống nhầm lẫn đáng tiếc. 

6. Đi ngược chiều gió 

Bạn sẽ nhận ra rằng Starbucks có mặt ở hầu hết các ngã tư trong những thành phố mà thương hiệu này xuất hiện. Điều này nằm trong một chiến dịch của Starbucks.

Thay vì chỉ tập trung vào những khu vực đông dân cư, những khu vực có xuất hiện đối thủ cạnh tranh, Starbucks chọn có mặt tại tất thảy các ngã tư mà nó có thể thuê được mặt bằng. Điều này có thể gây lên áp lực trong chi phí đầu tư nhưng lại giúp Starbucks hạn chế được tối đa cơ hội của các đối thủ cạnh tranh khác.

Về chiến lược, thỉnh thoảng bạn cần phải "đi ngược chiều gió", làm những điều mà các daonh nghiệp khác không làm. Các quyết định này đầy mạo hiểm nhưng cũng mang lại giá trị lợi nhuận lớn hơn gấp nhiều lần cho DN. 

7. Đẩy mạnh truyền thông mạng xã hội

Hầu hết chúng ta đều đồng ý rằng mạng xã hội đang đóng vai trò quan trọng trong quảng cáo và marketing hiện đại. Tuy nhiên, không phải ai cũng tối ưu hóa được hiệu quả của chúng.

Starbucks trong nhiều năm qua đã kiên trì kể câu chuyện thương hiệu của mình trên Instagram. Mạng xã hội chia sẻ hình ảnh này đã giúp công ty không chỉ quáng bá cả sản phẩm mới mà còn lan tỏa giá trị Starbucks thông qua các hình ảnh khách hàng thưởng thức café tại cửa hàng cùng bạn bè, hoặc kết quả công việc sáng tạo của các nghệ sĩ khi uống café Starbucks.

Bài học của Starbucks không chỉ ở việc quản trị một chiến dịch marketing về mạng xã hội mà còn nằm ở việc chọn mạng xã hội phù hợp để gắn kết với những khách hàng mục tiêu của DN. 

8. Mọi thứ đều quan trọng

 Chú ý hoàn thiện từng chi tiết nhỏ nhất liên quan đến hình ảnh thương hiệu.
Khi một kế toán đề nghị cắt giảm chi phí cho công ty bằng việc thay giấy sử dụng trong nhà vệ sinh từ hai lớp sang một lớp, Starbucks đã từ chối. Vì Starbucks nhận ra rằng việc làm mỏng đi tờ giấy vệ sinh sẽ đối lập với hình ảnh một "thương hiệu sang trọng với giá phải chăng" mà công ty đề ra. 

9. Chọn đúng đối tác

Trong nhiều năm kinh doanh, Starbucks có lượng đối tác khổng lồ để mở rộng mạng lưới. Ví dụ, Starbucks đã hợp tác với cửa hàng bán sách nổi tiếng thế giới là Barnes & Noble vào năm 1993 để cung ứng café tại các cửa hiệu sách của thương hiệu này.

Gần đây, thương hiệu này lại hợp tác với Apple cho phép khách hàng có thể trả tiền mua một ca khúc họ vừa nghe trong quán café từ iTunes.

Công ty cũng liên kết với các tổ chức như Hội chữ thập đỏ Mỹ, Global Green USA, và Save the Children trong các chiến dịch thực hiện trách nhiệm xã hội của DN.

Tùy vào mục tiêu đề ra mà DN cần chọn đúng đối tác phù hợp trong từng lĩnh vực. Hợp đồng hợp tác nên mang đến lợi ích tương xứng cho cả hai bên. 

10. Nhất quán trong kinh doanh

 Đây là yếu tố quan trọng để duy trình sự trung thành của khách hàng với thương hiệu. Nếu bạn mang đến cho khách hàng một trải nghiệm độc đáo bằng dịch vụ của mình trong lần đầu tiên sử dụng, họ sẽ mong đợi được như vậy trong những lần sau.

Starbucks đảm bảo chất lượng của mọi sản phẩm cung ứng đều đồng nhất tại mọi cửa hàng chi nhánh của công ty. 

11. Địa phương hóa sản phẩm
Cửa hàng Starbuck mang phong cách châu Âu ở Amsterdam

Bên cạnh giữ chất lượng đồng nhất, điều quan trọng trong mô hình kinh doanh chuỗi là bạn phải địa phương hóa các sản phẩm của mình cho phù hợp với từng vị trí đặt cửa hiệu kinh doanh. Đối với Starbucks, một ly café sữa ở mọi khu vực bờ biển là như nhau, nhưng tùy mỗi nơi lại có những cải biến cho phù hợp thị hiếu khách hàng khu vực.

Starbucks nhấn mạnh vào hình ảnh một thương hiệu café địa phương hơn là mang tính quốc gia. Điều này hoàn toàn phù hợp với tiêu chí mang đến trải nghiệm thân thuộc cho mỗi người dùng của thương hiệu. 

12. Chọn nhà lãnh đạo phù hợp 

Vào năm 2007, doanh thu của Starbucks bị sụt giảm mạnh. Là người lãnh đạo, Howard Schultz đã nhận ra rằng Công ty đã đi lệch ra khỏi định hướng ban đầu.
"Tối đa hóa lợi nhuận đã trở thành mục tiêu chính trong kinh doanh, trong khi mục tiêu của Starbucks là tối đa hóa trải nghiệm cá nhân cho khách hàng", ông cho biết.

Giải pháp của Schultz trong thời điểm đó là tập hợp 10.000 quản lý của tất cả các cửa hàng về một hội nghị tổ chức suốt 4 ngày tại New Orleans. Trong khoảng thời gian này, Schultz đã xác lập lại mục tiêu, truyền cảm hứng và đặt ra các thách thức cho các nhân viên. Kết quả là 10.000 quản lý này khi trở về đã tạo nên làn sóng thay đổi trong phong cách phục vụ khách hàng. Đến năm 2013, lợi nhuận quay trở lại với Starbuckss.

Điều này cho thấy tầm quan trọng của một nhà lãnh đạo sáng suốt, và chấp nhận thay đổi sẽ kịp thời giải cứu DN khỏi thất bại.
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?