Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 2, 2016

Xu hướng marketing mới: Content curation

Nội dung tự sáng tác nếu được duy trì đều đặn trong khoảng thời gian dài sẽ rất hữu ích cho các nỗ lực marketing của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây không phải là cách duy nhất và thực sự cần thiết cho mọi tổ chức.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VsKG3ECAZFp
Các nhà làm marketing (marketer) hiện đại đang tạo ra một xu hướng làm marketing mới - content curation (tạm dịch là chọn lọc và biên tập nội dung).

Phương thức hoạt động của content curation là lựa chọn thông tin, biên tập và xây dựng những nội dung bài viết mới dựa trên những nguồn thông tin có sẵn.

Theo đó, người viết lựa chọn những nguồn thông tin sẵn có, sắp xếp trên một bài viết về cùng một chủ đề hoặc thành nhiều chủ đề khác nhau trên blog, xuất bản bài viết và thực hiện chia sẻ bài viết đó trên các mạng xã hội như Facebook, Pinterest, Twitter, Slideshare…

Khi tiến hành một cách khéo léo, content curation là một cách để tổng hợp và chia sẻ những quan điểm và góc nhìn của nhiều người theo một cách hợp lý. Các nội dung mới mẻ này khác biệt ở chỗ nó có thêm những giá trị và sự đúc rút riêng của người viết. Tận dụng hiệu quả content curation, các công ty tạo cho mình hình ảnh của một nhà lãnh đạo tư tưởng với chuyên môn đỉnh cao.

Một khảo sát mới đây của Curata (trang web hỗ trợ chọn lọc và sáng tạo nội dung), 95% marketer được hỏi cho biết họ có chia sẻ nội dung của các tổ chức khác. Hầu hết các marketer dành phần lớn thời gian và công sức để tập trung vào việc chọn lọc và tổng hợp thông tin. Và dưới đây là những lý do chính:

Tạo dựng hình ảnh lãnh đạo tư tưởng

Xu hướng marketing mới không có chỗ cho những nhà điều hành thiếu sáng tạo. Ở thời đại bùng nổ thông tin, mỗi công ty đều cần duy trì hình ảnh là một tổ chức hoạt động dựa trên thông tin, và định hình bản thân là một nhà lãnh đạo tư tưởng. Để làm được điều này, mỗi cá nhân trước hết cần chứng minh những nhận định của bản thân là dựa trên những nguồn thông tin đáng tin cậy. Những nội dung tự sáng tác không thể tự chứng minh cho chính nó cũng như không thể khiến công ty trở thành một tổ chức lãnh đạo tư tưởng.

Với việc tiếp thu và chia sẻ các nguồn thông tin, các công ty tự đặt mình ở vị trí dẫn đầu xu hướng, tạo nên ảnh hưởng cho toàn bộ lĩnh vực. Sự chọn lọc và sử dụng thông tin mang lại cho công ty cơ hội hợp tác với nhiều đối tượng, gia tăng các mối quan hệ và xây dựng hình ảnh nhà lãnh đạo thực thụ.

Tăng tỷ lệ hiển thị, tiếp cận và gắn kết

Để có được mạng lưới khách hàng vững mạnh và trung thành, doanh nghiệp phải tận dụng được những nguồn lực đáng giá. Tuy nhiên, hơn 64% các marketer vẫn gặp khó khăn trong việc tạo nên những thông tin thực sự giá trị để đạt được mục đích này.

Một trong những cách tốt nhất để gia tăng tỷ lệ tiếp cận (reach) và gắn kết (engagement) trên các kênh truyền thông xã hội là chia sẻ những bài viết có liên quan và phù hợp với thị hiếu. Đó là những nội dung mà người đọc thực sự quan tâm, chủ động tìm kiếm và muốn hấp thu. Ví dụ, chia sẻ các video là cách làm hiệu quả trong content curation. Những post có kết hợp với video sẽ tạo ra nhiều lượt click hơn gấp 3 lần so với những post chỉ có chữ không.


Tóm lại, một trong những lý do chính khiến bạn phải đầu tư vào content marketing ngay từ đầu là bạn có thể dẫn dắt những chủ đề bàn luận về các vấn đề được các followers (người theo dõi) và bạn bè quan tâm. Và chia sẻ những câu chuyện hay là một cách hữu hiệu để đạt được mục tiêu đó.

Tiết kiệm thời gian và chi phí

Thật khó có thể sáng tạo những nội dung độc đáo nếu không được đầu tư đủ những tài liệu và thông tin cần thiết. Theo một khảo sát gần đây của trang Marketing Professionals, gần một nửa các marketers được hỏi thừa nhận rằng họ khó có thể sáng tạo được nội dung bởi tổ chức của họ không chia sẻ đủ các thông tin cần thiết.

Sáng tạo những nội dung mới một cách đều đặn là một thách thức đối với tất cả các công ty. Sử dụng những tài liệu sẵn có giúp giảm bớt gánh nặng công việc và giúp định vị những mối quan tâm thật sự của các đối tượng mục tiêu.

Đẩy mạnh làm SEO

Ngày nay, sự hiện diện trên môi trường trực tuyến là yếu tố quan trọng quyết định thành công của một doanh nghiệp. Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (Search engine optimization - SEO) chịu sự chi phối của khá nhiều yếu tố, bao gồm sự cân bằng giữa các nội dung curation và các nội dung tùy chỉnh chất lượng cao trên các website, blog, mạng xã hội và các kênh truyền thông khác.

Theo khảo sát, hơn 50% người được hỏi cho rằng những nội dung curation làm gia tăng thứ hạng tìm kiếm của họ cũng như lưu lượng truy cập trang web.

Cũng nên lưu ý rằng curation thường chỉ có hiệu quả khi được quản lý tốt. Ví dụ, nội dung do người dùng tạo ra là một trong những hình thức tốt nhất của curation giúp gia tăng hiệu quả tích cực của SEO, nội dung đó bao gồm video, hình ảnh, đánh giá và các tài liệu bằng văn bản.

Cải thiện tương tác truyền thông xã hội

Cách mà các thương hiệu truyền thông trên các trang mạng xã hội rất khác so với khi họ sử dụng email, sách trắng (white paper) hay các kênh khác. Một thông tin đơn nhất là không đủ cho mạng xã hội. Một số content marketer sử dụng "quy tắc số ba" để tối ưu hóa hiệu quả của các xuất bản (post).

Quy tắc này chia tách nội dung theo ba cách: thông tin hoặc thông báo khuyến mãi sản phẩm/dịch vụ; các câu chuyện cá nhân, tương tác, dựng thương hiệu; và chia sẻ thông tin từ các nguồn khác. Khía cạnh cuối cùng và không kém phần quan trọng của quy tắc này là truyền bá các nội dung chuyên sâu và có giá trị trong lĩnh vực chuyên môn với những người không kết nối với thương hiệu.

Việc làm trên là đặc biệt quan trọng bởi nó cho thấy bạn thật sự nghiêm túc với những gì mình chia sẻ chứ không chỉ nhìn vào cái lợi trước mắt mà “bán đứng” khách hàng.

Các marketer đang gặp phải những áp lực không nhỏ trong việc sáng tạo ra những nội dung độc đáo. Curation cho phép nhiều doanh nghiệp tự tạo nên những nội dung chất lượng cao, dễ chia sẻ đồng thời cải thiện sự tương tác xã hội và loại bỏ các chi phí liên quan đến việc sáng tạo các nội dung từ đầu.
(NGỌC DIỆP - DNSG/Theo Inc.)
Share:

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Tổng giá trị 50 thương hiệu số 1 Việt Nam chưa bằng nửa giá trị một thương hiệu của Malaysia

Giá trị thương hiệu Vinamilk + FPT + Viettel + Thế giới di động + Vinhome + .... chưa bằng nửa giá trị một thương hiệu của Malaysia.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vh8wMG5mqsW

Theo công bố của Brand Finance, hầu hết thương hiệu đặt giá tại Việt Nam đều là những thương hiệu rất thông dụng, được nhiều người biết tới nhưu Vinamilk, Viettel, Mobifone, FPT, Vietcombank,...

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vh8wMG5mqsW
Những tên tuổi đắt giá nhất thuộc về nhóm ngành tiêu dùng, viễn thông, ngân hàng, bất động sản. Vinamilk, thống trị ngành sữa Việt Nam được định giá trên 1,1 tỉ USD, vượt qua rất xa so với thương hiệu xếp thứ 2 là Viettel (580 triệu USD).

Mặc dù vậy, đây không phải là thông tin vui của Vinamilk vì năm ngoái, thương hiệu này được định giá tới 1,5 tỉ USD. Chỉ trong vòng 1 năm, thương hiệu này đã bị mất giá tới 400 triệu USD.

Yếu tố nào quyết định giá trị một thương hiệu? Theo ban tổ chức, giá trị thương hiệu nằm trong các yếu tố vô hình của các công ty. Đáng tiếc là tại Việt Nam, phần yếu tố này đang bị xem nhẹ. Các yếu tố vô hình mới chỉ đóng góp 38% trong tổng giá trị một doanh nghiệp Việt Nam, trong khi tỉ lệ này trung bình trên thế giới là 53%.

Chẳng hạn với Vinamilk, tỷ lệ này chỉ ở mức 23%. Một số ngành hàng tiêu dùng có độ nhận biết cao cũng có tỉ lệ tốt hơn, như Vinacafe, tỉ lệ giá trị vô hình trên tổng giá trị công ty đạt 36%.

Ngược lại là nhóm ngành sản xuất. Thép Hòa Phát, một trong những doanh nghiệp đứng đầu ngành thép Việt Nam, giá trị thương hiệu không đáng kể khi chỉ đáng 5% trên tổng giá trị doanh nghiệp.

“Nếu tỷ lệ này cao, chính thương hiệu đã tạo nên doanh số cho doanh nghiệp. Nếu tỷ lệ này thấp, cần xem lại tiền cho quảng bá thương hiệu đang đầu tư thế nào”, ông Samir Dixit - Giám đốc Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của Brand Finance, cho biết.

Tổng giá trị thương hiệu toàn cầu là 7.000 tỷ đô, tăng 11%. So với tỷ lệ quốc tế, đáng lẽ Việt Nam phải tăng mạnh hơn vì mô hình kinh tế ở mức thấp, nhưng tổng giá trị thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam là 67,3 tỷ USD – không tăng trưởng. Chưa kể đến giá trị thương hiệu quốc gia của Việt Nam sụt giảm tới 18%, từ 172 tỷ USD năm 2014 xuống còn 139,5 tỷ USD năm 2015.

“Điều này có nghĩa chúng ta không cạnh tranh được với các thương hiệu toàn cầu. Khi thương hiệu toàn cầu vào Việt Nam, việc giữ miếng bánh thị phần của doanh nghiệp Việt sẽ khó khăn hơn nhiều”, ông Samir nói.

Ông Samir dẫn chứng, tổng giá trị thương hiệu của Top 50 ở Việt Nam là 5,5 tỷ USD. “Một thương hiệu của Malaysia có thể gấp đôi con số này”.

Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp nội địa cần phải chú ý nhiều hơn nữa đến việc xây dựng thương hiệu – tài sản vô hình quan trọng nhất để tạo ra những giá trị lớn cho bản thân doanh nghiệp đó, cũng như cho các bên liên quan như nhà đầu tư, đối tác, khách hàng hay công chúng nói chung.

“Khả năng quản trị thương hiệu kém của các doanh nghiệp là một trong những trở ngại lớn nhất khiến các doanh nghiệp không tận dụng được những lợi thế mà tài sản thương hiệu của họ có thể mang lại”, ông Samir nói.

Bảo Bảo
Theo Trí Thức Trẻ
>>  22 cuốn sách về tài chính đáng đọc nhất mọi thời đại

Share:

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

4 cách tương tác với khách hàng trong marketing

Doanh nghiệp có thể nghĩ rằng mối quan hệ giữa khách hàng và nhãn hiệu của mình khá đơn giản. Đó là khách hàng chỉ có thể ở hai cực: là người mua hàng hoặc không mua hàng, là khách hàng trung thành hoặc không trung thành. 

Thế nhưng, theo Mark Di Somma - một cây bút thường xuyên về đề tài xây dựng nhãn hiệu của tạp chí Branding Strategy Insider, khách hàng có thể ở nhiều vị trí khác nhau trong quá trình tương tác với một nhãn hiệu. Ở một thời điểm nào đó, khách hàng có thể đóng những vai trò khác nhau trong mối quan hệ đối với doanh nghiệp cũng như các đối thủ cạnh tranh, từ đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Theo Somma, khách hàng có thể đóng những vai trò sau đây.

Người ủng hộ

Những khách hàng này là người rất cởi mở và sẵn sàng ủng hộ tất cả những gì doanh nghiệp làm. Họ thể hiện điều ấy với bạn bè, trên các mạng truyền thông xã hội và trên mạng internet.

Dù cho những khách hàng này có mua hàng của doanh nghiệp hay không, họ cũng không thay đổi vị trí của mình là người ủng hộ cho doanh nghiệp thông qua “quảng cáo truyền miệng”.

Họ có thể ủng hộ doanh nghiệp vì những giá trị mà doanh nghiệp đại diện, cách doanh nghiệp đối xử với khách hàng, những hoạt động xã hội mà doanh nghiệp bảo trợ hay vì nhiều lý do khác nữa.

Doanh nghiệp có thể nhìn thấy hoặc không nhìn thấy sự ủng hộ ấy khi quan sát ngoài xã hội. Nhưng Somma khuyên doanh nghiệp nên giữ quan hệ gắn kết với những khách hàng này, công khai cảm ơn họ khi họ ủng hộ những gì doanh nghiệp đã làm hoặc bảo vệ cho một sự thay đổi mà doanh nghiệp đã thực hiện.

Người đối đầu

Đó là những khách hàng hoàn toàn đối lập với người ủng hộ. Dưới mắt họ, bất cứ điều gì doanh nghiệp đang làm cũng đều là sai. Họ có thể bất đồng với lý do tồn tại hay sứ mệnh của doanh nghiệp, không thích những sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp cho thị trường, không tán thành với cách vận hành hay sự ảnh hưởng của doanh nghiệp…

Họ thường rất “to tiếng” và kiên trì trong các cuộc tấn công doanh nghiệp. Somma cho rằng, doanh nghiệp chắc chắn khó có thể thắng được nhóm khách hàng này và nên cân nhắc kỹ những gì họ nói.


Theo Somma, có ba hướng ứng xử với nhóm khách hàng đối đầu. Thứ nhất, ghi nhận những lời chỉ trích hợp lý, từ đó thay đổi những giá trị và phương thức hoạt động của doanh nghiệp. Thứ hai, bỏ qua những lời chỉ trích quá cực đoan và không nên để chúng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Cuối cùng, liệt kê ra tất cả những lời chỉ trích để xác định rõ những gì đúng và không đúng với bản chất, niềm tin của doanh nghiệp.

Người quan sát 

Những khách hàng này chiếm số đông trên thị trường. Họ có thể đọc nhiều tin tức về doanh nghiệp từ các nguồn khác nhau, có thể từng ghé thăm các cửa hàng của doanh nghiệp ở bên ngoài, từng truy cập vào trang web của doanh nghiệp.

Nhưng điều đáng nói là họ chỉ dừng lại ở vị trí của một người quan sát mà chưa có phản ứng gì đặc biệt. Nói cách khác, họ đang ở trong quá trình sàng lọc thông tin trong vô số những thông điệp, hình ảnh mà họ nhận biết được từ thị trường.

Trừ khi những người quan sát thấy hay nghe một điều gì đó có thể tác động mạnh đến nhận thức của họ về doanh nghiệp, họ sẽ xem doanh nghiệp cũng tương tự như bao đối thủ cạnh tranh khác.

Nhiều nhà tiếp thị cho rằng có thể chuyển hóa những khách hàng quan sát thành những khách hàng ủng hộ. Nhưng theo Somma đây là một thách thức rất lớn, đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm ra những cách có giá trị và thú vị để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng cũng như đánh thức mong muốn của họ trong những hoàn cảnh khác nhau.

Người nhận xét

Trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp ngày càng bị ảnh hưởng nhiều bởi những lời nhận xét mang tính cá nhân của những khách hàng từng có những trải nghiệm thực tế khi sử dụng sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp. Nhận xét của những khách hàng này thường được chia sẻ rộng rãi với những khách hàng khác.

Những trang web đánh giá các doanh nghiệp dựa trên nhận xét của khách hàng như TripAdvisor có những ưu điểm cũng như những mặt bất lợi đối với doanh nghiệp.

Tuy nhiên, Somma khuyên các nhà quản lý nhãn hiệu nên nghiêm túc xem xét những nhận xét khách quan của khách hàng, không nên tìm cách che đậy hay “trừng phạt” những khách hàng đưa ra các nhận xét tiêu cực cũng không nên chỉ trích dẫn những lời nhận xét từ những khách hàng đang hài lòng.

Trên thực tế, nhận thức được sức ảnh hưởng lớn từ những lời nhận xét của khách hàng được đăng trên các trang web như TripAdvisor, một số khách sạn đã làm rất tốt việc quan sát và phản hồi những người nhận xét.

Somma cho rằng chỉ cần phản hồi kịp thời, tuân thủ các nguyên tắc gắn kết khách hàng lâu dài, sử dụng văn phong lịch sự, nhẹ nhàng pha một chút tính hài hước là doanh nghiệp đã có thể tạo ấn tượng rất tốt trên những diễn đàn này, ngay cả đối với những khách hàng khó tính đã đưa ra những nhận xét tiêu cực.

NHẤT NGUYÊN (theo BSI)/DNSGCT
Share:

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2015

Điều gì tạo nên sức trường tồn qua 162 năm của thương hiệu Levi’s?

Công ty này sử dụng quy tắc khá cổ điển để duy trì và phát triển thương hiệu. Nhưng những ý tưởng cơ bản vẫn là yếu tố chủ chốt để xây dựng thương hiệu mãi trường tồn.


 
Trong thế giới tiêu dùng có sự xuất hiện liên tục của những sản phẩm mới như hiện nay, rất khó để các thương hiệu có thể tiếp tục sống sót chưa kể đến việc gây được tiếng vang. Tuy nhiên, thương hiệu 162 năm tuổi Levi Strauss&Co đã làm được điều này. Hiện thương hiệu Levi’s vẫn còn sức mạnh mạnh mẽ trong kỷ nguyên các cửa hàng mọc lên nhanh chóng và lòng trung thành của khách hàng sụt giảm.

Khi Levi Strauss di cư từ Buttenheim, Bavaria vào năm 1853 tới Mỹ và thành lập nên công ty của ông, nước Mỹ lúc đó chỉ có 31 bang. Trong số những thương hiệu hàng đầu tại quốc gia này, chỉ có Anheuser-Busch (thành lập năm 1852) là lâu đời hơn so với Levi’s. Thậm chí ngay cả gã khổng lồ đồ uống Coca Cola cũng thành lập sau đó, năm 1892 và Ford năm 1903.

Hiện tại Levi’s vẫn là một thương hiệu hàng đầu trên thế giới. Doanh thu năm tài chính 2014 của Levi’s tăng 2% so với năm trước đó lên mức 4,68 tỷ USD và công ty hiện chiếm thị phần áp đảo trong thị trường jean toàn cầu. Các nhà bán lẻ luôn chọn Levi’s như một thương hiệu độc nhất. Gary Oneil – cựu giám đốc điều hành chuỗi bán lẻ J.C. Penney giải thích: “Levi’s đã trở thành thương hiệu khổng lồ mà phạm vi vượt qua phong cách, giới tính… cho phép các nhà bán lẻ có thể nắm bắt được một cơ sở khách hàng rộng lớn, đa dạng”.

Shawn Parr – giám đốc công ty có trụ sở tại San Diego Bulldog Drummond là khách hàng của Adida, American Eagle Outfitter và Nike nói rằng: “Levi’s giống như Rolling Stones hay Johnny Cash. Họ là một trong những người vĩ đại nhất trong lịch sử. Họ chính là những người định hình nên sản phẩm”.

Tuy nhiên, công thức làm nên sự trường tồn của Levi’s không có gì đặc biệt. Công ty này sử dụng quy tắc xây dựng thương hiệu khá cổ điển để duy trì và phát triển thương hiệu. Những ý tưởng cơ bản vẫn là yếu tố chủ chốt để xây dựng thương hiệu mãi trường tồn.

Sự cam kết

Trên tất cả, Levi’s luôn là thương hiệu đáng tin cậy và họ cam kết mạnh mẽ về việc duy trì và củng cố sự tin cậy đó.
Công ty ban đầu bán quần cho những người thợ đào vàng tại California (Mỹ). Khi nhu cầu tăng lên trên toàn quốc, hãng đã trở thành người tiên phong sản xuất vào những năm 1900. Quần áo của Levi’s trở thành sản phẩm được lựa chọn bởi tầng lớp công nhân. Đến giai đoạn phi công nghiệp hoa, quần chất liệu jean của công ty trở nên bổ biến trong giới thanh niên.

Giữa những năm 1980, Levi’s ra mắt chương trình quảng cáo gây tiếng vang và kích thích sự chú ý và nhu cầu của khách hàng với những chiếc quần jean 5 túi mang tên 501 - một kiểu dáng vốn thịnh hành từ khoảng hơn 100 năm trước. “Mọi người yêu thích 501 vì nó mãi mãi”, Giám đốc marketing của Levi’s là Jennifer Sey nói.

Kết nối cảm xúc với khách hàng


Chất lượng và sự toàn vẹn của các sản phẩm Levi’s là không phải bàn cãi. Những chiếc đinh tán trên quần jean đã trở thành chuẩn mực trên toàn thế giới và biểu tượng thương hiệu Levi’s cũng được thiết kế lại một cách chi tiết. Tuy nhiên, điều đáng nói là thông điệp thương hiệu của công ty mang ý nghĩa sâu sắc về mặt văn hóa.

Bắt đầu từ năm 1950, với quảng cáo trên báo in với sự kết hợp cùng diễn viên Marlon Brando và rất nhiều quảng cáo khác sau đó cho thấy Levi’s luôn cố theo đuổi sự kết nối cảm xúc với khách hàng. Trong những năm 70 và 80, Levi’s bắt đầu quảng cáo trên truyền hình.

Gần đây hơn, trong năm 2009, Levi’s gây bất ngờ với quảng cáo “Go Forth”. Đây là chuỗi bộ phim đen trắng nói về sự tàn phá của cơn bão Katrina tại vùng New Orlean. Với ý nghĩa tôn vinh “những người tiên phong xây dựng nước Mỹ mới”, Levi’s đã một lần nữa truyền tải được được tinh thần độc nhất tới khách hàng.

Nhìn chung, trong mỗi quảng cáo của Levi’s luôn chất chứa niềm đam mê và ý nghĩa, không tạo cho khách hàng cảm giác đó là một chiêu bài quảng bá sản phẩm. Sey nói: “Chúng tôi đồng hành cùng những trải nghiệm tuyệt vời của khách hàng”.

Dẫn đầu xu hướng

Mặc dù thương hiệu Levi’s đang có sức mạnh vượt bậc nhưng như nhiều công ty khác họ vẫn phải tiếp tục duy trì danh tiếng hiên tại. Và phương pháp của Levi’s là thông qua việc dẫn đầu các xu hướng mới.

“Điều khiến Levi’s luôn dẫn đầu, có khả năng thay đổi thế giới jean đều là nhờ vào việc nghiên cứu thị trường. Cách họ kiểm tra sản phẩm với rất nhiều nhà bán lẻ và thông qua những bình luận, nhận xét để xử lý rất nhiều thứ từ kích thước đến yếu tố thời trang đã giúp xây dựng lên thương hiệu Levi’s. Tuy nhiên, điều quan trọng là họ không bao giờ đi quá xa vào những thứ không cần thiết vốn hủy hoại rất nhiều công ty”, Billy Rubnick – giám đốc phòng mua Dr. Jays nói.

Bên cạnh đó, Levi’s cũng là một trong những thương hiệu đi đầu trong việc nâng cao trách nhiệm xã hội. Trở lại những năm 1890, Levi Strauss đã thành lập học bổng cho sinh viên đại học California, Bereley và kể từ đó, công ty đã theo đuổi mục tiêu sứ mệnh là “lợi nhuận thông qua những quy tắc”.
Adds Sey nói rằng: “Chúng tôi tạo ra chiếc quần jean xanh, tạo ra chiếc quần jean đầu tiên cho phụ nữ và tiếp tục cải tiến dựa trên nhu cầu của khách hàng về những sản phẩm thân thiện với môi trường hơn”.

Kết luận:

Để xây dựng nên một thương hiệu lớn như Levi’s cần có sự cam kết, lòng dũng cảm và sự nhất quán. Một trong những công ty lâu đời nhất của Mỹ dù đang gia tăng sự hiện diện trên toàn cầu nhưng vẫn thể hiện được bản sắc và cá tính. Levi’s đang muốn xây dựng thương hiệu của họ trường tồn.
Theo Trí Thức Trẻ/Entrepreneur 





Share:

Ý nghĩa tên gọi các công ty nổi tiếng thế giới

Bạn đã bao giờ tự hỏi rằng các công ty nổi tiếng hiện nay trên thế giới đã từng chọn tên gọi như thế nào?

Nhờ thành công trong việc xây dựng thương hiệu và hình ảnh, khách hàng đã quá quen với tên gọi của các công ty này nhưng không nhiều người biết đến ý nghĩa đằng sau nó. Chẳng hạn như "Lego" là sự kết hợp tài tình giữa hai từ Đan Mạch có nghĩa là “chơi đẹp”.

Đằng sau mỗi cái tên của các công ty sau đây đều là một câu chuyện hấp dẫn.

Theo Business Insider/Trí Thức Trẻ
 
Share:

5 điều kiện của môi trường làm việc hạnh phúc

Một doanh nghiệp mới được thành lập thường dễ dàng tạo ra cho nhân viên một môi trường làm việc vui vẻ. Lý do là số lượng nhân viên của doanh nghiệp trong giai đoạn này còn ít và các thành viên trong một nhóm làm việc nhỏ tuy có thể phải chịu một áp lực công việc khá lớn và mỗi người kiêm nhiệm nhiều việc nhưng có thể dễ dàng trao đổi thông tin, hỗ trợ và hợp tác với nhau. 

Tuy nhiên, khi doanh nghiệp phát triển lớn mạnh và số nhân viên tăng lên đáng kể thì việc tạo ra một môi trường làm việc vui vẻ sẽ là một thách thức lớn.

Cùng với sự phân chia trách nhiệm rõ ràng hơn, các xung đột trong tổ chức cũng bắt đầu phát sinh nhiều hơn. Kết quả là các nhân viên có thể chỉ tập trung vào lợi ích cục bộ của cá nhân hay nhóm của mình và quên đi mục tiêu, sứ mệnh lớn hơn của doanh nghiệp.

Làm thế nào để khắc phục tình trạng nói trên và xây dựng một môi trường làm việc vui vẻ, từ đó cải thiện năng suất lao động khi doanh nghiệp phát triển ở quy mô lớn?

Theo Ken Lin - nhà sáng lập kiêm tổng giám đốc của Credit Karma, tổ chức được thành lập với sứ mệnh thay đổi ứng xử của con người với các vấn đề tài chính - một môi trường làm việc "hạnh phúc" cần phải hội đủ 5 điều kiện sau.

1. Gắn bó

Theo Lin, doanh nghiệp cần phải tạo cho các nhân viên, nhất là những người mới gia nhập tổ chức, niềm tin vào sứ mệnh của công ty. Họ phải có được niềm tự hào rằng bản thân họ đang góp phần vào việc thực hiện một điều gì đó có ý nghĩa. Khi đó, nhân viên sẽ có cảm giác hài lòng với công việc của mình, làm việc chủ động và gắn bó lâu dài với tổ chức.

Tại Credit Karma, khi số lượng nhân viên vượt quá con số 300 người, ban giám đốc đã rất chú trọng việc định hướng cho nhân viên ngay từ ngày gia nhập đầu tiên. Theo đó, trong toàn bộ ngày làm việc đầu tiên, nhân viên sẽ được giới thiệu về sứ mệnh của công ty và tạo điều kiện để làm quen, kết thân với các đồng nghiệp mới.

Bên cạnh đó, truyền thông mở luôn được khuyến khích và duy trì tại tổ chức này. Lin cho rằng, tất cả các nhân viên cần phải biết được mọi mặt trong hoạt động của doanh nghiệp.

Để thể hiện văn hóa này, Credit Karma tổ chức một cuộc họp với toàn thể nhân viên mỗi tháng. Tại cuộc họp này, nhân viên có thể đưa ra bất cứ câu hỏi nào liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp sau khi nghe phần báo cáo của ban giám đốc.

2. Kết nối

Những nhân viên hài lòng không chỉ hiểu và tôn trọng những gì doanh nghiệp đang làm mà còn cảm thấy vui vẻ và tự hào khi mình góp phần hiện thực hóa những điều ấy.

Để được như vậy, Lin khuyên các doanh nghiệp cần xây dựng một môi trường văn hóa tôn trọng lẫn nhau. Sau khi rời công sở, nhân viên luôn cảm thấy vui vẻ với cảm giác những ý kiến của mình luôn được lắng nghe.

Credit Karma thường ưu tiên tuyển dụng những nhân viên có khả năng làm việc hòa đồng, vui vẻ với các đồng nghiệp xung quanh, có tinh thần đồng đội cao và sẵn sàng chia sẻ những công việc khó khăn.

Để nhân viên có nhiều cơ hội kết nối với nhau, Credit Karma thường tổ chức các hoạt động ngoại khóa, các câu lạc bộ dành riêng cho nhân viên.

3. Tin tưởng

Lin khuyên các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần thể hiện cho nhân viên biết rằng họ đang được tin tưởng và khuyến khích họ làm việc độc lập. Nhân viên nên được tạo điều kiện để tự do thực hiện công việc của họ, dù điều đó có thể rủi ro và khiến họ thất bại.

Credit Karma thường tuyển những nhân viên có năng lực tốt ở một lĩnh vực nào đó và có quyết tâm đạt được thành công cao. Để cho nhân viên được tự do thử nghiệm cũng là một cách kích thích sự sáng tạo của họ.

Lin cho biết, nhờ chủ trương này mà các nhân viên tại Credit Karma thường đưa ra được nhiều đề xuất cải tiến chất lượng công việc cũng như nhiều chương trình mới có giá trị.


4. Sức khỏe

Lin khuyên các doanh nghiệp không nên xem thường sức khỏe tinh thần và thể chất của nhân viên vì điều đó có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng trong dài hạn.

Nhân viên cần phải được tạo điều kiện về thời gian và sự tự do để chăm lo cho cuộc sống cá nhân của mình. Khi có được sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân, họ sẽ làm việc hiệu quả hơn.
Credit Karma hiện đang áp dụng chế độ nghỉ ốm không giới hạn cho nhân viên, tổ chức các buổi tư vấn về chế độ dinh dưỡng do các chuyên gia thực hiện, các khóa học về yoga, thiền, các lớp thể dục hay tư vấn chăm sóc sức khỏe cá nhân.

5. Đền bù

Doanh nghiệp không nên chỉ nói suông rằng đang quan tâm và tôn trọng nhân viên mà cần hiện thực hóa điều ấy bằng sự đền bù và tưởng thưởng xứng đáng. Dù cho môi trường làm việc có cởi mở và thú vị đến mấy, nếu doanh nghiệp không đãi ngộ thỏa đáng cho nhân viên, họ sẽ khó thể gắn bó lâu dài với tổ chức.

Tuy nhiên, Lin cũng khuyến cáo rằng nếu các doanh nghiệp chỉ trả lương cạnh tranh, tạo ra các chính sách phúc lợi hay các ưu đãi cổ phiếu hấp dẫn thì điều ấy chưa chắc đã làm cho nhân viên cảm thấy hạnh phúc. Điều quan trọng hơn là sự công bằng trong việc chia sẻ những thành quả mà doanh nghiệp có được cho mỗi thành viên.
Share:

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2015

Đừng là nhà lãnh đạo cô đơn

Từ xưa tới nay vẫn hay tồn tại quan niệm về hình ảnh những nhà lãnh đạo một mình đứng nơi đầu sóng ngọn gió để đưa ra những quyết định sống còn và dẫn dắt tập thể đi theo con đường mình đã chọn. 
 Thế nhưng, theo chuyên viên tư vấn John Coleman thì trên thực tế, những nhà lãnh đạo thành công nhất lại chính là những người huy động được sức mạnh của cộng đồng xung quanh mình và biết cách theo đuổi những mục tiêu vì lợi ích chung.

Làm người của cộng đồng

Theo giáo sư Bill George của trường kinh doanh Harvard, người từng nắm giữ cương vị CEO của tập đoàn thiết bị y tế hàng đầu thế giới Medtronic, nhà lãnh đạo nào cũng cần có một "chòm sao Bắc Đẩu" của riêng mình. Đó là một nhóm những người bạn và cố vấn tin cậy, nơi nhà lãnh đạo có thể chia sẻ những tâm tư của mình và lắng nghe lời khuyên góp ý.

Quan trọng hơn nữa, những người này sẽ là những "trọng tài" giúp cho nhà lãnh đạo giữ được những giá trị của bản thân mình khi cần đưa ra những quyết định đầy khó khăn.

Theo Coleman, việc ở trong một cộng đồng sẵn sàng góp ý, đặt ra thử thách và giám sát trách nhiệm sẽ là điều kiện để cho nhà lãnh đạo trưởng thành hơn và nâng cao năng lực của mình.

Do cộng đồng mà thành công

Một doanh nghiệp có thể được ví như một con tàu, nơi mà dù cá nhân thuyền trưởng có tài giỏi thế nào thì cũng cần phải huy động được toàn bộ sức lực của thủy thủ đoàn nếu muốn con tàu đi đúng hướng.

Theo Coleman, một trong những sai lầm mà giới lãnh đạo dễ mắc phải nhất là quên mất một điều đơn giản: sức mạnh của họ sẽ bị giới hạn khi hành động lẻ loi, nhưng sẽ trở thành vô tận khi được khuếch đại qua tập thể.

Không ai có thể chối cãi rằng Steve Jobs là một thiên tài kinh doanh công nghệ, nhưng ông lại từng bị chính hội đồng quản trị của Apple sa thải vào năm 1985 vì không thể thuyết phục được họ về phương hướng của công ty.

Sự thất bại của một loạt sản phẩm Apple khi ấy, vốn bắt nguồn từ cái tôi quá lớn của Jobs, đã khiến cho ông phải rời khỏi công ty do chính mình thành lập nên.

12 năm sau đó, khi quay trở về cương vị lãnh đạo Apple, Jobs đã trở thành một con người trưởng thành và chín chắn hơn. Bằng cách tập hợp và truyền cảm hứng được cho một đội ngũ xuất sắc: Jonathan Ive, Scott Forstall, Ron Johnson và Tim Cook, Jobs đã làm được "nhiệm vụ bất khả thi": đưa Apple trỗi dậy từ bờ vực phá sản để trở thành tập đoàn giá trị nhất thế giới ngày hôm nay.

Steve Jobs từ thiên tài cô độc...
... trở thành người dẫn dắt một tập thể hùng mạnh

Vì cộng đồng mà phục vụ

Sẽ chẳng có nhân viên nào muốn phục vụ cho vinh quang của cá nhân lãnh đạo, nhưng trái lại họ sẽ sẵn sàng cống hiến đến cùng cho những điều mà họ thấy thực sự có ý nghĩa.

Một nhà lãnh đạo có thể vạch ra cho đội ngũ của mình thấy việc mà họ đang làm có ảnh hưởng tích cực thế nào tới cộng đồng xung quanh sẽ có được những nhân viên cực kỳ trung thành và tận tụy.
Được thành lập bởi anh sinh viên bỏ học John Mackey vào năm 1980, cửa hàng thực phẩm Whole Foods đã có một khởi đầu hết sức khó khăn khi mắc phải một trận ngập lụt vào năm 1981.

Lúc đó Whole Foods tưởng chừng đã phá sản, nhưng cửa hàng ngay lập tức nhận được sự giúp đỡ từ các khách hàng quen và hàng xóm ở xung quanh để mở cửa trở lại.

Điều này đã ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ của John Mackey, và từ đó anh đặt ra một quy tắc kinh doanh cho Whole Foods: không đơn thuần chạy theo lợi nhuận, mà còn phải luôn luôn quan tâm đến đội ngũ nhân viên, khách hàng, môi trường và cộng đồng xung quanh.
Từ khởi đầu đầy khiêm tốn, Whole Foods đã trở thành chuỗi siêu thị thực phẩm hữu cơ thành công nhất thế giới

Ngày nay, Whole Foods là một chuỗi siêu thị khổng lồ chuyên kinh doanh thực phẩm hữu cơ với tổng cộng 419 siêu thị tại Mỹ và Anh, đạt doanh thu 14,2 tỷ USD trong năm 2014.

Whole Foods cũng là một trong những công ty hiếm hoi có 17 năm liền đứng trong danh sách những doanh nghiệp có môi trường làm việc tốt nhất nước Mỹ của tạp chí Fortune. Ngoài ra, chuỗi siêu thị này còn thường xuyên nằm trong danh sách những thương hiệu có uy tín và trong sạch nhất nước Mỹ.
Đó là những tài sản tưởng chừng vô hình nhưng lại là yếu tố then chốt để làm nên giá trị thương hiệu và thành công kinh doanh cho Whole Foods.

Theo kết luận của John Coleman, nhà lãnh đạo nào có thể tuân thủ được 3 quy tắc "của cộng đồng, do cộng đồng, vì cộng đồng" sẽ đạt được thành công vang dội ở bất kỳ đâu dù là thương trường hay chính trường, cũng như sẽ có được một cuộc sống đầy ý nghĩa.

Share:

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

Marketing vs. Sales: Trận chiến giành "thượng đế"

Khái niệm Marketing xuất hiện đầu những năm 1900. Nó được hiểu là một khâu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhiều công ty sử dụng Marketing để giúp khâu sản xuất “tống khứ” đi sản phẩm. Họ quan niệm Marketing chính là việc bán hàng.

Đây là một cách hiểu rất sai lệch nhưng lại đang khá phổ biến trong phạm vi kinh doanh cũng như trong suy nghĩ của nhiều người. Thực tế, Marketing và bán hàng hầu như đối lập với nhau. Bán hàng chỉ tập trung vào việc bán càng nhiều sản phẩm càng tốt nhưng Marketing được hiểu chính xác là bộ phận tạo ra khách hàng cho công ty.

Nhưng bản chất của Marketing và việc bán hàng hiểu một cách đầy đủ là thế nào? Làm sao để phân biệt Marketing với Sales ?

Inforgraphic sau đây sẽ giúp bạn phân biệt rõ hơn điều này
Thụy Dương
Theo Trí Thức Trẻ

>> Quảng cáo, cái chúng ta thường biết tới đã chết. Vậy tiếp theo sẽ là gì?
Share:

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015

4 bí quyết vận dụng giá trị doanh nghiệp

Bí quyết để truyền tải và đưa các giá trị vào trọng tâm hoạt động của doanh nghiệp nằm ở việc diễn giải chúng một cách cụ thể và rõ ràng ở dạng hành vi.

Mỗi doanh nghiệp đều mang trong mình những giá trị hết sức quý báu, tuy nhiên rất ít doanh nghiệp thực sự cam kết sống và làm việc theo đúng các giá trị mà mình dày công gầy dựng; chính niềm tin mạnh mẽ vào hệ giá trị giúp tạo nền tảng vững chắc để từ đó văn hóa tổ chức được nuôi dưỡng và củng cố một cách mạnh mẽ. Với bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như hiện tại, áp lực từ công việc dễ khiến cho các tổ chức ngày rời xa những quy tắc và giá trị cốt lõi của mình.

Bí quyết để truyền tải và đưa các giá trị vào trọng tâm hoạt động của doanh nghiệp nằm ở việc diễn giải chúng một cách cụ thể và rõ ràng ở dạng hành vi. Bằng cách mô phỏng và khen thưởng các hành vi phản ánh đúng giá trị của doanh nghiệp, nhân viên sẽ liên tục được nhắc nhở về niềm tin của tổ chức và làm thế nào để sống đúng với các nguyên tắc ấy. Ngoài ra, việc diễn giải các giá trị thành hành vi còn giúp doanh nghiệp dễ dàng quan sát, đo lường, đánh giá và quản lý các tiêu chuẩn của công ty.

Do vậy, đừng để các giá trị tổ chức nằm trơ trên giấy hay các tài liệu tuyển dụng một cách đầy lãng phí; hãy học cách tận dụng chúng như một công cụ hữu ích để phát triển doanh nghiệp của bạn theo 4 lời khuyên bên dưới:

1. Đặt giá trị làm trọng tâm

Thay vì được đặt làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của tổ chức, các giá trị lại thường bị lãng quên khi doanh nghiệp tập trung đối phó với các thách thức, áp lực từ thương trường. Hệ giá trị sẽ không phát huy được tác dụng kì diệu nếu chúng không được ta ghi nhớ và áp dụng.

Vậy câu hỏi đặt ra là làm sao để hệ giá trị hiện diện như một trọng tâm của tổ chức?

Câu trả lời nằm ở việc nhấn mạnh với mỗi nhân viên tầm quan trọng của hệ giá trị đối với sự thành bại của doanh nghiệp. Ngoài việc thể hiện chúng trên website, các nhà quản lý cũng cần chú ý truyền tải thông điệp về giá trị tổ chức ở những nơi mà nhân viên thường xuyên tiếp xúc hay tập hợp, chẳng hạn như sổ tay nhân viên, căn tin hay phòng họp…Tại một số công ty, các giá trị được vẽ lên tường chung với logo của doanh nghiệp như một lời nhắc nhủ hàng ngày về tầm quan trọng của chúng.

2. Tuyển dụng dựa trên giá trị

Xây dựng một môi trường làm việc chú trọng giá trị tổ chức bắt đầu từ việc tuyển dụng dựa trên các giá trị đó. Mỗi doanh nghiệp nên phát triển một bộ câu hỏi phỏng vấn và đo lường dựa trên các giá trị riêng của mình nhằm đánh giá mức độ phù hợp của ứng viên.

Hiển nhiên, một doanh nghiệp chú trọng tinh thần doanh nhân sẽ đặt ra các câu hỏi liên quan đến tố chất này để đảm bảo ứng viên khi gia nhập vào tổ chức có thể hoàn thành nhiệm vụ và củng cố thêm cho niềm tin vào hệ giá trị này.

Chính vì thế, sử dụng quy trình phỏng vấn để tìm kiếm và phát hiện ra các cá nhân có giá trị tương đồng với doanh nghiệp là việc làm rất quan trọng cần được nhấn mạnh.

3. Sống và làm việc theo giá trị

Cách tốt nhất để thực hành các giá trị là tích hợp chúng vào từng hoạt động của doanh nghiệp. Nói cách khác, đừng để chúng nằm bị động trên tường mà hãy lấy đó làm các nguyên tắc sống, làm việc hằng ngày.

Lấy ví dụ về giá trị có tên “Cho Đi” (Give more) của một công ty tên là VMware. Doanh nghiệp này cho phép nhân viên sử dụng 40 tiếng làm việc mỗi năm để làm công tác tình nguyện; ngoài việc đi làm tình nguyện cùng nhau, họ còn có một tổ chức từ thiện riêng phục vụ cho mục đích giáo dục, đầu tư và gây quỹ cho các cộng đồng đang tìm kiếm sự giúp đỡ

Bên cạnh đó, việc làm gương cũng đóng vai trò quan trọng không kém; lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp phải liên tục thực hành các giá trị tổ chức trong các công việc hàng ngày của mình nhằm khuyến khích nhân viên làm theo.

4. Khen thưởng theo giá trị

Lãnh đạo nên quảng bá cho hệ giá trị của tổ chức bằng cách khen thưởng các hành vi phản ánh đúng niềm tin của doanh nghiệp; đừng ngần ngại việc công khai khen ngợi ai đó vì đã hành xử theo đúng các nguyên tắc mà tổ chức chú trọng. Việc này không chỉ khiến người được thưởng cảm thấy vui sướng, mà còn có tác dụng khích lệ những nhân viên khác cố gắng noi theo.

Cần đảm bảo rằng các cá nhân có hành vi phản ánh đúng giá trị tổ chức nhận được sự chú ý tương xứng; đó có thể là việc được tuyên dương trên website của công ty, khen tặng danh hiệu “Nhân viên của tháng”, hay chỉ đơn giản là một cái vỗ vai động viên tinh thần.
(Entrepreneu/CafeBiz) 


Share:

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

5 cách xây dựng văn hóa chấp nhận rủi ro

Các nhà lãnh đạo có khuynh hướng muốn nhân viên của mình hoạt động an toàn, hạn chế rủi ro. Điều này không có gì là sai khi tổ chức phải tạo ra sự nhất quán và niềm tin cho các thành viên trong nội bộ cũng như các đối tác bên ngoài.


Tuy nhiên, khi quyết định thiết lập một “sân chơi an toàn”, không khuyến khích nhân viên chấp nhận rủi ro, nhất là những rủi ro “thông minh” và “có tính toán”, nhà lãnh đạo sẽ làm cản trở sự phát triển của tổ chức.

Văn hóa dám chấp nhận rủi ro là nền tảng cho sự ra đời của những ý tưởng mới mẻ và đột phá, giúp doanh nghiệp phát triển các hoạt động kinh doanh mới, cải thiện năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Theo các chuyên gia, con đường duy nhất đi đến thành công là chấp nhận “thất bại có mục đích” và thành công lớn chỉ có thể đến nếu tổ chức đã trải qua những thất bại nhỏ.

Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để khơi dậy và ủng hộ văn hóa chấp nhận rủi ro? Trước tiên, các chuyên gia khuyên các nhà lãnh đạo nên sẵn sàng chấp nhận thất bại chứ không nên loại bỏ thất bại.
Nhà lãnh đạo cần hỗ trợ và khuyến khích nhân viên sẵn sàng nắm bắt các cơ hội thay đổi. Nhà lãnh đạo nên kể những câu chuyện về những trường hợp thất bại nhưng là tiền đề cho những thành công lớn sau này.

Để làm những điều như thế, tổ chức cần phải kiên định với thay đổi văn hóa từ chỗ e ngại rủi ro sang chấp nhận rủi ro. Theo các chuyên gia, văn hóa chấp nhận rủi ro có thể được xây dựng theo những cách sau đây.

1. Khuyến khích thất bại

Nhà lãnh đạo nên truyền thông đến nhân viên rằng tổ chức đang sẵn sàng chấp nhận rủi ro để khai phá những hoạt động kinh doanh mới, những cách làm mới và thất bại là điều không tránh khỏi.
Mục tiêu là chấp nhận những thất bại nhỏ, diễn ra nhanh với chi phí thấp thay vì những thất bại lớn, kéo dài và gây ra nhiều tổn thất. Nhà lãnh đạo cũng nên khen ngợi những nhân viên dám chấp nhận rủi ro và thất bại, làm cho họ hiểu rằng đó chính là cơ hội để học hỏi từ kinh nghiệm.

2. Trao quyền cho nhân viên chấp nhận những rủi ro “an toàn”

Thống kê cho thấy khoảng 67% nhân viên ở Mỹ có thể nêu ra ít nhất một lý do khiến họ ngại chấp nhận rủi ro ở công sở.

Do đó, các nhà lãnh đạo cần giải thích cho nhân viên hiểu thế nào là rủi ro “thông minh” hay rủi ro “có tính toán” và khuyến khích nhân viên tự chấp nhận những rủi ro như thế thay vì thụ động chờ chỉ đạo của cấp trên.

3. Đi tìm “những kẻ thách thức”

Nhà lãnh đạo nên khuyến khích nhân viên thường xuyên xem xét lại những công việc thuộc dạng “chuyện thường ngày” mà ít ai nghĩ rằng cần phải có thay đổi gì với chúng.

Những nhân viên luôn biết tự đặt câu hỏi “liệu đây có phải là cách tốt nhất để làm việc này?” chính là những nhân viên sẵn sàng chấp nhận thách thức và rủi ro.

Nhà lãnh đạo cần nhắc cho họ biết rằng tổ chức đang cam kết cho việc chấp nhận rủi ro và khuyến khích họ mạo hiểm với những ý tưởng đột phá.

4. Sẵn sàng hỗ trợ nhân viên

Nhà lãnh đạo nên làm cho nhân viên hiểu rằng mình luôn sẵn sàng dẫn dắt, hướng dẫn và hỗ trợ nhân viên thực hiện các ý tưởng mới.

Đồng thời, nhà lãnh đạo cũng nên hậu thuẫn cho những nhân viên biết tạo ra thách thức với những cách làm cũ và chấp nhận rủi ro để tìm hiểu thật sự họ sẽ đạt được những kết quả gì khi mạo hiểm.

5. Củng cố niềm tin

Nhà lãnh đạo nên nuôi dưỡng một môi trường mà ở đó nhân viên luôn tin tưởng rằng những suy nghĩ chân thật của họ luôn được lắng nghe và bản thân họ luôn được bảo vệ an toàn, và rằng họ sẽ không bị áp đặt sự đánh giá mang tính định kiến chủ quan hay bị hạn chế các cơ hội phát triển nghề nghiệp khi đưa ra những ý tưởng mới hay khác biệt.

Khi đó, họ sẽ cởi mở hơn và mạnh dạn chấp nhận rủi ro, thử thách nhiều hơn.
 Switch & Swift/DNSGCT
>> Kỹ năng làm việc bất cứ lãnh đạo nào cũng cần có

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?