Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn Harvard. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Harvard. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2016

Harvard loay hoay trong cuộc chơi đầu tư


Quỹ hiến tặng của Harvard đã lỗ tới 27% trong năm 2009, mức tồi tệ nhất trong lịch sử.  

Vào năm 2014, Harvard Management Co. (HMC), công ty quản lý quỹ hiến tặng của Trường Đại học Harvard, đã triển khai một kế hoạch đầy tham vọng: xây dựng một đội ngũ các chuyên viên giao dịch chứng khoán và các chuyên gia phân tích mới theo kiểu quỹ đầu cơ. Nhưng nay HMC đã phải giải tán đội ngũ này và sẽ chuyển nhiều hơn trong phần tài sản quản lý 37,6 tỉ USD sang cho các nhà quản lý quỹ bên ngoài. Và một lần nữa Harvard đối mặt một câu hỏi đeo đuổi nó suốt nhiều năm trời: Tại sao trường đại học giàu nhất thế giới, với những bộ óc xuất sắc, lại không thể đưa ra các quyết định đầu tư thông minh hơn?

Stephen Blyth đã rời khỏi vị trí CEO của HMC vào cuối tháng 7 vừa qua vì lý do cá nhân sau 18 tháng tại vị. Blyth từ chức, theo sau sự ra đi vào tháng 6 của Michael Ryan và Robert Howard, nguyên là 2 đối tác từ Goldman Sachs mà Blyth đã mời về để định hướng cho chiến lược cổ phiếu.

Mặc dù việc Blyth từ chức được cho rằng không liên quan gì đến sự ra đi của những ngôi sao mà ông đã tuyển dụng, nhưng đa phần các câu chuyện bàn tán trong văn phòng của HMC ở Boston lại xoay quanh lý do vì sao ban điều hành lại khai tử bộ phận cổ phiếu.

Theo những nguồn tin thân cận với vụ việc, một số chuyên viên giao dịch tại bộ phận của Ryan đã báo cáo lỗ trong năm 2015, một mức lỗ lớn đủ để báo động đỏ trong nội bộ. Ryan cũng đã thua lỗ trong một danh mục đầu tư do chính ông thực hiện giao dịch. Tuy nhiên, quy mô mức lỗ đến đâu thì không rõ. Vụ thua lỗ này diễn ra trong bối cảnh hầu hết các quỹ đầu cơ đang chật vật để đạt được mức sinh lời cao hơn các chỉ số thị trường. Ryan đã rời khỏi HMC để theo đuổi các cơ hội khác, theo một thông báo nội bộ vào tháng 6 từ Robert Ettl, CEO tạm thời của HMC.

“Tôi thực sự ngạc nhiên là họ khai tử bộ phận này nhanh đến như thế. Đó không phải là một dấu hiệu tốt cho chiến lược mà họ vạch ra”, Verne Sedlacek, nguyên Giám đốc Tài chính HMC, nhận xét về bộ phận cổ phiếu của Công ty.

HMC quyết định sẽ dựa nhiều hơn vào các nhà quản lý tài sản bên ngoài, “những người có nguồn lực, kỹ năng và kinh nghiệm”, theo Paul Finnegan, Chủ tịch Hội đồng Quản trị HMC. Công ty từ chối nói cụ thể hơn. Sự thay đổi hẳn thái độ này là mới nhất trong hàng loạt va vấp tại HMC, vốn trải qua 6 đời CEO kể từ khi thành lập vào năm 2005.
Harvard loay hoay trong cuoc choi dau tu
Stephen Blyth đã rời khỏi vị trí CEO của Harvard Management Co. vào cuối tháng 7 vừa qua. Ảnh: japantimes.co.jp 

Xét về mặt lợi nhuận đầu tư, Đại học Yale, với 25,6 tỉ USD giá trị tài sản trong quỹ hiến tặng, đã bỏ xa Harvard cách đây nhiều năm. Thực vậy, Harvard đã bị tụt lại đằng sau các trường đại học danh tiếng khác của nước Mỹ trong Ivy League (chỉ một nhóm 8 trường đại học lâu đời và danh tiếng hàng đầu nước Mỹ gồm Đại học Yale, Princeton, Dartmouth, Columbia, Pennsylvania, Brown, Harvard, Cornell) trong suốt 5 năm kết thúc vào tháng 6.2015, thời gian gần đây nhất có dữ liệu.

Nhiều năm trời, HMC đã không ngừng đi tìm lại hào quang ngày trước dưới sự điều hành của Jack Meyer, người đã đưa quỹ hiến tặng của Trường Harvard trở thành một trong những nhà quản lý quỹ xuất sắc nhất trong thập niên 1990.

Meyer, điều hành HMC từ năm 1990-2005, đã theo đuổi chiến lược bành trướng vào các nhóm tài sản mới như vốn đầu tư cổ phần tư nhân. Thay vì tuyển dụng các nhà quản lý bên ngoài như hầu hết các trường đại học khác, ông đã phát triển một đội ngũ chuyên viên trong Công ty, giao dịch trực tiếp giống như một quỹ đầu cơ trên các thị trường trái phiếu và cổ phiếu.

Trong suốt thập niên cuối cùng của ông ở HMC, Meyer đã tạo ra mức sinh lời hằng năm trung bình lên tới xấp xỉ 16%, một trong những mức cao nhất trong ngành. Ông cũng đã khen thưởng cho các tài năng xuất sắc những khoản tiền hậu hĩnh giống như kiểu quỹ đầu cơ. Nhưng điều đó đã gây tranh cãi.
Những thông tin cho rằng HMC trả cho một số nhân viên hàng triệu USD mỗi năm (bảng lương có lúc lên tới 36 triệu USD) đã khiến không ít người phản đối. Một số cựu sinh viên Trường Harvard cho rằng các khoản thưởng này là quá mức. Meyer đã rời khỏi HMC và mở một quỹ đầu cơ.

Sau gần 1 năm tìm kiếm, HMC đã mời được Mohamed El-Erian, chiến lược gia về đầu tư đến từ tập đoàn đầu tư trái phiếu Pacific Investment Management Co. El-Erian đã quay sang sử dụng các nhà quản lý quỹ bên ngoài trước làn sóng ra đi của những nhân tài trong nội bộ. El-Erian đã trở lại với Pimco sau chưa đầy 2 năm ở HMC.

Harvard loay hoay trong cuoc choi dau tu
 
Người kế vị ông, Jane Mendillo, không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đã tạo ra mức lỗ tới 27% vào năm 2009, mức tồi tệ nhất trong lịch sử của HMC. Cú ngã này đã khiến Trường Đại học Harvard gặp nhiều khó khăn. Trường đã buộc phải co cụm một kế hoạch bành trướng quy mô lúc đó, đồng thời cắt giảm những chi phí không cần thiết như bữa ăn sáng nóng hổi ở hầu hết các ký túc xá, quần áo thể thao miễn phí cho các vận động viên và bánh trong các cuộc họp khoa.

Blyth đã gia nhập HMC vào năm 2006 từ Deutsche Bank. Ông giữ vị trí CEO vào năm 2015, cam kết sẽ mang lại mức sinh lời khả quan hơn cho Công ty. Ông đã nhìn thấy cơ hội chuyển nhiều tài sản hơn từ các nhà quản lý quỹ bên ngoài sang cho một bộ phận giao dịch trong nội bộ. Bộ phận này tính đến năm ngoái phụ trách quản lý khoảng 9 tỉ USD giá trị tài sản.

Ryan là một chìa khóa quan trọng trong kế hoạch của Blyth. Ryan có gần 20 năm làm ở bộ phận kinh doanh cổ phiếu của Goldman Sachs trước khi rời khỏi vào năm 2008 để điều hành bộ phận chứng khoán toàn cầu ở Credit Suisse. Sau đó, ông đồng sáng lập JAI Capital Management, một quỹ đầu cơ đã sa cơ thất thế chỉ  sau 2 năm. Rồi ông lại điều hành một công ty đầu tư khác là MDR Capital Management.

Ryan đã mời về Howard, từng điều hành bộ phận giao dịch tự doanh ở Goldman Sachs và sau đó điều hành một quỹ ở tập đoàn KKR.

HMC đã tuyển dụng ít nhất 9 chuyên gia phân tích và nhà quản lý danh mục đầu tư, nhiều người trong số họ có kinh nghiệm về giao dịch cổ phiếu. Một số có bằng cấp từ các trường đại học trong nhóm Ivy League hoặc các trường đại học hàng đầu khác và đến từ các quỹ đầu cơ hoặc các công ty quản lý quỹ khác. Howard quản lý một nhóm 4 người trong khi những người còn lại thì báo cáo trực tiếp cho Ryan, theo những người thân cận với vụ việc.

Thời điểm tung ra chiến lược như vậy lại không thích hợp. Các quỹ cổ phiếu được quản lý theo chiến lược chủ động khi đó đang gặp khó khăn trong việc đánh bại các chỉ số thị trường. Số quỹ đầu cơ đóng cửa vào năm ngoái còn cao hơn cả số quỹ mở mới. Đây là lần đầu tiên kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, theo tổ chức trong ngành Hedge Fund Research.

Một số nhà quản lý danh mục đầu tư mới ở HMC gặp khó khăn và bộ phận của họ bị đóng cửa. Họ được thông báo sẽ giao dịch trở lại khi năm tài chính bắt đầu vào tháng 7, theo hai nguồn tin thân cận với vụ việc. Nhưng 8 người được cho biết vào tháng 5 rằng vị trí của họ không còn cần đến nữa, theo những nguồn tin trên.

Hai tuần sau đó, Chủ tịch Harvard Drew Faust đã ghé HMC, tuyên bố Blyth nghỉ bệnh. Ettl, Giám đốc Điều hành, tạm thời lên làm CEO thay cho Blyth. Vào tháng 6 vừa qua, 4 vị trí nữa bị cho nghỉ việc khi Harvard chính thức đặt dấu chấm hết cho chiến lược quỹ đầu cơ.

Cuối tháng 7, Trường Đại học Harvard tuyên bố Blyth từ chức. Vị trí CEO sẽ có người thay trong tháng 9 này, theo một nguồn tin thân cận. Một số người ở HMC đang lo ngại không biết liệu sẽ có nhiều người nữa ra đi.

“Harvard có nguồn vốn đầu tư lâu dài và vì thế là điều bất thường khi chứng kiến họ đóng cửa một bộ phận có quy mô lớn như thế trong một khoản thời gian ngắn như vậy”, Brad Balter, CEO Balter Liquid Alternatives, chuyên đầu tư vào các quỹ đầu cơ, nhận xét. “Rõ ràng, tình hình của quỹ không hề đi đúng như họ đã dự kiến”, ông nói thêm.
Ngô Ngọc Châu
Nhịp Cầu Đầu Tư
Share:

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2015

Vì sao Harvard là đại học phi lợi nhuận nhưng vẫn 'rót tiền' vào bất động sản?

Thậm chí nếu xem Harvard là một đất nước, doanh thu của trường 4,4 tỷ USD năm 2014 còn lớn hơn GDP của nhiều nước trên thế giới.


Theo thống kê của tạp chí doanh tiếng Forbes, Harvard là trường đại học giàu có nhất nước Mỹ với giá trị tài sản thuần lên tới 43,2 tỷ USD đến thời điểm 30/06/2014. Tiếp theo là các trường danh tiếng khác như Stanford, Yale, Princeton, Massachusetts Institute of Technology,…

Thậm chí nếu xem Harvard là một đất nước, doanh thu của trường 4,4 tỷ USD năm 2014 còn lớn hơn GDP của nhiều nước trên thế giới. Vì thế khi nói Harvard là trường đại học theo mô hình phi lợi nhuận không ít người hoài nghi.

Thế nào là trường đại học phi lợi nhuận?

Trên thế giới hiện nay ngoài hệ thống các trường công lập do chính phủ lập ra, còn có những trường đại học do tư nhân đầu tư. Những trường đại học tư này được chia thành 2 mô hình chính gồm: lợi nhuận (for-profit) và phi lợi nhuận (non-profit).

Có thể hiểu các trường đại học theo mô hình lợi nhuận hoạt động giống như một công ty, kiếm tiền cho những nhà đầu tư, cổ đông trong khi những trường theo mô hình phi lợi nhuận mục tiêu hướng đến là chất lượng giáo dục của sinh viên, giúp họ hoàn thành việc học và thành công trong sự nghiệp.
Chính vì mục tiêu hướng đến khác nhau nên các trường phi lợi nhuận hoạt động độc lập với cấu trúc sở hữu trong khi các trường lợi nhuận phải tuân theo và hướng tới kết quả kinh doanh cho cổ đông của họ, tạo ra lợi nhuận là một ưu tiên chắc chắn.

Nói như vậy không có nghĩa đại học phi lợi nhuận không kinh doanh, kiếm tiền mà ngược lại khi có lợi nhuận sẽ dành tái đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, giáo dục, cơ sở vật chất thay vì ưu tiên phân phối cho cổ đông như mô hình lợi nhuận.

Một điểm khác biệt giữa hai mô hình này là các trường phi lợi nhuận thường có xu hướng học phí thấp hơn các trường lợi nhuận, cũng như có hệ thống ngành học rộng hơn.

Tại Việt Nam, trường RMIT có thể xem là đại diện tiêu biểu cho mô hình phi lợi nhuận, ngoài ra còn có đại học FullBright.

Năm 2000, ngôi trường này được cấp giấy phép thành lập và là trường đầu tiên của mô hình FDI vào giáo dục. RMIT Việt Nam là trường đại học quốc tế 100% của Úc, phân viện nước ngoài duy nhất của RMIT với vốn điều lệ ban đầu 22 triệu USD, đến nay tổng vốn đầu tư là hơn 44 triệu USD.
Đại học RMIT Việt Nam.
Đại học RMIT Việt Nam.

Chính vì hoạt động với mô hình phi lợi nhuận nên RMIT dễ dàng tiếp cận với nguồn vay từ công ty tài chính quốc tế (IFC thuộc ngân hàng thế giới) và tài trợ từ quỹ Atlantic Philanthropies khi thành lập tại Việt Nam.

Vì tính chất phi lợi nhuận nên mặc dù doanh thu năm 2014 của RMIT trên 1.100 tỷ đồng nhưng đây cũng là trường có biên lợi nhuận khá thấp với mức 5,5% trong những trường tư như Anh văn hội Việt Mỹ (VUS), FPT Education và Trung tâm tiếng Anh Apollo.

Vì sao là trường phi lợi nhuận như Harvard vẫn kinh doanh?

Các trường như Harvard có các nguồn thu chính đến từ: Các khoản quyên góp, Học phí, tài trợ, quà hiện vật, cho thuê bằng sáng chế. Theo Bloomberg, những khoản này chiếm từ 60-70% ngân sách của Harvard. Phần còn lại đến từ chính nguồn lực của trường.

Những trường như Harvard, Yale hay Stanford dùng những khoản thu này để giảm gánh nặng cho sinh viên hoặc cung cấp nguồn lực dành cho học bổng. Chính vì vậy khi các trường như Harvard không nhận được nhiều tài trợ, quyên góp, họ có thể cắt giảm chi tiêu cho học bổng.

Tuy nhiên điều này sẽ ảnh hưởng tới sinh viên, giảng viên cũng như chất lượng giáo dục, nghiên cứu. Vì vậy những trường như Harvard ngoài mục tiêu giáo dục cũng có những chiến lược kinh doanh, đầu tư để đảm bảo ổn định cho tổng nguồn thu.

Bên cạnh việc thu học phí của những sinh viên giàu có, Harvard còn có Harvard Business Publishing, cơ quan chủ quản của tạp chí kinh doanh Harvard Business Review.

Tạp chí này kiếm tiền bằng cách tung ra hàng loạt những nghiên cứu chuyên sâu thú vị từ cách kiếm tiền của Lady Gaga hay chuyện kinh doanh của Manchester United. Harvard còn kiếm tiền từ cho thuê bản quyền nghiên cứu với các công ty.

Ngoài ra, trường còn thực hiện nhiều khoản đầu tư sinh lời thông qua công ty Harvard Management Company vào các lĩnh vực như: Cổ phiếu, tài sản có thu nhập cố định, bất động sản. Năm 1994, từ con số khoảng 5 tỷ USD, tài sản đầu tư của Harvard tăng lên khoảng 35 tỷ USD năm 2014.

Trung bình 1.000 USD đầu tư năm 1994 đã tăng gấp 10 lần giá trị sau 20 năm.
Hiệu quả đầu tư của Harvard Management Company.
Hiệu quả đầu tư của Harvard Management Company.

Ví dụ, một khoản đầu tư hiệu quả của Harvard có thể kể đến là giá trị đầu từ cổ phần tại General Investment Account đã tăng từ 1,5 tỷ USD vào ngày 30/6/2013 lên mức 2,1 tỷ USD chỉ sau 1 năm.
Danh mục đầu tư của Harvard Management Company.
Danh mục đầu tư của Harvard Management Company.
Thảo Nguyên
Theo Trí Thức Trẻ/Tổng hợp 
Share:

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

“Mù tài chính": Chính sách giúp kéo chất xám toàn thế giới chảy về nước Mỹ

Các trường đại học Mỹ thường được biết tới với những chính sách học bổng vô cùng hấp dẫn. Tuy nhiên, lòng tốt thường đi kèm với mục đích...


Có một thực tại đang diễn ra, đó là cơ hội tiếp thu và mở mang kiến thức của những sinh viên ưu tú trên toàn thế giới đang phụ thuộc rất nhiều vào chính phủ hay các trường đại học nổi tiếng tại các quốc gia phát triển.

Hằng năm, tỷ lệ sinh viên được nhận vào Princeton, Harvard, Yale, MIT, Stanford hay Cambridge luôn dưới con số 10% trên tổng số các ứng viên đến từ cả bản địa và quốc tế.

Cụ thể, tỷ lệ đỗ vào Stanford, Princeton, Harvard, Yale lần lượt là 5,07%, 7,28%, 5,9% và 6,26%. Đáng lưu ý hơn, đây là các trường đại học hỗ trợ chính sách “mù tài chính (need - blind) được biết đến từ năm 2007. Tuy vậy, lượng sinh viên được nhận vào trường vẫn rất thấp nhưng lại góp phần mang đến những khoản lợi nhuận khổng lồ mỗi năm cho những đại học danh giá trên.

Chính sách “mù tài chính” là một khái niệm không còn xa lạ với các sinh viên đang có ý định đi du học tại Mỹ, tuy nhiên liệu hình thức hỗ trợ này có thực sự mang mục đích nhân văn và thực sự đem lại cơ hội cho các tài năng trẻ muốn trau dồi tại đất nước có ngành giáo dục tốt nhất trên thế giới hay không?

Chính sách “mù tài chính” là gì?

Chính sách “need – blind” được hiểu nôm na là khi xét đơn xin nhập học, nhà trường không cần biết là gia đình và bản thân ứng viên có đủ tiền để trả học phí, ăn ở, sách vở,…hay không, nói cách khác là việc ứng viên có nộp đơn xin tài trợ không ảnh hưởng gì đến việc ứng viên được chấp nhận vào học. Sau khi một ứng viên được chấp thuận thì nhà trường mới xem thử ứng viên ấy có nộp đơn xin hỗ trợ tài chính hay không.

Nếu không, nghĩa là ứng viên ấy đủ tiền để trả mọi chi phí. Nếu có, nhà trường căn cứ thu nhập của gia đình, của bản thân ứng viên và hoàn cảnh sống của gia đình (kê khai theo các mẫu nhà trường chỉ định) để biết được phần đóng góp của gia đình và bản thân ứng viên trong năm học, thiếu bao nhiêu so với tổng chi phí thì nhà trường bảo đảm có cách tài trợ để ứng viên yên tâm theo học.

Sự tài trợ này là dựa trên nhu cầu tài chính (need – based) để theo học chứ các trường đại học này không cấp học bổng như là phần thưởng cho sinh viên vì học giỏi, hay vì các tài nghệ trong thể thao, âm nhạc, nghệ thuật, văn hóa,... như ở các trường khác để thu hút các học sinh tài năng. Chỉ tại các đại học tư và thuộc loại hàng đầu ở Mỹ mới có chính sách tuyển sinh “mù tài chính” này.

Thực tế, nếu bạn có giỏi, có tài năng ngất trời đi nữa mà bạn là con nhà giàu, có đủ tiền để ăn học thì bạn sẽ phải trả mọi chi phí, và nếu bạn có được các cơ quan bên ngoài thưởng tiền hay cấp học bổng thì bạn phải kê khai và đem tất cả vào trường để nhà trường tính lại phần đóng góp của bạn.

Nhờ chính sách mù tài chính mà các đại học hàng đầu này đã tuyển chọn được rất nhiều sinh viên ưu tú của Mỹ và thế giới và đã đào tạo được rất nhiều nhân tài.

Princeton là một trong những trường đại học lâu đời hàng đầu tại Mỹ và áp dụng chính sách mù tài chính cho sinh viên quốc tế
Princeton là một trong những trường đại học lâu đời hàng đầu tại Mỹ và áp dụng chính sách "mù tài chính" cho sinh viên quốc tế

Chính sách này hiện có hiệu lực đến ngày 30 tháng 9 năm 2022, tuy nhiên chỉ có 5 trường đại học và cao đẳng tại Mỹ mới áp dụng đối với cả sinh viên bản xứ và quốc tế là Princeton, Harvard, Yale, MIT và Amherst College.

Thoạt nghe, đây thực sự là một chính sách hỗ trợ tuyệt vời và mở ra nhiều cơ hội cho các sinh viên ham học và có tài năng. Tuy nhiên, mọi chuyện liệu có dễ dàng như vậy?

Mặt trái của sự nhân văn

Tiêu chuẩn để được nhận vào các trường đại học hàng đầu tại Mỹ là một điều không thể bàn cãi, bản thân các ứng viên có tiền để trang trải học phí cũng chưa chắc đã được chấp thuận cho học tại đây.
Các tiêu chí thường thấy như điểm GPA thường phải đạt từ 3.8 – 4.0, IELTS 7.5 – 8.0 (tương đương 100 – 110 TOEFL IBT), điểm SAT gần như tuyệt đối so với mức 2400.

Tuy nhiên, đó chỉ là những yếu tố để một sinh viên bình thường, tức là đủ giàu để theo học có thể phấn đấu nếu muốn được nhận vào trường. Còn những trường hợp được áp dụng chính sách “mù tài chính”, trình độ của họ phải cao hơn nhiều và trải qua những vòng tuyển chọn khắt khe.

Nếu các bạn đòi hỏi tính công bằng ở đây, thì đó là điều không thể. Đối với hai ứng viên có trình độ ngang nhau, đương nhiên các đại học sẽ lựa chọn người có khả năng tài chính tốt hơn. Xét cho cùng, họ không phải là mạnh thường quân mà là các nhà tư bản. Chính vì vậy, muốn được nhận vào trường với gói hỗ trợ trên, bạn phải là một tài năng xuất chúng mà các trường đại học biết rằng, có thể “bóc lột” được sau này.

Không giống như học bổng với các điều kiện rõ ràng, chính sách “mù tài chính” khá mịt mờ về việc các sinh viên có phải làm việc trong quá trình học hay sau khi tốt nghiệp để chi trả khoản học phí đã được tài trợ trước đó hay không. Cho đến nay, các trường đại học cũng không công bố cụ thể lượng sinh viên được nhận hỗ trợ này hàng năm cũng như tình trạng sau khi tốt nghiệp của họ.

Chính vì thế, chúng ta không thể biết được tính từ thời điểm chính sách này có hiệu lực đã có bao nhiêu sinh viên xuất sắc trên thế giới theo học tại các trường đại học hàng đầu nhờ tài trợ này, hay chính xác hơn là các trường đại học tại Mỹ đã “lôi kéo” được bao nhiêu chất xám trên toàn cầu về làm việc cho mình.

Tình trạng “chảy máu chất xám” đang trở nên đáng báo động tại các quốc gia đang phát triển trên thế giới, trong đó có Việt Nam với nguyên do rất lớn đến từ chính sách này. Theo thống kê tại các trường đại học trên thế giới, nhóm sinh viên đến từ các nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam luôn vị trí cao trong thành tích học tập so với các học sinh có quốc tịch khác, và phần lớn họ là những người được hỗ trợ tài chính.

Việc đạt được học bổng tại các trường đại học như Princeton hay Yale dường như khó hơn lên trời do số lượng ngày càng hiếm hoi, đặc biệt trong bối cảnh doanh thu từ giáo dục hiện nay đang tăng một cách đáng kể đối với nền kinh tế Mỹ.

Chính vì vậy, các sinh viên ưu tú nhưng nghèo sẽ cần sự trợ giúp của chính sách “mù tài chính” – kẻ thay thế hoàn hảo cho các học bổng.

Số tiền được bỏ ra để tài trợ cho lượng sinh viên hàng năm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay của các trường đại học quá ít ỏi so với doanh thu và tài sản của họ (Harvard, Stanford, Yale, Princeton và MIT lần lượt là các trường giàu nhất tại Mỹ với tài sản thuần lên tới 43,2 tỷ, 31,6 tỷ, 25,4 tỷ, 21,3 tỷ và 15,2 tỷ USD). Hơn nữa, trong tương lai thành quả lao động của những sinh viên xuất chúng này còn giá trị hơn nhiều so với khoản học phí đắt đỏ trên.

Lòng tốt thường đi kèm với mục đích, đó là lý do tại sao các sinh viên quốc tế theo học tại các trường đại học thàng đầu thường không trở về quê hương làm việc.

Tất nhiên, quyết định chủ yếu đến từ phía họ, nhưng ẩn sau những khuôn viên thơ mộng, những lớp học lâu đời hay thư viện cổ kính lại là những đầu óc kinh doanh và tầm nhìn nhạy bén khác.
Thư Anh
Theo Trí Thức Trẻ/Tổng hợp

Share:

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Không xin được việc Phố Wall, về nhà mở công ty trị giá 600 triệu USD

Nhà đầu tư huyền thoại Peter Thiel, người đầu tiên đầu tư vào Facebook, cũng vừa trở thành cổ đông của công ty này.

Tốt nghiệp tại Harvard, thất nghiệp ở Phố Wall

Khi có trong tay tấm bằng tốt nghiệp đại học Harvard ngành kế toán và tài chính, bạn sẽ nghĩ rằng, sẽ chẳng có gì khó khăn khi phải tìm một công việc ở Phố Wall.

Tuy nhiên, đó không phải là trường hợp của Daniel Saks, 29 tuổi, người đồng sáng lập và Giám đốc điều hành của AppDirect, một công ty chuyên về điện toán đám mây.

Khi Saks nhận bằng Thạc sĩ của Harvard (theo chương trình Harvard Extension School) vào năm 2009, anh đã cố gắng tìm kiếm một vị trí tại các ngân hàng như Goldman Sachs hay Morgan Stanley. Nhưng rồi Saks đã không hề nhận được bất kỳ lời mời nào. Đó là ngay giữa lúc suy thoái kinh tế đang bao trùm nước Mỹ, và cơ hội việc làm không được rộng mở đối với các sinh viên mới ra trường như Saks.

Mọi thứ ngày càng trở nên ảm đạm hơn. Kinh nghiệm làm việc tại thời điểm đó của Saks chỉ là khoảng thời gian thực tập không lương cho một công ty nhỏ tại San Francisco. Tệ hơn nữa, việc kinh doanh đồ gỗ có truyền thống cả trăm năm tuổi của gia đình Saks cũng vừa đóng cửa vì kinh tế suy thoái.

"Cuộc sống lúc đó quả là khắc nghiệt", Saks chia sẻ với tờ Business Insider.

Giữa lúc thất nghiệp, lại thêm việc kinh doanh của gia đình gặp phải biến cố, Saks cần thời gian để làm mới chính mình. Anh quyết định thực hiện một chuyến đi đến gia đình người bạn cũ Nicolas Desmarais, lúc đó đang làm tư vấn cho Bain & Co tại San Francisco.

Trong khoảng thời gian này, Saks nghĩ tới chuyện bắt đầu công việc kinh doanh. Saks luôn ngưỡng mộ tinh thần kinh doanh của cha và cảm thấy việc điều hành công ty cũng giống như cách quản lý gia đình mình vậy. Chỉ có điều, bản thân Saks chưa rõ anh đang muốn gì.

Desmarais vào thời điểm đó đã có khách hàng là các công ty công nghệ lớn, đang tìm cách nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng của họ. Vì vậy, Desmarais có thể nhận biết xu hướng chuyển dịch sang điện toán đám mây. Và rồi Saks đã nảy ra vài ý tưởng mới với Desmarais.

"Chúng tôi nhận ra rằng, điện toán đám mây hoàn toàn có thể thay đổi cách doanh nghiệp hoạt động. Nó thậm chí có thể cứu việc kinh doanh của gia đình tôi", Saks nói.

Saks đã dành 5 tháng tiếp theo để hoàn thiện kế hoạch kinh doanh của mình. Anh cũng thuyết phục Desmarais từ bỏ công việc lúc đó để làm việc toàn thời gian cho dự án này. Hai người đã bắt tay nhau để sáng lập công ty AppDirect vào năm 2009.
Khong xin duoc viec Pho Wall, ve nha mo cong ty tri gia 600 trieu USD
Đồng sáng lập AppDirect Nicolas Desmarais (trái) và Daniel Saks - Ảnh: BI

Công ty khởi nghiệp trị giá 600 triệu USD

AppDirect ngày nay là phần mềm hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động thương mại điện tử của nhiều công ty. Về cơ bản, phần mềm này xây dựng một cửa hàng ứng dụng cho các khách hàng, giống như iTunes hay Google Play, nhưng chỉ chuyên về các ứng dụng kinh doanh. Phần mềm này sẽ cung cấp nền tảng cơ bản cho các công ty như Samsung hay Rackspace, từ đó, những công ty này có thể xây dựng nhãn hiệu của riêng họ.

Chẳng hạn như, Samsung có chợ ứng dụng Samsung KNOX riêng, còn Rackspace cũng có chợ riêng của họ, nơi các ứng dụng được tối ưu hóa nền tảng tương ứng để bán cho khách hàng. Cả hai chợ ứng dụng này đều sử dụng công nghệ của AppDirect.

Ý tưởng của AppDirect nghe có vẻ đơn giản, nhưng thực tế các công ty phải tiêu tốn rất nhiều nguồn lực để xây dựng nên cửa hàng ứng dụng cho riêng họ. Mặc dù một số công ty như Salesforce có năng lực để tạo nên ứng dụng cho riêng mình nhưng nhiều công ty thích thuê các công ty như AppDirect để cắt giảm thời gian và chi phí. AppDirect cũng cho các khách hàng khả năng sắp xếp và giám sát các ứng dụng được bán, tạo sự minh bạch tối đa.

Tình hình kinh doanh của AppDirect hiện tại khá tốt. Hơn 20 triệu người đã sử dụng sản phẩm của họ, bao gồm cả nhân viên tại các công ty lớn như Comcast, Deutsche Telekom và ADP. Doanh thu của AppDirect đã tăng gấp đôi trong bốn năm liên tiếp (nghĩa là tăng tổng cộng 16 lần), đạt 18 triệu USD trong năm ngoái.

Đầu tháng 2/2015, AppDirect thông báo một nhóm các nhà đầu tư nổi tiếng, trong đó có Peter Thiel và Ajay Royan, vừa rót 50 triệu USD vào công ty. Saks cho biết công ty được định giá 600 triệu USD, tăng gấp đôi giá trị so với năm ngoái.

"AppDirect mở ra một thị trường mới cho các nhà sản xuất phần mềm bằng cách giúp các công ty nhỏ tìm được phần mềm thích hợp và sử dụng chúng một cách hiệu quả", Peter Thief cho biết.
Saks cũng kỳ vọng AppDirect sẽ tiếp tục tăng gấp đôi quy mô cả về doanh thu và nhân viên trong thời gian tới. Công ty cũng đã có văn phòng ở San Francisco, Munich, London và Montreal, nhưng Saks có kế hoạch tiếp tục mở rộng thêm nữa nhờ vào dòng vốn mới.

Trường Văn - Nhịp Cầu Đầu Tư

Nguồn BI
Share:

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

7 bài học kinh doanh trường Harvard dạy bạn

Dưới đây là 7 bài học kinh doanh của Trường Harvard mà tác giả Richard Feloni rút ra sau khi tham gia một khóa học kinh doanh trực tuyến của ngôi trường nổi tiếng này. Bài viết đăng trên Business Insider.

Richard Feloni cho biết, thông qua những bài tập tình huống sát với thực tế, các học viên được cung cấp những kiến thức nền tảng nhất liên quan đến cách thức hoạt động của một công ty cũng như những chiến thuật kinh doanh đánh vào yếu tố tâm lý của người tiêu dùng, giúp tối đa hóa lợi nhuận cho những công ty này.

1. Người chiến thắng cũng có thể là kẻ thua cuộc

Điều này thể hiện rõ nhất trong các buổi đấu giá sôi động trên thế giới. Nếu những người tham gia phiên đấu giá không nắm đầy đủ thông tin về giá trị món hàng thì việc người nào đó giành chiến thắng sẽ là chuyện rất ngẫu nhiên. Đó có thể là bất kỳ ai miễn là họ trả giá cao hơn những người khác.

Feloni lý giải, việc một người định giá món hàng thấp hơn giá trị thực của chúng và người trả đúng giá trị của món hàng có một điểm chung là chúng chẳng mang về cho họ chút lợi nhuận nào (thặng dư= 0). Nhưng họ đều không thắng đấu giá.

Người chiếm được quyền sở hữu món đồ đó - tức người thắng đấu giá nhờ trả giá cao hơn 2 người kia - là người đã định giá quá cao giá trị của món hàng. Trong trường hợp này, không những không có lợi nhuận, họ còn bị "thâm hụt" do phải trả cao hơn giá trị thật của sản phẩm.

2. Những bộ sản phẩm tối đa hóa giá trị đồng nghĩa với sự lãng phí

Hầu như ai cũng từng một lần mua trọn bộ một gói sản phẩm mà trong đó có những thứ bản thân thực sự không cần đến.

Ví dụ: Bạn thật sự cần Microsoft Word, và có khả năng sử dụng Power Point, rồi bạn phát hiện ra mình có thể dùng Excel trong một vài tình huống. Thế nên, so với việc chỉ mua Word như dự tính ban đầu, bạn thấy sẽ tiện lợi hơn nếu có nguyên bộ sản phẩm, và rồi bạn bắt đầu cân nhắc việc trả thêm tiền để mua trọn bộ sản phẩm.

Cái hay của việc kinh doanh gói sản phẩm này là nó tối đa hóa doanh thu cho doanh nghiệp không phải vì nhu cầu thực sự của khách hàng, mà vì sở thích của họ.

Cuối cùng, Microsoft sẽ chiến thằng bằng cách tạo ra chính sách phân biệt giá, một chiến lược mà trong đó những hàng hóa giống nhau sẽ được bán với mức giá chênh lệch tại những thị trường khác nhau; giống như việc bạn phải trả đủ tiền cho bộ sản phẩm gồm khăn giấy (theo nhu cầu của mình) và thêm một vài loại khăn giấy đang khuyến mãi khác chỉ vì bạn được tặng phiếu giảm giá.

3. Giá trần và giá sàn có thể chỉ làm phức tạp hóa vấn đề

Năm 2012, nước Mỹ bị tàn phá nặng nề bởi siêu bão Candy. Khi đó, tại bang New York, các nhà bán lẻ xăng dầu đã lợi dụng tình trạng khan hiếm nhiên liệu để bán chúng với giá "cắt cổ".
Người dân New York xếp hàng dài chờ đổ xăng

Việc người dân đổ xô đi mua nhiên liệu với giá cao đã khiến giá cả bị "đội" lên, nguồn cung thì khan hiếm trong khi nhu cầu mua hàng lại ngày một tăng cao. Điều này dẫn đến việc New York xảy ra tình trạng thiếu hụt nhiên liệu và người dân phải xếp hàng dài chờ mới mua được nhiên liệu.

Ngay sau sự việc đó, Chính quyền bang New York đã phải ban hành đạo luật "Chống giá cắt cổ" (anti-price gouging law) nhằm ngăn chặn tình trạng này. Mức "giá trần" được đặt ra. Đây là mức giá cao hơn giá cân bằng (giá sàn - là giá trị mà tại đó lượng cung sẽ bằng lượng cầu) và các công ty không được tăng vượt mức giá này.

Tuy nhiên, việc không được bán với giá vượt mức "giá trần" khiến các công ty ở những bang khác không đủ động lực để vận chuyển xăng dầu đến bán cho khách hàng ở New York, tình trạng khan hiếm lại càng nặng hơn, dẫn tới việc xảy ra xô xát giữa người dân khi họ không kiếm được khí đốt dùng để sưởi ấm cho mùa Đông.

Trường hợp giá trần, giá sàn không có tác dụng cũng xảy ra tương tự đối với mức lương tối thiểu, khi chính quyền quyết định áp mức giá sàn (giá tối thiểu) cho một thị trường lao động có độ co giãn. Khi đó, đã có nhiều công nhân chấp nhận làm tăng ca để được trả thêm tiền, dẫn đến tình trạng dư thừa sức lao động và kéo theo tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.

4. Chi phí cố định không liên quan tới việc định giá sản phẩm

Những chi phí cố định như tiền thuê nhà hay đầu tư trang thiết bị sẽ không chịu ảnh hưởng bởi việc tăng hay giảm giá sản phẩm. Cho dù loại chi phí này có ảnh hưởng đến quyết định sáp nhập hay tiếp tục kinh doanh của công ty thì nó cũng không liên quan đến việc định giá sản phẩm.

Ví dụ: Nếu bạn bỏ ra 300.000USD để mở một quán cà phê và bán một ly cà phê với giá 2USD thì bất cứ khoản tiền nào kiếm được từ 2USD cũng là lợi nhuận. Vì thế, nếu bạn quyết định hạ giá bán ly cà phê thấp hơn 2USD (để cạnh tranh với đối thủ khác) thì con số 300.000USD ban đầu cũng không "ảnh hưởng" gì, chỉ có mức lợi nhuận mà bạn kiếm được bị giảm đi thôi.

Do đó, chi phí cố định không được lấy làm cơ sở để định giá sản phẩm. Giá bán sản phẩm được xác định dựa trên chi phí sản xuất (như nguyên vật liệu, bao bì, nhân công...)

5. Mẫu ngẫu nhiên được tin cậy

Nếu bạn đang đo lường mức độ tác động của một biến số đối với mật độ phân bố dân cư, ví dụ như khoảng cách từ khu vực ngoại ô đến trung tâm thành phố ảnh hưởng thế nào tới giá nhà đất nơi đó, thì mức trung bình mẫu sẽ có phân phối chuẩn (còn được gọi là Đường cong chuông), theo Định lý giới hạn trung tâm.

Mức trung bình của Đường cong chuông này sẽ cho kết quả xấp xỉ với mức trung bình thực của mật độ dân cư tại đó.
Định lý giới hạn trung tâm

Tuy nhiên, trong thực tế, không ai lại tốn nhiều thời gian và nguồn lực để khảo sát một lượng lớn mẫu và ngồi tính toán trung bình.

Thay vì vậy, với độ tin cậy khoảng 95%, từ giá trị trung bình một số mẫu đã có, ta sẽ tính được độ lệch chuẩn của mức trung bình dân số. Nếu không đi sâu vào toán học thì đây là cách chúng ta có thể tự tin xác định phạm vi các giá trị được tính từ một mẫu.

6. Khấu hao tài sản và giá trị hàng tồn kho không phụ thuộc tình hình kinh doanh

Khi một nhà máy đóng chai "tậu" được một máy đóng chai mới thì công ty sẽ quyết định cách tính giá trị hao mòn của nó - tức là cách xác định khấu hao dựa vào thời gian sử dụng.

Có hai cách chính để lựa chọn là khấu hao nó theo phương pháp đường thẳng (tức mức khấu hao hằng năm sẽ không thay đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản), và phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh (tức chi phí được ghi nhận trong những năm đầu sẽ nhiều hơn so với những năm sau đó).

Tương tự, khi một công ty sản xuất nước trái cây thay đổi giá của một sản phẩm thì có thể định giá giá trị hàng tồn kho của mình bằng hai phương pháp: Đó là nhập trước - xuất trước (FIFO), tức là những chai nước ép được nhập vào kho lâu nhất sẽ được ghi nhận là xuất đầu tiên; hoặc là Nhập sau - xuất trước (LIFO), tức những hàng hóa nhập kho gần nhất sẽ được xuất ra trước.

Cả hai phương pháp này đều không phụ thuộc vào tình hình kinh doanh thực tế của công ty.

7. Cách dòng tiền lưu thông tiết lộ "sức khỏe" của công ty

Những thông báo định kỳ về dòng tiền hiện có của công ty cho thấy cách mà lượng tiền mặt này dịch chuyển "ra", "vào" từ những hoạt động như kinh doanh (sản xuất sản phẩm), đầu tư (khoản tiền mặt chủ yếu sẽ liên quan đến những tài sản dài hạn như bất động sản, trang thiết bị), và những hoạt động tài chính (tiền mặt tăng lên liên quan đến việc tăng vốn đầu tư hay chi trả lợi nhuận cho các nhà đầu tư).

Và sau đây là cách giải thích cụ thể hơn:

- Khởi nghiệp: Thông thường dòng tiền trong giai đoạn này sẽ đi ra, "đổ" vào công việc kinh doanh, đầu tư bên ngoài cùng hoặc chi trả cho những biến động lớn trong ngành tài chính.

- Sinh lãi (Giai đoạn tăng trưởng): Lượng tiền mặt thu được từ hoạt động kinh doanh sẽ "chảy" vào ngân sách công ty, đồng thời dòng tiền sẽ chuyển ra bên ngoài tiếp tục đổ vào dự án đầu tư, hay mất mát do những biến động tài chính.

- Mở rộng vốn (Giai đoạn ổn định): Tương tự như giai đoạn tăng trưởng, tuy nhiên lúc này sẽ có một ít dòng vốn ra khỏi công ty dành cho việc đầu tư, thay thế thiết bị đã cũ và lượng tiền mặt đổ vào hoạt động tài chính bên ngoài cũng nhiều hơn (dùng để trả các khoản vay hoặc chi trả cổ tức cho cổ đông).

- Thoái vốn (Giai đoạn suy giảm): Lúc này công ty đang trong giai đoạn suy giảm nên dòng vốn thường lưu thông ra bên ngoài nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh, đồng thời sẽ có thêm dòng vốn chảy vào công ty nhờ những hoạt động đầu tư (ví dụ: bán tháo các tài sản không dùng đến), và dòng vốn lưu thông ra-vào từ những hoạt động tài chính (nhiều khả năng công ty không tìm những khoản vay mới hoặc gặp khó khăn trong việc trả lương cho nhân viên).
 (Doanh Nhân Sài Gòn)

>> 12 lời khuyên khiến bạn phải bỏ việc ngay lập tức để trở thành doanh nhân

Share:

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

Giáo sư Harvard: Giới trung lưu Việt Nam không ảnh hưởng đến bạn ấy à? Nghĩ lại đi!

Tầng lớp trung lưu đang sử dụng đồng lương mới của mình cho lối sống tiêu dùng như phương Tây.

Giáo sư Harvard: Giới trung lưu Việt Nam không ảnh hưởng đến bạn ấy à? Nghĩ lại đi!

Sau chuyến đi tới Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã tận mắt chứng kiến sự bùng nổ nhu cầu mua sắm của người Việt được thúc đẩy bởi sự gia tăng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu.

Trong chuyến đi ngắn ngủi này, tôi đã có cơ hội gặp gỡ những lãnh đạo của Chính phủ, doanh nghiệp, những nhà đầu tư trong và ngoài nước, những nghệ sĩ, nông dân và các bác tài xế taxi. Tôi được ăn uống trong các nhà hàng mà ở đó New York cũng trở thành “thiên đường giá rẻ” trong mắt những người Việt thường xuyên dành hàng trăm nghìn USD mua trang sức nhập khẩu được thiết kế riêng.

Chênh lệch giàu nghèo vẫn hiện hữu ở mọi nẻo đường cuộc sống, dù cho đời sống của người dân Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong 20 năm qua. Trái ngược với những nhà hàng xa hoa, những chủ tiệm mì ven đường vẫn nở một nụ cười rạng rỡ với chỉ dưới 1 USD tiền tip.

Nhưng có một điều hoàn toàn chắc chắn ở Việt Nam: tiêu dùng đang bùng nổ. Tầng lớp trung lưu đang sử dụng đồng lương mới của mình cho lối sống tiêu dùng như phương Tây.

Nhà hàng và quán cà phê ngày càng phổ biến. Nnhững tập đoàn đa quốc gia – ví như McDonald’s – ngày càng quan tâm đến thị trường tiềm năng này. McDonald's mới vào Việt Nam từ năm ngoái và hiện đã có 5 chuỗi nhà hàng ở Sài Gòn. Tại những cửa hàng đầu tiên, doanh số bán hàng của hãng thậm chí còn đạt trên 30% so với dự đoán lạc quan nhất của họ. Nhiều gia đình tầng lớp trung lưu Việt Nam tận hưởng bữa tối cuối tuần tại McDonald's và cũng không mấy ngạc nhiên nếu McDonald's muốn mở 1.000 cửa hàng tại Việt Nam vào năm 2025.

Nhưng ăn uống không phải là mặt hàng duy nhất nằm trong danh sách ưu tiên chi tiêu của giới trung lưu. Họ còn quan tâm tới bất động sản. Sau vài giờ lượn quanh các khu phố tại Sài Gòn trên chiếc xe máy với một người bạn Việt, anh đưa tôi về nhà bạn đồng nghiệp của anh. Người đàn ông chúng tôi gặp tự nhận mình là một “nông dân”. Nhưng thực tế, anh là giám đốc điều hành của công ty nuôi tôm lớn nhất Việt Nam. Anh bạn này luôn khiêm tốn, thông minh và sâu sắc, nhưng tôi lại bị ấn tượng bởi cảnh quan xung quanh nhà anh hơn. Chúng tôi gặp nhau trong sân của căn biệt thự, hiện đại và thoải mái như những căn biệt thự bậc nhất tại Hoa Kỳ.

Và sau đó, vào buổi tối, khi tôi ăn tối với người bạn và vợ của anh ta tại một nhà hàng sushi sang trọng, nằm ở đỉnh toàn tháp cao nhất Sài Gòn, mong đợi của tôi lại tiêu tan một lần nữa. Trong khi tôi mong rằng mình sẽ thấy đám đông người nước ngoài tại nhà hàng này vì nó đắt hơn phần lớn thu nhập của hầu hết người Việt; thì trái lại, nơi này toàn là người Việt. Rất nhiều trong số đó là những doanh nhân được đào tạo ở nước ngoài và họ sống trong thành phố này để theo đuổi những cơ hội kinh doanh tuyệt vời.

Bên dưới chúng tôi 25 tầng, các gia đình đang ra ngoài ăn tối. Giao thông tắc nghẽn. Nhà hàng thì chật cứng. Quán bar đông nghẹt. Các cửa hàng thì tấp nập bán mua. Nói chung, Sài Gòn rất năng động. Những điều diễn ra xung quang khiến tôi có cảm giác chắc chắn rằng tại đây, tầng lớp trung lưu sẽ ngày một phát triển trong tương lai.

Và các bạn, những người Mỹ của tôi ơi, nếu bạn cho rằng tầng lớp trung lưu đang phát triển của Việt Nam chẳng ảnh hưởng gì đến mình, thì xin hãy nghĩ lại. Gần 20% giá trị xuất khẩu của quốc gia này là sản phẩm của Samsung Electronics – tất cả mọi thứ từ TV đến điện thoại thông minh. Gã khổng lồ điện tử này đã đầu tư hơn 14 tỷ USD vào Việt Nam và tuyển dụng hơn 100.000 công nhân để sản xuất 1/3 lượng điện thoại thông minh của Samsung trên toàn cầu. Và điều gì sẽ xảy ra nếu những công nhân này tiêu thụ lượng hàng mà họ sản xuất? Hay khi họ bắt đầu đòi tăng lương?

Nhưng tất nhiên, có nhiều điều về Việt Nam hơn là chỉ có điện thoại thông minh. Quốc gia này đang là nước xuất khẩu hạt điều, cà phê và hạt tiêu lớn nhất thế giới. Và với tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển, nền kinh tế Việt Nam có thể sẽ bớt phụ thuộc vào nước ngoài nhờ vào nhu cầu lớn của người tiêu dùng trong nước. Và điều gì sẽ diễn ra khi xuất khẩu giảm sút trầm trọng vì sự bùng nổ nhu cầu mua sắm của người Việt?
Theo Trí Thức Trẻ/PBS.org
Share:

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Choáng với 'đế chế kinh doanh' khổng lồ Harvard

Nếu coi Harvard là một đất nước, nó thậm chí nó còn lớn hơn 104 quốc gia khác trên thế giới.

Harvard nổi tiếng thế giới không chỉ vì hệ thống giáo dục hoàn hảo với một đội ngũ giảng viên có uy tín và những sinh viên ưu tú, mà đây còn là ngôi trường giàu có với doanh thu lớn hơn GDP của nhiều nước trên thế giới.

Câu hỏi đặt ra là, nếu coi Harvard như một tập đoàn kinh doanh thì doanh thu của họ kiếm được chủ yếu từ đâu?

Nếu nhìn vào báo cáo tài chính năm 2014 của Harvard, có lẽ nhiều công ty trên thế giới phải thấy “hổ thẹn”. Cụ thể, tổng doanh thu hoạt động của trường trong năm tài chính 2014 tăng 5% lên mức 4,4 tỷ USD. Số tiền này đến chủ yếu từ những khoản quyên góp của các cá nhân và tổ chức, học phí…
Cụ thể, tổng số tiền quyên góp trường Harvard nhận được trong năm tài chính 2014 đã tăng 3% lên mức 1,5 tỷ USD. Lớn nhất phải kể đến món quà trị giá 150 triệu USD từ tỷ phú Kenneth Griffin. Đây cũng được coi là món quà từ thiện lớn nhất trong lịch sử ngôi trường này.

Cũng trong năm 2014, mỗi sinh viên Harvard phải nộp khoản học phí lên tới 43.928 USD/năm và đây chính là nguồn thu không hề nhỏ của trường. Tổng cộng doanh thu từ học phí đã tăng gần 7% lên mức 878 triệu USD trong năm tài chính 2014. Đây được cho là kết quả của việc mở rộng thêm chương trình đào tạo và tăng số lượng học viên nhập học tại Trường Kinh doanh Harvard và một số trường, viện trực thuộc khác.

Ngoài ra, bản thân Harvard cũng thực hiện được nhiều khoản đầu tư sinh lời. Ví dụ điển hình là số cổ phần trường đại học này nắm giữ ở General Investment Account đã tăng từ 1,5 tỷ USD vào ngày 30/6/2013 lên mức 2,1 tỷ USD vào ngày 30/6/2014.

Một “con cưng” khác sản sinh ra doanh thu khổng lồ cho Harvard là Trường Kinh doanh Harvard (HBP). Hàng năm, đơn vị này thu được gần 200 triệu USD nhờ bán case study cho các trường học, công ty và một số đơn vị khác. Riêng trong năm 2014, HBP bán được 12 triệu bản case study cho các trường học, công ty và một số đơn vị khác. Giá bán lẻ giao động từ 9 – 15 USD/case study cơ bản, riêng các trường học sẽ được giảm giá. Doanh số bán case study thậm chí tăng nhanh hơn cả doanh số thuê bao đọc Harvard Business Review (một tạp chí trực thuộc trường).

Chỉ riêng doanh thu từ những khoản từ thiện của chính quyền liên bang và phi liên bang giảm 13 triệu USD (tương đương 2%) xuống còn 819 triệu USD trong năm tài chính 2014.

Tất cả những điều kể trên đã khiến “đế chế kinh doanh” Harvard trở nên hùng mạnh hơn bao giờ hết. Cụ thể, theo thống kê của Forbes, giá trị tài sản thuần của Harvard lên tới 43,2 tỷ USD (tính đến ngày 30/6/2014) khiến nó trở thành trường đại học giàu có nhất nước Mỹ.
Như vậy, nếu coi Harvard là một đất nước, nó thậm chí còn giàu có hơn 104 quốc gia trên thế giới. Để đơn giản hơn, dưới đây là bảng so sánh của chúng tôi về một số chỉ số chính giữa Harvard và Time Warner – một công ty hoạt động trong lĩnh vực viễn thông và truyền thông của Mỹ:

Share:

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

Cử nhân Harvard hay mới ra tù đều như nhau

Anh khao khát làm việc tại đây đến mức nào? Nếu ứng cử viên trả lời được và Henry Ford cảm thấy thuyết phục thì người đó sẽ được nhận làm việc. Ngoài ra, bắt buộc cung cấp đầy đủ thông tin về tên, tuổi, tình trạng hôn nhân để công ty nắm được đôi chút thông tin ứng cử viên.
Trong cuốn nhật ký My life and work của mình, cha đẻ ngành công nghiệp ô tô Henry Ford đã chia sẽ những cách tuyển dụng nhân viên vào làm cho ông. Khác với hầu hết cách tuyển dụng ngày này, công ty Ford không tuyển một người có hồ sơ tốt hay qua những thành tựu đạt được trước đó, nhưng cũng không từ chối người nào chỉ vì quá khứ của anh ta.

Ông cho rằng mình chưa bao giờ gặp ai hoàn toàn xấu cả. Luôn có điểm tốt ở con người đó nếu anh ta có cơ hội thể hiện mình.

Đó là lý do công ty Ford không quan tâm đến lai lịch hay hồ sơ của ứng cử viên. Ford tuyển dụng nhân viên chứ không tuyển dụng quá khứ của nhân viên. Nếu anh ta bị đi tù, chẳng có lý do gì để khẳng định người đó sẽ ăn cơm tù tiếp cả.

Trái lại, Ford còn cược rằng nếu cho người đó cơ hội, chắc chắn anh ta sẽ nổ lực hết mình để không phải lặp lại quá khứ lần nữa.

Phòng tuyển dụng của Ford không ác cảm với một người chỉ vì những gì người đó đã làm gì trong quá khứ. Ứng cử viên hoàn toàn có thể được chấp nhận một cách bình đẳng dù anh ta từng ở “nhà đá” hay mới tốt nghiệp trường Harvard và thậm chí không có bất kỳ đòi hỏi ứng cử viên phải tốt nghiệp ở trường nào hoặc ngành gì.

Quay trở lại thời điểm khi ông trưởng thành, chính sự đam mê được làm công việc chế tạo máy đã thúc đẩy ông mạo hiểm từ bỏ những cơ hội thăng tiến trước mắt hay con đường học vấn để mở ra một cơ hội cho tầm nhìn của mình.

Do đó, tất cả những gì mà Ford cần ở những người nộp đơn vào công ty là lòng khao khát làm việc. Nghe có vẻ quen thuộc nhưng nếu một người không có tham vọng được làm việc thì chắc chắn ứng cử viên đã không xin vào làm ở vị trí đó.

Vì thế, được nhận hay không được nhận còn tùy thuộc vào sự thể hiện của mỗi ứng cử viên dựa trên một tiêu chí duy nhất: Anh mong muốn làm việc tại đây đến mức nào?

Tuy nhiên lợi thế của một hồ sơ tốt là sẽ giúp giúp ứng cử viên có thể vượt lên trước nhanh hơn người khác nhờ những kỹ năng được trang bị, nhưng người đó cũng phải bắt đầu công việc từ vị trí thấp nhất và chứng tỏ khả năng thực sự của mình. Đó là quy luật và không có ngoại lệ của Ford.

Không tuyển các chuyên gia, Ford thích thuê những người “điên” hơn

Ngoài ra, công ty Ford nổi tiếng vì không có bất kỳ chuyên gia nào làm việc tại đây. Lý do là trong phương pháp tuyển dụng, Ford từ chối các chuyên gia bởi vì họ thường biết cái gì không thể làm được. Ông thích tuyển những cá nhân sáng tạo dám xông vào khó khăn để khắc phục vấn đề với một đầu óc cởi mở.

Người mù, điếc và câm, người bị khuyết tật một tay hay chân đều được Ford tuyển dụng với mức lương như người khỏe mạnh. Ông từng nói rằng, “Tôi nghĩ rằng nếu một công ty công nghiệp được cho là hoàn tất vai trò của mình thì nhân viên ở đó phải tiêu biểu cho một xã hội thu nhỏ. Công ty chúng tôi luôn có những người tàn tật làm việc”.

Ford cũng không thuê bất kỳ một giám đốc hay nhà quản lý nào từ bên ngoài, thay vào đó ông muốn những người mang chức danh này khởi đầu từ vị trí thấp nhất tại công ty. Theo ông, thăng tiến trong công việc chỉ đơn giản là một người nhận thấy mình đang làm một công việc thực sự nào đó thay vì quan tâm mình đang làm gì và kiếm được bao nhiêu tiền.

Do đó, tất cả các chức danh quan trọng của công ty sẽ được khởi nguồn từ một vị trí thấp hơn. Giám đốc của công ty bắt đầu từ một kỹ sư điện máy. Người điều hành nhà máy sản xuất hùng hậu tại River Rouge cũng khởi đầu là một nhà thiết kế mẫu sản phẩm. Một người khác, người đứng đầu bộ phận sản xuất leo xuất phát từ một người quét dọn trong nhà xưởng.

Thành công của công ty Ford hôm nay một phần lớn được đóng góp từ những cá nhân xuất sắc này. Những người tiềm năng và không ngừng hoàn thiện mình để vươn lên trong quá trình làm việc.
Bên cạnh đó, Henry Ford trả lương cho nhân viên cao hơn mặt bằng chung vì ông tin rằng lương cao làm tăng sự ổn định của lực lượng lao động và giúp đỡ con người tập trung làm việc vì gia đình họ được lo lắng đầy đủ.
(Tri Thức Trẻ) 

>> Bí quyết từ công nhân trở thành ông chủ của Henry Ford

Share:

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Lời khuyên nuôi dạy con của chuyên gia Đại học Harvard

Theo Richard Weissbourd, một chuyên gia tâm lý của Đại học Harvard thì điều quan trọng khi nuôi dạy con trẻ không phải là cố ép chúng trở thành thiên tài mà phải dạy được chúng cách sống “tử tế, nhân hậu”.

Một cuộc thăm dò do Weissbourd tiến hành mới đây đã cho thấy các bậc phụ huynh bị ám ảnh bởi thành tích học tập của con cái hơn là về tình cảm, tính cách của chúng. Tỷ lệ phụ huynh cảm thấy tự hào nếu điểm số ở lớp của con mình cao hơn các bạn cùng lớp nhiều gấp 3 lần so với những người hạnh phúc khi con mình tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, chăm sóc cộng đồng do trường tổ chức.

Chính vì thế, Weissbourd đã đưa ra những khuyến nghị về cách nuôi dạy trẻ để chúng trở thành những người “biết quan tâm, tôn trọng người khác và sống có trách nhiệm” khi trưởng thành. Bạn tự hỏi tại sao những phẩm chất này lại quan trọng? “Đó là vì nếu như muốn con bạn trở thành người tốt, bạn cần phải nuôi dạy chúng như vậy”.

“Nhân chi sơ tính bản thiện. Một đứa trẻ ra đời chưa biết thế nào là tốt hay xấu, do đó, chúng ta không bao giờ được phép định kiến hay dễ dàng bỏ cuộc. Chúng cần sự giúp đỡ của người lớn để biết cách quan tâm, yêu thương người khác, sống trách nhiệm với cộng đồng dù ở bất cứ lứa tuổi nào”.
 Ảnh minh họa.

Dưới đây là 5 bí quyết để nuôi dạy trẻ theo hướng như vậy, theo lời Weissbourd.

1. Luôn đặt việc quan tâm tới người khác lên hàng đầu

Vì sao? Các bậc cha mẹ thường có xu hướng coi trọng thành tích học tập cũng như niềm vui của con mình hơn là cách sống “vì người khác”. Nhưng trẻ em cần phải học được cách cân bằng nhu cầu của mình với nhu cầu của người khác, dù cho đó là cho bạn mượn quả bóng hay là đứng ra bảo vệ một người bạn bị bắt nạt.

Bằng cách nào? Trẻ cần được bố mẹ dạy dỗ thường xuyên rằng: luôn phải quan tâm đến người khác. Hãy luôn nhắc nhở trẻ về sự “cam kết”, kể cả khi trẻ không vui về điều đó. Lấy thí dụ, trước khi con bạn muốn bỏ đội bóng, ban nhạc hay nghỉ chơi với một bạn nào đó, chúng ta nên hỏi trẻ rằng chúng đã cân nhắc xem quyết định đó có ảnh hưởng đến tập thể và các bạn hay không. Cũng đừng quên khuyến khích trẻ nghĩ cách giải quyết vấn đề trước khi từ bỏ.

Hãy thử:

- Thay vì nói: “Điều quan trọng nhất là con thấy vui”, hãy nói với chúng: “Điều quan trọng nhất là con sống có trách nhiệm”.

- Hãy đảm bảo rằng những đứa trẻ lớn luôn đối xử với em bé hơn một cách tôn trọng, kể cả khi chúng đang mệt hay bực tức.

- Nhấn mạnh vào sự yêu thương khi trò chuyện cùng những người lớn khác có vị trí quan trọng trong cuộc sống của trẻ, thí dụ như hãy hỏi giáo viên của trẻ rằng ở trường, trẻ có đối xử tốt với bạn hay không.

2. Luôn tạo cơ hội để trẻ tập quan tâm, chăm sóc người khác

Vì sao? Không bao giờ là quá muộn để trở thành người tốt, nhưng không có sự hướng dẫn, dìu dắt của người lớn, trẻ sẽ không thể tự mình trưởng thành được. Chúng cần được thực hành thường xuyên việc quan tâm, chăm sóc người khác, cũng như bày tỏ sự biết ơn đối với những ai yêu thương, quan tâm tới chúng. Các nghiên cứu đã cho thấy những ai có thói quen bày tỏ sự biết ơn cũng có xu hướng hào hiệp, tận tâm, vị tha hơn. Khả năng họ sống khỏe mạnh, hạnh phúc cũng cao hơn so với những người sống chỉ biết mình.

Bằng cách nào? Học cách yêu thương, chăm sóc người khác cũng giống như học chơi một môn thể thao/chơi một nhạc cụ vậy. Phải thực hành mỗi ngày, lặp đi lặp lại. Dù là giúp bạn làm bài tập về nhà hay đỡ người già qua đường. Hãy biến sự quan tâm thành bản năng ở trẻ.

Hãy thử:

- Không thưởng quà cho trẻ cứ mỗi khi trẻ giúp bố mẹ việc nhà (như lau bàn ăn chẳng hạn). Nên để trẻ hiểu việc đỡ đần bố mẹ, anh chị em, hàng xóm là việc hết sức bình thường. Chỉ khen ngợi, thưởng quà cho những hành vi tốt “bất thường” mà thôi.

- Hãy trò chuyện với trẻ về những hành vi thờ ơ và quan tâm trên truyền hình, về sự công bằng hoặc bất công mà trẻ chứng kiến trong đời thực hay nghe trên bản tin.

- Hãy dạy trẻ dành một phút biết ơn mọi người trước bữa ăn, trước khi đi ngủ… Sẵn sàng nói lời cảm ơn với người khác.

3. Mở rộng mối quan tâm của trẻ

Vì sao? Hầu hết trẻ em chỉ quan tâm đến bạn bè và gia đình của chúng. Thách thức của chúng ta là phải giúp chúng vượt ra khỏi vòng tròn nhỏ hẹp đó.

Bằng cách nào? Trẻ cần được học cách lắng nghe và chú ý đến những nhân tố mới xuất hiện trong cuộc sống của chúng, để ý đến những người yếu đuối, cần sự giúp đỡ.

Hãy thử:

- Hãy dạy trẻ luôn thân thiện và tử tế với những người mới gặp, kể cả khi đó chỉ là một chú tài xế xe buýt hay một cô phục vụ bàn.

- Khuyến khích trẻ quan tâm đến những người yếu đuối, tạo cho trẻ cảm giác thoải mái khi giúp đỡ người khác.

- Sử dụng một tờ báo hoặc mẩu tin trên TV để khuyến khích trẻ nghĩ về những khó khăn mà trẻ em ở các nước nghèo đang gặp phải.

4. Hãy là tấm gương lớn nhất cho trẻ

Vì sao? Trẻ sẽ học các giá trị đạo đức bằng cách quan sát hành động của những người thân thiết nhất với chúng. Bạn không thể mong chúng cư xử tốt với một người nếu bản thân bạn luôn tỏ ra hằn học, ghét bỏ người đó.

Bằng cách nào? Bạn phải thành thật, công bằng với trẻ và luôn quan tâm đến người khác. Nhưng điều đó không có nghĩa là lúc nào bạn cũng phải cố làm người hoàn hảo. Để trẻ tôn trọng và tin tưởng chúng ta, các bậc phụ huynh cần biết thừa nhận sai lầm và điểm yếu của mình trước trẻ. Bạn cũng cần tôn trọng suy nghĩ và lắng nghe quan điểm của chúng.

Hãy thử:

- Hãy tham gia các hoạt động cộng đồng ít nhất 1 lần/tháng và rủ cả gia đình dự cùng.

- Hãy hỏi trẻ về những tình huống khó xử mà chúng gặp phải trong ngày khi cả nhà đang ăn tối cùng nhau, giúp trẻ tìm ra cách giải quyết những tình huống đó.

5. Hướng dẫn trẻ kiểm soát những cảm xúc tiêu cực

Vì sao? Thường thì khả năng quan tâm tới người khác luôn bị lấn át bởi sự giận dữ, xấu hổ, ghen tỵ hoặc vô số cảm xúc tiêu cực khác.

Bằng cách nào? Chúng ta cần dạy trẻ rằng mọi cảm xúc đều là bình thường, nhưng trẻ cần học cách tiết chế những cảm xúc tiêu cực.

Hãy thử: 

Đây là một cách đơn giản để trẻ bình tĩnh trở lại: Hãy yêu cầu trẻ dừng lại, hít thở thật sâu qua đường mũi rồi thở ra đường miệng. Sau đó đếm đến 5. Hãy tập luyện việc này cùng trẻ khi trẻ đang bình tĩnh. Sau đó, bất cứ khi nào thấy trẻ bực bội, giận dữ, hay nhắc trẻ nhớ các bước nói trên và làm việc đó cùng trẻ. Một lúc sau, khi trẻ đã giảm xúc động, hãy để trẻ có cơ hội bày tỏ cảm xúc của mình một cách bình tĩnh hơn.
(Theo Vietnamnet) 
Share:

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

Warren Buffett xem việc bị Harvard từ chối là “bước ngoặt”

“Tôi đã được người của Harvard phỏng vấn trong 10 phút. Người phỏng vấn đánh giá khả năng của tôi và sau đó từ chối tôi”...

Đối với nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett, trường học là một nơi chẳng mấy thú vị. Ông từng khiến thầy cô giáo “đau đầu” ở trường tiểu học, và lên trung học, mọi chuyện cũng chẳng khá khẩm hơn.
Share:

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

16 bí mật thú vị về “ông vua phần mềm” Bill Gates

Nhiều năm liền duy trì vị trí số 1 thế giới, nhưng đằng sau vị tỷ phú tài ba này còn có những “bí mật” thú vị mà không phải ai cũng biết.

Theo bảng xếp hạng 100 tỷ phú giàu nhất thế giới 2013 được Bloomberg công bố, tỷ phú Mỹ Bill Gates đã soán ngôi Carlos Slim để giành vị trí số 1 với tổng giá trị tài sản lên đến 72,9 tỷ USD. Nhiều năm liền duy trì vị trí số 1 thế giới, nhưng đằng sau vị tỷ phú tài ba này còn có những “bí mật” thú vị mà không phải ai cũng biết.
Share:

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Các trường Đại học xây dựng thương hiệu thế nào để lôi kéo học viên?

Trong một thế giới phẳng, các trường đại học đang cố gắng để uy tín và danh tiếng của mình vang đi càng xa càng tốt. Càng nổi tiếng, họ càng có cơ hội lôi kéo được nhiều người theo học hơn. 

Sau gần 4 thập kỷ tăng trưởng về nhu cầu đạo tạo, các trường đại học danh tiếng trên thế giới đang gặp rất nhiều vấn đề: Nhà nước cắt hỗ trợ, người theo học thì ngày càng mất niềm tin vào bằng cấp, mức độ cạnh tranh cao và phải đối mặt với sự phát triển của công nghệ.
Share:

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Tuổi 25 của các doanh nhân nổi tiếng

Khi 25 tuổi, Giám đốc điều hành (CEO) Lloyd Blankfein của ngân hàng Goldman Sachs là một luật sư không yêu nghề, trong khi CEO Marissa Mayer của Yahoo đang làm việc ở Google với tư cách là nhân viên thứ 20 của công cụ tìm kiếm này.


Có nhiều người biết mình muốn làm gì từ khi còn rất trẻ và dồn mọi tâm trí, sức lực vào công việc đó. Một số khác đến lúc nào đó chợt nhận ra mình thuộc về một lĩnh vực khác, và thay đổi công việc cho tới khi đạt được thành công.

Trang Business Insider đã điểm lại xem những doanh nhân nổi tiếng như Warren Buffett, Mark Zuckerberg, Larry Ellison… đã làm gì khi họ 25 tuổi.


Lloyd Blankfein, CEO ngân hàng Golmand Sachs
Blankfein không khởi nghiệp ở lĩnh vực tài chính, mà ban đầu ông là một luật sư. Năm 24 tuổi, ông nhận bằng luật Đại học Havard và vào làm tại công ty luật Donovan Leisure. “Khi đó tôi cực quê mùa”, Blankfein có lần thổ lộ trên tạp chí Fortune. Ở thời điểm đó, Blankfein nghiện thuốc lá nặng và đôi khi chơi bạc.
Share:

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2014

Thành công không nằm ở kỹ năng!

Chúng ta ai cũng muốn trở nên thành công hơn. Nhưng tất cả những gì chúng ta đọc để đi tìm chìa khóa dẫn đến thành công có vẻ như là chỉ có cách là làm việc thật nhiều.
 
Nhưng có một phương pháp đã được khoa học chứng minh cho thấy thành công không nằm ở kỹ năng hay sự cần cù chăm chỉ, mà là hạnh phúc. Người đã chứng minh được điều đó là Shawn Achor, tác giả của cuốn sách đang bán chạy “The Happiness Advantage” (tạm dịch: Cái lợi của hạnh phúc). Những năm trải qua ở trường Harvard, ông chỉ nghiên cứu mỗi một thứ: Hạnh phúc. 

Điều gì khiến cho công trình nghiên cứu của Shawn trở nên đặc biệt? Đó là thay vì loại ra những ai được xem là cá biệt, “lập dị” trong cơ sở dữ liệu, ông lại cố tình nghiên cứu họ. Ông tìm hiểu tại sao mặc dù toàn đội ngũ bán hàng đều có doanh số bán thấp nhưng vẫn có 3-4 người có doanh số bán cao chót vót. Hoặc là khi nhìn vào một trường kinh tế xã hội ở Chicago, hệ số điểm đều ở dưới mức trung bình, nhưng vẫn có một số sinh viên có số điểm cao đáng chú ý.

Bằng cách nghiên cứu những trường hợp ngoại lệ này, Shawn đã phát hiện ra rằng con người có thể làm những thứ để khiến mình trở nên hạnh phúc hơn và một khi hạnh phúc hơn, sẽ khiến cho chúng ta trở nên thành công hơn. Nghiên cứu của Shawn đã đúc kết ra một số điều quan trọng:

1. Thành công không mang lại hạnh phúc, mà là ngược lại

Ai cũng nghĩ rằng một người sẽ cảm thấy thực sự hạnh phúc khi được đề bạt lên vị trí cao hơn, hoặc khi được tăng lương… Thế nhưng, nghiên cứu của Shawn cho thấy điều đó không đúng. Một khi đạt được mục tiêu, họ chỉ cảm thấy hạnh phúc trong phút chốc và rồi sau đó sẽ chuyển sang một mục tiêu lớn khác. Trong khi đó, một người làm việc vì niềm vui, thì cuối cùng lại thành công hơn.

Công ty MET Life, sau khi nhìn thấy kết quả bất ngờ này trong số những nhân viên kinh doanh có tinh thần hạnh phúc, đã thực hiện một cuộc thử nghiệm: họ bắt đầu tuyển dụng nhân viên bán hành dựa trên tinh thần lạc quan của người đó. Kết quả là nhóm lạc quan bán nhiều hơn nhóm bi quan tới 19% trong năm thứ nhất và hơn 57% trong năm thứ hai.

Tại sao lại như thế? Shawn cho biết đó là vì trí thông minh và trình độ chuyên môn chỉ dự đoán được 25% mức độ thành công trong công việc. 75% mức độ thành công còn lại dựa vào thái độ lạc quan, mối quan hệ xã hội và cách người đó cảm nhận vấn đề sức ép, căng thẳng như thế nào.

2. Xem các vấn đề nảy sinh như là thách thức, không phải mối đe dọa

Shawn đã làm một cuộc nghiên cứu các nhà điều hành ngân hàng ngay sau khi cuộc khủng hoảng ngân hàng nổ ra vào năm 2008. Hầu hết các nhà điều hành này đều bị căng thẳng dữ dội. Nhưng một số vẫn vui vẻ và kiên cường. Những nhà lãnh đạo này có điểm gì chung? Đó là bởi họ không xem vấn đề là các mối đe dọa mà xem đó là thách thức cần phải vượt qua.

Theo Shawn, không phải là vì những người này có khí chất khác biệt mà là do họ đã học được. Ông đã thực hiện một cuộc thử nghiệm: cho các nhà điều hành ngân hàng xem một đoạn video giải thích cách làm thế nào để xem căng thẳng, sức ép như một thách thức và kết quả là ông đã giúp biến những nhà điều hành đang rầu rĩ trở thành những người lạc quan và tích cực.

Shawn đã quan sát nhóm người này trong 3-6 tuần tiếp theo và thấy nếu khuyến khích họ xem căng thẳng như một thách thức mới lạ thì các triệu chứng liên quan đến căng thẳng giảm tới 23%. Không chỉ vậy, mức độ hạnh phúc của nhóm người này cũng tăng cao và quan trọng hơn là mức độ hăng say với công việc cũng tăng lên đáng kể.

3. Lượng công việc nhiều gấp 2 lần có nghĩa là bạn cần bạn bè nhiều như thế

Trong thời gian còn làm giám thị ở trường Harvard, Shawn đã giúp các sinh viên năm nhất thích ứng với môi trường cạnh tranh và căng thẳng. Nhiều sinh viên đã đối phó với lượng bài vở dày đặc bằng cách xem thư viện là nhà và thậm chí ăn uống ngay trên giường để tranh thủ thời gian học hành. Liệu các sinh viên này có học tốt hơn? Không hề, ngược lại, họ còn bị đuối sức. Một số không chịu nổi sức ép đã xin chuyển trường.

Shawn cho biết những sinh viên này đã vô tình cắt đứt đi nguồn sống quan trọng nhất: hạnh phúc. Đây là lý do khiến họ không chịu nổi sức ép trong môi trường đại học. Trong khi đó, những người vượt qua được sức ép lại là những người đã tăng được mức độ kết nối xã hội.

Điều này tương tự trong công việc. Theo ông, muốn xả stress, tăng hiệu quả làm việc, chỉ cần tăng mức độ kết nối xã hội. Tuy nhiên, không chỉ tìm kiếm các mối quan hệ xã hội mà điều quan trọng hơn là hãy mang điều đó đến cho những người khác, vì việc cho sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn cả việc nhận. Từ sau nghiên cứu của ông với các sinh viên trường Harvard, Shawn đã đi tư vấn cho 1/3 số công ty trong danh sách Fortune 100 và cũng thấy mang lại hiệu quả tương tự. Đó là bởi vì hạnh phúc khiến cho sức ép công việc trở nên nhẹ nhàng hơn.

4. Gửi email “Cảm ơn” vào mỗi sáng

Bạn có thể cho rằng hạnh phúc chỉ đến khi giành được một hợp đồng lớn, hay đạt một thành tựu lớn lao gì đó. Thế nhưng, bạn đã sai. Nghiên cứu cho thấy những điều nhỏ nhặt lại quan trọng hơn thế.

Theo Shawn, để tìm cảm giác vui vẻ hạnh phúc, không ít người chọn đi nghỉ mát, nhưng thay vì thế, hãy làm những thứ nhỏ nhặt và thường xuyên để phát triển chúng thành thói quen giống như là đánh răng mỗi ngày vậy. Vì những thói quen này sẽ tạo cho bạn hạnh phúc lớn qua thời gian. Điều đơn giản nhất có thể làm ngay là bỏ ra chỉ 2 phút để viết một email nói lời cảm ơn hoặc khen ngợi một người nào đó.

“Chúng tôi đã làm điều này ở Facebook, US Foods cũng như ở Microsoft. Chúng tôi yêu cầu họ viết email ca ngợi hoặc cảm ơn một người mà họ biết và mỗi ngày lại viết cho mỗi người khác nhau trong 21 ngày liên tiếp. Điều mà chúng tôi khám phá ra là điều đó đã làm tăng mức độ kết nối xã hội của họ, vốn là nguồn mang lại hạnh phúc lớn nhất trong các tổ chức. Nó cũng cải thiện được tinh thần làm việc theo nhóm. Chúng tôi đã đo chỉ số IQ tổng cộng của các nhóm và cả số năm kinh nghiệm của nhóm nhưng cả hai chỉ số này đều bị bỏ xa bởi yếu tố kết nối xã hội”, Shawn cho biết.

5. Sử dụng quy tắc 20 giây

Điều gì khiến bạn không muốn thực hiện các thay đổi mà bạn biết mình nên làm? Shawn cho rằng đó là yếu tố “năng lượng kích hoạt”, tức là phần năng lượng bạn cần lúc ban đầu để “tự nhấc mông mình ra khỏi ghế và đi vào phòng tập thể dục”.

Theo Shawn, hãy tạo ra thói quen mới: chỉ mất tối đa 20 giây là có thể khởi động một việc gì đó. Không chỉ áp dụng trong việc tập thể dục, nguyên tắc 20 giây này cũng có thể áp dụng vào cách bạn xử lý công việc hằng ngày. Một khi đã trở thành thói quen thì cách bạn xử lý mọi thứ cũng năng động và nhanh chóng hơn.
Share:

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014

15 điểm chung thú vị của hơn 2325 tỷ phú thế giới

Có tới 12 triệu triệu phú trên thế giới nhưng chỉ 2.325 người là tỷ phú. Số tỷ phú này đang kiểm soát tới 4% của cải toàn cầu dù 60% trong số họ phải tự thân, 35% số đó bỏ học.


Tạp chí Wealth-X kết hợp cùng công ty quản lý tài sản UBS vừa công bố kết quả cuộc tổng điều tra về "bộ phận dân số giàu nhất thế giới" năm 2014. Theo kết quả được công bố, năm 2014, toàn thế giới có 12 triệu triệu phú, nhưng chỉ có 2.325 người trong số đó được gia nhập vào "câu lạc bộ tỷ phú", và dự kiến đến năm 2020, toàn thế giới sẽ có 3.800 tỷ phú

 
 
Câu lạc bộ "độc quyền" này là nơi quy tụ của những thành viên siêu giàu như Warren Buffett, Jack Ma, Oprah Winfrey... Và dưới đây là 15 điểm chung thú vị của các tỷ phú thế giới đã được Wealth-X và UBS chỉ ra:



1. Trung bình một tỷ phú trong câu lạc bộ tỷ phú này có giá trị tài sản khoảng 3 tỷ USD, tương đương với giá trị của công ty Snapchat. Tuy nhiên, trung bình mỗi tỷ phú chỉ giữ 600 triệu USD tiền mặt, còn lại là các tài sản khác.



2. Tổng tài sản của các tỷ phú tính đến năm 2014 khoảng 7,3 triệu tỷ USD, tăng 12% so với năm ngoái. Con số này còn cao hơn tổng giá trị vốn hóa thị trường của tất cả các công ty niêm yết trên trên sàn Dow Jones cộng lại. Nói cách khác, nếu tất cả các tỷ phú thế giới quyết định gộp tài sản để tạo thành một quốc gia thì quốc gia này sẽ có GDP lớn hơn cả GDP của Nhật Bản.



3. 2.325 tỷ phú kiểm soát 4% của cải trên toàn thế giới. Có nghĩa là 1% dân số siêu giàu của thế giới đang kiểm soát tới 40% của cải .



4. Trung bình 3 triệu người trên trái đất mới có một tỷ phú.



5. Châu Âu có nhiều tỷ phú hơn bất kỳ khu vực nào khác trên thế giới, với 775 người.



6. Mỹ là quốc gia có nhiều tỷ phú nhất thế giới, với 571 người, tăng 57 tỷ phú so với năm 2013.



7. 55% là tỷ phú tự thân lập nghiệp, như Jack Ma hay Larry Ellison. Trong khi đó, 26% trở thành tỷ phú nhờ việc tái đầu tư khoản thừa kế và khoảng 19% còn lại trở thành tỷ phú nhờ được thừa hưởng khoản thừa kế kếch xù.



8. Phần lớn tỷ phú đã phải mất một thời gian dài để đạt được tài sản như hiện nay. Độ tuổi trung bình của các tỷ phú là 63 và khoảng 93% trong số các tỷ phú có độ tuổi trên 45.



9. Phần lớn các tỷ phú chi rất nhiều tiền vào bất động sản, khoảng 94 triệu USD/người. Và các bất động sản này chủ yếu phục vụ cho "lối sống tỷ phú" của họ.



10. Nhiều người trong số này còn sở hữu các tài sản sang trọng không phải bất động sản như: cứ 30 tỷ phú lại có một người sở hữu một đội bóng hoặc một con ngựa đua,. Ngoài ra, họ còn sở hữu một số tài sản xa xỉ khác như du thuyền, máy bay, xe hơi, và các tác phẩm nghệ thuật...



11. 65% trong số các tỷ phú này đã lập gia đình. 12. Các tỷ phú đến từ hơn 700 trường đại học khác nhau. Trong đó, có rất nhiều tỷ phú (đặc biệt là tỷ phú Mỹ) đã từng tham gia Ivy League (giải đấu thể thao giữa các trường đại học vùng Đông Bắc nước Mỹ). Ví dụ: có 25 tỷ phú đã từng tham gia đội thi đấu của trường Đại học Pennsylvania, 22 của Đại học Harvard và 20 của Đại học Yale.



13. Tuy nhiên, có một số lượng lớn các tỷ phú không có bằng đại học, trong đó, có 35% đã bỏ học đại học giữa chừng.



14. Khá nhiều tỷ phú có xu hướng làm việc trong ngành tài chính. Cụ thể, có gần 20% các tỷ phú làm việc tại phố Wall hoặc một trung tâm tài chính tương đương.



15. Trung bình mỗi tỷ phú đã dành 100 triệu USD hiến tặng cho các tổ chức từ thiện hoặc các hoạt động nhân đạo.

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?