Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn quản trị marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quản trị marketing. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Startup đừng đâm đầu làm quảng cáo nữa, hãy làm PR!

Startup thường bị nhầm lẫn giữa truyền thông cho một doanh nghiệp lâu năm và PR cho những startup mới bắt đầu. Bài viết này sẽ phân định rõ ranh giới giữa 2 câu chuyện này.


Truyền thông quảng cáo sản phẩm không hề rẻ tiền chút nào. Facebook cũng đang tăng giá quảng cáo chóng mặt. Các nội dung thương hiệu đang dần trở nên nhàm chán trong mắt người dùng Facebook, Google. Khách hàng cần một nội dung phù hợp hơn, gắn liền với đời sống hàng ngày của họ.

Tại sao phải làm PR?

PR là viết tắt của từ Public Relationship - xây dựng quan hệ với công chúng. Xin hãy chú ý chữ "quan hệ". Để trở thành một mối quan hệ với công chúng, thương hiệu cần tương tác 2 chiều - tức là người đọc, khách hàng tiềm năng của bạn sẵn lòng "share", "inbox" nói chuyện cùng thương hiệu. Tất nhiên, để làm được điều này không hề dễ dàng chút nào.

Các thương hiệu đã có tuổi đời, họ có sẵn nguồn khách hàng quay lại (sử dụng lại) và khách hàng trung thành. Chuyện họ cần làm là dựa vào các công cụ quảng cáo để boom cho sản phẩm/dịch vụ/khuyến mãi mới đến các khách hàng của họ và những khách hàng tiềm năng.

Còn đối với startup, đây là câu chuyện từ con số 0. Không có khách hàng có sẵn, không có kinh nghiệm sử dụng sản phẩm, tại sao họ lại phải sử dụng dịch vụ của bạn? Thiếu lý do để tin tưởng (reason-to-believe), mọi thông tin quảng cáo rầm rộ (và tốn rất nhiều tiền) sẽ không thể thu được hiệu quả quá tốt.

PR giải quyết được câu chuyện này, PR sử dụng những kênh xuất bản nội dung có sẵn như báo mạng, kênh Facebook page giải trí... để phổ biến nội dung sản phẩm cực kỳ rõ ràng (nội dung chữ nhiều hơn quảng cáo thông thường), và gắn sản phẩm với giá trị cụ thể. Grab là một ví dụ điển hình, họ làm điều này cực kỳ thành công với 2 fanpage chính là Tuyết Bitch Collection và Thỏ Bảy Màu.

Làm PR chuyên nghiệp cần một nhân viên PR thuộc dạng "pro". Các startup có thể thuê người làm PR theo dạng bán thời gian hoặc theo hợp đồng. Chỉ cần một người làm PR giỏi, thông tin sản phẩm của bạn có thể xuất hiện khắp mọi nơi với chi phí cực kỳ rẻ.
Nhưng điều startup cần quan tâm thứ 2 khi bắt đầu làm PR là: chúng ta có thể cung cấp giá trị gì cho khách hàng?

Nhiều startup bị nhầm lẫn khi cho rằng: chỉ cần nội dung sản phẩm tốt, PR đúng kênh là được. Quan niệm này không đúng, bạn vẫn cần phải học tập các công ty có tuổi đời: phải có giá trị "call-to-action" - làm sao cho khách hàng đọc thông tin PR xong là muốn dùng liền.

Kinh nghiệm từ một trường hợp thực tế: một ứng dụng đặt khách sạn mới ra mắt. Startup chỉ mong có lượng cài đặt mới là hàng chục ngàn người cài ứng dụng, mà không quan tâm đến chuyện người dùng sẽ cảm nhận thế nào.

Tôi đã từng tư vấn: hãy nhắm vào nhu cầu cụ thể, chi phí cài ứng dụng sẽ giảm rất nhiều. Nhu cầu cụ thể ở đây là gì? Nếu là khách sạn, nhu cầu nổi bật ngay mỗi tuần là tối thứ 7 đi chơi cùng bạn gái. Tại sao cần thuê khách sạn tối thứ 7 thì tôi xin phép không cần trình bày. Nếu thông tin PR phủ cực mạnh vào mỗi chiều thứ 6 cho thông điệp này, "khách sạn đẹp rẻ luôn sẵn sàng trên ứng dụng ABC vào mỗi tối thứ 7" - chắc chắn sẽ hiệu quả hơn bỏ tiền quảng cáo kiếm lượt cài đặt rất nhiều.

PR giải quyết một câu chuyện cực kỳ hiệu quả mà quảng cáo khó làm: thông điệp dễ nhớ trong thời gian dài và dễ chia sẻ hơn các banner quảng cáo khô khan. PR là thông điệp được trau chuốt hơn các câu quảng cáo sặc mùi tiền. Và khách hàng Việt Nam thì chưa bao giờ yêu thương quảng cáo...

Trong bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ đề cập đến cách làm Online PR theo dạng "trao đổi ngang" và "tiếp thị liên kết" giá 0 đồng. Mời quý bạn đón đọc.

Tri Thức Trẻ

 

Share:

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2016

Bị chê bai và chấm 1 sao trên TripAdvisor, quán cà phê này vẫn có cách xử lý đầy khôn ngoan khiến khách hàng phải ùn ùn kéo đến

Làm thế nào để đối phó với những nhận xét 1 sao trên TripAdvisor? Trả lời một cách thật cẩn thận hay mặc kệ nó chìm nghỉm giữa những lời khen tích cực?


Nook Neighbourhood, một quán cà phê ở Stockport nước Anh đã chọn một cách xử lý khác.

Hồi đầu năm, quán cà phê này đã nhận đánh giá 1 sao trên trang TripAdviser, sau khi một khách hàng cảm thấy không hài lòng vì bát cháo yến mạch chưa được hâm nóng.

"Tôi đến đây sáng nay (13/2), gọi 2 cốc cà phê, 2 bát cháo yến mạch. Cà phê khá ngon, nhưng bát cháo yến mạch mới chỉ hơi ấm ấm chứ chưa chín.

Sau khi phàn nàn, tôi nhận được 2 bát khác bởi cô bồi bàn nhưng cô ta chẳng thèm xin lỗi. Chúng tôi ăn 2 bát đó, nhưng nó vẫn mới chỉ ấm chứ chưa chín.

Nhân viên ngồi ở quầy tính tiền hỏi tôi món cháo yến mạch thế nào, tôi trả lời rằng nó vẫn chưa chín. Anh ta xin lỗi nhưng chúng tôi bỏ đi ngay lập tức. Tôi cực kỳ thất vọng. Tôi không thể hiểu nổi tại sao họ có thể bưng bát cháo yến mạch chưa chín ra tới 2 lần liền.

Tôi sẽ không bao giờ quay trở lại".
Trước bình luận và đánh giá 1 sao của khách hàng trên, quán cà phê Nook Neighbourhood đón nhận với thái độ đầy cởi mở chứ không hề xấu hổ trước lời chỉ trích.

Quán đã viết lên bảng đặt trước cửa với nội dung như sau: "Mời vào, hãy thưởng thức món cháo yến mạch tệ nhất mà một người phụ nữ trên TripAdvisor từng có trong đời".

Bức ảnh này được chụp lại bởi nghệ sĩ hài Justin Moorhouse kèm lời bình luận kỹ năng viết bảng tuyệt vời.
Bức ảnh này được chụp lại bởi nghệ sĩ hài Justin Moorhouse kèm lời bình luận "kỹ năng viết bảng tuyệt vời".

Trả lời về tấm bảng trên, giám đốc quán cà phê, ông Arlo Calderbank cho biết, "Chúng tôi chỉ muốn làm một điều gì đó thật khác biệt".

"Bình luận của người phụ nữ thực sự khiến chúng tôi cảm thấy chạnh lòng, vì chúng tôi luôn muốn phục vụ khách hàng tốt nhất có thể. Tôi đã cảm thấy xấu hổ khi đọc comment trên TripAdvisor".
Calderbank cho biết, quán cà phê của mình thường nhận được những phản hồi tích cực, nhưng đôi lúc vẫn có những người không thích món ăn ở đây. "Đó là một phần của cuộc sống".

Ông chủ cửa hàng này cho biết, ông đã choáng ngợp trước sự thích thú của mọi người đối với tấm bảng trên mạng xã hội.

Nơi có món cháo yến mạch chưa chín ngon nhất thị trấn

Nơi có món cháo yến mạch chưa chín ngon nhất thị trấn

Trên thực tế, quán cà phê Nook Neighbourhood từng có nhiều thông báo bằng bảng rất thú vị trước đó.

Cà phê à? Chúng tôi có đấy.

Cà phê à? Chúng tôi có đấy.
Một cái gì đó dí dỏm và kích thích tư duy (Sếp bảo tôi viết thế lên bảng)
Một cái gì đó dí dỏm và kích thích tư duy (Sếp bảo tôi viết thế lên bảng)
Cũng vào hồi đầu năm nay, một quán cà phê khác ở thành phố York cũng nhận được đánh giá 1 sao trên trang Advisor khi người phục vụ tính phí cốc nước chanh với giá 2 bảng Anh và cho rằng mức giá này quá đắt.

Đáp lại bình luận này, chủ quán cà phê đã có một bài giải thích đầy chi tiết tất cả những loại chi phí để tạo nên một cốc nước. Phản hồi này đã làm dậy sóng internet, khiến cộng đồng phải tán thưởng.
Theo Minh Quân
Cafebiz
>> Khách hàng bỏ quên đồ, và khách sạn này đã biến nó thành chiêu Marketing không thể thông minh hơn
Share:

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2016

Nhờ chiêu marketing này, hãng kẹo Jell-O từ thân phận vô danh đã bao thầu toàn bộ căn bếp Mỹ

Người Mỹ không ai không biết đến Jell-O. Nhưng trước khi trở thành món kẹo mà "bếp-nhà-ai-cũng-có", Jell-O từng rất chật vật để đến được tay các bà nội trợ Mỹ.

Tóm tắt:

Bối cảnh: Năm 1895, Pearle Wait, một thợ mộc, đã tạo ra kẹo dẻo Jell-O từ gelatin, một sản phẩm xuất xứ từ lò mổ. 

Vấn đề: Tuy món kẹo rất ngon, nhưng hoàn toàn xa lạ với dân Mỹ đầu thế kỷ 20, nên không bán được cho ai. 4 năm sau, Wait bán Jell-O cho Frank Woodward với giá 450 USD.

Giải quyết: Frank Woodward thử đủ cách để bán hàng nhưng không thành công. Trong tình hình tệ nhất, ông thử cách cuối cùng:

+ Quảng cáo trên tạp chí: Jell-O là món ăn tráng miệng nổi tiếng nhất Hoa Kỳ.
+ In hàng chục ngàn cuốn sách dạy nấu ăn với Jell-O, gõ cửa từng nhà, đem tặng miễn phí cho các bà nội trợ. 

+ Đổ hàng cho nhà buôn trữ sẵn để bán khi các bà nội trợ tìm đến hỏi mua nguyên liệu.

Kết quả:
+ Năm 1904, sách của Jell-O thành best-seller, 2 năm sau doanh thu cán mốc 1 triệu đô; 25 năm sau, 1/4 tỷ cuốn sách đã được in tặng, kẹo Jell-O bao thầu toàn bộ căn bếp Mỹ.
+ Một trong những công cụ marketing mạnh nhất của thế kỷ 20 ra đời: Bán hàng miễn phí.


 
Có một sự thật là gelatin được sản xuất từ da, thịt và xương. Nó là cái chất trong trong, dính dính, nổi lên trên khi luộc thịt. Nhưng nếu chiết xuất được một lượng lớn, tinh lọc, thêm tí màu sắc và mùi vị, nó sẽ trở thành một thứ khác: Jell-O. Một thứ bột trong đóng vỉ, không còn dấu vết nguồn gốc từ lò mổ, của tủy và mô liên kết.

Ngày nay, chúng ta không còn nghĩ nhiều về nguồn gốc của Jell-O, nhưng vào cuối thế kỷ 19, nếu muốn thêm chút của ngọt ngào vào bữa tối, người ta phải chuẩn bị rất cầu kỳ: bỏ các miếng thịt vào nồi hầm, chờ nửa ngày cho chất collagen bị thủy phân nổi lên từ đống xương sụn.

Những viên kẹo dẻo thơm tho và đẹp đẽ, sinh ra từ... lò mổ

Vào năm 1895, Pearle Wait, một thợ mộc ở LeRoy, New York, người có việc làm thêm là đóng hộp các loại dược phẩm có phép, ngồi trong bếp ngó mông lung vào cái bát đầy gelatin. Đã từ lâu, ông muốn tham gia vào ngành thực phẩm đóng gói, lúc đó hãy còn mới mẻ, và nghĩ rằng gelatin có thể là sản phẩm của mình, miễn là có thể làm cho nó hấp dẫn hơn.

Dù những người làm keo đã sản xuất nó hàng thập kỷ như một thứ phụ phẩm của quá trình thuộc da, nhưng người tiêu dùng Mỹ vẫn còn chưa biết đến nó. Một lý do đơn giản là làm ra gelatin mất quá nhiều công sức mà thu lại chẳng bao nhiêu.

Wait trăn trở không biết có cách nào để gelatin trở nên phổ biến hay không. Những nỗ lực ban đầu để bán gelatin dạng bột đóng gói sẵn, kể cả của người phát minh ra quy trình này là Peter Cooper (thuộc hãng Cooper Union danh tiếng) là để bán dưới dạng khô, không mùi vị vì người ta cho rằng đó là hình thức linh hoạt nhất, người chế biến có thể tự thêm mùi vị riêng của mình. Wait thì nghĩ gelatin có vị thêm sẵn từ trước sẽ bán được nhiều hơn, do đó ông trộn thêm nước hoa quả, cùng với đường và màu thực phẩm.

Chất keo gelatin bắt màu và vị trái cây - cam, chanh, mâm xôi, dâu - tạo ra một thứ ngửi và nếm hấp dẫn. Do có màu sắc sặc sỡ, nhẹ và nghịch rất thú nên nó là một món thết đãi đem lại cho mọi bữa ăn rất nhiều trò vui. Để cắt mối liên hệ của nó với lò mổ, vợ của Wait là May đã đặt lại tên cho nó là Jell-O.

Vấn đề: Hàng ngon đem bán, nhưng... chẳng ai mua

Vợ chồng Wait không bán được nhiều hàng. Jell-O vẫn còn là thứ thực phẩm quá xa lạ và là nhãn hiệu chưa được khách hàng biết đến vào buổi giao thời giữa hai thế kỷ. Truyền thống nấu nướng thời đó vẫn còn dựa vào các công thức nấu ăn từ thời Victoria, mỗi loại thực phẩm đã có vị trí riêng của nó. Cái thứ deo dẻo mới mẻ này là một loại salad hay là một món tráng miệng?

Trong 2 năm, Wait nỗ lực lôi kéo sự chú ý đối với Jell-O, nhưng chẳng mấy thành công. Cuối cùng, vào năm 1899, ông đầu hàng và bán lại nhãn hiệu này - tất cả mọi chi tiết, cả dấu gạch nối - cho Frank Woodward, một người cùng thị trấn, với giá 450 USD.



Frank Woodward
Woodward là một người bán hàng bẩm sinh và ông đã an cư tại một nơi vô cùng thích hợp. LeRoy đã trở thành tâm điểm của những kẻ bán hàng của thế kỷ 19, nổi tiếng là căn cứ của những nhà sản xuất thuốc thông dụng có đăng ký. Woodward bán cơ man nào là các loại thuốc màu nhiệm và cũng rất sáng tạo với các loại thạch cao bó bột. Ông ta bán các quả bóng thạch cao cho các xạ thủ tập bắn và chế ra một loại ổ cho gà ấp trứng có trộn chất chống rệp.

Nhưng ngay cả công ty của Woodward là Genesee Pure Food cũng phải vật lộn để tìm thị trường cho gelatin dạng bột. Đây là một loại sản phẩm mới, thương hiệu thì chưa được biết đến trong một thời kỳ mà các cửa hàng bách hóa bán đủ loại sản phẩm và khách hàng khi mua hàng phải biết tên mặt hàng muốn mua.

Jell-O được sản xuất ở một nhà máy gần đó do Andrew Samuel Nico điều hành. Sức bán chậm và gây nản lòng đến nỗi vào một ngày ảm đạm, khi suy tính về đống Jell-O tồn kho khổng lồ, Woodward đã đề nghị nhượng lại cho Nico toàn bộ với giá 35 USD. Nico đã từ chối.

Giải pháp: Tặng miễn phí 1 thứ hay ho cho khách hàng, nhưng không phải là kẹo

Vấn đề chủ yếu nằm ở chỗ: người tiêu dùng không hiểu về sản phẩm và không biết họ có thể dùng nó làm gì. Và nếu khách hàng không có nhu cầu, cửa hàng sẽ không trữ sản phẩm. Những nhà sản xuất các sản phẩm khác trong ngành thực phẩm đóng gói sẵn, như bột nở Arm & Hammer và men bia Fleischmann thường để các quyển sách có công thức nấu ăn trong hộp sản phẩm của họ. Woodward nhận ra rằng một quyển sách hướng dẫn có thể tạo ra cầu cho Jell-O, nhưng làm cách nào để đưa nó ra thị trường? Chưa có ai khởi đầu mua hộp sản phẩm của họ cả.

Thế là vào năm 1902, Woodward và người phụ trách marketing của mình, William E. Humelbaugh, thử cách khác.

Đầu tiên, họ cho đăng một mẩu quảng cáo rộng 8cm trên tạp chí Ladies Home Jounal với giá 336 USD. Tuyên bố một cách tự tin rằng Jell-O là thứ đồ tráng miệng nổi tiếng nhất Hoa Kỳ, quảng cáo đó giải thích điểm hấp dẫn của sản phẩm: "Chỉ cần thêm kem hoặc một ít sữa trứng là người ta có thể thưởng thức nó được rồi. Tuy nhiên, nếu muốn một thứ thật đặc biệt thì có đến hàng trăm cách phối hợp thú vị mà vẫn rất dễ làm".

Rồi để minh họa những phương thức phối hợp vô cùng đa dạng đó, công ty Genesee cho in hàng chục ngàn quyển sách mỏng với các công thức làm Jell-O và phái những người bán hàng rong đi phát không cho những bà nội trợ.

Phương pháp này đã giải quyết một cách thông minh khó khăn lớn nhất của những người bán hàng. Khi rong ruổi qua những vùng quê, nếu không mua được giấy phép với giá cao thì người ta không thể đi từ nhà này sang nhà khác để bán hàng. Nhưng với những quyển sách dạy nấu ăn thì khác, phát không đâu phải là bán hàng. Họ có thể đường hoàng gõ cửa từng nhà, phát sách có công thức chế biến cho các bà chủ nhà, không yêu cầu bất cứ ràng buộc nào.

In các cuốn sách này ít tốn kém hơn so với làm ra Jell-O. Vì không đủ khả năng tài chính để phát không hàng mẫu, họ thực hiện điều tốt nhất có thể: cung cấp thông tin miễn phí, nhưng những thông tin này chỉ hữu ích nếu người tiêu dùng mua sản phẩm.

Sau khi bỏ bom cả thị trấn với những quyển sách ghi công thức pha chế, những người bán hàng đến gặp các nhà buôn địa phương và báo cho họ biết rằng sắp sửa có rất đông khách hàng đến hỏi mua một sản phẩm có tên là Jell-O, còn đợi gì mà không trữ hàng đi. Thế là cuối cùng những hộp Jell-O bắt đầu được xe ngựa chuyển đến.

Kết quả: Bao thầu toàn bộ căn bếp Mỹ

Đến năm 1904, chiến dịch bán hàng này đã thành công rực rỡ. Hai năm sau, doanh số năm của Jell-O đạt 1 triệu USD. Công ty giới thiệu "nàng Jell-O" trong các quảng cáo của họ, và những quyển sách mỏng đã trở thành sách dạy nấu ăn bestseller của Jell-O.

Chỉ trong vài năm, Genesee đã in đến 1,5 triệu quyển sách miễn phí, và trong 25 năm đầu tiên, công ty đã in và phân phát đến từng nhà trên cả nước một phần tư tỉ quyển sách dạy nấu ăn miễn phí.


Những nghệ sĩ tên tuổi như Norman Rockwell, Linn Ball, và Angus MacDonald đã vẽ các bức minh họa màu cho các quyển sách đó. Jell-O đã trở thành một thứ phổ biến trong căn bếp của người Mỹ và là cái tên quen thuộc với mọi nhà.

Một trong những công cụ marketing mạnh nhất của thế kỷ 20, cho không thứ gì đó để tạo ra nhu cầu cho một sản phẩm khác, đã ra đời như thế.

Woodward hiểu rằng "miễn phí" là một từ có quyền năng siêu việt, tái định hướng tâm lí khách hàng, tạo ra thị trường mới, xóa bỏ thị trường cũ, và làm cho hầu như mọi sản phẩm trở nên hấp dẫn hơn. Ông cũng nhận ra rằng "miễn phí" không có nghĩa là phi lợi nhuận. Nó chỉ có nghĩa rằng sản phẩm phải đi trên con đường gián tiếp để đến với thị trường, và khái niệm về món hàng bán lỗ để kéo khách sẽ được tôn sùng trong các chiến lược bán lẻ.
(Theo Trí Thức Trẻ)
Share:

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2016

Quảng cáo bằng 1 ý tưởng cực độc đáo, sản phẩm của DN này đã được cả nước Nhật biết đến và yêu mến

Làm nhà cho những chú cua ẩn sĩ (loài cua chuyên sống trong vỏ ốc), in thêm logo công ty, công ty bất động sản Suumo đã thực hiện được một chiến dịch quảng cáo thành công không ngờ.
Tiếp cận chiến lược quảng bá thương hiệu thông qua hoạt động bảo vệ môi trường với cái tên "Shell we move?", công ty bất động sản Suumo đã cùng với các nhà hải dương học tiến hành nghiên cứu để tìm ra những ngôi nhà mới cho loài cua ẩn sĩ.

Cua ẩn sĩ (hay còn có tên ốc mượn hồn) vốn có phần dưới cơ thể rất mềm yếu. Chúng hô hấp qua những lớp vảy của cơ thể, nhưng lớp vảy này lại rất dễ khô, và khiến chúng bị ngộp thở. Để sinh tồn, cua ẩn sĩ tìm tới vỏ ốc rỗng để trú thân, thay đổi vỏ tùy theo độ lớn cơ thể, và mang theo vỏ ốc khi di chuyển.

Loài cua này vốn rất phổ biến ở các nước có đường bờ biển dài, nhất là những quốc đảo như Nhật Bản. Tuy nhiên, những bờ biển ở Nhật Bản lại rất thiếu vỏ ốc. Những con cua ẩn sĩ, thay vì tìm được vỏ ốc, lại phải trú mình trong những chiếc chai, lọ rỗng trôi dạt ven bờ biển, vốn là rác thải của con người.

Những chiếc vỏ ốc mới mang màu xanh của thương hiệu Suumo, được chế tác từ tinh bột, hoàn toàn thân thiện với môi trường trở thành giải pháp cho cuộc "khủng hoảng nhà đất" cho những chú cua.
Những chiếc vỏ ốc này được đặt tại nhiều nơi trên bờ biển Nhật Bản, và được cua ẩn sĩ đón nhận nhiệt tình. Những con cua ẩn sĩ mang "ngôi nhà mới" xuất hiện khắp các bờ biển, làng chài của Nhật Bản, biến thành những trợ thủ quảng cáo đắc lực cho thương hiệu Suumo.

Một mũi tên trúng hai đích, vừa thực hiện được một chiến dịch PR thông minh sáng tạo cho Suumo, vừa phục vụ mục đích bảo vệ môi trường. Theo thống kê, tỷ lệ nhắc đến thương hiệu Suumo tăng gấp 487% nhờ việc xuất hiện dày đặc trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội.

Số lượt xuất hiện của Suumo bên cạnh những chú cua ẩn sĩ trên báo chí Nhật Bản lên tới 50 triệu. Đồng thời, tên công ty đi theo dự án này ra nước ngoài thông qua sự giới thiệu của các trường đại học và tổ chức bảo tồn sinh vật biển. Từ đây, lượng khách hàng quan tâm tới dịch vụ bất động sản của công ty này tăng tới 112%.



Bài học marketing sáng tạo của công ty bất động sản Nhật Bản từ vỏ ốc. Nguồn: Yay.
(Tri Thức Trẻ)

Share:

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2016

Tổng thống Abraham Lincoln với những tuyệt chiêu bán hàng

Bất kì sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp hay người nào đều ẩn chứa một hay nhiều câu chuyện. Thủ thuật nằm ở chỗ bạn phải biết “lôi” những câu chuyện đó ra và dùng chúng để sinh lời cho mình vào đúng lúc


http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html

Nếu như bạn yêu cầu bất kỳ nhà sử học nào kể tên những vị lãnh tụ vĩ đại nhất trong nền văn minh phương Tây, thì vị tổng thống Mỹ thứ 16, Abraham Lincoln, là cái tên được nhắc đến đầu tiên. Ông đã lãnh đạo đất nước giành thắng lợi trong cuộc nội chiến đẫm máu, ban hành bản tuyên ngôn giải phóng và cuối cùng đi đến phê chuẩn bản sửa đổi thứ 13 Hiến pháp Hoa Kỳ về vấn đề xóa bỏ chế độ nô lệ.


Sự vĩ đại cuả Abraham Lincoln (tên hiệu là: Honesst Abe) được hình thành từ nhiều đặc điểm. Ông sở hữu một trí tuệ uyên thâm và có được những đánh giá đáng kinh ngạc. Ông là một nhà tư tưởng, một người thường nghiên cứu thế giới trên góc độ triết học và kiên định sống với những niềm tin hợp lý của bản thân.

Dù được thiên phú nhiều tài năng nhưng Lincoln lại thành công nhờ vào khả năng giao tiếp. Ông là một nhà diễn thuyết có tài và tự biên soạn rất nhiều bài phát biểu hung hồn cho bản thân. Ông luôn chân thành lắng nghe khi người khác nói, thấu hiểu và làm chủ nghệ thuật kỹ năng giao tiếp từ một vài thập kỷ, trước khi thuật ngữ này được đặt ra.

Không phải phóng đại khi cho rằng Lincoln là một trong những người giao tiếp tài giỏi nhất trong lịch sử. Nhưng trong tất cả những kỹ năng giao tiếp mà ông đã áp dụng thành công, đặc biệt hơn cả là khả năng kể chuyện.

Abraham Lincoln là một người kể chuyện tài giỏi

Lincoln đã thành công trong những hoàn cảnh khó khăn hơn bất kì vị tổng thống Mỹ nào đã từng phải đối măt. Nghệ thuật giao tiếp cần được sử dụng trong những hoàn cảnh như vậy và ông thường dùng đến các câu chuyện trong khi giao tiếp. Thay vì mắng nhiếc những vị tướng bất tài, mắc sai lầm trong giai đoạn đầu cuộc nội chiến, Lincoln thường huấn luyện và động viên họ thông qua những câu chuyện. Để dàn xếp những bất đồng về chính trị giữa các thành viên Quốc hội, Lincoln đã kể một câu chuyện và dựa vào đó để thiết lập nền tảng chung.

Tuy nhiên, trong số các nhà lãnh đạo xuất sắc trong lịch sử, Lincoln không phải là người duy nhất thành công dựa vào những câu chuyện. Qua các thời đại, nhiều chính trị gia đã thuyết phục được dân chúng từ việc sử dụng những câu chuyện nhằm tuyên truyền những lý luận chính trị của họ. Ngày nay, những giám đốc điều hành thành đạt là những người cũng sử dùng những câu chuyện để huy động đội ngũ nhân viên trên thế giới “kiếm” về hàng tỷ đôla lợi nhuận. Bản thân đức chúa Jesus cũng đã đưa ngụ ngôn và những câu chuyện vào trong các bài giảng cho các đệ tử của mình.

Thật vậy, những câu chuyện có tác động rất lớn. Chúng đầy sức mạnh.Chúng vẽ ra những bức tranh. Chúng cũng thật hiệu quả, bởi bộ não con người được lập phản xạ trong việc dễ dàng lắng nghe và tiếp nhận những câu chuyện. Trước những văn bản viết và những bài báo in từ thời phát minh máy in Guteberg, con người thường dùng những câu chuyện để truyền đạt lịch sử, truyền thống cũng như các chuẩn mực và mong ước. Nói cách khác, hàng đêm, tổ tiên chúng ta trước đây thường quây quần bên đống lửa và kể về những câu chuyện. Thiên hướng kể và lắng nghe là một phần quan trọng trong cấu trúc hình thành DNA trong cơ thể con người.

Do vậy, nếu con người luôn dễ dàng tiếp nhận các câu chuyện thì bạn và tôi sẽ thật ngốc nghếch nếu không biết vận dụng các câu chuyện đó vào trong công việc. Những người kể chuyện giỏi rất dễ trở thành những nhà lãnh đạo tài ba hay là những người kinh doanh thành công. Nếu như bạn đang là một nhà quản lý thì hãy hướng dẫn và khích lệ nhân viên bằng cách truyền đạt những thông tin quan trọng, cần thiết qua những câu chuyện. 

Còn nếu bạn là một nhân viên kinh doanh, bạn muốn giới thiệu sản phẩm và dịch vụ cuả mình, thì hãy sử dụng một câu chuyện để vẽ lên một bức tranh trong tâm trí của những vị khách tiềm năng. Bằng cách đưa sản phẩm vào trong câu chuyện, những khách hàng tiềm năng sẽ luôn gợi nhớ về câu chuyện đó. Một khi ai đó đã có tâm lý muốn mua thì họ sẽ rất dễ mua.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html

Hãy xét trường hợp khi chúng ta hỏi một vị khách tiềm năng sau khi nghe hai nhân viên kinh doanh giới thiệu về hai dòng sản phẩm cạnh tranh. Cả hai đều đề cập đến những tính năng và lợi ích của sản phẩm. Người nhân viên thứ nhất rất ngay thẳng và tập trung nói về những thông tin thực tế. Trong khi, người nhân viên thứ hai cũng thật thà thẳng thắn nhưng lại dùng những câu chuyện để đề cập đến những tính năng và lợi ích của sản phẩm. Hai câu chuyện mà người nhân viên thứ hai kể, nói về những phản hồi tốt của những vị khách đã từng dùng sản phẩm của anh ta. Tôi đảm bảo rằng người nhân viên thứ hai sẽ dễ “chốt” được vị khách đó hơn đồi thủ của anh ta.

Một trong những kỹ năng quan trọng nhất đối với ngành kinh doanh đó là khả năng vượt qua những phản đối. Nếu như bạn gặp phải một sự phản đối, hãy kể một câu chuyện để giữ cho thỏa thuận đó tiếp tục. Bạn đã sẵn sàng chấm dứt chưa? Hãy làm nó trở nên hấp dẫn hơn bằng cách lồng ghép vào một câu chuyện. Có phải tình hình đang trở nên bế tắc? Hãy tháo gỡ nó bằng một câu chuyện!

Nếu bạn đang quản lý nhân viên, quảng bá dịch vụ, thuyết trình, đang cố gắng thuyết phục mọi người bỏ phiếu ủng hộ mình hay bạn đang phải cố gắng giải quyết một cuộc xung đột với hai đồng nghiệp, hãy làm mọi việc trở nên đơn giản hơn bằng cách kể một câu chuyện gì đó. Những câu chuyện sẽ trấn an mọi người và giải tỏa mọi việc.

Nếu bạn thường xuyên sử dụng những câu chuyện trong đời sống hàng ngày thì hãy ghi nhớ một vài điều sau:

1. Các câu chuyện phải liên quan và phù hợp với tình huống.

2. Biết khi nào dừng lại. Nếu câu chuyện quá dài sẽ mất đi tính hiệu quả của nó.

3. Nghĩ về công việc bạn đang làm và quyết định những loại câu chuyện nào sẽ phù hợp và tương ứng với một số tình huống.

4. Liệt ra danh mục những câu chuyện trong đầu. Hãy gợi nhớ lại những trải nghiệm của bản thân, bạn bè và đồng nghiệp. Tạo một danh sách những câu chuyện có thể sử dụng được trong bất kì hoàn cảnh nào.

Bất kì sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp hay người nào đều ẩn chứa một hay nhiều câu chuyện. Thủ thuật nằm ở chỗ bạn phải biết “lôi” những câu chuyện đó ra và dùng chúng để sinh lời cho mình vào đúng lúc. Tóm lại, nếu như tổng thống Lincoln đã thành công trong việc dùng những câu chuyện để dẫn dắt Hoa Kỳ, thì chúng ta hãy sử dụng chúng một cách khôn ngoan trong doanh nghiệp và sự nghiệp của mình.

(Sukienhay.com/Dịch từ Learningfrombigboys)
>> Bí Quyết Truyền Thông Của Abraham Lincoln và Ứng Dụng Vào PR 


Share:

Bí Quyết Truyền Thông Của Abraham Lincoln và Ứng Dụng Vào PR

Áp dụng các nguyên tắc truyền thông một cách đơn giản và nhanh chóng, Abraham Lincoln đã đạt được những kết quả khiến người khác phải kinh ngạc, đưa ông từ một người thuộc tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội Mỹ, ông đã vươn lên thành ông chủ Nhà Trắng.

Lincloln vốn là một chàng trai nghèo xuất thân từ một vùng xa xôi hẻo lánh nhưng đã thành công vang dội như vậy nhờ áp dụng những bí quyết truyền thông và giao tiếp hiệu quả. Vậy chẳng có lý gì chúng ta lại không thể. 

 
Abraham Lincoln đã đạt được những kết quả khiến người khác phải kinh ngạc, đưa ông từ một người thuộc tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội Mỹ, ông đã vươn lên thành ông chủ Nhà Trắng.


Dưới đây là 7 bí quyết truyền thông để lãnh đạo hiệu quả của Abraham Lincoln:

1. Muốn truyền thông hiệu quả, phải biết mình nói những gì và có gì để nói

Truyền thông là sự chia sẻ giữa các cá thể trong cộng đồng người khác nhau trong xã hội. Nhưng bạn sẽ không thể chia sẻ nếu không có gì để nói. Dẫu có là một nhà văn hay nhà diễn thuyết tài ba đến mấy, nhưng nếu bạn không biết mình định nói gì hoặc những kiến thức mà bạn biết là sai lầm, thì dù khéo léo mấy, sớm muộn gì bạn cũng bị phát hiện ra.
Lincoln từng viết cho một vị luật sư đầy tham vọng như sau: "Cách giao tiếp đó vô cùng đơn giản, dù nó khá tốn công, mất thời gian và tẻ nhạt. Ngài chỉ việc lấy những cuốn sách, đọc và nghiên cứu chúng một cách kỹ càng.... Vấn đề chính ở đây là hành động, hành động và hành động".

2. Sử dụng các câu chuyện, phép so sánh và hình ảnh

Muốn trở thành người diễn thuyết có sức thuyết phục thì nói đúng và chính xác thôi chưa đủ. Người nghe sẽ nhanh chóng quên đi những con số, dữ liệu và cả những luận cứ nhưng chắc chắn sẽ ghi nhớ những câu chuyện, những ví dụ minh họa và những ví dụ mà bạn nói. Và tất nhiên, sẽ tuyệt vời hơn nữa nếu đó là những lời nói thi vị.

Đừng nói chuyện với thính giả một cách đơn thuần. Hãy thể hiện cho họ thấy. Hãy vẽ lên một bức tranh và họ sẽ nhớ mang theo câu chuyện đó trong đầu óc mỗi lần nhớ đến bạn.

3. Hãy hỏi

Trong những ngày đầu khi còn là luật sư, Lincoln đã nhận thức được tầm quan trọng của câu hỏi trong việc giúp ông thắng kiện.

Những câu hỏi hay có giá trị lớn lao trong truyền thông và lãnh đạo. Vậy mà chúng chẳng mấy khi được tận dụng hiệu quả. Bạn có thể dùng câu hỏi để thu thập thông tin hoặc để dẫn dắt cuộc đối thoại.

Thường thì người tham gia thậm chí còn không biết rằng họ đang bị dẫn dắt. Bằng các câu hỏi, bạn có thể khiến họ nghĩ về một chủ đề mà trước đây họ chưa từng cân nhắc hoặc hướng họ chú ý đến vấn đề đó dưới một phương diện, một trạng thái khác.


4. Hiểu khán giả của mình

Muốn là một nhà truyền thông hiệu quả, bạn phải hiểu khán giả của mình càng nhiều càng tốt. Vì vậy, hãy cân nhắc xem những người mà bạn muốn giao tiếp là ai, thuộc nhóm người nào, kiểu người nào. Có người muốn nghe tỉ mỉ từng thông tin một, nhưng cũng có những người chỉ thích nghe những thông tin cốt lõi. Một số người bị kích thích bởi cảm xúc, nhưng có người lại không tin vào cảm xúc.

Chính vì vậy, hãy nghiên cứu khán giả của bạn để xem họ có sẵn sàng nghe bạn nói hay không, có sẵn sàng làm theo bạn không. Henry David Thoreau từng nói: "Để nói lên sự thật, bạn phải mất hai lần. Một lần để nói và một lần để lắng nghe".

5. Thuyết phục người nghe rằng bạn là một người bạn, thực lòng quan tâm tới họ

Khi bạn nói trước công chúng, sẽ là hiệu quả nhất nếu như bạn nghĩ về bản thân mình - không phải với tư cách là người diễn thuyết mà với tư cách một người bạn đến để trò chuyện với những người bạn về một chủ đề nào đó có ý nghĩa quan trọng đối với họ.

Đã có lần, khi phát biểu, Lincoln từng nhấn mạnh: "Một giọt mật ong thu hút nhiều ruồi hơn một ga-lông mật đắng". Ông khuyên: "Muốn thu phục một người đi theo sự nghiệp của bạn, trước tiên hãy thuyết phục người đó rằng bạn là người bạn chân thành của anh ta... Ngược lại, cố ra lệnh cho mọi đánh giá của anh ta hay chỉ huy hành động của anh ta, hoặc coi thường, xa lánh, hắt hủi anh ta, anh ta sẽ tự bó mình. Điều đó có nghĩa là bạn đã đóng chặt đường đi tới trái tim và khối óc của anh ta".

6. Cân nhắc hậu quả mà thông điệp của bạn mang tới

Hãy cân nhắc về tác động từ những thông điệp của bạn tới thính giả trước khi bạn nói. Nếu như bạn định nói điều gì đó khó nghe, hãy tự hỏi mình rằng: "Một thông điệp tức giận sẽ gây ra điều gì?", "Liệu nó có phá hủy mối quan hệ hay không?", hoặc "Liệu nó có tạo ta kết quả tích cực nào không?".

Lincoln viết: “Không ai quyết tâm biến mình thành người tốt nhất lại có thừa thời gian cho những cuộc tranh cãi cá nhân. Tốt hơn là nhường đường cho một con chó hơn là để nó cắn trong cuộc tranh cãi xem ai đúng".


7. Cải thiện khả năng của mình mỗi ngày

Lincoln đã cố gắng thể hiện mình với những ý tưởng lớn lao nhất và với những nhà truyền thông tài ba nhất mà ông có thể tìm thấy. Khi còn trai trẻ, ông đắm mình trong những cuốn sách như tiểu sử của George Washington - Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ, những câu chuyện chọn lọc từ Cicero, Demosthenes, Franklin, và những đoạn văn ấn tượng và xúc động từ Hamlet, Falstaff, Henry V.

Tự cải thiện chính mình không có nghĩa là tự trải nghiệm. Lincoln rèn luyện những kỹ năng truyền thông của mình bằng cách trở thành thành viên của các nhóm văn học và nhóm tranh luận.

Và Lincoln đã tìm ra được những bài học có lợi từ sự chỉ trích. Ông nhận ra rằng, một người chỉ trích tử tế nói cho bạn nghe bạn đang làm sai những gì còn tốt hơn hàng vạn người chỉ biết ca tụng, tâng bốc bạn. Nhưng ông cũng không để những lời chỉ trích đó phá hủy đi sự tự tin hay quyết tâm lãnh đạo của mình. Nên coi chỉ trích là những thông tin để mình sử dụng mà thôi.
Mỗi ngày hãy làm một điều gì đó giúp bạn tiến bộ hơn bất kể việc đó có nhỏ nhoi đến mấy. Đó là cách giúp bạn trở thành một nhà truyền thông hiệu quả từng bước một.

Nhà báo nổi tiếng Horace Greeley - người thường chỉ trích Lincoln đã nói câu nói nổi tiếng về Lincoln nhà truyền thông vĩ đại: "Có lẽ không có một năm tháng nào trong cuộc đời mình mà Lincoln không thông thái hơn, điềm tĩnh hơn và tốt hơn chính bản thân mình trong những năm trước đó".


(DNSG/PresidentLincoln.com)
>> 5 bài học từ Abraham Lincoln 

 

 
Share:

Câu chuyện thương hiệu qua bức tranh Đôi bàn tay cầu nguyện

Vào thế kỷ XV, tại một làng nhỏ của nước Đức, có một gia đình có tới 18 người con. Cha của họ phải làm việc tới 20 tiếng đồng hồ mỗi ngày mà cả gia đình chỉ đủ để đắp đổi qua ngày. Thế nhưng, hai người con lớn trong nhà vẫn có nhiều mơ ước. Cả hai đều muốn học vẽ vì họ có năng khiếu từ nhỏ.

Sau không biết bao nhiêu buổi nói chuyện suốt đêm trên chiếc giường đông chật anh em, hai người con lớn có một quyết định. Họ sẽ tung một đồng xu. Người thua sẽ làm thợ mỏ, dùng toàn bộ thu nhập để chu cấp cho người thắng đi học. Còn người thắng, sau bốn năm học, sẽ chu cấp tài chính cho người còn lại đi học, dù bằng cách bán tranh hay phải đi làm thợ mỏ.

Đồng xu được tung lên, Albrecht thắng cuộc và được đi học. Albert thua, đi tới vùng mỏ đầy nguy hiểm và trong suốt bốn năm, làm lụng để nuôi người em của mình ăn học.

Gần như ngay lập tức, những tác phẩm của Albrecht được rất nhiều người nhắc đến, bởi chúng thậm chí còn đẹp hơn cả tác phẩm của các bậc thầy trong trường. Và cho đến khi tốt nghiệp thì Albrecht đã bán được khá nhiều tranh và dành dụm được một khoản tiền.

Khi anh trở về, trong bữa ăn sum họp, Albrecht đứng dậy để cảm ơn người anh trai đã hy sinh bốn năm giúp mình hoàn thành được ước mơ. Và Albrecht nói:

– Anh Albert, bây giờ đã đến lượt anh. Anh hãy tới Nuremberg để theo đuổi ước mơ của mình. Em sẽ lo toàn bộ chi phí và chăm sóc gia đình.

Albert mỉm cười, rồi bật khóc:

– Không, anh không thể tới Nuremberg được. Đã quá muộn rồi. Bây giờ, sau bốn năm làm việc trong hầm mỏ, không còn ngón tay nào của anh là lành lặn. Thậm chí bây giờ anh còn bị thấp khớp ở tay phải nặng tới mức không thể nâng nổi một chiếc ly, nói gì đến việc cầm cọ vẽ. Cảm ơn em, nhưng bây giờ đã quá muộn rồi…

Hơn năm trăm năm đã qua. Cho tới bây giờ, hàng trăm bức chân dung, tranh màu nước, tranh than chì, tranh khắc gỗ và khắc đồng… của Albrecht Durer đã được treo ở những viện bảo tàng lớn nhất thế giới. Nhưng có một điều kỳ lạ, có thể bạn, cũng như nhiều người, đều chỉ quen thuộc với một tác phẩm của Albrecht Durer. 

Đó là một ngày, để tỏ lòng kính trọng và biết ơn anh trai Albert, Albrecht Durer đã thực hiện một tác phẩm cẩn thận nhất trong đời: vẽ lại đôi bàn tay của anh trai mình, với lòng bàn tay hướng vào nhau và những ngón tay gầy guộc hướng lên trên. Ông gọi bức tranh của mình là Đôi bàn tay cầu nguyện.
Đó là câu chuyện đằng sau bức tranh Đôi bàn tay cầu nguyện của Albrecht Durer, bức tranh ấy sẽ cũng chỉ dừng lại là một bức tranh đẹp nếu không có một câu chuyện với giá trị nhân văn đi kèm. Tương tự, một sản phẩm cũng sẽ bình thường như bao sản phẩm khác nếu người bán không kể cho khách hàng nghe về câu chuyện đặc biệt đằng sau sản phẩm ấy.

Ngày nay, người ta gọi câu chuyện đằng sau những sản phẩm là câu chuyện thương hiệu. Không phải thương hiệu nào cũng có thể kể thành công câu chuyện thương hiệu của mình, phải nói rằng sản phẩm là phần thể xác, còn câu chuyện thương hiệu là tâm hồn. Khi nào người mua sản phẩm cảm nhận được những giá trị vô hình đằng sau sản phẩm, khi đó người kể chuyện thương hiệu đã thành công.

Bạn đã bao giờ hình dung tại sao khi người dùng sử dụng chiếc điện thoại iPhone, họ lại thấy bản thân thật… đẳng cấp, để rồi theo dõi đến từng động thái của thương hiệu Apple hay không? Hay giới trẻ, họ có bao giờ tự hỏi tại sao mình yêu thích nước ngọt Coca-Cola mà không phải một thương hiệu khác? Đơn giản là vì những con người đằng sau những thương hiệu ấy đã truyền vào “phần hồn” sản phẩm thông qua những câu chuyện mà ta không nhìn thấy, hoặc không để ý tới. Ví dụ câu chuyện về một Steve Jobs đằng sau một Apple, hay những “viral clip” mang thông điệp hạnh phúc đằng sau Coca-Cola.
Hai thương hiệu kể thành công “câu chuyện thương hiệu”

Khi ngắm nhìn bức tranh đôi bàn tay của họa sĩ Albrecht Durer, người ta không khỏi thán phục tài năng hội họa của ông, rồi lại bồi hồi vì ý nghĩa câu chuyện đi kèm sau bức tranh ấy. Nắm bắt được điều này, các nhà làm thương hiệu ngày nay luôn tìm cách đưa yếu tố cảm xúc tác động vào hành vi mua sắm của khách hàng để có thể “dẫn dắt” họ. Đó cũng là lý do mà Coca-Cola luôn theo đuổi một thông điệp lớn: “Làm cho thế giới hạnh phúc hơn”, nếu quan sát chúng ta sẽ thấy mọi viral clip của Coca-Cola luôn đi kèm thông điệp hạnh phúc.

Ngày nay, nhờ vào sự phát triển của truyền thông và sự phát triển vượt bậc của những công cụ sáng tạo nội dung, các thương hiệu không khó để kể câu chuyện của mình, nhưng rất ít thương hiệu làm được. Lý do là vì câu chuyện ấy chưa thật, hoặc chưa phải là câu chuyện hay nhất. 


Sẽ ra sao nếu đằng sau bức tranh Đôi bàn tay cầu nguyện của Albrecht Durer là một câu chuyện dở tệ, chẳng mang giá trị nhân văn nào. Khi ấy giá trị bức tranh cũng sẽ giảm hẳn, tương tự khi kể chuyện cho sản phẩm cũng vậy. 

Phải là một câu chuyện chân thật, câu chuyện hay nhất mà thương hiệu lựa chọn để kể. Khi ấy, “phần hồn” của sản phẩm mới thuyết phục được khách hàng, khách hàng sẽ rung động khi đứng trước sản phẩm bởi câu chuyện đằng sau nó.
(DNSGCT)

Share:

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

Ngành nào chạy email marketing hiệu quả nhất?

Như có câu nói nổi tiếng rằng: “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”, việc để mắt tới động thái của đối thủ cạnh tranh và so sánh với hiệu quả hoạt động của mình là rất quan trọng.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VpXGBk-fdFq
Mặc dù những chiến dịch email của bạn có thể đã đạt chỉ tiêu đặt ra, bạn có thể sẽ muốn thiết lập những mục tiêu cao hơn cho năm 2016 dựa trên việc những công ty khác trong ngành đang hoạt động thế nào.

Sau khi đăng tải bài viết về marketing email liệt kê những loại hình email đạt hiệu quả cao nhất, tôi nhận được rất nhiều yêu cầu phân loại chúng theo ngành, để từ đó các marketer có thể so sánh hiệu quả những chiến dịch marketing email của mình với các đối thủ cạnh tranh. Và sau đây là những số liệu cụ thể.

Những loại hình email marketing

Đề phòng bạn không còn nhớ về 3 loại chiến dịch email, sau đây là tóm tắt từ bài viết lần trước:
Batch Emails: Được biết tới với kỹ thuật “batch and blast” (Gửi đi một thông điệp duy nhất tới nhiều nhóm người sử dụng email cùng 1 lúc). Loại hình email này không chứa “nội dung đặc biệt” gì. Thay vào đó công ty chỉ thu thập 1 danh sách những địa chỉ liên lạc và gửi cho họ cùng 1 email. Ví dụ điển hình của loại hình này là bản tin của công ty bạn, được gửi tới cho tất cả mọi người, không phân biệt đối tượng.

Nurture Emails: Đây là loạt email nhắm tới 1 đối tượng cụ thể dựa trên những hồ sơ khách hàng (e.g. như ngành công nghiệp, vị trí công việc, hoặc tình huống sử dụng). Nurture email được sử dụng chủ yếu để thu hút những khách hàng tiềm năng qua những kênh bán hàng và thúc đẩy quyết định mua. Email này chứa 1 đặc điểm riêng biệt cho mỗi cá nhân dựa trên việc họ đang ở đâu trên hành trình mua. Nếu họ chỉ đang tìm hiểu về công ty bạn, email này có thể gửi tới cho họ những thông tin nhẹ nhàng, vui nhộn. Còn nếu đó là 1 khách hàng đã mua của bạn rất nhiều lần, họ có thể nhận được lời mời tới buổi demo sản phẩm trực tuyến.

Trigger Emails: Đây là những email mang tính cá nhân được gửi đi dựa trên những hành vi mua của khách hàng tiềm năng. Một số "nội dung đặc biệt" được tạo ra dựa trên hành vi khách hàng (nghĩ về việc này như 1 cuộc hội thoại có cả người nghe và nói). Một ví dụ của email loại này là: 1 khách hàng tiềm năng tương tác với trang web sự kiện của bạn, từ hành động này, người đó sẽ nhận được email mời đến 1 sự kiện của công ty bạn được tổ chức gần nơi họ sống.

Hiệu quả hoạt động của email marketing phân loại theo ngành

Sau đây là hiệu quả hoạt động của 3 loại hình email marketing xét trên toàn bộ các lĩnh vực. Như bạn có thể thấy dưới đây, những chiến dịch Batch Email hoạt động hiệu quả hơn, rõ rệt ở 2 lĩnh vực Chăm sóc sức khỏe & Khoa học đời sống và Du lịch, nghỉ dưỡng & giải trí. Mặt khác, những chiến dịch Nurture Email thể hiện hiệu quả nhất ở ngành Năng lượng, Chăm sóc sức khỏe & Khoa học đời sống, và Vận tải, kho bãi. Những chiến dịch Trigger Email phát huy hiệu quả ở nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau, với tỉ lệ người dùng mở email cao nhất so với mọi loại hình khác.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VpXGBk-fdFq
Số liệu này thể hiện tỉ lệ trung bình người dùng mở email đối với 3 loại hình trên, xét trên toàn bộ các ngành kinh doanh. Theo chú thích trên góc phải, dải màu xanh lá cây mô tả tỉ lệ mở email tương đối (0.2% – 23.5%).

Chúng ta học được gì

Biểu đồ này đã thể hiện tất cả, nhưng có một số điểm thực sự thú vị nổi bật hẳn ở đây. Đây là những ý kiến của tôi lý giải nguyên nhân 1 số loại email nhất định sẽ hoạt động hiệu quả hơn đối với 1 số ngành công nghiệp cụ thể.

1. Nhìn chung- Trigger Email có hiệu quả cao

Tôi biết tôi cứ nhắc đi nhắc lại như 1 cái đĩa vấp, nhưng mặc dù thành công đã được chứng minh tại Marketo và nhiều doanh nghiệp khác, vẫn có rất nhiều các marketer không nhận ra tiềm năng của Trigger Email. Thế nên tôi sẽ nói một lần cuối cùng những thông điệp mang tính cá nhân dựa trên hành vi cụ thể thì hiệu quả hơn Batch Email rất nhiều. Thực tế, tính trung bình chúng hiệu quả hơn gấp 3 lần. Những email này là 1 tương tác quan trọng với khách hàng, vì thế hãy dành thêm thời gian và nỗ lực cho những chiến lược Trigger Email!

2. Ngành năng lượng- Sức mạnh của Nurture Email

Ngành Năng lượng có hiệu quả hoạt động Nurture Email lớn nhất, với con số ấn tượng 12,4%! Điều này hoàn toàn hợp lý nếu bạn nghĩ tới cách thức những công ty năng lượng giao tiếp với khách hàng của họ. Bạn có thường xuyên nhận được những email xoay quanh vấn đề sử dụng năng lượng, cách tiết kiệm năng lượng, và những cập nhật chính sách mới không? Việc nhắm tới 1 đối tượng cụ thể và phù hợp này khiến Nurture Email hoạt động hiệu quả. Dưới đây bạn sẽ thấy 1 ví dụ tương tự từ một công ty cung cấp nước.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VpXGBk-fdFq
3. Du lịch- Tập san quảng cáo cho tất cả mọi người!

Điều này thực sự thú vị. Ngành công nghiệp du lịch, nghỉ dưỡng và giải trí có tỉ lệ Batch Email cao nhất, nhưng tỉ lệ Nurture Email thấp nhất. Những chương trình Batch Email hiệu quả hơn 40 lần so với Nurture Email! Điều này hầu hết là do bản chất của ngành du lịch. Nhu cầu đi du lịch vốn mang tính thời vụ và ít phụ thuộc vào từng cá nhân. Việc chăm sóc 1 khách hàng mỗi tháng có lẽ không hiệu quả bằng việc gửi email hàng loạt cho toàn bộ danh sách khách hàng với thông tin những chuyến du lịch biển ngay trước mùa hè hay 1 chuyến leo núi trước mùa trượt tuyết.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VpXGBk-fdFq
4. Chăm sóc sức khỏe- Hiệu quả toàn diện

Hiệu quả toàn diện nhất về email marketing thuộc về lĩnh vực Chăm sóc sức khỏe và Khoa học đời sống. Họ là bậc thầy trong từng chiến dịch marketing qua email. Tôi cho rằng có 2 nguyên nhân chính. Đầu tiên là việc công nghệ đã tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe trong khoảng vài năm gần đây. Sự chuyển đổi nhanh chóng sang kỷ nguyên số thể hiện rõ rệt trong những chiến dịch marketing của họ. Thứ 2 là mỗi loại email lại giải quyết 1 vấn đề cụ thể trong ngành này. Những buổi hẹn khám bệnh? Trigger Email! Những mẹo hay phòng bệnh? Nurture Email! Những thông báo và bản tin của bệnh viện? Batch Email!
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VpXGBk-fdFq
Bạn có thể thấy những loại hình email khác nhau phục vụ cho những mục đích khác nhau, nhưng tôi hi vọng việc tìm hiểu sâu vào những số liệu này sẽ mang tới cho bạn 1 vài ý tưởng về việc sử dụng email hiệu quả hơn cho doanh nghiệp của mình.
(CafeBiz) 
Share:

Khách hàng bỏ quên đồ, và khách sạn này đã biến nó thành chiêu Marketing không thể thông minh hơn

Một khách hàng đã bỏ quên một chú thỏ bông tại khách sạn Adare Manor. Các nhân viên tại đây đã không chỉ giúp cô bé tìm lại chú thỏ mà còn giúp quảng bá hình ảnh cho khách sạn theo một cách không thể độc đáo hơn.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VpUg9E-fdFq
Chú thỏ bông này được tìm thấy vào dịp cuối tuần bởi các nhân viên của khách sạn Adare Manor ở Adare, Ai-len.

"Tôi bị lạc mất chủ trong bữa sáng ở Adare Manor ," nhân viên khách sạn viết lời tựa cho bức ảnh chú thỏ bông được đăng trên Facebook.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VpUg9E-fdFq
Bức ảnh trên nhận được nhiều lượt chia sẻ hơn hẳn các bài viết khác trên facebook của khách sạn này, do đó, các nhân viên đã quyết tìm lại chủ nhân cho chú thỏ, nhưng bằng cách hơi đặc biệt một chút.
Phải ở lại Adare Manor tối nay thôi, hy vọng cô chủ sẽ đến đón mình vào ngày mai
"Phải ở lại Adare Manor tối nay thôi, hy vọng cô chủ sẽ đến đón mình vào ngày mai"

"Chúng tôi đã quyết định sẽ tiếp tục làm như thế này," một phát ngôn viên của khách sạn nói với BuzzFeed News. "Chúng tôi nghĩ rằng Facebook là một cách vô cùng hữu hiệu để lan truyền thông tin."
Thư giãn trước bữa sáng
"Thư giãn trước bữa sáng"

Vì các nhân viên không biết tên của chú thỏ, nên họ chỉ gọi nó là "Bunny" (thỏ con), họ đoán chú thỏ nhồi bông này đã bị bỏ lại sau khi một đám cưới tại địa phương kết thúc.
Claire của bộ phận hướng dẫn khách đang giúp tôi tìm lại gia đình, vẫn đang rất vui vẻ tại Adare Manor
"Claire của bộ phận hướng dẫn khách đang giúp tôi tìm lại gia đình, vẫn đang rất vui vẻ tại Adare Manor"

Như các bạn thấy, chú thỏ này được phục vụ rất chu đáo bởi đội ngũ nhân viên.
Mình đang dần quen với việc này, thưởng thức trà chiều tại Adare Manor
"Mình đang dần quen với việc này, thưởng thức trà chiều tại Adare Manor"

Claire của bộ phận hướng dẫn dẫn Bunny đi thăm thú xung quanh khách sạn.
Chuẩn bị đi dạo với Claire sau tách trà buổi chiều.
"Chuẩn bị đi dạo với Claire sau tách trà buổi chiều."

Và sau đó, nhờ vào tất cả các hình ảnh trên Facebook, Bunny đã liên lạc lại được với gia đình của mình!
Họ tìm được cô chủ rồi, tôi được ở lại Adare Manor một đêm nữa và mai sẽ về nhà ăn tiệc mừng, vẫn đang rất vui tại Adare Manor, tất cả mọi người đều đối xử rất tốt với tôi
"Họ tìm được cô chủ rồi, tôi được ở lại Adare Manor một đêm nữa và mai sẽ về nhà ăn tiệc mừng, vẫn đang rất vui tại Adare Manor, tất cả mọi người đều đối xử rất tốt với tôi"

Chú thỏ nhồi thuộc về Kate Hogan. Gia đình cô bé đã gửi một tin nhắn cho trang Facebook của khách sạn vào đêm Chủ nhật, nói rằng họ sẽ đến đón chú thỏ vào thứ hai.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VpUg9E-fdFq
"Xin chào tất cả những cô chú đáng yêu của khách sạn Adare Manor. Tên cháu là Kate Hogan. Cảm ơn cô chú đã chăm sóc tốt Jellycat (tên chú thỏ) của cháu. Bạn ý là người bạn nhồi bông đầu tiên của cháu từ hơn ba năm rưỡi trước, "gia đình Kate viết trên Facebook. "Cháu đã rất cô đơn khi đi ngủ vào đêm qua, nhưng bây giờ cháu biết bạn ấy đã có quãng thời gian tuyệt vời. Cháu rất háo hức đợi tới lúc Jellycat trở lại trong vòng tay của mình. Một lần nữa xin cảm ơn các cô chú ở Adare Manor. Gửi dùm cháu một cái ôm tới cậu ấy nhé. Kate X "
With crisis averted, Bunny went back to living a life of luxury at the hotel.
“ Mai là được về Nenagh rồi, vẫn đang thư giãn tại Adare Manor"

Chúc ngủ ngon từ Adare Manor, ngày mai tôi sẽ về nhà, tôi đã có rất nhiều niềm vui và mọi người chăm sóc tôi rất tốt, sẽ nhớ nơi này nhiều lắm
"Chúc ngủ ngon từ Adare Manor, ngày mai tôi sẽ về nhà, tôi đã có rất nhiều niềm vui và mọi người chăm sóc tôi rất tốt, sẽ nhớ nơi này nhiều lắm"

Chú thỏ thậm chí còn được massage vào thứ hai.
Vẫn đủ thời gian cho một buổi massage từ Kate đáng yêu trước khi về nhà. Thật là một kỳ nghỉ tuyệt vời nhưng tôi cũng rất háo hức muốn gặp lại cô chủ!
"Vẫn đủ thời gian cho một buổi massage từ Kate đáng yêu trước khi về nhà. Thật là một kỳ nghỉ tuyệt vời nhưng tôi cũng rất háo hức muốn gặp lại cô chủ! "

Và cuối cùng thì, vào thứ hai, Kate và Bunny đã được đoàn tụ.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VpUg9E-fdFq
Trích bình luận trên Facebook:
“Đây đúng là marketing thông minh. Các nhân viên đã không chỉ giúp cô bé tìm lại chú thỏ mà còn giúp quảng bá hình ảnh cho khách sạn theo một cách không thể độc đáo hơn.”


Ngân Hà
Theo Trí Thức Trẻ/Buzzfeed
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?