Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn marketing. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017

Internet of Things sẽ bùng nổ như thế nào năm 2020?

“Internet of Things” (IOT), tạm dịch là “Thời đại Internet hoá”, được ví như cuộc “cách mạng công nghiệp” tiếp theo trong hành trình phát triển của loài người.


Lý do cho tên gọi đó là sự thay đổi mà nó mang đến cho sinh hoạt, làm việc, giải trí, du lịch của mọi người dân trên hành tinh, thậm chí cả cách các chính phủ và doanh nghiệp ở các nước tương tác với thế giới.

Trong thực tế, cuộc cách mạng ấy đã bắt đầu từ vài năm trước. Khi mua một chiếc xe ôtô mới, người dùng sẽ thấy có rất nhiều “đồ chơi” và ứng dụng nối mạng được cài đặt sẵn sàng trong xe. 


Những thiết bị gia đình thông minh giúp bạn điều khiển nhiệt độ phòng, kéo rèm, hoặc chơi nhạc với chỉ vài tiếng nói. Thiết bị theo dõi tập luyện thể dục mà bạn đeo trên cổ tay của mình có thể chia sẻ cho người thân và bạn bè của bạn biết những hoạt động bạn đang tập. 

Tất cả đều là một phần của cuộc cách mạng IOT.

Nhưng đó chỉ mới là sự bắt đầu.

Một dự án nghiên cứu của Business Insider Intelligence (BII) đã theo dõi sự phát triển của IOT trong suốt 2 năm qua, đặc biệt là cách người tiêu dùng, doanh nghiệp, và các chính phủ đang sử dụng hệ sinh thái IOT.  John Greenough và Johnathan Camhi tại BII đã lập ra một bản báo cáo kết quả nghiên cứu phân tích từng bộ phận của toàn bộ hệ sinh thái IOT, và đưa ra dự báo về hướng phát triển sắp tới của các thị trường IOT tiên phong.

Sau đây là một số tóm tắt của bản báo cáo nghiên cứu này:

IOT thực ra là gì?


Đó là một hệ thống mạng lưới các thiết bị được kết nối internet, có thể thu thập và trao đổi dữ liệu.

Hệ sinh thái IOT là gì?

Hệ sinh thái IOT cho phép các tổ chức có thể kết nối, kiểm soát và sử dụng các thiết bị IOT. Trong hệ sinh thái này, một tổ chức có thể sử dụng các thiết bị như điện thoại thông minh, máy tính bản, … để gửi đi các hiệu lệnh, hoặc truy cập thông tin từ một mạng lưới các thiết bị IOT khác. 


Trong trường hợp hiệu lệnh, thiết bị nhận lệnh sẽ thực hiện các công việc được thiết kế, thu thập dữ liệu để được truy cập và phân tích nhanh chóng.

Những động lực và rào cản của thị trường

 
Có 4 động lực chính cho thị trường IOT: kết nối Internet ngày càng mở rộng, thiết bị di động bùng nổ, thiết bị cảm biến với chi phí ngày càng thấp hơn, các nguồn đầu tư lớn đang đổ vào IOT.

Bênh cạnh đó, cũng có 4 rào cản đáng chú ý cho sự phát triển của thị trường IOT: các quan ngại về an ninh mạng, bảo mật thông tin cá nhân, các vấn đề trong quá trình ứng dụng, những tiến bộ về công nghệ còn đang phân tán.

Quy mô của thị trường

Trong tóm tắt tổng quan, báo cáo ước tính có khoảng 24 tỷ thiết bị IOT trên thế giới vào năm 2020. Tổng vốn đầu tư trong lĩnh vực IOT trong 5 năm tới sẽ đạt mức 13 nghìn tỷ đô la Mỹ

Ba đối tượng chính sử dụng thiết bị IOT, bao gồm các chính phủ, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Các nhóm thị trường này được dự đoán sẽ đóng góp chủ yếu cho thị trường IOT.

Đối với người tiêu dùng: 5 tỷ thiết bị IOT được cài đặt vào năm 2020, người tiêu dùng chi tiêu khoảng 900 triệu đô la Mỹ cho IOT, và dự báo vốn đầu tư vào thị trường này là 400 triệu đô la Mỹ đến 2020.

Đối với các chính phủ: sẽ có khoảng 7,7 tỷ thiết bị IOT được cài đặt đến năm 2020, tiêu tốn khoản 2,1 tỷ đô và 4,7 tỷ đô trong vốn đầu tư.

Đối với thị trường doanh nghiệp: sẽ có khoảng 11,2 tỷ thiết bị được cài đạt vào năm 2020, với chi phí 3 tỷ đô và 7,6 tỷ đô cho đầu tư.

Các ngành được hưởng lợi từ hệ sinh thái IOT

Ngành công nghiệp sản xuất: 35% các nhà sản xuất đã sử dụng các thiết bị cảm biến thông minh trong hiện tại, 10% đang có kế hoạch sử dụng trong năm tới, theo báo cáo từ PwC.

Ngành dầu khí và khai khoáng: ước tính 5,4 triệu thiết bị IOT sẽ được sử dụng tại các mỏ khai thác dầu vào năm 2020. Các thiết bị này chủ yếu là các cảm ứng nối Internet được sử dụng để cung cấp thông tin về các chỉ số môi trường tại mỏ khai thác.

Ngành giao thông: Các phương tiện giao thông nối mạng là các thiết bị IOT chính trong ngành này. Ước tính sẽ có khoản 220 triệu xe ôtô nối mạng được sử dụng vào năm 2020.

Ngành bảo hiểm: 74% các nhà lãnh đạo trong lĩnh vực bảo hiểm nói rằng họ tin tưởng IOT sẽ cách mạng hoá ngành bảo hiểm trong 5 năm tới. 74% có kế hoạch đầu tư vào phát triển và ứng dụng các chiến lược IOT trong năm tới, theo nguồn từ trung tâm nghiên cứu SMA.

Ngành nông nghiệp: Ước tính 75 triệu thiết bị IOT sẽ được bán cho khối ngành nông nghiệp đến năm 2020. Các thiết bị này chủ yếu cảm biến trong đất để theo dõi nồng độ axit, nhiệt độ, và những yếu tố khách để giúp nông dân nâng cao sản lượng thu hoạch.

Ngành năng lượng: các công ty năng lượng khắp thế giới đang cố gắng đáp ứng nhu cầu năng lượng toàn cầu đang tăng lên nhanh chóng. Để thực hiện điều đó một cách hiệu quả, họ sẽ cài đặt 1 tỷ thiết bị đo lường thong minh cho đến năm 2020.

Ngành quốc phòng: ước tính chi tiêu cho các thiết bị bay không người lái sẽ đạt mức 8,7 tỷ đô la Mỹ vào năm 2020. Thêm vào đó, 126 000 robot quân sự sẽ được chuyển giao đến năm 2020, theo nguồn từ Frost & Sullivan.

Ngành cơ sở hạ tầng: ước tính các đô thị lớn trên thế giới sẽ tăng chi tiêu cho các hệ thống IOT thông minh từ 36 tỷ đô trong năm 2014 lên 133 tỷ đô vào năm 2019. Sự đầu tư này sẽ tạo ra 421 tỉ đô về giá trị kinh tế cho các thành phố lớn trên thế giới vào năm 2019.

Lĩnh vực nhà ở
: Đến năm 2030, kết quả nghiên cứu dự đoán rằng phần lớn các thiết bị gia dụng được sản xuất và tiêu dùng là các thiết bị IOT, đặc biệt là từ động lực cạnh tranh giữa các nhà sản xuất lớn để kết nối các thiết bị do mình sản xuất.

Ngành dịch vụ ăn uống
: dự đoán 310 triệu thiết bị IOT sẽ được sử dụng bởi các công ty dịch vụ ăn uống vào năm 2020. Phần lớn các thiết bị này là các bản hiệu điện tử kết nối và thu thập thông tin trong các cửa chuỗi cửa hàng bách hoá và thức ăn nhanh.

Ngành dịch vụ khách sạn: 31% các khách sạn lớn sử dụng khoá cửa thông minh, 33% có các thiết bị điều khiển phòng thông minh, 16% có TV kết nối internet, và 15% sử dụng các thiết bị cảm ứng báo động khắp khách sạn, theo một khảo sát năm 2015 của tổ chức Hospitality Technology. Bạn có thể tưởng tượng ngành này sẽ phát triển các hệ thống IOT đến mức nào trong năm 2020.

Ngành dịch vụ bán lẻ: các thiết bị cảm ứng kết nối với các ứng dụng điện thoại thông minh đã được sử dụng trong các cửa hàng để tìm hiểu hành vi khách hàng và cải tiến cách quảng cáo đến khách hàng. Chỉ trong nước Mỹ, ước tính khoảng 44,4 tỷ đô thu được từ tin nhắn quảng cáo được tạo từ phân tích dữ liệu của các cảm biến.

Ngành dịch vụ vận tải: các thiết bị cảm biến theo dõi lộ trình được cài đặt vào các kiện hàng và các công hàng được vận chuyển để giảm thiểu chi phí vận chuyển, đồng thời tăng hiệu quả của mạng lưới. Thêm vào đó, các robot IOT như robot Kiva của Amazon giúp giảm thiểu chi phí kho bãi, nhân lực và các vấn đề hư hỏng hàng hoá.

Ngành dịch vụ sức khoẻ: ước tính 646 triệu thiết bị IOT sẽ được sử dụng trong ngành y tế vào năm 2020. Các thiết bị chăm sóc y tế được kết nối IOT có thể thu thập dữ liệu, xử lý thông tin tự động, và hơn thế nữa.

Nhưng những thiết bị này cũng có nguy cơ bị tấn công, vì thế có những quan ngại lớn về khả năng bảo mật của các thiết bị này khi mà sự an nguy của người bệnh có thể phụ thuộc hoàn toàn vào chúng.

Ngành ngân hàng: có gần 3 triệu máy ATM đã được cài đặt toàn cầu vào năm 2015, theo World Bank. Các thiết bị IOT có thể tạo ra lựa chọn kết nối các giao dịch viên ngân hàng với các máy ATM để tăng chất lương dịch vụ, đồng thời giảm chi phí của các phòng giao dịch.

Lĩnh vực quản lý các toà nhà thông minh: tại Mỹ, 43% các toà nhà được quản lý bằng các công nghệ IOT. Trong vài năm tới chúng ta sẽ thấy xu hướng này càng tăng lên nhanh chóng và ảnh hưởng đến tất cả những người sử dụng các toà nhà này.

Kết luận

Vậy chúng ta có thể thấy gì từ bảng tóm tắt của bức tranh toàn cảnh “Thời đại Internet hoá” trên? Có một số điểm nổi bật từ kết quả nghiên cứu như sau:

Dự báo có tổng cộng 34 tỷ thiết bị kết nối với mạng Internet đến năm 2020, từ con số 10 tỷ trong năm 2015. Các thiết bị IOT sẽ chiếm 24 tỷ, trong khi số lượng các loại thiết bị kỹ thuật số truyền thống ( điện thoại thông minh, máy tính bảng, đồng hồ thông minh, …) chỉ chiếm 10 tỷ trong tổng số này.

Gần 6 nghìn tỷ đô sẽ được chi cho các giải pháp IOT trong vài năm tới cho đến 2020.

Các doanh nghiệp sẽ là những tổ chức đi đầu trong ứng dụng các giải pháp công nghệ IOT. Họ thấy được có 3 cách mà IOT có thể giúp họ tăng hiệu quả kinh doanh: 1) giảm chi phí hoạt động, 2) tăng hiệu quả lao động, và 3) phát triển các thị trường mới hoặc phát triển các sản phẩm mới.

Các chính phủ đang tập trung tăng cao hiệu quả lao động, giảm chi phí, và nâng cao đời sống xã hội. Trong tương lai, họ được dự đoán là nhóm lớn thứ hai sử dụng công nghệ IOT.

Với người tiêu dùng, họ là những người được tiếp nhận dịch vụ và sử dụng sản phẩm cuối cùng trong quá trình phát triển các giải pháp IOT, tuy nhiên họ lại là nhóm tiêu thụ một số lượng rất lớn các thiết bị IOT, đồng thời là động lực thúc đẩy tất cả các ngành nghề cập nhật ứng dụng IOT trong hoạt động để cạnh tranh.

Chúng ta vừa bước sang năm 2017. Cho đến tương lai gần vào năm 2020, chúng ta sẽ chứng kiến một giai đoạn phát triển thần tốc ngắn nhất trong lịch sử loài người, với những cải cách công nghệ thay đổi hoàn toàn những thói quen trong cuộc sống hằng ngày của con người.

Có rất nhiều cảm xúc phấn khích, háo hức, cũng có không ít lo lắng và quan ngại cho sự thay đổi thần tốc này. Hiểu được những cơ hội cũng như thách thức mà “Thời đại Internet hoá” mang lại sẽ là điều kiện cần thiết để các nước như Việt Nam chúng ta hội nhập với thế giới.


Chúng ta là những nền kinh tế phát triển sau, nhưng điều đó không có nghĩa rằng chúng ta không có khả năng để bắt kịp các nước lớn trong “Thời đại Internet hoá”. Mỗi một doanh nghiệp công nghệ được ra đời và phát triển tại Việt Nam sẽ là một đứa con của hy vọng, cho tương lai rất gần của chúng ta.

>> Tìm cơ hội trong cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư

Theo BI Intelligence/DNSGCT
Share:

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

Chân tướng bí kíp "Đêm 7 ngày 3, vào ra không kể" của tỷ phú Hoàng Kiều: Nguyên tắc sống khỏe người trẻ nào cũng nên học theo

Câu nói của tỷ phú Hoàng Kiều ngay lập tức khiến nhiều người liên tưởng tới "bí kíp phòng the" nào đó. Thế nhưng, trên thực tế, đây lại là nguyên tắc cơ bản để sống lâu, sống khỏe vốn đã được truyền tụng trong dân gian lâu nay.



Mới đây, một đoạn video ngắn nói về phương châm sống của tỷ phú Hoàng Kiều đã thu hút được rất nhiều sự chú ý của cộng đồng Facebook. Trong đó, điểm nhấn của video là câu nói được ông Hoàng Kiều nhấn mạnh: "Đêm 7 ngày 3, vào ra không kể".

Câu nói này ngay lập tức khiến nhiều người liên tưởng tới "bí kíp phòng the" nào đó. Thế nhưng, trên thực tế, đây lại là nguyên tắc cơ bản để sống lâu, sống khỏe vốn đã được truyền tụng trong dân gian lâu nay.

Vậy chúng ta phải hiểu thế nào cho đúng về câu nói này?

Đêm 7 là Đêm ngủ ÍT NHẤT 7 tiếng

Con người là vậy, chỉ cần thiếu ngủ một đêm, sáng ra không những mặt mày phờ phạc, thần sắc không có, mà đầu óc lại không minh mẫn. Đặc biệt đối với phụ nữ, đây là nguyên nhân làm xấu da, thâm quầng mắt, v..v…

Và thiếu ngủ không như việc ta đi làm, làm thiếu 1 ngày thì bù được 1 ngày. Thiếu ngủ 1 đêm thì đêm hôm sau có ngủ gấp đôi thì cũng không thể "đền bù thiệt hại" cho cơ thể như khi ngủ đủ giấc được. Do đó, đối với cơ thể, điều độ luôn tốt hơn cường độ.

Ngày 3 là Ngày ăn ÍT NHẤT 3 bữa

Trong một ngày, ăn nhiều bữa, mỗi bữa một ít tốt hơn so với việc ăn ít bữa nhưng ăn thật nhiều. Đây không những là bí quyết để khỏe, mà còn là bí quyết để đẹp, vì việc chia nhỏ khẩu phần ăn như vậy giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn, và bụng không bị to.

Nếu như bạn không có điều kiện làm như vậy, 3 bữa ăn cũng đã tốt rồi. Đặc biệt chú ý, đối với bữa tối, bạn không nên ăn quá trễ và quá no!

Ra vô không tính

Mỗi lần đi ra hoặc đi vô, nhớ uống nhiều nước. Nếu bạn đi ra ngoài nhiều giờ liền, tốt nhất là nên mang theo 1 chai nước. Điều này đặc biệt đúng với dân văn phòng, những người ngồi nhiều, làm việc chăm chú quá đôi khi quên cả việc uống nước.

Cho dù bạn không khát thì vẫn nên uống nước, để đảm bảo đủ 2 lít nước/ngày. Vì vậy, khi làm việc, mỗi lần bạn đứng lên hay đi ra đi vô, nhớ uống nước.

Ngoài ra, ở ý này, chúng ta có thể hiểu là mỗi lần đứng lên hay đi ra đi vô, nhớ chớp mắt hoặc tìm một vật gì đó ở xa để nhìn trong khoảng vài phút, chẳng hạn như một cái cây. Cả ngày dán mắt vào màn hình, đôi khi bạn quên chớp mắt - đó là những lúc ngắn ngủi đôi mắt được nghỉ ngơi.

Vì vậy, khi bạn đứng lên, đi ra đi vô, hãy cố gắng làm 2 việc: cho mắt nghỉ ngơi và tiếp nước cho cơ thể.

Cũng liên quan tới quy tắc sống lâu, sống khỏe 7-3, dân văn phòng có thể áp dụng 7 nguyên tắc và 3 điều cần nhớ sau đây:
7 nguyên tắc ít - nhiều:

- Ít thịt, nhiều rau
- Ít mặn, nhiều chua
- Ít đường, nhiều trái cây
- Ít ngồi, đứng nhiều
- Ít âu lo, ngủ nhiều hơn
- Ít đi xe, đi bộ nhiều
- Ít nóng giận, cười nhiều hơn

3 điều cần nhớ:

- Chăm sóc cơ thể cũng là một công việc. Không có chuyện làm biếng mà lại có một cơ thể khỏe mạnh!

- Cơ thể chúng ta không bao giờ lừa dối chúng ta. Những biểu hiện bên ngoài, như nổi mụn, sốt, tóc rụng nhiều, v..v… là những cách mà cơ thể giao tiếp với chúng ta, báo hiệu với chúng ta là có điều gì đó không ổn từ bên trong.

- Trong một tuần hãy cố gắng ăn chay vào cuối tuần, hoặc ít nhất là một ngày.

>> Đường làm giàu của tỷ phú Hoàng Kiều



  Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Startup đừng đâm đầu làm quảng cáo nữa, hãy làm PR!

Startup thường bị nhầm lẫn giữa truyền thông cho một doanh nghiệp lâu năm và PR cho những startup mới bắt đầu. Bài viết này sẽ phân định rõ ranh giới giữa 2 câu chuyện này.


Truyền thông quảng cáo sản phẩm không hề rẻ tiền chút nào. Facebook cũng đang tăng giá quảng cáo chóng mặt. Các nội dung thương hiệu đang dần trở nên nhàm chán trong mắt người dùng Facebook, Google. Khách hàng cần một nội dung phù hợp hơn, gắn liền với đời sống hàng ngày của họ.

Tại sao phải làm PR?

PR là viết tắt của từ Public Relationship - xây dựng quan hệ với công chúng. Xin hãy chú ý chữ "quan hệ". Để trở thành một mối quan hệ với công chúng, thương hiệu cần tương tác 2 chiều - tức là người đọc, khách hàng tiềm năng của bạn sẵn lòng "share", "inbox" nói chuyện cùng thương hiệu. Tất nhiên, để làm được điều này không hề dễ dàng chút nào.

Các thương hiệu đã có tuổi đời, họ có sẵn nguồn khách hàng quay lại (sử dụng lại) và khách hàng trung thành. Chuyện họ cần làm là dựa vào các công cụ quảng cáo để boom cho sản phẩm/dịch vụ/khuyến mãi mới đến các khách hàng của họ và những khách hàng tiềm năng.

Còn đối với startup, đây là câu chuyện từ con số 0. Không có khách hàng có sẵn, không có kinh nghiệm sử dụng sản phẩm, tại sao họ lại phải sử dụng dịch vụ của bạn? Thiếu lý do để tin tưởng (reason-to-believe), mọi thông tin quảng cáo rầm rộ (và tốn rất nhiều tiền) sẽ không thể thu được hiệu quả quá tốt.

PR giải quyết được câu chuyện này, PR sử dụng những kênh xuất bản nội dung có sẵn như báo mạng, kênh Facebook page giải trí... để phổ biến nội dung sản phẩm cực kỳ rõ ràng (nội dung chữ nhiều hơn quảng cáo thông thường), và gắn sản phẩm với giá trị cụ thể. Grab là một ví dụ điển hình, họ làm điều này cực kỳ thành công với 2 fanpage chính là Tuyết Bitch Collection và Thỏ Bảy Màu.

Làm PR chuyên nghiệp cần một nhân viên PR thuộc dạng "pro". Các startup có thể thuê người làm PR theo dạng bán thời gian hoặc theo hợp đồng. Chỉ cần một người làm PR giỏi, thông tin sản phẩm của bạn có thể xuất hiện khắp mọi nơi với chi phí cực kỳ rẻ.
Nhưng điều startup cần quan tâm thứ 2 khi bắt đầu làm PR là: chúng ta có thể cung cấp giá trị gì cho khách hàng?

Nhiều startup bị nhầm lẫn khi cho rằng: chỉ cần nội dung sản phẩm tốt, PR đúng kênh là được. Quan niệm này không đúng, bạn vẫn cần phải học tập các công ty có tuổi đời: phải có giá trị "call-to-action" - làm sao cho khách hàng đọc thông tin PR xong là muốn dùng liền.

Kinh nghiệm từ một trường hợp thực tế: một ứng dụng đặt khách sạn mới ra mắt. Startup chỉ mong có lượng cài đặt mới là hàng chục ngàn người cài ứng dụng, mà không quan tâm đến chuyện người dùng sẽ cảm nhận thế nào.

Tôi đã từng tư vấn: hãy nhắm vào nhu cầu cụ thể, chi phí cài ứng dụng sẽ giảm rất nhiều. Nhu cầu cụ thể ở đây là gì? Nếu là khách sạn, nhu cầu nổi bật ngay mỗi tuần là tối thứ 7 đi chơi cùng bạn gái. Tại sao cần thuê khách sạn tối thứ 7 thì tôi xin phép không cần trình bày. Nếu thông tin PR phủ cực mạnh vào mỗi chiều thứ 6 cho thông điệp này, "khách sạn đẹp rẻ luôn sẵn sàng trên ứng dụng ABC vào mỗi tối thứ 7" - chắc chắn sẽ hiệu quả hơn bỏ tiền quảng cáo kiếm lượt cài đặt rất nhiều.

PR giải quyết một câu chuyện cực kỳ hiệu quả mà quảng cáo khó làm: thông điệp dễ nhớ trong thời gian dài và dễ chia sẻ hơn các banner quảng cáo khô khan. PR là thông điệp được trau chuốt hơn các câu quảng cáo sặc mùi tiền. Và khách hàng Việt Nam thì chưa bao giờ yêu thương quảng cáo...

Trong bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ đề cập đến cách làm Online PR theo dạng "trao đổi ngang" và "tiếp thị liên kết" giá 0 đồng. Mời quý bạn đón đọc.

Tri Thức Trẻ

 

Share:

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2016

Uniqlo, Yonex áp đảo Nike, Adidas trong cuộc chiến tennis

Số vận động viên mặc quần áo của các hãng Nhật Bản tại giải tennis Mỹ mở rộng năm nay áp đảo các đối thủ phương Tây.

Trận chung kết vừa diễn ra là cuộc đọ sức giữa Stan Wawrinka và Novak Djokovic. Trong khi Wawrinka mặc đồ thi đấu của Yonex, Djokovic lại được tài trợ bởi Uniqlo. Góp mặt trong các trận bán kết còn có một vận động viên khác mặc đồ Uniqlo - Kei Nishikori, và Gael Monfils - mặc đồ Asics - cũng là một thương hiệu Nhật Bản.

Trong hệ thống giải Grand Slam năm nay, các thương hiệu Nhật Bản áp đảo đối thủ phương Tây. Họ tài trợ trang phục cho 7 vận động viên tham gia các trận bán kết, nhiều hơn cả Nike, Adidas và New Balance cộng lại.

 
Novak Djokovic (trái) và Stan Wawrinka (phải) trong trận chung kết Mỹ mở rộng. Ảnh: Reuters
 

Marketing đã giúp họ tăng doanh thu toàn cầu và bù đắp lại ảnh hưởng của dân số già và nền kinh tế ì ạch tại Nhật Bản. Uniqlo giờ còn có nhiều cửa hàng ở nước ngoài hơn Nhật Bản. Còn đối thủ đồng hương của họ - Yonex cũng có doanh thu tại quê nhà tăng liên tục từ 2012, sau 3 năm liên tiếp đi xuống. Doanh thu từ thị trường quốc tế năm ngoái cũng gấp đôi, lên 23,5 tỷ yên (230 triệu USD).

Dĩ nhiên, việc các thương hiệu Nhật Bản thống trị Grand Slam năm nay còn do Nike không may mắn. Từ năm 2005 đến 2015, hai tay vợt Roger Federer và Rafael Nadal mà họ tài trợ đều thống trị các giải tennis. Nhưng năm nay, Federer đã hủy tham gia hàng loạt giải do vấn đề sức khỏe. Còn Nadal cũng dừng chân tại vòng 4 giải Mỹ mở rộng.

Sự vượt lên của Djokovic và gần đây là Nishikori chính là cú hích cho Uniqlo. Năm 2012, họ đã ký hợp đồng 5 năm với Djokovic, sau khi ký với Nishikori một năm trước đó.

"Nishikori đã nâng tầm thương hiệu cho chúng tôi. Cậu ấy còn phản hồi về những loại trang phục mình đang mặc. Và chúng tôi đã chỉnh sửa chúng trong các thiết kế về sau", Naoto Miyazawa - người phát ngôn của Fast Retailing – công ty sở hữu thương hiệu Uniqlo cho biết.

Bob Dorfman - Giám đốc sáng tạo tại Baker Street Advertising nhận xét sự hiện diện này rất quan trọng. "Là tân binh trong lĩnh vực cung cấp trang phục thi đấu tennis, việc này chắc chắn sẽ giúp các thương hiệu Nhật Bản nổi tiếng với những khán giả trung thành".

>> 10 năm nữa, nhắc đến thương hiệu Nhật là nói về Uniqlo, thay vì Toyota 

Hà Thu (theo Bloomberg)
Vnexpress
Share:

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2016

Bị chê bai và chấm 1 sao trên TripAdvisor, quán cà phê này vẫn có cách xử lý đầy khôn ngoan khiến khách hàng phải ùn ùn kéo đến

Làm thế nào để đối phó với những nhận xét 1 sao trên TripAdvisor? Trả lời một cách thật cẩn thận hay mặc kệ nó chìm nghỉm giữa những lời khen tích cực?


Nook Neighbourhood, một quán cà phê ở Stockport nước Anh đã chọn một cách xử lý khác.

Hồi đầu năm, quán cà phê này đã nhận đánh giá 1 sao trên trang TripAdviser, sau khi một khách hàng cảm thấy không hài lòng vì bát cháo yến mạch chưa được hâm nóng.

"Tôi đến đây sáng nay (13/2), gọi 2 cốc cà phê, 2 bát cháo yến mạch. Cà phê khá ngon, nhưng bát cháo yến mạch mới chỉ hơi ấm ấm chứ chưa chín.

Sau khi phàn nàn, tôi nhận được 2 bát khác bởi cô bồi bàn nhưng cô ta chẳng thèm xin lỗi. Chúng tôi ăn 2 bát đó, nhưng nó vẫn mới chỉ ấm chứ chưa chín.

Nhân viên ngồi ở quầy tính tiền hỏi tôi món cháo yến mạch thế nào, tôi trả lời rằng nó vẫn chưa chín. Anh ta xin lỗi nhưng chúng tôi bỏ đi ngay lập tức. Tôi cực kỳ thất vọng. Tôi không thể hiểu nổi tại sao họ có thể bưng bát cháo yến mạch chưa chín ra tới 2 lần liền.

Tôi sẽ không bao giờ quay trở lại".
Trước bình luận và đánh giá 1 sao của khách hàng trên, quán cà phê Nook Neighbourhood đón nhận với thái độ đầy cởi mở chứ không hề xấu hổ trước lời chỉ trích.

Quán đã viết lên bảng đặt trước cửa với nội dung như sau: "Mời vào, hãy thưởng thức món cháo yến mạch tệ nhất mà một người phụ nữ trên TripAdvisor từng có trong đời".

Bức ảnh này được chụp lại bởi nghệ sĩ hài Justin Moorhouse kèm lời bình luận kỹ năng viết bảng tuyệt vời.
Bức ảnh này được chụp lại bởi nghệ sĩ hài Justin Moorhouse kèm lời bình luận "kỹ năng viết bảng tuyệt vời".

Trả lời về tấm bảng trên, giám đốc quán cà phê, ông Arlo Calderbank cho biết, "Chúng tôi chỉ muốn làm một điều gì đó thật khác biệt".

"Bình luận của người phụ nữ thực sự khiến chúng tôi cảm thấy chạnh lòng, vì chúng tôi luôn muốn phục vụ khách hàng tốt nhất có thể. Tôi đã cảm thấy xấu hổ khi đọc comment trên TripAdvisor".
Calderbank cho biết, quán cà phê của mình thường nhận được những phản hồi tích cực, nhưng đôi lúc vẫn có những người không thích món ăn ở đây. "Đó là một phần của cuộc sống".

Ông chủ cửa hàng này cho biết, ông đã choáng ngợp trước sự thích thú của mọi người đối với tấm bảng trên mạng xã hội.

Nơi có món cháo yến mạch chưa chín ngon nhất thị trấn

Nơi có món cháo yến mạch chưa chín ngon nhất thị trấn

Trên thực tế, quán cà phê Nook Neighbourhood từng có nhiều thông báo bằng bảng rất thú vị trước đó.

Cà phê à? Chúng tôi có đấy.

Cà phê à? Chúng tôi có đấy.
Một cái gì đó dí dỏm và kích thích tư duy (Sếp bảo tôi viết thế lên bảng)
Một cái gì đó dí dỏm và kích thích tư duy (Sếp bảo tôi viết thế lên bảng)
Cũng vào hồi đầu năm nay, một quán cà phê khác ở thành phố York cũng nhận được đánh giá 1 sao trên trang Advisor khi người phục vụ tính phí cốc nước chanh với giá 2 bảng Anh và cho rằng mức giá này quá đắt.

Đáp lại bình luận này, chủ quán cà phê đã có một bài giải thích đầy chi tiết tất cả những loại chi phí để tạo nên một cốc nước. Phản hồi này đã làm dậy sóng internet, khiến cộng đồng phải tán thưởng.
Theo Minh Quân
Cafebiz
>> Khách hàng bỏ quên đồ, và khách sạn này đã biến nó thành chiêu Marketing không thể thông minh hơn
Share:

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2016

Đừng cố gắng bán sản phẩm, hãy bán một câu chuyện hấp dẫn cho khách hàng

Trong thực tế, khách hàng không thực sự quan tâm về chính sản phẩm ("what"), họ quan tâm nhiều hơn đến việc sản phẩm này cải thiện công việc kinh doanh của họ như thế nào ("why").
Tất cả niềm đam mê và hứng thú của các doanh nhân đều vây quanh các sản phẩm sáng tạo họ đang xây dựng. Họ thích nói chuyện về sản phầm của mình với những người khác, chi tiết về những đặc điểm tính năng cũng như chức năng của chúng. Họ tập trung vào việc khiến người khác cũng yêu sản phẩm. Nhưng sau đó họ nhận ra, điều này chẳng thể giúp đẩy doanh số. Họ tự hỏi làm sao để khách hàng biết sản phẩm của mình tuyệt vời như thế nào?

Trong thực tế, khách hàng không thực sự quan tâm về chính sản phẩm ("what"), họ quan tâm nhiều hơn đến việc sản phẩm này cải thiện công việc kinh doanh của họ như thế nào ("why").

Bạn càng sớm quên việc tập trung vào "what" và bắt đầu chú ý đến "why" để gây sự chú ý của người khác, doanh số của bạn sẽ càng sớm được cải thiện.

Định nghĩa “why”

Đối với hầu hết khách hàng, họ thực sự quan tâm về:
(i) Thứ này giúp tôi tăng doanh thu như thế nào?
(ii) Thứ này giúp tôi tiết kiệm chi phí như thế nào?
(iii) Thứ này giúp cải thiện trải nghiệm người dùng như thế nào (người dùng có thể là khách hàng hoặc nhân viên)?

Nếu sản phẩm (dịch vụ) của bạn mang đến tác động kinh tế giúp khách hàng đạt được 1 trong 3 mục tiêu trên, họ sẽ càng chú ý nhiều hơn đến sản phẩm (dịch vụ) đó.

Tính toán “why”

Nếu bạn muốn thuyết phục rằng có thể giúp họ tăng doanh thu, đầu tiên bạn cần nghiên cứu xem doanh thu hiện tại là bao nhiêu, tìm một số cách sản phẩm của bạn có thể giúp họ tăng trưởng doanh thu (khoảng 5-10% có thể gây sự chú ý).

Nếu bạn muốn thuyết phục với lý do tiết kiệm chi phí, bạn cần ước lượng chi phí hiện tại của họ lớn mức nào. Liệu sản phẩm của bạn có thể giúp họ giảm khoảng 5-10% chi phí, giúp tối đa hóa lợi nhuận tổng thể và dòng tiền của họ hay không?

Trong cả 2 trường hợp, giá sản phẩm của bạn không nên cao hơn 10-20% của tổng doanh thu tăng trưởng hay tổng chi phí tiết kiệm được. Ví dụ, tăng trưởng đạt 10% thì sau khi trừ chi phí chi trả cho bạn, mức này còn 8-9% là được.

Một trường hợp về "why"

Khi tôi còn làm việc tại iExplore xây dựng doanh nghiệp kinh doanh du lịch khám phá, tôi đã cố gắng có mối quan hệ chiến lược với National Geographic và được trình bày ý tưởng với CEO cùng CFO của họ.

Tôi cố gắng suy nghĩ: Điều gì sẽ khiến họ chú ý? Với ngành tạp chí truyền thống không còn thịnh vượng, tôi biết họ đang tìm kiếm nguồn doanh thu mới (VD như truyền hình cáp). Tôi cũng biết rằng độc giả của họ là những người ưa thích du lịch khám phá, thường tham gia những kỳ nghỉ nhiều hoạt động trải nghiệm như iExplore đang cung cấp.

Tôi nói với họ National Geographic có thể tiếp cận khoảng 100 triệu hộ gia đình thông qua tạp chí, website và kênh truyền hình cáp,... của mình. Nếu chúng ta có thể khiến 1% trong số họ mua kỳ nghỉ với giá trung bình khoảng 10.000 USD mỗi giao dịch thì sẽ dẫn đến cơ hội mang về doanh thu 10 tỷ USD, khoảng 20 lần doanh thu họ tạo ra thời điểm đó. Không cần phải nói thì tôi cũng đã gây được sự chú ý của họ và chốt được giao dịch.

Tôi không đưa ra những lợi thế của website hay 5.000 chuyến đi chúng tôi cung cấp. Tôi tập trung vào các tác động kinh tế có ý nghĩa với công việc kinh doanh và ước tính giá trị tài chính có thể thu về nếu đầu tư vào iExplore.

Tôi cũng khéo léo cho họ biết các công ty truyền thông khác, như đối thủ trực tiếp Discovery Channel của họ cũng đang muốn làm việc với chúng tôi. Đây đơn giản là tạo cho họ nỗi sợ bị mất cơ hội tuyệt vời cho một trong những đối thủ của mình.

Cuối cùng thì bạn bán câu chuyện hấp dẫn chứ không phải sản phẩm. Hy vọng rằng bạn sẽ học được chìa khóa để bán hàng thành công là đặt mình vào vị trí của khách hàng.

Ngừng tập trung vào “what”, hãy bắt đầu chú ý đến “why” và chắc chắn điều tốt đẹp sẽ đến!
(Theo Trí Thức Trẻ/Entrepreneur)
>> 7 lời khuyên của David Ogilvy mà bất cứ ai làm quảng cáo cũng nên đọc


Share:

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2016

Phương pháp Sashimi: Dân sales ai cũng nên biết để hóa giải lời than phiền "sao bán đắt thế" từ khách hàng

Mới đây, trên một website về marketing có nhắc đến phương pháp giải quyết từ chối của khách hàng khi họ thấy giá sản phẩm quá cao. Tạm gọi đây là Phương pháp Sashimi. Bài viết này chúng tôi xin dẫn lại một số ý từ bài đăng nói trên. Hi vọng quý độc giả sẽ ứng dụng uyển chuyển phương pháp này vào thực tế kinh doanh của bản thân.
Để hiểu được phương pháp Sashimi trong bán hàng, trước hết cùng tìm hiểu về nguyên liệu, cách chế biến và cách thưởng thức Sashimi - món ăn truyền thống trứ danh đến từ đất nước mặt trời mọc.

Sashimi - Món tươi được cắt lát

Trong ẩm thực, Sashimi được xem là tinh hoa văn hoá Nhật đề cao sự tinh tế. Cảm giác tinh khiết có thể biến đổi từ cá hồi đến cá mực, từ cá ngừ đến thịt bò.

Sashimi được cắt thành từng lát mỏng có chiều rộng khoảng 2,5 cm, chiều dài 4 cm và dày chừng 0,5 cm (kích cỡ có thể khác nhau tuỳ vào loại nguyên liệu và người đầu bếp).
Sashimi ăn cùng với các loại nước chấm như xì dầu, tương, các loại gia vị như wasabi, gừng và một số loại rau nhất là tía tô, bạc hà và củ cải trắng thái chỉ hoặc một số loại tảo biển.
Sashimi thường là món đầu tiên trong bữa ăn trang trọng ở Nhật, nhưng cũng có thể làm món chính, ăn cùng với cơm và một chén súp Miso riêng.

Miếng hải sản cắt lát, thành phần chính của món ăn, thường được bọc trong rau củ trang trí. Rau củ trang trí điển hình là củ cải trắng, củ cải Nhật (daikon) cắt sợi, cùng với một lá tía tô .
Các loại nước sốt đơn giản ăn với sashimi, như là sốt shoyu và wasabi.

Nhiều người Nhật cho rằng sashimi, theo truyền thống được xem là món cá hảo hạng của ẩm thực Nhật, phải được ăn trước để tránh các món có mùi nặng làm ảnh hưởng đến khẩu vị.
Phương pháp Sashimi

Phương pháp Sashimi được áp dụng trong việc giải quyết từ chối của khách hàng khi họ nhận thấy giá sản phẩm cao quá (so với túi tiền của họ hoặc sản phẩm cùng loại khác).
Đầu tiên là nghiệp vụ "thái lát" giá bán thành những miếng mỏng giúp khách hàng dễ thưởng thức hơn.

Ví dụ, chiếc khẩu trang có giá lên đến 60.000 đồng (loại thường chỉ 15-20 ngàn đồng), có thể được "thái lát" thành: chỉ 2.000 đồng/ngày trong vòng 30 ngày.

"Chỉ 2 ngàn đồng mỗi ngày, anh có thể bảo vệ sức khỏe của bản thân khỏi khói bụi và ô nhiễm".

Một chiếc đầm giá 3 triệu đồng, người bán hàng khéo léo có thể "thái lát" thành: chỉ 100.000 đồng/ngày trong vòng 30 ngày.

"Mỗi ngày mình để dành 100 ngàn bỏ ống là cuối tháng mình hòa vốn được cái váy này rồi đó chị".

Ví dụ khác trong lĩnh vực internet, rất hay gặp các hình thái "thái lát" giá cước do sản phẩm là dịch vụ khó định hình (cầm, nắm) mà cước phí theo tháng, quý hay năm lại có vẻ "quá cao". Các gói cước dịch vụ thường được "thái lát" rất mỏng, chẳng hạn như "chỉ 5.000 đồng/SMS/10 lần tải nhanh trong vòng 12 giờ" hay "chỉ 2.000 đồng/ngày để xem phim thả ga trên điện thoại"...
Sau khi đã "thái lát" giá cả để phần nào giúp khách hàng giải toả được áp lực tài chính, hãy "trang trí thêm rau củ và đồ chấm đi kèm". Hãy giới thiệu trọn vẹn các giá trị đi kèm của sản phẩm, để khách hàng cảm thấy sản phẩm mình rất đáng đồng tiền bát gạo.

"Khẩu trang này không dùng sợi bông hóa học tẩm than hoạt tính mà dùng chính những sợi hoạt tính. Lớp sợi hoạt tính được dệt từ các sợi ái dầu siêu nhỏ bằng công nghệ đặc biệt và không dùng chất kết dính, khoảng cách giữa các sợi rất nhỏ. Do vậy, nó có thể giữ được nhiều hạt bụi có kích thước rất nhỏ".

"Chiếc đầm này may bằng vải cao cấp nhập khẩu từ Hàn Quốc, chất mịn, thoáng, co giãn tốt, không nhăn, lại bền màu. Thi thoảng mình đầu tư một chiếc để mặc dịp quan trọng cho sang chị ạ".

"Gói cước xem phim này sẽ được miễn cước data, miễn phí 3G", "Gói tải nhanh này sẽ vô cùng tiện lợi vì bạn không cần đăng nhập hay đăng kí mà có thể tải không giới hạn"...

Cuối cùng là thôi thúc khách hàng phải hành động ngay.
"Chỉ còn 2 ngày nữa là hết thời gian khuyến mại mua khẩu trang với giá chiết khấu 50% như thế này thôi anh ạ".

"Đây là 1 trong 2 chiếc đầm cuối cùng trong bộ sưu tập xuân hè rồi. Hết đợt này bên em không thiết kế nữa để tránh đụng hàng chị ạ".
"Nếu chị không mang đủ tiền thì chỉ cần đặt cọc 500 ngàn đồng. Em giữ đầm lại cho chị nhé".

Có thể uyển chuyển "thái lát", thái thật nhỏ, theo nhiều cách, cho đến khi vừa "ăn"
Ví dụ 1 khoá học nấu ăn trị giá 3 triệu đồng, học trong 6 buổi. Thay vì "thái lát" còn 500 ngàn đồng/buổi, ta "thái lát" tiếp. 6 buổi học được 12 món, vậy là mỗi món chỉ có 250 ngàn đồng. "Đi ăn món đó ở nhà hàng 1 lần cũng gần bằng giá đó rồi. Mình học về trổ tài được bao nhiêu lần cho gia đình cùng thưởng thức".

Các bạn đừng quên 1 mẹo nữa: Quy số tiền đã được "thái lát" thành 1 món hàng quen thuộc nào đó. Ví dụ: 3 ngàn đồng chỉ bằng ly trà đá, 30 ngàn đồng chỉ ngang tô phở hay 200 ngàn đồng tương đương 1 buổi xem phim ở Vincom.
Chúc các bạn chế biến Sashimi thành công!
Theo Trí Thức Trẻ  

Share:

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2016

Giải mã hiện tượng Phúc Long: Chuỗi đồ uống nổi tiếng Sài Gòn khiến ông lớn Starbucks cũng phải thèm thuồng

Sự tăng trưởng của Phúc Long chỉ là 1 trong số rất nhiều minh họa cho sự lên ngôi của các chuỗi cà phê nội địa, nơi chốn được người Việt chọn lựa thay vì đến những cửa hàng cà phê sang chảnh thương hiệu nước ngoài như Starbucks hay Coffee Bean & Tea Leaf.
Sáng thứ 7, tại quán cà phê Phúc Long ở Lăng Cha Cả, quận Tân Bình, người ra kẻ vào tấp nập. Anh Huy, một khách hàng "ruột" của Phúc Long, vừa đọc báo vừa nhâm nhi ly cà phê sữa đá. Anh rất thích thương hiệu này vì giá cả hợp lý, gần nhà, nhất là rất "đậm" vị và không thấy "mùi hóa chất".

Xuất hiện từ năm 1957 tại Bảo Lộc - Lâm Đồng, Phúc Long nổi tiếng với truyền thống kinh doanh trà và tiếp đó cà phê. Tuy nhiên, nếu như cách đây vài năm, các cửa hàng của Phúc Long chỉ đơn thuần là nơi bán và giới thiệu sản phẩm thì gần đây, thương hiệu này dường như đã thay đổi chiến lược kinh doanh với hàng loạt các cửa hàng xuất hiện ở vị trí đắc địa của TP HCM.

Sự xuất hiện của chuỗi cà phê Phúc Long hiện diện không lâu sau khi Starbucks đặt dấu chân đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh, Việt Nam vào năm 2013, rõ ràng là để đối đầu trực tiếp với "gã khổng lồ" Mỹ.

Hiện tại, tại Quận 1, Phúc Long có 8 cửa hàng như Mạc Thị Bưởi, Ngô Đức Kế, Nguyễn Huệ, Lý Tự Trọng, Lê Lợi, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Văn Cừ. Các cửa hàng khác ở Quận 3, Quận 7, Quận 5, quận Phú Nhuận, quận Tân Bình.... Tháng 7 tới, thương hiệu này sẽ mở thêm cửa hàng thứ 16 tại Aeon Mall Bình Tân.
15 cửa hàng hiện tại của Phúc Long đều nằm ở những vị trí "như mơ". Một nửa trong số đó tọa lạc tại các tuyến đường lớn của Quận 1, quận trung tâm nhất của Thành phố. Ở các quận "kém" trung tâm hơn như Tân Bình thì Phúc Long cũng nằm ngay tại vòng xoay Lăng Cha Cả, điểm giao thông luôn tấp nập người qua lại.

Phúc Long tỏ ra không mấy kém cạnh với chuỗi cà phê danh tiếng thế giới Starbucks. Nếu như một cửa hàng của Starbucks được đặt trên đường Lý Tự Trọng (Quận 1) thì cửa hàng của Phúc Long được mở cách đó không xa.

Màu xanh và trắng trên logo của Phúc Long khá giống với Starbucks. Thiết kế nội thất hiện đại. Nhưng giá bán thì hấp dẫn hơn nhiều với thực đơn phong phú từ trà, cà phê đến nước ép hoa quả, sinh tố, đồ ăn sáng...

Theo chia sẻ của một nhân viên của Phúc Long với Cafebiz, thương hiệu này có 2 loại cửa hàng. Một theo hướng Take away express, hướng tới đối tượng khách hàng bình dân hơn với giá 1 ly cà phê sữa đá loại trung 30 ngàn đồng, cà phê sữa nóng 28 ngàn, sinh tố tổng hợp 35 ngàn, trà đào sữa loại trung 30 ngàn.

Loại cửa hàng thứ 2 là Take away house với đối tượng khách hàng "sang chảnh hơn". Loại này hiện Phúc Long có 3 cửa hàng, đó là tại trung tâm thương mại Cresent quận 7, Vivo City quận 7, Aeon Mall Bình Dương. Tại các địa điểm này, giá cao hơn so với Take away express. Chẳng hạn, cafe sữa đá loại trung ở đây là 40 ngàn, trà đào sữa loại trung 42 ngàn.

Nhân viên của Phúc Long cho hay, loại thứ 2 cao cấp hơn, không gian đẹp, rộng rãi, dịch vụ tốt nên giá cao hơn.

Điều quan trọng nhất, khách đến Phúc Long rất tấp nập, từ người đi làm, khách du lịch cho đến học sinh, sinh viên.
Để có được những vị trí đắc địa tại trung tâm Quận 1 hay những địa điểm tấp nập người qua lại khác, Phúc Long phải đầu tư rất lớn , đặc biệt là chi phí mặt bằng. Đầu tư mặt bằng tương đương Starbucks nhưng giá bán thậm chí không bằng 1/2, thương hiệu này làm thế nào để sống sót và trụ vững?

Một nhân viên cấp cao của Phúc Long chia sẻ với Cafebiz, Phúc Long rất đông khách nên dù giá mặt bằng cao cũng không phải là vấn đề gì lớn. Khách của các cửa hàng thường là giới trẻ, văn phòng. Họ không "ngồi đồng" mà ra vào liên tục. Nhờ đó, thương hiệu có thể dễ dàng cân đối được tài chính mà không cần quá lo lắng về chi phí mặt bằng.

Bên cạnh đó, sự chủ động về nguồn nguyên liệu do Phúc Long sở hữu sẵn hệ thống trang trại, nhà máy, nơi pha chế, cửa hàng nên chi phí sản phẩm đến tay người tiêu dùng không bị đội lên.
Sự tăng trưởng của Phúc Long không phải là cá biệt. Có rất nhiều minh họa cho sự lên ngôi của các chuỗi cà phê nội địa, nơi chốn được người Việt chọn lựa thay vì đến những cửa hàng cà phê sang chảnh thương hiệu nước ngoài như Starbucks hay Coffee Bean & Tea Leaf.
Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2016

Nhờ chiêu marketing này, hãng kẹo Jell-O từ thân phận vô danh đã bao thầu toàn bộ căn bếp Mỹ

Người Mỹ không ai không biết đến Jell-O. Nhưng trước khi trở thành món kẹo mà "bếp-nhà-ai-cũng-có", Jell-O từng rất chật vật để đến được tay các bà nội trợ Mỹ.

Tóm tắt:

Bối cảnh: Năm 1895, Pearle Wait, một thợ mộc, đã tạo ra kẹo dẻo Jell-O từ gelatin, một sản phẩm xuất xứ từ lò mổ. 

Vấn đề: Tuy món kẹo rất ngon, nhưng hoàn toàn xa lạ với dân Mỹ đầu thế kỷ 20, nên không bán được cho ai. 4 năm sau, Wait bán Jell-O cho Frank Woodward với giá 450 USD.

Giải quyết: Frank Woodward thử đủ cách để bán hàng nhưng không thành công. Trong tình hình tệ nhất, ông thử cách cuối cùng:

+ Quảng cáo trên tạp chí: Jell-O là món ăn tráng miệng nổi tiếng nhất Hoa Kỳ.
+ In hàng chục ngàn cuốn sách dạy nấu ăn với Jell-O, gõ cửa từng nhà, đem tặng miễn phí cho các bà nội trợ. 

+ Đổ hàng cho nhà buôn trữ sẵn để bán khi các bà nội trợ tìm đến hỏi mua nguyên liệu.

Kết quả:
+ Năm 1904, sách của Jell-O thành best-seller, 2 năm sau doanh thu cán mốc 1 triệu đô; 25 năm sau, 1/4 tỷ cuốn sách đã được in tặng, kẹo Jell-O bao thầu toàn bộ căn bếp Mỹ.
+ Một trong những công cụ marketing mạnh nhất của thế kỷ 20 ra đời: Bán hàng miễn phí.


 
Có một sự thật là gelatin được sản xuất từ da, thịt và xương. Nó là cái chất trong trong, dính dính, nổi lên trên khi luộc thịt. Nhưng nếu chiết xuất được một lượng lớn, tinh lọc, thêm tí màu sắc và mùi vị, nó sẽ trở thành một thứ khác: Jell-O. Một thứ bột trong đóng vỉ, không còn dấu vết nguồn gốc từ lò mổ, của tủy và mô liên kết.

Ngày nay, chúng ta không còn nghĩ nhiều về nguồn gốc của Jell-O, nhưng vào cuối thế kỷ 19, nếu muốn thêm chút của ngọt ngào vào bữa tối, người ta phải chuẩn bị rất cầu kỳ: bỏ các miếng thịt vào nồi hầm, chờ nửa ngày cho chất collagen bị thủy phân nổi lên từ đống xương sụn.

Những viên kẹo dẻo thơm tho và đẹp đẽ, sinh ra từ... lò mổ

Vào năm 1895, Pearle Wait, một thợ mộc ở LeRoy, New York, người có việc làm thêm là đóng hộp các loại dược phẩm có phép, ngồi trong bếp ngó mông lung vào cái bát đầy gelatin. Đã từ lâu, ông muốn tham gia vào ngành thực phẩm đóng gói, lúc đó hãy còn mới mẻ, và nghĩ rằng gelatin có thể là sản phẩm của mình, miễn là có thể làm cho nó hấp dẫn hơn.

Dù những người làm keo đã sản xuất nó hàng thập kỷ như một thứ phụ phẩm của quá trình thuộc da, nhưng người tiêu dùng Mỹ vẫn còn chưa biết đến nó. Một lý do đơn giản là làm ra gelatin mất quá nhiều công sức mà thu lại chẳng bao nhiêu.

Wait trăn trở không biết có cách nào để gelatin trở nên phổ biến hay không. Những nỗ lực ban đầu để bán gelatin dạng bột đóng gói sẵn, kể cả của người phát minh ra quy trình này là Peter Cooper (thuộc hãng Cooper Union danh tiếng) là để bán dưới dạng khô, không mùi vị vì người ta cho rằng đó là hình thức linh hoạt nhất, người chế biến có thể tự thêm mùi vị riêng của mình. Wait thì nghĩ gelatin có vị thêm sẵn từ trước sẽ bán được nhiều hơn, do đó ông trộn thêm nước hoa quả, cùng với đường và màu thực phẩm.

Chất keo gelatin bắt màu và vị trái cây - cam, chanh, mâm xôi, dâu - tạo ra một thứ ngửi và nếm hấp dẫn. Do có màu sắc sặc sỡ, nhẹ và nghịch rất thú nên nó là một món thết đãi đem lại cho mọi bữa ăn rất nhiều trò vui. Để cắt mối liên hệ của nó với lò mổ, vợ của Wait là May đã đặt lại tên cho nó là Jell-O.

Vấn đề: Hàng ngon đem bán, nhưng... chẳng ai mua

Vợ chồng Wait không bán được nhiều hàng. Jell-O vẫn còn là thứ thực phẩm quá xa lạ và là nhãn hiệu chưa được khách hàng biết đến vào buổi giao thời giữa hai thế kỷ. Truyền thống nấu nướng thời đó vẫn còn dựa vào các công thức nấu ăn từ thời Victoria, mỗi loại thực phẩm đã có vị trí riêng của nó. Cái thứ deo dẻo mới mẻ này là một loại salad hay là một món tráng miệng?

Trong 2 năm, Wait nỗ lực lôi kéo sự chú ý đối với Jell-O, nhưng chẳng mấy thành công. Cuối cùng, vào năm 1899, ông đầu hàng và bán lại nhãn hiệu này - tất cả mọi chi tiết, cả dấu gạch nối - cho Frank Woodward, một người cùng thị trấn, với giá 450 USD.



Frank Woodward
Woodward là một người bán hàng bẩm sinh và ông đã an cư tại một nơi vô cùng thích hợp. LeRoy đã trở thành tâm điểm của những kẻ bán hàng của thế kỷ 19, nổi tiếng là căn cứ của những nhà sản xuất thuốc thông dụng có đăng ký. Woodward bán cơ man nào là các loại thuốc màu nhiệm và cũng rất sáng tạo với các loại thạch cao bó bột. Ông ta bán các quả bóng thạch cao cho các xạ thủ tập bắn và chế ra một loại ổ cho gà ấp trứng có trộn chất chống rệp.

Nhưng ngay cả công ty của Woodward là Genesee Pure Food cũng phải vật lộn để tìm thị trường cho gelatin dạng bột. Đây là một loại sản phẩm mới, thương hiệu thì chưa được biết đến trong một thời kỳ mà các cửa hàng bách hóa bán đủ loại sản phẩm và khách hàng khi mua hàng phải biết tên mặt hàng muốn mua.

Jell-O được sản xuất ở một nhà máy gần đó do Andrew Samuel Nico điều hành. Sức bán chậm và gây nản lòng đến nỗi vào một ngày ảm đạm, khi suy tính về đống Jell-O tồn kho khổng lồ, Woodward đã đề nghị nhượng lại cho Nico toàn bộ với giá 35 USD. Nico đã từ chối.

Giải pháp: Tặng miễn phí 1 thứ hay ho cho khách hàng, nhưng không phải là kẹo

Vấn đề chủ yếu nằm ở chỗ: người tiêu dùng không hiểu về sản phẩm và không biết họ có thể dùng nó làm gì. Và nếu khách hàng không có nhu cầu, cửa hàng sẽ không trữ sản phẩm. Những nhà sản xuất các sản phẩm khác trong ngành thực phẩm đóng gói sẵn, như bột nở Arm & Hammer và men bia Fleischmann thường để các quyển sách có công thức nấu ăn trong hộp sản phẩm của họ. Woodward nhận ra rằng một quyển sách hướng dẫn có thể tạo ra cầu cho Jell-O, nhưng làm cách nào để đưa nó ra thị trường? Chưa có ai khởi đầu mua hộp sản phẩm của họ cả.

Thế là vào năm 1902, Woodward và người phụ trách marketing của mình, William E. Humelbaugh, thử cách khác.

Đầu tiên, họ cho đăng một mẩu quảng cáo rộng 8cm trên tạp chí Ladies Home Jounal với giá 336 USD. Tuyên bố một cách tự tin rằng Jell-O là thứ đồ tráng miệng nổi tiếng nhất Hoa Kỳ, quảng cáo đó giải thích điểm hấp dẫn của sản phẩm: "Chỉ cần thêm kem hoặc một ít sữa trứng là người ta có thể thưởng thức nó được rồi. Tuy nhiên, nếu muốn một thứ thật đặc biệt thì có đến hàng trăm cách phối hợp thú vị mà vẫn rất dễ làm".

Rồi để minh họa những phương thức phối hợp vô cùng đa dạng đó, công ty Genesee cho in hàng chục ngàn quyển sách mỏng với các công thức làm Jell-O và phái những người bán hàng rong đi phát không cho những bà nội trợ.

Phương pháp này đã giải quyết một cách thông minh khó khăn lớn nhất của những người bán hàng. Khi rong ruổi qua những vùng quê, nếu không mua được giấy phép với giá cao thì người ta không thể đi từ nhà này sang nhà khác để bán hàng. Nhưng với những quyển sách dạy nấu ăn thì khác, phát không đâu phải là bán hàng. Họ có thể đường hoàng gõ cửa từng nhà, phát sách có công thức chế biến cho các bà chủ nhà, không yêu cầu bất cứ ràng buộc nào.

In các cuốn sách này ít tốn kém hơn so với làm ra Jell-O. Vì không đủ khả năng tài chính để phát không hàng mẫu, họ thực hiện điều tốt nhất có thể: cung cấp thông tin miễn phí, nhưng những thông tin này chỉ hữu ích nếu người tiêu dùng mua sản phẩm.

Sau khi bỏ bom cả thị trấn với những quyển sách ghi công thức pha chế, những người bán hàng đến gặp các nhà buôn địa phương và báo cho họ biết rằng sắp sửa có rất đông khách hàng đến hỏi mua một sản phẩm có tên là Jell-O, còn đợi gì mà không trữ hàng đi. Thế là cuối cùng những hộp Jell-O bắt đầu được xe ngựa chuyển đến.

Kết quả: Bao thầu toàn bộ căn bếp Mỹ

Đến năm 1904, chiến dịch bán hàng này đã thành công rực rỡ. Hai năm sau, doanh số năm của Jell-O đạt 1 triệu USD. Công ty giới thiệu "nàng Jell-O" trong các quảng cáo của họ, và những quyển sách mỏng đã trở thành sách dạy nấu ăn bestseller của Jell-O.

Chỉ trong vài năm, Genesee đã in đến 1,5 triệu quyển sách miễn phí, và trong 25 năm đầu tiên, công ty đã in và phân phát đến từng nhà trên cả nước một phần tư tỉ quyển sách dạy nấu ăn miễn phí.


Những nghệ sĩ tên tuổi như Norman Rockwell, Linn Ball, và Angus MacDonald đã vẽ các bức minh họa màu cho các quyển sách đó. Jell-O đã trở thành một thứ phổ biến trong căn bếp của người Mỹ và là cái tên quen thuộc với mọi nhà.

Một trong những công cụ marketing mạnh nhất của thế kỷ 20, cho không thứ gì đó để tạo ra nhu cầu cho một sản phẩm khác, đã ra đời như thế.

Woodward hiểu rằng "miễn phí" là một từ có quyền năng siêu việt, tái định hướng tâm lí khách hàng, tạo ra thị trường mới, xóa bỏ thị trường cũ, và làm cho hầu như mọi sản phẩm trở nên hấp dẫn hơn. Ông cũng nhận ra rằng "miễn phí" không có nghĩa là phi lợi nhuận. Nó chỉ có nghĩa rằng sản phẩm phải đi trên con đường gián tiếp để đến với thị trường, và khái niệm về món hàng bán lỗ để kéo khách sẽ được tôn sùng trong các chiến lược bán lẻ.
(Theo Trí Thức Trẻ)
Share:

Từ chỗ không có đủ tiền để mua 1 chiếc Rolex, chàng trai 31 tuổi đã xây dựng cả một hãng đồng hồ triệu đô

Trả lời tạp chí Veckans Affärer, Tysander cho biết ai cũng có thể trở thành một doanh nhân thành đạt, chỉ cần chịu bỏ thời gian và một chút may mắn.
Năm 2006, Filip Tysander đi xách ba lô lên và đi phượt khắp châu Á và tình cờ gặp một người bạn đồng hành tên là Daniel Wellington. Thời gian đó, smartphone vẫn chưa phổ biến như hiện nay và mọi người vẫn cần có một chiếc đồng hồ để xem giờ. Sau vài lần tiếp xúc, Tysander bắt đầu bị cuốn hút bởi chiếc đồng hồ dáng vẻ kỳ lạ của Wellington. Nó được kết hợp bởi dây đeo NATO Strap (chứ không phải làm bằng da như kiểu đồng hồ phổ biến) và mặt đồng hồ hiệu Rolex.

Xuất phát từ nguồn cảm hứng ấy với 15.000 USD trong tay, anh đã thành lập một thương hiệu đồng hồ cho riêng mình. Hiện nay, Daniel Wellington (DW) đã không còn là một chiếc đồng hồ chắp vá mà nó đã trở thành một hãng thời trang cao cấp với doanh thu hàng năm lên tới 180 triệu đô và biên lợi nhuận 5%.

Tuy nhiên, chẳng có thành công nào tự dưng đến sau một đêm. Sau chuyến đi Úc lịch sử, Tysander quay trở về Thuỵ Điển và bị sa thải. Thay vào đó, anh đăng ký tham dự một khoá học kinh doanh và bán cà vạt và đồng hồ nhựa trên mạng. Công việc kinh doanh này cũng đem lại cho anh 24.000 USD vào năm tốt nghiệp để đầu tư lần thứ 3. Kể từ đây, anh bắt đầu bước ngoặt quyết định trong cuộc đời mình.

Công thức làm nên thành công của chàng sinh viên trẻ là: giá rẻ + dáng vẻ thời trang + chiến lược truyền thông đúng đắn.

Giám đốc kinh doanh của DW tại Mỹ cho biết: "Sản phẩm của chúng tôi được lấy cảm hứng từ chiếc đồng hồ của thế giới thượng lưu nhưng lại có giá rất phải chăng. Tâm nguyện của chúng tôi là mong muốn tất cả mọi người đều có thể đeo đồng hồ DW."

4 năm trước, Tysander đầu tư 15.000 USD để thành lập DW. Chỉ 2 năm sau, công ty đã bán được hơn 1 triệu chiếc và thu về 70 triệu USD. Năm 2016, Tysander dự kiến đạt doanh thu 220 triệu USD. So sánh với các ông lớn trong ngành, Rolex dự kiến doanh thu 5 tỷ USD trong khi Tag Heuer kỳ vọng đạt 1 tỷ USD nếu mỗi bên có thể bán được 1 triệu chiếc. Điều đó cho thấy, ít nhất là ở thời điểm hiện tại tốt nhất là bán đồng hồ cực đắt hoặc là cực rẻ.

Đối thủ cạnh tranh với DW ở phân khúc giá 100-500 USD thì vô kể, nhưng thiết kế chủ yếu quay về thập kỷ 80, 90 trong khi DW lại mang dáng vẻ của hiện đại. Giám đốc Bedrock Manufacturing - công ty mẹ của hãng đồng hồ Shinola nhận định: "Thường thì thiết kế đồng hồ sở hữu giá trị cốt lõi trong một mùa nhưng lại có thể bị thất sủng trong mùa tiếp theo."
Thương hiệu đồng hồ rẻ tiền của anh nhanh chóng thành công không chỉ vì kiểu dáng mới mẻ, giá thành thấp mà còn vì Tysander đã nhìn thấy một mảnh đất màu mỡ mà chưa có ai chạm chân đến. Đó là truyền thông xã hội.

Là kẻ tiên phong trong ngành sử dụng chiến lược marketing đánh vào truyền thông đại chúng, thương hiệu đồng hồ Daniel Wellington đã thu hút được sự chú ý của đông đảo bạn trẻ. Khoe đồng hồ DW trên mạng xã hội trở thành trào lưu. Hiện nay, thương hiệu DW đã có hơn 2 triệu người theo dõi trên Instagram.

Trả lời tạp chí Veckans Affärer, Tysander cho biết ai cũng có thể trở thành một doanh nhân thành đạt, chỉ cần chịu bỏ thời gian và một chút may mắn. Anh cũng nhắn nhủ các bạn trẻ nên cân nhắc ý kiến của nhà văn Malcolm Gladwell rằng hãy bỏ ra 10.000 giờ làm thực tập sinh để hiểu thế giới kinh doanh đang vận hành như thế nào.
(Theo Tri Thức Trẻ/Bloomberg)

>> Chiến lược marketing đưa Under Armour từ vô danh tới kẻ thách thức ngôi vương của Nike

Share:

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2016

Quảng cáo bằng 1 ý tưởng cực độc đáo, sản phẩm của DN này đã được cả nước Nhật biết đến và yêu mến

Làm nhà cho những chú cua ẩn sĩ (loài cua chuyên sống trong vỏ ốc), in thêm logo công ty, công ty bất động sản Suumo đã thực hiện được một chiến dịch quảng cáo thành công không ngờ.
Tiếp cận chiến lược quảng bá thương hiệu thông qua hoạt động bảo vệ môi trường với cái tên "Shell we move?", công ty bất động sản Suumo đã cùng với các nhà hải dương học tiến hành nghiên cứu để tìm ra những ngôi nhà mới cho loài cua ẩn sĩ.

Cua ẩn sĩ (hay còn có tên ốc mượn hồn) vốn có phần dưới cơ thể rất mềm yếu. Chúng hô hấp qua những lớp vảy của cơ thể, nhưng lớp vảy này lại rất dễ khô, và khiến chúng bị ngộp thở. Để sinh tồn, cua ẩn sĩ tìm tới vỏ ốc rỗng để trú thân, thay đổi vỏ tùy theo độ lớn cơ thể, và mang theo vỏ ốc khi di chuyển.

Loài cua này vốn rất phổ biến ở các nước có đường bờ biển dài, nhất là những quốc đảo như Nhật Bản. Tuy nhiên, những bờ biển ở Nhật Bản lại rất thiếu vỏ ốc. Những con cua ẩn sĩ, thay vì tìm được vỏ ốc, lại phải trú mình trong những chiếc chai, lọ rỗng trôi dạt ven bờ biển, vốn là rác thải của con người.

Những chiếc vỏ ốc mới mang màu xanh của thương hiệu Suumo, được chế tác từ tinh bột, hoàn toàn thân thiện với môi trường trở thành giải pháp cho cuộc "khủng hoảng nhà đất" cho những chú cua.
Những chiếc vỏ ốc này được đặt tại nhiều nơi trên bờ biển Nhật Bản, và được cua ẩn sĩ đón nhận nhiệt tình. Những con cua ẩn sĩ mang "ngôi nhà mới" xuất hiện khắp các bờ biển, làng chài của Nhật Bản, biến thành những trợ thủ quảng cáo đắc lực cho thương hiệu Suumo.

Một mũi tên trúng hai đích, vừa thực hiện được một chiến dịch PR thông minh sáng tạo cho Suumo, vừa phục vụ mục đích bảo vệ môi trường. Theo thống kê, tỷ lệ nhắc đến thương hiệu Suumo tăng gấp 487% nhờ việc xuất hiện dày đặc trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội.

Số lượt xuất hiện của Suumo bên cạnh những chú cua ẩn sĩ trên báo chí Nhật Bản lên tới 50 triệu. Đồng thời, tên công ty đi theo dự án này ra nước ngoài thông qua sự giới thiệu của các trường đại học và tổ chức bảo tồn sinh vật biển. Từ đây, lượng khách hàng quan tâm tới dịch vụ bất động sản của công ty này tăng tới 112%.



Bài học marketing sáng tạo của công ty bất động sản Nhật Bản từ vỏ ốc. Nguồn: Yay.
(Tri Thức Trẻ)

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?