Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn quảng cáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quảng cáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Startup đừng đâm đầu làm quảng cáo nữa, hãy làm PR!

Startup thường bị nhầm lẫn giữa truyền thông cho một doanh nghiệp lâu năm và PR cho những startup mới bắt đầu. Bài viết này sẽ phân định rõ ranh giới giữa 2 câu chuyện này.


Truyền thông quảng cáo sản phẩm không hề rẻ tiền chút nào. Facebook cũng đang tăng giá quảng cáo chóng mặt. Các nội dung thương hiệu đang dần trở nên nhàm chán trong mắt người dùng Facebook, Google. Khách hàng cần một nội dung phù hợp hơn, gắn liền với đời sống hàng ngày của họ.

Tại sao phải làm PR?

PR là viết tắt của từ Public Relationship - xây dựng quan hệ với công chúng. Xin hãy chú ý chữ "quan hệ". Để trở thành một mối quan hệ với công chúng, thương hiệu cần tương tác 2 chiều - tức là người đọc, khách hàng tiềm năng của bạn sẵn lòng "share", "inbox" nói chuyện cùng thương hiệu. Tất nhiên, để làm được điều này không hề dễ dàng chút nào.

Các thương hiệu đã có tuổi đời, họ có sẵn nguồn khách hàng quay lại (sử dụng lại) và khách hàng trung thành. Chuyện họ cần làm là dựa vào các công cụ quảng cáo để boom cho sản phẩm/dịch vụ/khuyến mãi mới đến các khách hàng của họ và những khách hàng tiềm năng.

Còn đối với startup, đây là câu chuyện từ con số 0. Không có khách hàng có sẵn, không có kinh nghiệm sử dụng sản phẩm, tại sao họ lại phải sử dụng dịch vụ của bạn? Thiếu lý do để tin tưởng (reason-to-believe), mọi thông tin quảng cáo rầm rộ (và tốn rất nhiều tiền) sẽ không thể thu được hiệu quả quá tốt.

PR giải quyết được câu chuyện này, PR sử dụng những kênh xuất bản nội dung có sẵn như báo mạng, kênh Facebook page giải trí... để phổ biến nội dung sản phẩm cực kỳ rõ ràng (nội dung chữ nhiều hơn quảng cáo thông thường), và gắn sản phẩm với giá trị cụ thể. Grab là một ví dụ điển hình, họ làm điều này cực kỳ thành công với 2 fanpage chính là Tuyết Bitch Collection và Thỏ Bảy Màu.

Làm PR chuyên nghiệp cần một nhân viên PR thuộc dạng "pro". Các startup có thể thuê người làm PR theo dạng bán thời gian hoặc theo hợp đồng. Chỉ cần một người làm PR giỏi, thông tin sản phẩm của bạn có thể xuất hiện khắp mọi nơi với chi phí cực kỳ rẻ.
Nhưng điều startup cần quan tâm thứ 2 khi bắt đầu làm PR là: chúng ta có thể cung cấp giá trị gì cho khách hàng?

Nhiều startup bị nhầm lẫn khi cho rằng: chỉ cần nội dung sản phẩm tốt, PR đúng kênh là được. Quan niệm này không đúng, bạn vẫn cần phải học tập các công ty có tuổi đời: phải có giá trị "call-to-action" - làm sao cho khách hàng đọc thông tin PR xong là muốn dùng liền.

Kinh nghiệm từ một trường hợp thực tế: một ứng dụng đặt khách sạn mới ra mắt. Startup chỉ mong có lượng cài đặt mới là hàng chục ngàn người cài ứng dụng, mà không quan tâm đến chuyện người dùng sẽ cảm nhận thế nào.

Tôi đã từng tư vấn: hãy nhắm vào nhu cầu cụ thể, chi phí cài ứng dụng sẽ giảm rất nhiều. Nhu cầu cụ thể ở đây là gì? Nếu là khách sạn, nhu cầu nổi bật ngay mỗi tuần là tối thứ 7 đi chơi cùng bạn gái. Tại sao cần thuê khách sạn tối thứ 7 thì tôi xin phép không cần trình bày. Nếu thông tin PR phủ cực mạnh vào mỗi chiều thứ 6 cho thông điệp này, "khách sạn đẹp rẻ luôn sẵn sàng trên ứng dụng ABC vào mỗi tối thứ 7" - chắc chắn sẽ hiệu quả hơn bỏ tiền quảng cáo kiếm lượt cài đặt rất nhiều.

PR giải quyết một câu chuyện cực kỳ hiệu quả mà quảng cáo khó làm: thông điệp dễ nhớ trong thời gian dài và dễ chia sẻ hơn các banner quảng cáo khô khan. PR là thông điệp được trau chuốt hơn các câu quảng cáo sặc mùi tiền. Và khách hàng Việt Nam thì chưa bao giờ yêu thương quảng cáo...

Trong bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ đề cập đến cách làm Online PR theo dạng "trao đổi ngang" và "tiếp thị liên kết" giá 0 đồng. Mời quý bạn đón đọc.

Tri Thức Trẻ

 

Share:

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2015

Ở nhà sang, đừng quên cư xử như một quý ông

26% phụ nữ đến từ những hộ gia đình có thu nhập hơn $100,000/1 năm là nạn nhân của bạo lực tình dục và thể xác từ chính người bạn đời, cứ 4 nạn nhân này thì có 1 phụ nữ tốt nghiệp đại học hoặc cao hơn.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vi43B26fdFq

Tạp chí Home là một trong những cái tên hàng đầu trong ngành xuất bản về kiến trúc, thiết kế, hãng mô tả bản thân là: "sự lan truyền cảm hứng từ những ngôi nhà sang trọng, đồng thời giới thiệu những nhà hàng, xu hướng nghệ thuật, đồ nội thất và gia dụng mới nhất." Ấn bản gần đây nhất của tạp chí Home đã khiến nhiều độc giả bất ngờ khi khắc họa một ngôi nhà với những bí mật ẩn giấu đằng sau.
Cuốn tạp chí mở đầu hoàn toàn bình thường, với một loạt hình chụp bên ngoài căn nhà và giới thiệu về gia đình Ashworth và ngôi nhà hiện đại ở Auckland nơi họ đã sinh sống được hơn 4 năm.

Nhưng trong bức hình thứ 2, có một thứ tựa như một vệt máu trên bức tường gần cầu thang:
Bài giới thiệu về ngôi nhà không có lý giải gì thêm. Nhưng trong góc dưới cùng bên phải, người xem có thể thấy một đoạn giải thích: toàn bộ câu chuyện là minh họa cho tình trạng bạo lực gia đình, nhằm nâng cao nhận thức rằng bạo lực gia đình cũng xảy ra với giới thượng lưu ở New Zealand.
"Bạo lực gia đình có thể xảy ra ở mọi nơi. Chỉ riêng năm ngoái, cảnh sát đã điều tra hơn 100,000 vụ bạo lực gia đình trên cả nước. Và đây chỉ là những vụ việc mà chúng ta được biết. Nếu bạn nghi ngờ ai đó xung quanh đang phải đối mặt với bạo lực gia đình, xin đừng thờ ơ. Dù bạn sống ở đâu, bạo lực gia đình là điều không thể chấp nhận được. Để giúp đỡ, hãy truy cập areyouok.org.nz."

FCB New Zealand đã tham gia vào một chiến dịch chống lại bạo lực gia đình hợp tác với tạp chí Home và tổ chức It's Not OK (tổ chức vận động chống lại tình trạng bạo lực gia đình). Nhiều thông tin đã được tiết lộ trong chiến dịch: 26% phụ nữ đến từ những hộ gia đình có thu nhập hơn $100,000/1 năm là nạn nhân của bạo lực tình dục và thể xác từ chính người bạn đời, cứ 4 nạn nhân này thì có 1 phụ nữ tốt nghiệp đại học hoặc cao hơn. 

"Mọi người đều hiểu rằng bạo lực gia đình là một vấn đề nghiêm trọng, nhưng hầu hết chúng ta mặc định rằng vấn đề đó chỉ ảnh hưởng tới một số đối tượng nhất định," theo Jeremy Hansen, biên tập của tạp chí Home. "Nhưng trên thực tế, tình trạng này xảy ra với mọi gia đình trên New Zealand, với mọi tầng lớp xã hội. Đây là lý do tại sao trong ấn bản mới của mình, Home kết hợp với tổ chức It's Not OK để nhắc nhở người đọc rằng tình trạng này có thể ảnh hưởng tới mọi gia đình- và nếu điều đó thật sự xảy ra, mỗi người chúng ta luôn có thể làm được một điều gì đó."
Hồng Nhung
Theo Trí Thức Trẻ

Share:

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2015

Làm gì để bài viết có lượt share cao trên Facebook

Mỗi lượt share không chỉ giúp tăng khả năng nhận diện thương hiệu trên facebook mà đây còn là cách giúp truyền thông tự nhiên tốt nhất. Nếu mỗi bài viết của doanh nghiệp nhận được hàng trăm lượt bình luận và share chứng tỏ mức độ ảnh hưởng, sự uy tín của họ vô cùng lớn, khách hàng tin tưởng vào những gì đơn vị cung cấp.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VicR4m6fdFq

Vậy làm cách nào để doanh nghiệp tăng lượng share - mức độ tương tác cao nhất trên facebook?
Dưới đây là ba lưu ý để tăng hiệu quả của các quảng cáo Facebook.

1. Ưu tiên hiển thị trên thiết bị di động

Hơn 70% người dùng sử dụng di động để truy cập facebook, có nghĩa là bạn phải tối ưu hóa nội dung bài viết trên thiết bị di động mỗi khi đăng bài hay chạy quảng cáo. Cụ thể hơn, hãy đảm bảo rằng những gì link trong bài viết sẽ được xem dễ dàng cho di động. Theo Laura Nathan Garner, Giám đốc chương trình phương tiện truyền thông tại Trung tâm MD Anderson ở Houston: “Hãy chắc chắn rằng kích thước và dung lượng của ảnh trong bài viết là phù hợp cho di động.”.
Hình ảnh có kích thước 560 X 292 pixel là tối ưu cho việc hiển thị trọn vẹn nội dung bức ảnh trên màn hình di động.
Hình ảnh có kích thước 560 X 292 pixel là tối ưu cho việc hiển thị trọn vẹn nội dung bức ảnh trên màn hình di động.

"Headlines và teaser cũng cần được rút ngắn trước khi chia sẻ link." ông nói. Lời dẫn của mỗi bài viết cần ngắn gọn, nhưng vẫn phải bao quát được nội dung bài viết và kích thích được độc giả xem chi tiết bài viết.

2. Lưu ý tới bài viết có lượng tương tác lớn dù mới được “xuất bản”

“Trước khi chạy quảng cáo cho bài viết, hãy kiểm tra xem sự chú ý của khán giả có dành cho nó hay không.”, Nathan-Garner nói. “Những độc giả sau đó sẽ tò mò về bài viết đó nhiều hơn nếu nó đã được nhiều người like, bình luận,...”. Sẽ là lãng phí ngân sách nếu bạn quảng cáo cho bài viết không có sự tương tác của độc giả trước khi chạy quảng cáo.

“Không phải cứ là bài viết bạn tâm đắc thì độc giả sẽ đón nhận nó, Và ngược lại, sẽ có trường hợp, bài viết mà bạn cho rằng không có khả năng “hot” lại nhận được sự quan tâm đặc biệt từ phía độc giả.”.

Với các maketer, không được lấy ý kiến cá nhân để áp đặt và suy luận cho ý kiến của người tiêu dùng.

3. Những yếu tố bên lề

Để có được lượt share lớn, thì ngoài nội dung cần phải chú ý những chi tiết nhỏ hơn như:
Phải kiên trì: Đăng status ít nhất 4 lần/tuần để duy trì trong tâm trí của fans.

Đúng thời điểm: Thời điểm post bài phù hợp nhất sẽ tùy thuộc vào đối tượng kinh doanh mà bạn muốn hướng đến.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VicR4m6fdFq
Sự bắt mắt: Bên cạnh những cập nhật bằng text thì bạn có thể sử dụng thêm các hình ảnh và video bắt mắt, thu hút sự chú ý của độc giả.

Ngắn gọn: Nên post những bài với nội dung ngắn gọn, không quá rườm rà, nêu bật được nội dung chính trong bài post.

Phù hợp: Để mọi người biết bạn là ai thì nội dung post phải phù hợp, không nên lan man đến các khía cạnh hay lĩnh vực khác.

Tiếng nói thương hiệu: Họ là fans của bạn, họ yêu thích những gì mà bạn làm. Vì vậy những gì bạn cập nhật trên fanpage thường xuyên chính là xây dựng thương hiệu cho bạn.

Kêu gọi hành động: Bạn có thể kêu gọi họ share với những lợi ích kèm theo.

Giá trị nội dung: Trước khi bạn chia sẻ nội dung trên Facebook, hãy tự nghĩ xem họ sẽ nhận được những giá trị gì từ nội dung này.

Tính giải trí: Đan xen những bài viết mang tính giải trí, Như vậy những thông điệp mà bạn gửi đến độc giả có thể được truyền tải dễ dàng hơn.

Bắt kịp thời điểm: Chú ý nội dung với những sự kiện thay đổi theo thời gian để mang đến những sự kiện mới và phù hợp.
Phương Đặng
Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

5 "chiêu tâm lý" để quảng cáo thu hút người tiêu dùng

Các nhà quảng cáo được xem là những bậc thầy của khoa học tâm lý ứng dụng. Họ luôn tìm ra những cách mới để thu hút sự chú ý của khách hàng dựa trên những nghiên cứu và ý tưởng mới về tâm lý học, khoa học thần kinh và xã hội học. 

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VheeTG5mqsW

Theo Walter Chen - nhà sáng lập kiêm Tổng giám đốc của công ty chuyên cung cấp phần mềm quản lý hiệu quả công việc iDoneThis, các nhà quảng cáo thường dùng những “chiêu tâm lý” sau đây để thu hút sự chú ý của người tiêu dùng.

1. Tác động vào các tế bào thần kinh gương (mirror neurons)

Đó là những tế bào nằm trong não bộ, chúng kích thích con người hành động theo những động tác của người khác khi họ nhìn thấy những động tác ấy.

Chẳng hạn, khi nhìn một người đang tung hứng một quả bóng, bạn cũng có xu hướng muốn làm như vậy do các tế bào thần kinh gương bị kích thích. Trong đầu bạn sẽ mường tượng ra việc mình đang tung hứng quả bóng.

Các nhà quảng cáo đã ứng dụng lý thuyết này để đưa người tiêu dùng vào các tình huống quảng cáo của mình, làm cho họ cảm thấy muốn làm theo những nhân vật trong các tình huống này.

2. Khiến cho người tiêu dùng lo lắng về những điều mà họ chưa biết

Con người vốn hiếu kỳ. Chúng ta không ngừng muốn khám phá và tìm cách nắm bắt càng nhiều thông tin càng tốt từ thế giới xung quanh. Khi chúng ta chưa biết một điều nào đó, chúng ta cảm thấy như bị thôi thúc phải tìm hiểu thêm thông tin về điều ấy. Và các nhà quảng cáo đã tìm cách tạo ra sự chú ý từ người tiêu dùng bằng cách kích thích sự hiếu kỳ của họ.

Tuy nhiên, Walter Chen khuyên các nhà quảng cáo không nên bắt khách hàng phải chờ đợi lâu mà cần giúp họ giải tỏa ngay sự tò mò. Nếu không, họ sẽ rời bỏ.

3. Vận dụng nguyên tắc bàn tay phải

Đa số mọi người đều thuận tay phải. Nói cách khác, những gì ở bên phải thì thường được chúng ta chú ý trước tiên. Đó là lý do vì sao nhiều cửa hàng bán lẻ thường trưng bày các mặt hàng phổ biến và đắt tiền ở bên tay phải của cửa hàng tính từ cửa ra vào chính hướng vô trong cửa hàng, còn các mặt hàng ít phổ biến hoặc đang giảm giá thì được trưng bày bên trái.

Google và Facebook cũng đưa các quảng cáo của mình lên một cột bên phải của màn hình vì những mẩu quảng cáo đặt bên phải có khuynh hướng được người tiêu dùng nhận thức là có độ tin cậy cao hơn.

4. Tăng giá bán

Vì sao một miếng bánh pizza giá 8 USD lại ngon hơn một miếng bánh pizza có giá 4 USD? Có thể là vì miếng bánh giá 8 USD được chế biến với thành phần, thiết bị, kỹ thuật tốt hơn. Nhưng thực tế có thể chỉ vì nó có giá cao hơn.

Một nghiên cứu mới đây cho thấy các mặt hàng thực phẩm được bán với giá càng cao thì càng được người tiêu dùng yêu thích. Các nhà nghiên cứu đã thực hiện một thử nghiệm tại một nhà hàng Ý.

Một số thực khách tại đây được mời dùng tiệc buffet (tự chọn món) với hai mức giá 8 USD, một số khác được mời dùng tiệc buffet với giá 4 USD. Sau khi dùng bữa xong, thực khách được hỏi họ thích thực đơn nào. Kết quả cho thấy, những thực khách dùng buffet giá 8 USD có xu hướng thể hiện sự thỏa mãn nhiều hơn những thực khách dùng buffet giá 4 USD, dù trên thực tế hai thực đơn này có thành phần như nhau.

Nhiều nhà tiếp thị đã áp dụng cách trên đây để tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của mình bằng cách định vị cho nó như là một sản phẩm cao cấp hay “chỉ có duy nhất” và tăng giá bán.

5. Nguyên tắc làm tròn giá

Nhiều nhà tiếp thị trước nay quan niệm rằng nếu được yết giá 9,99 USD thì một sản phẩm sẽ luôn được bán chạy hơn so với khi nó được yết giá 10 USD vì khách hàng có cảm giác rằng giá của mặt hàng ấy chỉ hơn 9 USD một chút. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây cho rằng chiến lược định giá như thế chưa phải là tối ưu.

Hai nhà nghiên cứu Monica Wadhwa và Kuangjie Zhang đã tìm hiểu nhận thức của khách hàng đối với các con số được làm tròn và tác động của điều đó lên quyết định mua hàng của họ. Kết quả cho thấy các số làm tròn tạo ra một cảm giác tự nhiên và an toàn hơn cho người tiêu dùng và khiến họ đi đến quyết định mua hàng nhanh hơn.
Doanh Nhân Sài Gòn
Share:

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

Để khách hàng mở email tiếp thị nhiều hơn

“Trước khi gửi email tiếp thị thường xuyên cho khách hàng, doanh nghiệp nên nói rõ cho người nhận biết họ sẽ nhận được những loại thông tin cụ thể gì với tần suất nào”, theo công ty cung cấp dịch vụ tư vấn và kế toán Sikich.
Ngoài ra, khi gửi email cho khách hàng, doanh nghiệp cũng nên gửi từ một người thật, tránh trường hợp khách hàng nhận thư không biết người gửi là ai hoặc từ những địa chỉ chung chung như info@company.com.

Theo khảo sát của Sikich, 64% khách hàng cho biết tiêu đề là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định việc họ có mở email hay không.

Ngoài những vấn đề trên, trong bối cảnh mỗi ngày khách hàng có thể nhận đến hàng trăm email và với một quỹ thời gian có hạn, làm thế nào để gây sự chú ý của khách hàng đối với những email tiếp thị do doanh nghiệp gửi ra và tăng tỷ lệ khách hàng mở email?

Dưới đây là những phát hiện và lời khuyên khác của Sikich về lĩnh vực email marketing.
DNSGCT/MarketingProfs

>> Tiếp thị trực tuyến: Chọn số lượng hay chất lượng? 

Share:

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

Dữ liệu trong marketing: Hiểu đúng - dùng hay

Data-driven marketing là việc tận dụng dữ liệu để tối ưu hóa quảng cáo và quảng bá thương hiệu. Quá trình này bao gồm việc thu thập, phân tích dữ liệu từ khách hàng như thói quen, hành vi, mong muốn, hoàn cảnh… của họ để tối ưu hóa hiệu quả các chiến dịch marketing.
Phương pháp tối ưu để làm marketing hiệu quả

Kể từ khi có quảng cáo online đầu tiên xuất hiện trên thế giới vào 1994, ngân sách chi cho hoạt động này chưa bao giờ giảm. Đến 2015, thế giới đã chi 150 tỷ USD cho quảng cáo online, trong đó, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm 1/3 ngân sách này, diễn giả Đinh Lê Đạt - Tổng giám đốc
Công ty Giải pháp quảng cáo trực tuyến ANTS, chuyên gia Big data của Tập đoàn FPT cho biết tại hội thảo "Định hướng dữ liệu, nâng tầm marketing" do báo Doanh Nhân Sài Gòn tổ chức ngày 16/7.
Ông Đạt cũng cho biết thêm, Việt Nam thuộc khu vực tăng trưởng mạnh, có tiềm năng lớn trong các hoạt động tiếp thị trên internet cũng đã chi 320 triệu USD cho quảng cáo online, tăng gấp 10 lần sau 5 năm. Tuy nhiên, số doanh nghiệp biết sử dụng data-driven vẫn chưa nhiều, dẫn đến hiệu quả marketing chưa cao.

Bà Nguyễn Phương Anh - Giám đốc marketing thị trường Việt Nam thuộc Google Châu Á - Thái Bình Dương dẫn chứng, tại Việt Nam có đến 41 triệu người online hàng ngày, trong đó, người dùng sử dụng internet 5 giờ và 3 giờ sử dụng mạng xã hội, đứng thứ 3 Đông Nam Á. Do đó, kênh online rất quan trọng, có thể tiếp cận người dùng gấp 3 lần các chương trình truyền hình. Doanh nghiệp cần sử dụng kênh online để tiếp cận khách hàng, quảng bá thương hiệu, thấu hiểu khách hàng và xử lý khủng hoảng kịp thời.
Bà Nguyễn Phương Anh - Giám đốc marketing thị trường Việt Nam thuộc Google Châu Á - Thái Bình Dương 

Không chỉ vậy, các doanh nghiệp cần tận dụng nguồn data-driven, để thấu hiểu khách hàng và xây dựng được những chiến lược marketing hiệu quả. Ông Đạt cho biết, dữ liệu này có hai dạng: Một là các dữ liệu khách hàng do chính doanh nghiệp nắm giữ như: số liệu đơn hàng trong ngày, khách hàng quan tâm nội dung gì trên trang web của doanh nghiệp, sản phẩm bán được ở địa phương nào tốt nhất…

Hai là, những dữ liệu doanh nghiệp phải mua từ bên thứ 3 cung cấp: hành vi, sở thích, xu hướng tìm kiếm trên internet của khách hàng… thường được thu thập từ mạng xã hội và các công cụ đo lường khác. Nhờ những dữ liệu này mà doanh nghiệp có thể hiểu được một khách hàng trong một khoảng thời gian cụ thể quan tâm, thích thú với điều gì…

Từ đó, doanh nghiệp có thể thiết kế những chương trình tiếp thị phù hợp với nhu cầu, sở thích của khách hàng hoặc xây dựng những chương trình chăm sóc đặc biệt nhờ sự thấu hiểu khách hàng.
Ông Đạt nhấn mạnh, data-driven là một xu hướng tất yếu trong việc xác định chiến lược marketing hiện nay khi các doanh nghiệp trên toàn cầu chi hơn 30% ngân sách tiếp thị cho việc này chứ không chỉ đơn thuần là treo banner hay đăng bài PR thuần túy như trước đây.

Hoạt động này cho phép doanh nghiệp ước lượng được hiệu quả từng chiến dịch marketing, sẽ tiếp cận đến đối tượng khách hàng nào, bằng cách nào… nhằm tiết kiệm chi phí, thu hiệu quả cao.

Nguồn dữ liệu quý giá luôn có sẵn

Diễn giả Đinh Lê Đạt cho biết, việc tập hợp dữ liệu không khó khi có khoảng 20 công cụ rất phổ biến mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể đã sử dụng qua, như Google Analytics là ví dụ điển hình.

Bên cạnh đó, email marketing cũng là một trong những kênh hiệu quả nhất vì thương hiệu không phải tốn thời gian và công sức để tìm kiếm khách hàng mới mà hoàn toàn có thể tận dụng nguồn khách hàng cũ với độ trung thành khá cao – những người đã từng tương tác, từng mua hàng trên website - bằng cách chăm sóc họ, cụ thể là gửi email marketing để cung cấp những thông tin hữu ích và gợi ý họ quay trở lại mua hàng.


Ông Nguyễn Hải Triều – Tổng giám đốc Younet Media về giải pháp theo dõi, nghiên cứu thương hiệu, người dùng và tiếp thị trên mạng xã hội cho biết, Facebook cũng là một kênh thông tin quý giá để có thể nắm bắt được khách hàng đang nghĩ gì, có thái độ ra sao đối với từng mặt hàng cụ thể.
Ông Triều dẫn chứng, bằng việc theo dõi các chia sẻ trên Facebook và các diễn đàn của các bà mẹ, Younet Media hiểu được nhóm khách hàng này rất quan tâm đến việc chọn loại sữa nào cho con bú. Đồng thời, từng chi tiết trong thành phần sữa, nhãn hiệu, bao bì, giá cả đều ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của họ. Do đó, “nếu một hãng sữa đổi mẫu mã mà không truyền thông kỹ càng, khách hàng sẽ từ chối sử dụng sản phẩm sữa của doanh nghiệp đó vì lo ngại hàng giả”, ông Triều nói.
Bà Phương Anh dẫn chứng thêm, bằng việc phân tích dữ liệu một khách hàng thường xuyên đặt vé máy bay trước 1 – 2 ngày, phần lớn họ là doanh nhân, muốn chủ động việc đi lại và không quan tâm về giá cả. Do đó, các doanh nghiệp có thể gửi đến khách hàng này các gợi ý về khách sạn, phương tiện đi lại cao cấp. Những quảng cáo về các dịch vụ giá rẻ sẽ không tiếp cận được với đối tượng này.  Ngược lại, đối với khách hàng thường xuyên “săn” vé máy bay giá rẻ, các doanh nghiệp nên đẩy mạnh quảng cáo các chương trình khuyến mãi để tiếp cận khách hàng tốt hơn.

Từ những ví dụ về sự hữu ích của việc phân tích dữ liệu, ông Đinh Lê Đạt khẳng định: “Không có data driven thì không thể có chiến dịch marketing online hiệu quả”.

Hiểu được dữ liệu mới là điều quan trọng

Với sự hỗ trợ của công nghệ, việc có được dữ liệu khách hàng hiện nay khá dễ dàng. Tuy nhiên, diễn giả Vũ Hoàng Yến – Giám đốc Marketing Zalora Việt Nam nhấn mạnh: “Quan trọng nhất là doanh nghiệp phải hiểu được những dữ liệu mình có”.

Đồng quan điểm, bà Phương Anh chia sẻ: "Nếu doanh nghiệp tìm dữ liệu “chỉ để cho vui” thì số lượng thông tin ngồn ngộn này sẽ mang đến cảm giác loãng và họ sẽ không biết cách sử dụng chúng hiệu quả. Vì vậy, trước tiên bạn phải xác định được mình muốn tìm loại dữ liệu gì”.

"Bằng cách hiểu dữ liệu, chúng tôi nắm được hành vi, sở thích của khách hàng. Từ đó, trong mỗi email marketing Zalora gửi khách hàng đều mang tính chọn lọc kỹ càng phù hợp từng đối tượng”, bà Vũ Hoàng Yến chia sẻ.

Bà Yến cho ví dụ, Zalora sẽ cung cấp thông tin các sản phẩm thời thượng cho những khách hàng đã từng mua nhiều sản phẩm đắt tiền, đưa thông tin mẫu giày mới cho những khách hàng thường xuyên click xem mặt hàng này hoặc gửi thông tin về các chương trình khuyến mãi cho những khách hàng thích “săn” hàng giảm giá…

“Nhờ hiểu dữ liệu, doanh nghiệp xác định đúng đối tượng khách hàng và có bộ lọc tốt, việc gửi email với nội dung phù hợp sẽ tăng giá trị thương hiệu, thêm cơ hội tăng doanh thu cho doanh nghiệp. Ngược lại, việc gửi những email marketing tràn lan, thiếu chọn lọc sẽ khiến hiệu quả tiếp thị không cao, thậm chí khiến khách hàng có ác cảm với thương hiệu”, bà Yến cho biết.

Việc định hướng đúng mục đích và tối ưu hóa nguồn dữ liệu khổng lồ (big data) có thể mang đến sự tăng trưởng về nhiều mặt cho chiến dịch marketing như: hiệu quả bán hàng, trải nghiệm người dùng đối với dịch vụ, hiệu quả ROI marketing, lợi nhuận, tăng trưởng kinh doanh, độ nhận diện thương hiệu, nguồn vốn đầu tư…

Do đó, ông Đạt chia sẻ, doanh nghiệp nên thay đổi tư duy marketing, thay vì tăng chi phí để tìm thêm khách hàng mới thì phát triển, thu thập dữ liệu để chăm sóc thật tốt những khách hàng đã có. Nhờ vậy, doanh nghiệp sẽ có được nhiều khách hàng trung thành, xây dựng hình ảnh thương hiệu tốt và thu hút thêm khách hàng mới.
(Doanh Nhân Sài Gòn)
Share:

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Đã hết thời của những "Người hùng vô danh"

Người hùng vô danh (Hidden Champions) ám chỉ những công ty đứng đầu thế giới trong vài chục năm và luôn quan niệm: Không được nhắc tên trên truyền thông là một điều tốt.
- Đã qua rồi thời kỳ “Hãy làm tốt nhất có thể nhưng đừng nói nhiều về nó”. "Người hùng vô danh" của ngày hôm nay sẽ phải chịu đựng nhiều thiệt thòi về việc tiếp cận tín dụng, khó hấp dẫn đối tác và khó hấp dẫn với ứng viên tuyển dụng khi danh tiếng không được biết đến.

- Media Tenor dẫn Báo cáo Global 500 của Brand Finance cho biết, trung bình, 24% giá trị của công ty nằm ở thương hiệu.

- Tần suất nên xuất hiện của một công ty trên báo chí và giới truyền thông, hay còn gọi là ngưỡng nhận thức (Awareness threshold), thường ở mức 1 – 2 bài/tháng trên TV hay trên báo tuần, và khoảng 5 – 6 bài/tháng trên báo ngày.


Khái niệm Người hùng vô danh được Roland Schatz – Sáng lập viên kiêm Giám đốc điều hành Công ty Media Tenor International – đưa ra tại Hội thảo đào tạo CEO với chủ đề Danh tiếng mạnh giúp phát triển doanh nghiệp diễn ra sáng 18/5.

“Cái họ lý luận là chúng tôi sản xuất ra sản phẩm tốt nhất trên thế giới, qua đó mọi người biết đến công ty tôi, chứ không cần biết đến bản thân tôi. Cũng giống như một người bạn học từng nói với tôi: “Hãy làm tốt nhất có thể nhưng đừng nói nhiều về nó”. Đây là phương thức tiếp cận không tồi, nhưng trong thế giới ngày hôm nay, điều này không còn đúng nữa” – ông Schatz cho biết

24% giá trị công ty nằm ở thương hiệu

Theo ông Schatz, các Người hùng vô danh sẽ chịu 3 thiệt thòi.

Một là, khó tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng, giới tài chính.

“Những lúc không thể dùng vốn tự có để phát triển, mở rộng doanh nghiệp, nếu công ty của bạn không có tiếng tăm, bản thân giới tài chính không biết bạn là ai. Khi là Người hùng vô danh, các điều kiện tín dụng sẽ không được tốt như các doanh nghiệp có tiếng” – ông Schatz cho biết.

Hai là, khó hấp dẫn các đối tác trong chuỗi cung ứng. Nếu bạn là người có danh tiếng tốt, sẽ có rất nhiều người, nhiều đối tác trong chuỗi cung ứng cũng muốn làm việc với bạn.

Ba là, khó hấp dẫn với tư cách nhà tuyển dụng. “Người già, người trẻ sẽ không chọn làm việc cho bạn mà sẽ muốn làm việc cho Goldman Sachs, cho Samsung... Ngay với các chương trình đào tạo, khi trước đây khi tuyển dụng chỉ cần quảng cáo, nhưng điều này không còn đúng sau cuộc khủng hoảng thời gian trước”, ông Schatz phân tích.

Khi “có danh”, các điều trên đều diễn biến theo chiều ngược lại.

Danh tiếng (Reputation), theo Media Tenor, là một cái tên tốt, hoặc một niềm tin vào công ty được xây dựng trên sự trải nghiệm. Nói một cách dễ hiểu hơn, là cách thức mọi người nói với nhau về công ty đó như thế nào.

Mặc dù danh tiếng không thể đo đếm được bằng các phương thức tính toán truyền thống, Media Tenor dẫn Báo cáo Global 500 của Brand Finance cho biết, trung bình, 24% giá trị của công ty nằm ở thương hiệu.
Các công ty màu xanh phát triển công ty họ dựa trên nền tảng của sự bền vững. Giá trị cổ phiếu của họ tăng khá đều. Trong khi đó, các công ty màu nâu quan hệ tốt hơn với giới truyền thông, giá trị cổ phiếu của họ tăng hơn nhiều so với các công ty khác. Nguồn: Media Tenor.
Các công ty màu xanh phát triển công ty họ dựa trên nền tảng của sự bền vững. Giá trị cổ phiếu của họ tăng khá đều. Trong khi đó, các công ty màu nâu quan hệ tốt hơn với giới truyền thông, giá trị cổ phiếu của họ tăng hơn nhiều so với các công ty khác. Nguồn: Media Tenor.
Tính minh bạch xuyên suốt và hình ảnh tốt về các vấn đề bền vững có thể tạo ra sự khác biệt trong mắt các Quỹ đầu tư và các tổ chức đầu tư.

Tần suất xuất hiện trên truyền thông bao nhiêu là đủ?

Theo ông Schatz, danh tiếng không thể nhìn hay cảm nhận, nhưng nó ảnh hưởng tới tất cả mọi khía cạnh của hoạt động kinh doanh của công ty gồm: Doanh thu, chi phí tài chính...

“Đôi khi các bạn tự hỏi tại sao doanh thu của một công ty tăng khủng khiếp, những người tài đều muốn xin việc tại công ty lớn đó... Điều này không ảnh hưởng bởi quảng cáo, mà bởi danh tiếng của họ. Khi mọi người mở báo đọc tin tức, theo dõi truyền hình, hay lên các mạng xã hội đều đọc được các thông tin của công ty đó” – ông Schatz nói.
“Việc quản trị danh tiếng không chỉ để người khác thích, hay không thích công ty của bạn, mà đây còn có thể coi như một chính sách bảo hiểm để chúng ta tránh khỏi các khủng hoảng về truyền thông và về danh tiếng”.

Có 2 cách để tiếp cận quản trị danh tiếng: Quản trị theo kiểu tháp nghiêng Pisa hoặc quản trị theo kiểu Mỹ.

Tháp nghiêng Pisa: Mọi người chỉ biết đến tháp nghiêng này mà không hề biết ngay gần tháp này có thư viện, nhà thờ... hay nói cách khác là quang cảnh xung quanh nó. Nói một cách đơn giản, các công ty quản trị danh tiếng kiểu này vẫn được giới truyền thông nhắc đến, nhưng chỉ biết đến một khía cạnh nhỏ, như người ta chỉ biết đến tháp Pisa mà không biết đến xung quanh nó có những gì.

Quản trị kiểu Mỹ: Họ nói rất nhiều đến những việc họ đang làm. Vậy nên, dù có vấn đề gì, mọi người đều đã nhìn thấy bức tranh toàn cảnh.

Tần suất nên xuất hiện của một công ty trên báo chí và giới truyền thông, hay còn gọi là ngưỡng nhận thức (Awareness threshold), theo Media Tenor, thường ở mức 1 – 2 bài/tháng trên TV hay trên báo tuần, và khoảng 5 – 6 bài/tháng trên báo ngày.

Dưới ngưỡng này, công ty có thể coi như “vô hình”, hay “vô danh”. “Vào thời đại bây giờ, những công ty nào không được nhìn thấy được coi như không tồn tại” – GĐ điều hành Media Tenor nhận định.

“Đây là sự chuẩn bị rất tốt để chống lại các khủng hoảng về truyền thông vì các công ty này luôn xuất hiện trên nhiều bản tin”.

“Nếu chúng ta không có một cơ chế quản trị danh tiếng phù hợp, không có sự trao đổi thường xuyên với giới báo chí, khi công ty có vấn đề xảy ra như: Hack dữ liệu, ảnh hưởng do tổn hại môi trường, phải thu hồi sản phẩm và các lỗi do kiểm soát chất lượng..., chúng ta sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều về danh tiếng”.
(Theo Tri Thức Trẻ)
>> Mười điều tạo thành công cho chiến lược marketing

Share:

Quảng cáo, cái chúng ta thường biết tới đã chết. Vậy tiếp theo sẽ là gì?

Với sự thay đổi chóng mặt của công nghệ, khiến chúng ta có rất nhiều “đồ chơi” hơn để làm quảng cáo, cùng các cách thức để mang thông điệp đến với người xem một cách hấp dẫn và khác lạ.

Trong suốt quá trình đi học cũng như đến bây giờ đi làm, tôi nhận ra một điều rằng quảng cáo mà tôi thường hiểu trước đây đã, đang thực sự thoái trào và sắp kết thúc.

Tôi có nhớ trong một buổi hội thảo một ECD (Executive Creative Director) đến từ DraftFCB có nói một câu như sau "Quảng cáo đã chết, không ai còn muốn đọc hay xem chúng nữa. Chúng ta phải làm những cái mà mọi người thực sự thích xem và quan tâm”. Điều này có đúng không, rất đúng!

Thử ngẫm lại lần gần đây nhất bạn xem quảng cáo là khi nào, nếu không phải là chỉ mong nó trôi qua cho nhanh để còn tới trận bóng hấp dẫn hay bộ phim yêu thích. Hoặc lần gần đây nhất bạn nhấp chuột vào banner là bao giờ? Tôi đoán chắc có lẽ đã quá lâu rồi, thậm chí là không bao giờ. Như tôi, một người làm quảng cáo còn cài chương trình chặn banner vào trình duyệt của mình, vì chúng chỉ làm tôi thấy rối mắt khi đọc tin. Quảng cáo trên báo in thì càng miễn bàn, chắc bạn sẽ lật ngay qua trang khác trong nháy mắt.

Vậy câu hỏi đặt ra là: Điều gì sẽ thay thế quảng cáo mà chúng ta thường biết?

Từ gắn kết sang kết nối

Với sự thay đổi chóng mặt của công nghệ, khiến chúng ta có rất nhiều "đồ chơi” hơn để làm quảng cáo, cũng cách thức để mang thông điệp đến với người xem một cách hấp dẫn và khác lạ. Bây giờ chúng ta sống trong hơi thở của công nghệ, luôn lăm lăm bên mình chiếc smartphone đời mới hay một chiếc ipad hoặc laptop. Công nghệ cũng phá bỏ rào cản về khoảng cách, chúng ta chỉ cần một cú nhấp chuột cũng có thể cập nhật tình hình bạn bè qua Facebook, Twitter hoặc chia sẻ với mọi người biết các hoạt động cá nhân như vừa ăn gì, đi chơi đâu hoặc thậm chí chạy bao xa. Bạn sẽ cảm thấy kha khá "lạc lõng” nếu mình không được kết nối với thế giới ảo, không check được email, không lên Facebook hay chí ít trò chuyện phiếm qua Skype với ai đó hoặc đăng tải một bức ảnh yêu thích qua Instagram. Trừ khi bạn thực sự muốn sống như vậy!

Nhưng tại sao tôi lại lấy tiêu đề là gắn kết sang kết nối. Đơn giản thôi, hàng năm tại Liên hoan quảng cáo Cannes tại Pháp, hạng mục Intergrated campaign (Chiến dịch gắn kết) vẫn thường được nhắc đến như là một trong những hạng mục cao quý nhất, hay khó đoạt giải nhất đối với các agency – công ty quảng cáo. Tại sao? Bởi vì để thắng giải, bạn cần có một ý tưởng không những đòi hỏi sự sáng tạo mà còn có tính thống nhất, xuyên suốt qua nhiều kênh truyền thông khác nhau như TV, print (báo in), digital (truyền thông số) hay PR. Và thường thì các chiến dịch gắn kết này mang lại hiệu quả nhất cho khách hàng với độ phủ lớn, và hiệu quả mang lại tích cực và khả quan. Có thể kể tên vài chiến dịch điển hình trong các năm qua ở Cannes như Harvey Nichols' Cheap Gifts Campaign hay Jay Z Decoded.

Câu chuyện này bây giờ dường như đã thay đổi ít nhiều. Công nghệ khiến bạn đọc báo giấy ít hơn, xem tivi giảm đi và cập nhật thế giới ảo tăng lên mạnh mẽ. Nike là nhãn hàng tiên phong trong việc tận dụng xu thế này, khi tung ra sản phẩm Nike+ và Fuelband (được phát triển bởi agency RGA năm 2010). Với ứng dụng Nike+, bạn có thể biến nhà mình thành phòng tập gym hay kiểm tra hoạt động thể chất của mình ngay trên đường với Fuelband. Đồng thời, ứng dụng cũng không quên kèm theo chức năng chia sẻ khi bạn có thể thông báo với bạn bè rằng mình vừa hoàn thành một vòng hồ trong công viên hay đốt bao nhiêu calories sau khi tập. Bạn hài lòng và tự hào bao nhiêu về bản thân, thì Nike cũng hả hê không kém khi thông điệp và nhãn hiệu của hãng luôn được lặp đi lặp lại trên các mạng xã hội, được đăng tải bởi chính người dùng, mà họ không phải trả lấy một xu nào để quảng cáo.

Từ câu chuyện về nhãn hàng sang câu chuyện về con người.

Chúng ta, những người làm truyền thông, các nhà quảng cáo đã quá quen thuộc với một công thức cơ bản, như được ghi từ sách giáo khoa quảng cáo (nếu có) là tìm những câu chuyện để kể và xây dựng nhãn hiệu của mình quanh những câu chuyện đó. Có thể kể đến như gia đình Comfort là một ví dụ điển hình.

Nhưng trào lưu này giờ đã kết thúc...

Ngành công nghiệp quảng cáo giờ đang hướng tới những thứ thực tế hơn và truyền cảm hơn hay dễ đi vào lòng người hơn. Những câu chuyện này cần mang tính thực tế cao và gần gũi với khán giả, hay hướng đến những mục đích tốt hoặc thậm chí là cao cả. Có thể kể đến những chiến dịch gây tiếng vang gần đây như The Real Beauty Sketches của Dove hay Find Your Greatness của Nike, hay Thank you, Mom của P&G. Tất cả đều có xuất phát điểm là câu chuyện có thật và về những người người mà hàng ngày mà ta có thể liên tưởng tới. Đấy có thể là hình ảnh một người mẹ ngày ngày lặng lẽ chăm sóc đứa con để mong nó thành công với Thank you, mom. Hay là một cậu con trai lặng lẽ, vất vả tập chạy để thay đổi vóc dáng của mình với Find Your Greatness. Cả hai ví dụ trên đều rất truyền cảm, và đi vào lòng người xem một cách sâu sắc.

Từ truyền thông đột phá sang cải tiến trong kinh doanh

Ngành quảng cáo như tôi nói ở trên, trước giờ luôn có một công thức đơn giản đã tồn tại qua rất nhiều năm đó là: xây dựng các câu chuyện, với xuất phát điểm dựa trên những insights (mà tôi tạm dịch nôm na là đặc tính, hay sự nắm bắt thấu hiểu về điều gì đó, có thể là của khán giả nói chung hay một bộ phận khách hàng) để mà từ đó phát triển thành một chiến dịch truyền thông cụ thể và rải khắp 360 – các kênh truyền thông. Nhằm mục đích giải quyết một vấn đề trong kinh doanh có thể là doanh số giảm, hay thiếu độ nhận biết thương hiệu v.v..

Mặc dù vậy sự thật là những câu chuyện đó hay cách thức này chỉ tạm thời giấu đi khiếm khuyết của nhãn hàng hơn là thực sự giải quyết nó. Ví dụ, một nhãn hàng thời trang có thể chạy một chiến dịch quảng bá thương hiệu hoặc một đợt hạ giá theo mùa. Nhưng giả dụ vấn đề cốt lõi là những chi phí cao trong kinh doanh thì không thực sự được giải quyết triệt để. Thế nên Everlane, một nhãn hàng thời trang ở San Francisco đã quyết định bỏ qua hoàn toàn khâu trung gian để giảm thiểu chi phí. Vậy họ đã thực sự giải quyết vấn đề của mình, thay vì chỉ tìm cách giấu nó đi bằng một thông điệp vu vơ nào đó.

Hay đặt giả thiết, nếu Kodak – một nhãn hiệu nổi tiếng bậc nhất về phim cho máy ảnh những thập kỉ 80-90, mà sáng lập ra ứng dụng Instagram thì họ cũng không đến nỗi lụn bại chỉ vì không bắt kịp với thời đại kĩ thuật số. Nơi ai cũng có thể chế ra màu nước phim yêu thích chỉ bằng vài cú click trên chiếc smartphone của mình.

Vậy qua một vài dòng ngắn ngủi ở trên, tôi hi vọng các bạn có thể thấy quảng cáo đang thay đổi mạnh mẽ trong những năm gần đây. Bạn có thể đồng tình, hoặc không đồng tình với quan điểm này. Nhưng hãy cố gắng suy ngẫm về nó, có thể bạn sẽ rút ra được điều gì đó riêng cho mình. Một cơ hội chẳng hạn?!
(Theo Trí Thức Trẻ/Digital)
Share:

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

3 bài học marketing sản phẩm từ tỷ phú Jack Dorsey

Tỷ phú Jack Dorsey nổi tiếng là một trong những “bộ óc” công nghệ hàng đầu thế giới với vai trò nhà đồng sáng lập Twitter và người khai sinh công ty thanh toán điện tử Square.

Jack Dorsey được vinh danh là một trong 35 nhà sáng tạo hàng đầu thế giới ở độ tuổi dưới 35. Tuy nhiên, nhiều người còn chưa biết rằng Jack Dorsey cũng là một “phù thủy” trong marketing sản phẩm. Dưới đây là 3 bài học trong lĩnh vực này từ vị doanh nhân - tỷ phú trẻJack Dorsey.

1/ Làm nổi bật “sứ mệnh” của sản phẩm

Khi còn là học sinh trung học, Jack Dorsey từng làm việc ở cửa hàng cà phê của mẹ mình. Trong quá trình làm việc, Jack nhận thấy cửa hàng đáng ra có thể tiết kiệm được nhiều chi phí hơn nếu chấp nhận thanh toán bằng thẻ.

Sau đó, khi làm việc cho ông chủ thổi thuỷ tinh Jim McKelvey - người sau này là đồng sáng lập công ty Square với Jack Dorsey - Jack cũng quan sát và ước đoán rằng Jim McKelvey mất khoảng 2.000 USD mỗi tháng vì không thể chấp nhận cho khách hang thanh toán bằng thẻ.

Điều đó đã dẫn Jack đến việc điều tra ngành công nghiệp thẻ tín dụng, và hiểu ra rằng đối với các doanh nghiệp nhỏ, việc chấp nhận thẻ tín dụng vô cùng phức tạp và chi phí khá cao.

Square chính là giải pháp của Jack để tạo ra cách thức tiết kiệm chi phí, minh bạch và thuận tiện cho doanh nghiệp. Với Square, các cửa hàng, dù lớn hay nhỏ đều có thể chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng.

Công ty thanh toán điện tử Square thực sự đã giải quyết một vấn đề tồn đọng trên thị trường. Do vậy, việc marketing cho giải pháp của Square trở nên khá đơn giản.

Bài học dành cho doanh nghiệp: Khi marketing sản phẩm, doanh nghiệp cần làm nổi bật “sứ mệnh” của sản phẩm - giải quyết được một vấn đề hay một nhu cầu chưa từng được giải quyết.

2/ Sử dụng sức mạnh của nghệ thuật kể chuyện

Với vai trò diễn giả, Jack Dorsey đã chia sẻ một bài giảng trên Góc khởi nghiệp của Trường ĐH Standford rằng, để phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường cũng như marketing sản phẩm hiệu quả, bạn cần đặt mình vào chính vị trí của khách hàng hay người sử dụng sản phẩm để nhìn nhận, đánh giá sản phẩm. Nói cách khác, bạn cần tạo ra câu chuyện với xuất phát điểm từ phía khách hàng.

Với việc giải thích yếu tố khác biệt của sản phẩm bằng một câu chuyện, tất cả mọi người đều có thể hiểu sản phẩm của bạn.

Cần nhớ, không phải tất cả khách hàng đều có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực kỹ thuật hay tài chính, do vậy bạn cần phải viết câu chuyện mà tất cả mọi người đều có thể hiểu sản phẩm, thấy sự liên quan với sản phẩm, và nhận ra rằng mình cần sản phẩm này.

Jack đã nói rằng: “Nếu trong câu chuyện của bạn, tất cả các sản phẩm, thiết kế, tính năng, cấu phần… của sản phẩm sẽ đều ăn khớp và trở thành những phần bổ trợ cho nhau, bạn đã thành công. Khi đó, đồng thời tất cả mọi nhân sự trong doanh nghiệp của bạn cũng sẽ liên hệ tới câu chuyện đó, từ nhân viên chăm sóc khách hàng, bộ phận thiết kế, kỹ sư… đều sẽ thấy được vai trò của mình trong câu chuyện này”.

Bài học cho doanh nghiệp: Sau khi xác định một vấn đề của thị trường mà doanh nghiệp có thể giải quyết, hãy marketing bằng cách kể một câu chuyện thật đơn giản, cụ thể xoay quanh khách hàng và hãy tự hỏi trong câu chuyện này, sản phẩm của bạn đóng vai trò như thế nào. Khi câu chuyện đơn giản tới mức bất kỳ khách hàng nào cũng có thể hiểu được, có thể nói, bạn đã thành công.

3/ Giúp khách hàng sớm hiểu ra giá trị của sản phẩm

Những ngày đầu của Twitter, mạng xã hội này gặp phải một vấn đề: Họ có rất nhiều người dùng đăng ký tài khoản, nhưng đó không phải những người dùng lâu dài.

Vấn đề nằm ở chỗ những người sớm từ bỏ sử dụng mạng xã hội này chính là những người chưa thực sự hiểu được giá trị của sản phẩm. Dorsey đã nghiên cứu những người dùng mạng xã hội này và phát hiện ra một điểm khác biệt rất rõ rệt giữa những người tiếp tục sử dụng Twitter và những người không.

Dorsey đã nhận ra là những người tiếp tục sử dụng là những người có theo dõi 5 hoặc nhiều hơn 5 người dùng khác.

Việc theo dõi ít nhất 5 người dùng khác giúp một người dùng hiểu được giá trị của Twitter. Giải pháp ở đây chính là hợp lý hoá quy trình đăng ký giúp người dùng theo dõi ít nhất 5 người dùng khác thật sớm.

Để đạt được điều này, Twitter đã đưa ra một số quyết định cho người dùng trong quy trình đăng ký.
Trước đó, sau khi đăng ký xong, người dùng được tự do khám phá trang Twitter. Nhưng hiện nay, khi một người đăng ký tài khoản mới, Twitter đưa ra cho họ một danh mục những lĩnh vực họ quan tâm, từ đó, gợi ý họ theo dõi những người dùng họ có thể quan tâm và muốn theo dõi trước khi Twitter chính thức cài đặt và hoàn tất quy trình đăng ký tài khoản cho họ.

Sự thay đổi nhỏ này đã mang lại giá trị lớn cho Twitter, đó là giúp khách hàng hiểu được giá trị của Twitter hơn – đây là chiếc cầu nối để họ liên hệ với bạn bè của mình, và họ muốn chia sẻ nó với những người khác trong mạng lưới quen biết của mình.

Như thế, Twitter không chỉ “giữ chân” được nhiều khách hàng hiện tại hơn mà còn nhận được sự trợ giúp từ họ để có thêm nhiều khác hàng mới.

Vậy bạn có thể làm gì để đảm bảo khách hàng của mình sẽ hiểu được ý nghĩa và tận dụng nhiều nhất từ sản phẩm hay dịch vụ của mình? Vấn đề hay thách thức nào trên thị trường bạn đang giải quyết và bạn sẽ kể câu chuyện gì xoay quanh sản phẩm của mình?

Việc trả lời được những câu hỏi trên sẽ giúp doanh nghiệp bạn tiến gần hơn tới việc giành được nhiều khách hàng hơn cũng như chiếm lĩnh được thị phần cao hơn.
Theo TRẦN HUYÊN
preditableprofit/Doanh nhân Sài Gòn

Share:

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

Công thức thành công của thương hiệu Heinz

Yếu tố cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng trong công thức thành công của thương hiệu Heinz là việc trung thành với cam kết chất lượng đã đặt ra từ những ngày đầu.

Sau gần 2 thế kỷ tồn tại và phát triển, trải qua bao nhiêu thăng trầm cùng nền kinh tế thế giới, thương hiệu Heinz là một trong số ít những thương hiệu lâu đời vẫn ăn nên làm ra và tiếp tục mở rộng tầm ảnh hưởng ra khắp thế giới. Nhưng bí quyết gì giúp cho một cái tên “lão làng” có thể giữ được sự tươi mới và uy tín lâu như vậy ? Bài viết này phân tích những yếu tố chủ chốt trong việc đóng góp nên thành công vang dội và bền bỉ của đế chế Heinz

1. Quảng cáo, quảng cáo và quảng cáo

Ngay từ lúc mới thành lập một công ty sản xuất thực phẩm mang tên mình, người sáng lập Henry John Heinz đã rất chú trọng việc đầu tư cho những ý tưởng quảng cáo táo bạo để thu hút sự chú ý của người tiêu dùng tới sản phẩm của mình, trong khi hầu hết các đối thủ cạnh tranh của ông còn chưa hề nghĩ tới tầm quan trọng của việc làm cho các bà nội trợ nhớ tên sản phẩm sử dụng hằng ngày. Bản thân Henry Heinz thường xuyên gây kinh ngạc cho người xung quanh bởi khả năng sáng tạo ra những ý tưởng quảng cáo vô tiền khoáng hậu.

Một trong những dấu ấn khó phai của Henry John Heinz trong lĩnh vực quảng cáo là câu slogan ấn tượng và bí hiểm “57 varieties”. Nhiều người cho rằng đây là số lượng các sản phẩm của công ty ông khi đó, nhưng trên thực tế thì thời điểm này công ty của Heinz đã sản xuất được hơn 60 loại mặt hàng.

Trái với những lời đồn đoán, Heinz chia sẻ rằng ông nảy ra ý tưởng về câu slogan này khi đang đi tàu điện ngầm ở New York và liếc thấy một cửa hàng bán giày với tấm biển quảng cáo ghi “21 styles of shoes”. Ngay lập tức người đàn ông nhạy bén này nhận ra rằng những quảng cáo của thương hiệu mình cũng cần được gắn với một con số nhất định để cho dễ nhớ.

Sau khi cân nhắc nhiều phương án, cuối cùng con số 57 được ông lựa chọn, và chỉ trong vòng một tuần nó xuất hiện dày đặc trong tất cả các biển quảng cáo, biển hiệu, nhãn dán, tạp chí…khắp cả nước. Từ đó tới nay mặc dù đại gia đình Heinz đã sở hữu một bộ sưu tập vô cùng phong phú các sản phẩm, nhưng con số 57 vẫn được in trang trọng trên tất cả các nhãn hàng như một con số may mắn mang tính chất xuyên suốt quá trình hình thành phát triển của thương hiệu này.

 Logo 57 Varieties và biểu tượng quả dưa chuột xanh trên nhãn mác các sản phẩm của Heinz

Một thời gian sau, Heinz lại làm các mặt báo phát sốt với một chiến dịch quảng cáo thành công không kém liên quan tới những quả dưa chuột. Số là trong một lần tham gia triển lãm các sản phẩm nông nghiệp, các mặt hàng của hãng Heiz được trưng bày ở trên tầng 2, nhưng khách tham quan tỏ ra kém nhiệt tính tới mức chẳng buồn leo lên cầu thang để đi lên tầng.

Heinz bèn nghĩ ra cách phân công một vài thanh niên trẻ đứng phát cho khách hàng những chiếc thẻ trắng với nội dung có thể đổi thành quà lưu niệm tại triển lãm sắp tới của công ty.  Món quà lưu niệm này chính là hình một quả dưa chuột màu xanh, dài khoảng 1.25 inch có khắc dòng chữ “Heinz” và được gắn thêm một cái móc để treo vào dây đeo đồng hồ.

Ý tưởng táo bạo của Heinz thành công rực rỡ, người ta yêu thích “quả dưa chuột xanh” tới mức tờ New York Times từng mô tả rằng “Sàn nhà nơi đặt quầy hàng của Heinz như sập xuống vì sức nặng của những đoàn khách ùn ùn kéo tới”. Từ đó trở đi nhắc tới Heinz là người ta nghĩ ngay đến những quả dưa chuột nhỏ màu xanh, và truyền thống tặng quà lưu niệm của thương hiệu Heinz vẫn được lưu giữ tới ngày nay.

Tiếp nối tư tưởng của người sáng lập, những đời chủ tịch sau của thương hiệu này cũng luôn chú trọng phát triển những quảng cáo ngắn gọn, súc tích nhưng ấn tượng. Nhờ có cá tính độc đáo trong mỗi hoạt động marketing mà thương hiệu Heinz nhanh chóng được người tiêu dùng toàn thế giới nhớ đến.

2. Không câu nệ người ngoài

Sau khi lâm vào tình trạng gần như phá sản những năm 1875, công ty của Heinz được hồi sinh dưới dạng một doanh nghiệp gia đình do Henry John Heinz và những người họ hàng thân thiết góp vốn thành lập. Tuy nhiên khác với nhiều công ty gia đình khác quá coi trọng việc phải  “truyền ngôi” cho người trong dòng họ, dẫn đến đôi khi lựa chọn một cách khiên cưỡng người chưa có đủ năng lực để chèo lái con thuyền thương hiệu, công ty Heinz lại không dẫm phải vết xe đổ đó. Hội đồng quản trị sẵn sàng đưa những người có thực lực không thuộc dòng họ mình lên vị trí cao nhất của công ty, với mục tiêu cao nhất là đưa thương hiệu Heinz ngày càng làm ăn phát đạt.
 
Ảnh 2: Heinz meanz Beanz – một trong những slogan rất được yêu thích của Heinz

Một trong những người “ngoại tộc” đầu tiên trở thành chủ tịch tập đoàn Heinz là Anthony J.F.O’Reilly. Dưới sự điều hành của ông này, thương hiệu Heinz tiếp tục mở rộng thị phần với tốc độ như vũ bão, đồng thời một loạt thay đổi được áp dụng để tiết giảm chi phí, tăng hiệu quả lợi nhuận, tiêu biểu như việc sử dụng chai thủy tinh mỏng hơn để đựng sốt cà chua, giảm kích cỡ hộp cá ngừ StarKist, tái sử dụng nguồn nhiệt và nước nóng trong quá trình sản xuất của nhà máy…. 
Cũng chính nhờ sự cởi mở và coi trọng nhân tài nên công ty của Heinz luôn tìm được những người thuyền trưởng lỗi lạc, duy trì được những quyết định sáng suốt, những hướng đi đúng đắn trong nền kinh tế nhiều biến động

3. Mua bán sáp nhập và đa dạng hóa sản phẩm

Ngày nay, sản phẩm của Heinz đã không còn gói gọn trong những loại sốt, tương, thực phẩm hỗ trợ bữa ăn hằng ngày nữa, mà mở rộng ra thực phẩm dành cho trẻ sơ sinh, thức ăn dinh dưỡng… Để có được một đế chế như ngày nay, thương hiệu này đã trải qua một quá trình dài không ngừng tích lũy thêm các nhãn hiệu mới, bằng cách nghiên cứu triển khai các dòng sản phẩm khác nhau, hoặc mua lại các doanh nghiệp đã có kinh nghiệm trong việc sản xuất loại sản phẩm đó. Dù bằng cách này hay cách khác thì Heinz luôn biết cách đánh giá thị hiếu của người tiêu dùng và tìm ra những mặt hàng đáp ứng kịp thời xu thế biến động của thị trường.
 
Ảnh 3: Danh mục những nhãn hàng chủ lực của thương hiệu Heinz

Giờ đây gần như những sản phẩm bà nội trợ cần đều có thể tìm thấy ở trong danh mục sản phẩm của Heinz. Chính sách này vừa giúp Heinz khai thác tối đa lượng cầu trên thị trường, vừa củng cố lợi thế và uy tín thương hiệu cho doanh nghiệp này.

4. Cam kết chất lượng

Yếu tố cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng trong công thức thành công của thương hiệu Heinz là việc trung thành với cam kết chất lượng đã đặt ra từ những ngày đầu. Mọi công đoạn sản xuất của Heinz đều có chu trình khép kín với các tiêu chí chất lượng nghiêm ngặt, nhờ đó sản phẩm làm ra có độ đồng đều cao về chất lượng. Để người tiêu dùng cảm thấy yên tâm về loại thực phẩm họ đang ăn mỗi ngày, Công ty này thường xuyên tổ chức cho khách hàng tới tham quan nhà máy sản xuất và theo dõi quy trình chế biến của mình.

Bên cạnh đó, mặc dù dành khá nhiều lợi nhuận vào hoạt động mua bán sáp nhập và quảng cáo, trên thực tế tỷ lệ lợi nhuận mà Heinz sử dụng cho việc tái đầu tư vào nghiên cứu phát triển là cao nhất.

Một ví dụ điển hình cho chất lượng vượt thời gian của thương hiệu này là loại sốt cà chua trứ danh Heinz ketchup. Tới tận ngày nay, dung dịch nước sốt này vẫn giữ nguyên độ đặc sánh như lần đầu tiên ra mắt (thậm chí còn đặc hơn), mặc dù để sản xuất ra thứ sốt đậm đặc như vậy đòi hỏi lượng cà chua nguyên liệu đầu vào lớn hơn rất nhiều. Chính vì luôn trung thành với cam kết chất lượng của mình nên sau rất nhiều năm vẫn chưa có nhãn hiệu sốt cà chua nào khác có thể vượt qua được Heinz ketchup về mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng.

 Theo Trí Thức Trẻ

Share:

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

Dự đoán 5 xu hướng digital marketing năm 2015

Theo dự đoán của nhiều nhà phân tích, 2015 sẽ là một năm bùng nổ của digital marketing. Marketing qua tin nhắn, quảng cáo có chất lượng hơn và các doanh nghiệp sẽ có cách tiếp thị chuyên nghiệp hơn là ba trong số năm xu hướng chính trong digital marketing năm 2015. 
1. Các thiết bị điện thoại sẽ tiếp tục giành được ưu ái của người sử dụng

Sự thay đổi này đã tạo nên một không gian mới, thay đổi cách chúng ta sử dụng các phương tiện truyền thông. Ngoài các kênh mua sắm thông thường, người sử dụng sẽ có nhiều lựa chọn hơn. Quảng cáo cần tập trung vào những đối tượng này và bổ sung thêm nhiều trải nghiệm mới hơn thay vì chỉ tập trung vào một địa điểm và một trải nghiệm cụ thể. 

2. Quảng cáo digital chuyển từ số lượng sang chất lượng

Nguyên tắc đo hiệu quả của quảng cáo dựa trên số lượt click chỉ cho chúng ta biết phần nào của câu chuyện. Với quy mô lớn hơn, độ chính xác cao hơn và những công cụ tính toán mới, các nhà marketing sẽ có thể hiểu những biện pháp nào phát huy hiệu quả và tập trung vào những yếu tố quan trọng với công việc kinh doanh của mình: giá trị thương hiệu và doanh số.


3. Các doanh nghiệp có cách tiếp cận chuyên nghiệp hơn sẽ giành thắng lợi

Những chuyên viên marketing sẽ có thêm thông tin và công cụ cho các chiến dịch tiếp thị hơn bao giờ hết còn người dùng sẽ có thể xem các quảng cáo trên tất cả các kênh. Theo eMarketer, chỉ 5% số lượng các chuyên viên marketing phía khách hàng trên thế giới cho biết họ đã sử dụng các biện pháp tiếp thị một cách cá nhân hóa thực sự.

4. Tin nhắn sẽ trở thành một phương tiện chủ chốt để doanh nghiệp tương tác trực tiếp với khách hàng

Hội thoại thời gian thực là một yếu tố quan trọng để xử lý trực tiếp các nhu cầu của khách hàng. Càng có nhiều người bị hút vào các thức giao tiếp dựa trên tin nhắn thì các doanh nghiệp sẽ ngày càng mở rộng kênh giao tiếp mới này để duy trì những cuộc trao đổi mang tính xây dựng với nhân viên và khách hàng.

5. Điện thoại sẽ phổ biến hơn nữa trên toàn cầu


Dân số thế giới tiếp tục tăng trong vòng 10 năm nữa. Theo eMarketer, trong 3 năm tới, sự xâm nhập của điện thoại di động sẽ tăng từ 61,1% lên 69,4% tổng dân số thế giới. Các doanh nghiệp và nhà marketing sẽ phải dựa theo xu hướng này để đưa ra các biện pháp tiếp thị phù hợp.
Share:

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2014

10 cuốn sách marketing đáng đọc nhất năm 2014

Mỗi doanh nhân nên đọc những cuốn sách đột phá để xây dựng thương hiệu cá nhân, cho sản phẩm và công ty của họ. 


Share:

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

Đặt tên công ty: Đừng dùng các tên "quá thông minh"

Các nhà marketing khuyên rằng chúng ta hãy thử tìm kiếm một cái tên hoàn hảo cùng với hai nguyên tắc: Tên gọi phù hợp với ngành kinh doanh hay sản phẩm và cố ý làm cho người khác suy nghĩ tò mò để tìm hiểu. 

Share:

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Cựu CEO Ogilvy: 'Hãy nói ý kiến của mình ra. Sẽ chẳng ai đuổi việc bạn đâu'

Với Shelly Lazarus, "là chính mình" là bí quyết đầu tiên khi xây dựng thương hiệu cá nhân. 
Shelly Lazarus đã gia nhập Ogilvy trong hơn 40 năm. Khi bà bắt đầu làm cho công ty từ năm 1971, bà là một trong nhóm nhỏ những người phụ nữ tham gia vào ngành quảng cáo. 26 năm sau, sau hàng loạt chiến dịch thành công với các khách hàng lớn như IBM, Ford, American Express hay Unilever, bà trở thành Chủ tịch kiêm CEO của Ogilvy & Mather.
Share:

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

5 “tuyệt chiêu” marketing hiện đại cho giới bất động sản

Chưa bao giờ nhu cầu về bất động sản lại trở nên “hot” như hiện nay, và đặc biệt là với những tiến bộ công nghệ mới nhất, mọi người đều muốn có được những thông tin “nóng hổi” nhất. 

Share:

Các trường Đại học xây dựng thương hiệu thế nào để lôi kéo học viên?

Trong một thế giới phẳng, các trường đại học đang cố gắng để uy tín và danh tiếng của mình vang đi càng xa càng tốt. Càng nổi tiếng, họ càng có cơ hội lôi kéo được nhiều người theo học hơn. 

Sau gần 4 thập kỷ tăng trưởng về nhu cầu đạo tạo, các trường đại học danh tiếng trên thế giới đang gặp rất nhiều vấn đề: Nhà nước cắt hỗ trợ, người theo học thì ngày càng mất niềm tin vào bằng cấp, mức độ cạnh tranh cao và phải đối mặt với sự phát triển của công nghệ.
Share:

Bộ não và Thương hiệu

Những người làm marketing không phải là những người duy nhất nghĩ rằng cảm nhận chiếm tới 99% hiện thực. Theo như nhà vật lý Albert Einstein, “Hiện thực chỉ là một ảo tưởng, mặc dù đó là một thứ ảo tưởng dai dẳng.”

Hiện tại Michio Kaku, một nhà vật lý đương đại cùng với nhiều đồng nghiệp trong một cộng đồng liên ngành về khoa học, chăm sóc sức khỏe và tâm lý học, đang khám phá xem thực tại có thể bất định đến thế nào. Những điều họ mô tả có những ý tưởng quan trọng ảnh hưởng tới suy nghĩ của chúng ta về thương hiệu và truyền thông thương hiệu.
Share:

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

Cách viết email quảng cáo khiến khách hàng không thể không đọc

AIDA là cách viết đã được kiểm chứng và dùng trong marketing, quảng cáo hay bất kỳ một phương thức truyền thông nào trong hơn một thế kỷ qua.
Hầu hết cách viết trong một email với mục đích quảng cáo  đều rất tệ. Vậy liệu có cách nào khác để viết một email đầy hấp dẫn hay không?
Share:

Dùng màu gì trên website để khách hàng buộc phải ấn vào nút "Mua"?

Trong một trang web bán hàng, hình ảnh và màu sắc tạo ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với từ ngữ. 
Thống kê cho thấy, thời gian trung bình khách hàng sử dụng để ghé thăm một trang web bán hàng đang ngày càng giảm dần (hiện tại là 2,4 giây). Nó cho thấy, chúng ta có rất ít lượng thời gian để thuyết phục người dùng ở lại trang web của mình.
Share:

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

Apple, Pepsi, Starbucks bỏ TV, tìm tới Youtube

Các công ty lớn đang cắt giảm ngân sách chi cho quảng cáo trên truyền hình để chuyển sang một phương thức hữu hiệu và tiết kiệm hơn - quảng cáo thông qua video trực tuyến.
Công ty Omnicom Media Group đã tư vấn cho các khách hàng của mình nên chuyển 25% ngân sách quảng cáo trên truyền hình sang việc quảng cáo bằng video trực tuyến.


Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?