Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn Andrew Carnegie. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Andrew Carnegie. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 9, 2016

10 người giàu nhất trong lịch sử nhân loại

Không có cách nào ước tính được tài sản của người giàu có nhất trong lịch sử nhân loại.
10. Thành Cát Tư Hãn  (1162 - 1227), đế quốc Mông Cổ

Tài sản: Rất nhiều đất đai.


Thành Cát Tư Hãn là một trong những nhà chỉ huy quân sự thành công nhất trong lịch sử thế giới. Sự giàu có của ông chủ yếu được tính trên việc kiểm soát được một đế chế rộng lớn, trải dài từ Trung Quốc tới châu Âu.

Mặc dù có quyền lực lớn, Thành Cát Tư Hãn không tích trữ của cải cá nhân. Ngược lại, sự hào phóng của ông là chìa khóa để lây lan ảnh hưởng. Quân đội Mông Cổ bị cấm tuyệt đối chuyện tích trữ cá nhân, và thành phẩm có được đều phải chia cho quân đội và gia đình.

9. Bill Gates (1955-đến nay), Hoa Kỳ
Tài sản: 78,9 tỷ USD.

Bill Gates là người giàu nhất thế giới đang còn sống. Theo tạp chí Forbes, vào năm 2015, ông sở hữu khối tài sản lên đến 78, 9 tỷ USD, nhiều hơn người sáng lập hãng thời trang Zara Amancio Ortega 8 tỷ USD - đứng thứ hai trong danh sách do Forbes bình chọn.

8. Alan Rufus ( 1040-1093), Anh
 
Tài sản: 194 tỷ USD.
 
 
Alan Rufus (còn gọi là Alan Đỏ) là cháu trai của vua William I, Anh và đã tham gia cuộc chinh phục xứ Norman cùng với bác mình.

Trong cuốn Người giàu nhất trong những người giàu, hai tác giả Beresford và Bill Rubinstein cho  rằng tại thời điểm Alan Rufus qua đời, ông sở hữu khối tài sản trị giá 11.000 bảng Anh, tương đương 7% GDP của nước Anh năm 1093. Nếu tính theo tỷ giá năm 2015, số tiền ấy tương đương 194 tỷ USD.

7. John D. Rockefeller (1839-1937), Mỹ
Tài sản: 341 tỷ USD.
Vào năm 1863, Rockefeller bắt đầu đầu tư vào ngành công nghiệp dầu mỏ. Đến năm 1880, công ty Standard Oil của ông đã kiểm soát 90% hoạt động sản xuất dầu tại thị trường Mỹ.
​
Theo số liệu trong cáo phó đăng trên New York Times của ông, vào năm 1918, Rockefeller sở hữu khối tài sản trị giá 1,5 tỷ USD, tương đương với gần 2% sản lượng kinh tế của Mỹ trong năm đó. Nếu tính theo tỷ giá năm 2015, khối tải sản này tương đương với khoảng 341 tỷ USD.

6. Andrew Carnegie (1835-1919), Mỹ
Tài sản: 372 tỷ USD.

Vào năm 1901, Carnegie bán công ty US Steel cho tỷ phú J.P Morgan với giá 480 triệu USD. Vào thời điểm đó, số tiền này tương đương 2,1% GDP nước Mỹ và 372 tỷ USD theo tỷ giá hiện hành.

5. Joseph Stalin (1878-1953), Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết
 
Tài sản: Kiểm soát toàn bộ quốc gia chiếm 9,6% GDP toàn thế giới.
 

​Rất khó để tách rời tài sản của Stalin ra khỏi tài sản của Liên bang Xô viết, song sự kết hợp giữa quyền lực kinh tế và quyền kiểm soát toàn bộ nước Nga Xô viết đã khiến nhiều nhà kinh tế đánh giá ông là một trong số những người giàu nhất mọi thời đại.
 ​
Theo số liệu từ OECD, vào năm 1950, 3 năm trước khi Stalin qua đời, Liên bang Xô viết chiếm khoảng 9,5% GDP toàn cầu. Theo tỷ giá năm 2014, con số đó sẽ tương đương với khoảng 7,5 nghìn tỷ USD. Mặc dù số tiền này không thuộc về cá nhân Stalin, song ông có thể quyết định sử dụng chúng theo ý muốn. Ông kiểm soát 1/6 diện tích đất liền trên thế giới.

4. Akbar I (1542-1605), Ấn Độ
 
Tài sản: Cai quản đế chế chiếm 25% GPD toàn cầu
 

Akbar I là một trong những vị vua vĩ đại nhất của vương triều Mughal. Nhà sử học kinh tế Angus Maddison cho rằng GDP trên đầu người ở Ấn Độ dưới thời Akbar có thể so sánh với nước Anh thời Elizabeth. Nhưng sự khác nhau là mức sống của tầng lớp thống trị vượt xa xã hội châu Âu.

3. Hoàng đế Thần Tông (1048-1085), Trung Quốc
 
Tài sản: Cai quản đế chế chiếm 25% - 30% GPD toàn cầu.
 
Vương triều nhà Tống (960 - 1279) sở hữu một trong những nền kinh tế hùng mạnh nhất mọi thời đại. Theo giáo sư Ronald A. Edwards, nhà Tống chiếm 25% -30% tổng sản lượng kinh tế toàn cầu. Khối tài sản này có được nhờ vào những cải tiến công nghệ thành công và kỹ năng quản lý thuế xuất sắc.

2. Augustus (63 TCN-14 SCN), Rome
 
Tài sản: 4,6 ​nghìn tỷ USD.
 

Theo giáo sư sử học Ian Morris, trường đại học Standford, tài sản cá nhân của Augustus bằng 1/5 nền kinh tế của đế chế La Mã thời bấy giờ, tương đương với khoảng 4,6 triệu triệu USD nếu tính theo tỷ giá năm 2015.

1. Mansa Musa (1280-1337), Mali
 
Tài sản: Nhiều đến mức không ai có thể tả được
 

Vị vua của Timbuktu được coi là người giàu nhất mọi thời đại. Theo Richard Smith, trường Ferrum, vương quốc này là nơi sản xuất nhiều vàng nhất thế giới.

Không có cách nào ước tính được sản của ông. Có những câu chuyện lại kể rằng mỗi năm Mali có thể sản xuất khoảng một tấn vàng, quân đội của vương quốc này bao gồm 200.000 lính. Trong chuyến hành hương tới Mecca, Musa chi tiêu nhiều tới mức gây ra một cuộc khủng hoảng ở Ai Cập.

 (Chungta.vn/ Theo Chirkup)
Share:

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

20 người giàu nhất lịch sử nước Mỹ

Giá trị tài sản của tỉ phú đã qua đời bao gồm cả các khoản đã di chúc được lấy tại thời điểm họ mất, sau đó các chuyên gia tính toán lại dựa trên quy mô nền kinh tế Mỹ và đồng USD hiện nay, tức đã điều chỉnh theo mức độ lạm phát

1. John D. Rockefeller (1839-1937)

Tài sản: 253 tỉ USD
 
Đứng đầu danh sách người giàu nhất lịch sử Mỹ là ông trùm dầu mỏ tỉ phú Rockefeller. Năm 1880, Công ty Standard Oil của ông kiểm soát đến 90% sản lượng dầu toàn nước Mỹ. Đến nỗi chính phủ Mỹ phải ra lệnh chia nhỏ công ty của ông sau nhiều cáo buộc làm giá và những phi vụ ngầm. Các công ty được “cắt” ra từ Standard Oil như ExxonMobil, Chevron, ConocoPhillíp và BP đều là những tập đoàn lớn nhất trong ngành năng lượng thế giới ngày nay.


2. Cornelius Vanderbilt (1794-1877)

Tài sản: 205 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (2)

Vanderbilt khởi nghiệp từ những chiếc sà lan tại cảng New York rồi dần mở rộng sang tàu hơi nước và kinh doanh đường sắt.


Với bản tính thô lỗ khi luôn miệng chửi thề và hút thuốc lá, Vanderbilt chưa bao giờ thực sự hòa nhập với thế giới thượng lưu tại New York. Tuy nhiên, các con của ông thì khác. Họ xây nhiều dinh thự xa xỉ dọc đường Park Avenue và cực thân thiết với giới thượng lưu. Nhưng đến năm 1973, không ai trong số 120 con cháu của Vanderbilt còn là triệu phú, do lối tiêu xài hoang phí.


3. John Jacob Astor (1763-1848)

Tài sản: 138 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (3)

Astor, là một người Đức, khởi nghiệp từ việc buôn lông thú nhưng cơ nghiệp của ông chủ yếu có từ việc đầu tư địa tại khu Manhattan ở New York với sự nâng đỡ khá nhiều của gia đình nhà vợ giàu có.


Vào thời điểm con trai ông lên nắm quyền điều hành công ty, nhà Astors đã sở hữu hơn 700 khu bất động sản tại khu vực này.

4. Stephen Girard (1750-1831)

Tài sản: 120 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (4)
Girard, người Mỹ gốc Pháp, khởi nghiệp bằng công việc trên những con tàu buôn từ châu Âu đến vùng Caribbean. Ở tuổi 23, Stephen Girard trở thành thuyền trưởng và sau đó sở hữu cả một đội tàu buôn.

Girard định cư tại Philadelphia và dùng số tiền kiếm được từ các tàu buôn để đầu tư vào các ngân hàng và cho chính phủ Mỹ vay tiền trong chiến tranh năm 1812. 

5. Richard Mellon (1858-1933)  

Tài sản: 103 tỉ USD

Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (5)
Richard và em trai Andrew (người giàu thứ 15 trong lịch sử Mỹ) là những ông trùm ngân hàng tại Pittsburgh, Pennsylvania. 2 nhà tài phiệt còn nhúng tay vào nhiều ngành công nghiệp màu mỡ của thế kỷ 19, như thép, dầu mỏ, than và đường sắt.

6. Andrew Carnegie (1835-1919)

Tài sản: 101 tỉ USD
 Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (6) 
Là ông trùm ngành thép, gắn với Tập đoàn thép Carnegie Steel (CSC) nhưng Andrew lại được biết đến nhiều với vai trò nhà từ thiện.

Ông bán cả công ty khổng lồ của mình cho J.P.Morgan US Steel và đem tiền góp cho các tổ chức phi lợi nhuận, từ thiện và gần 3.000 thư viện công. 

7. Stephen Van Rensselaer (1764-1839) 

Tài sản: 101 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (7)
Van Rensselaer là người cuối cùng thuộc tầng lớp quý tộc được cấp đất tại Bắc Mỹ, khi nơi này còn là thuộc địa của Hà Lan. Có thời điểm ông sở hữu hàng triệu mẫu đất ở bang New York, với hơn 100.000 tá điền sinh sống.

Ngoài việc thành lập Viện bách khoa Rensselaer, ông còn hỗ trợ tài chính cho chính phủ trong xây dựng kênh đào Erie. Rensselaer cũng là chỉ huy của 6.000 binh sĩ trong chiến tranh Anh – Mỹ 1812 và từng là nghị sĩ quốc hội Mỹ. 

8. Alexander Turney Stewart (1803-1876)

Tài sản: 100 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (8)
Là một thương nhân ngành dệt may người Iceland, Stewart tới Mỹ và xây dựng công ty bán buôn bán lẻ các mặt hàng khô lớn nhất tại đây. Ông cũng là nhà cung cấp đồng phục chủ yếu cho quân đội miền Nam trong cuộc nội chiến Mỹ.

9. Frederick Weyerhäuser (1834-1914)

Tài sản: 91,2 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (9)
Là ông trùm ngành gỗ và giấy tại Mỹ, ông cùng gia đình từng được cho là kiểm soát cả một vùng gỗ rộng lớn, có diện tích tương được bang Wisconsin ngày nay. Tuy vậy, Weyerhaeuser là một trong những công ty gỗ có trách nhiệm với môi trường nhất tại Mỹ.

10. Jay Gould (1836-1892)

Tài sản: 78,3 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (10)
Gould là một nhà đầu cơ, nhà tài chính và là một ông trùm trong ngành đường sắt. Ông cũng mệnh danh là doanh nhân có đạo đức kém nhất lịch sử Mỹ với những hành vi như chiếm đất, thao túng cổ phiếu, hối lộ. Ông từng giành quyền kiểm soát công ty đường sắt của Vanderbilt bằng cách phát hành cổ phiếu giả rồi hối lộ quan chức New York để thông qua thương vụ.

Vì sự man trá đó, Gould có rất ít bạn bè và bị đại đa phần xã hội New York lúc bấy giờ xa lánh dù là người rất giàu có.


11. Marshall Field (1834 – 1906)

Tài sản 75 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (11)
Marshall Field nổi danh với chuỗi cửa hàng bách hóa hàng đầu mang tên ông tại Chicago. Ông đi đầu khi đưa tín dụng, chính sách trả hàng và cửa hàng ăn uống vào trong các chuỗi bách hóa của mình. Marshall Field sau này bị tập đoàn Macy mua lại đổi tên từ đó.

12. Bill Gates (1955 – nay)

Tài sản: 74 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (12)
Bill là người đồng sáng lập tập đoàn công nghệ Microsoft và là người đàn ông giàu nhất thế giới nhiều năm trở lại đây. Sau khi rời khỏi các vị trí lãnh đạo tại Microsoft vào năm 2008, hầu hết thời gian của ông dành cho Quỹ từ thiện Bill và Melinda Gates Foundation.

13. Henry Ford (1863-1947)

Tài sản: 67,2 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (13)
Tên của ông gắn liền với dòng xe Model-T huyền thoại và ngành công nghiệp sản xuất ô tô của Mỹ và thế giới khi ông là người áp dụng việc lắp ráp ô tô bằng dây chuyền


14. Warren Buffett (1930 – nay)

Tài sản: 63,8 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (14)
Buffett mua lại hãng dệt may Berkshire Hathaway vào năm 1965 và biến nó thành một trong những công ty đầu tư thành công nhất mọi thời đại. Từ những năm 1960 đến năm 1990, cổ phiếu Berkshire tăng trung bình 28%. Buffett nổi tiếng với việc đấu tranh cho việc đánh thuế cao người giàu, kế hoạch quyên phần lớn tài sản cho từ thiện sau khi ông qua đời.


15. Andrew Mellon (1855-1937)

Tài sản: 63,2 tỉ USD 
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (15)
Dù sống lâu hơn anh trai Richard Mellon (người số 5) 5 năm, nhưng giá trị tài sản của ông vẫn bị đánh giá thấp. Trong khi người anh Richard tập trung vào từ thiện ở vùng Pittsburgh thì Andrew quan tâm đến nghệ thuật. Ông đã tặng 126 bức tranh nổi tiếng của mình cho Bảo tàng nghệ thuật quốc gia ở thủ đô Washington, DC


16. Samuel M. Walton (1918-1992)

Tài sản: 56,5 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (16)
Samuel là người sáng lập tập đoàn bán lớn nhất hiện nay Wal-Mart. Tập đoàn này hiện có giá trị trên 130 tỉ USD.


17. Moses Taylor (1806 – 1882)

Tài sản: 54,5 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (17)
Là con trai một phụ tá của John Jacob Astor (số 3), Taylor dùng tiền bạc của gia đình để đầu tư vào một loạt các ngành công nghiệp: đường, cà phê, vận chuyển, đường sắt, thép, than đá và cả các tài sản xấu khác. Điều này giúp Taylor để leo lên chức chủ tịch Ngân hàng Quốc gia New York, tiền thân của Citibank hiện nay.

18. Russell Sage (1816-1906)

Tài sản: 53,6 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (18)
Sage khởi nghiệp với nghề bán hàng tạp hóa. Nhờ tiết kiệm và tài năng, ông sớm có đủ tiền để mở các cửa hàng riêng cho mình. Từ đó, ông mở rộng sang môi giới ngựa, vận tải và tài chính. Ông thường hợp tác với Jay Gould (số 10) để thao túng giá cổ phiếu.

Sau khi ông chết, vợ của Sage đem phần lớn tài sản của ông đi làm từ thiện dù trước đó Sega được biết đến là một người khá keo kiệt.


19. James G. Fair (1831-1894)

Tài sản: 52,9 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (19)
Làm giàu từ các mỏ bạc và vàng ở bang Nevada, nhưng tiền không mang lại hạnh phúc cho ông. James G. Fair ly dị vợ sau những cáo buộc ngoại tình và chứng kiến con trai ông tự tử. Ông qua đời ở tuổi 63 nhưng trước đó nhiều người thấy ông chìm đắm trong rượu và đi lang thang với dáng vẻ tiều tụy ở San Francisco.


20. William Weightman (1813-1904)

Tài sản: 51,8 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (20)
Weightman thành lập một công ty dược phẩm đã phát triển một dạng tổng hợp của quinine, được sử dụng để điều trị bệnh sốt rét. Công ty này sau đó sáp nhập vào Merck
Share:

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

Andrew Carnegie: Khi đi du lịch là để học

Tình yêu quê hương, bất chấp các điều kiện sống hay vị trí địa lý của nó chính là mảnh đất của sự ngọt ngào và vẻ đẹp.

- Andrew Carnegie là một doanh nhân người Mỹ gốc Scotland và được nhiều người biết đến với biệt danh “Ông vua thép.”

- Một trong những sở thích của Carnegie là đi du lịch, đặc biệt khi có một chút phiêu lưu.
- Theo Carnegie, kiến thức có được từ việc học và đi du lịch biểu trưng cho giá trị thực, vì một cuộc sống tốt là thực sự rộng mở đầu óc.

Andrew Carnegie là một doanh nhân người Mỹ gốc Scotland và được nhiều người biết đến với biệt danh “Ông vua thép.” Là người hảo tâm và bác ái, ông tài trợ cho rất nhiều việc của cộng đồng xã hội như thư viện, bệnh viện hay trường đại học.

Tính đến năm 2007, theo tạp chí tài chính Forbes thì tài sản của ông là 298 tỷ USD, chỉ sếp sau người được mệnh danh giàu nhất trong những người giàu nhất là John D. Rockefeller.

Trong nhật ký của mình, Carnegie viết rằng ông đã định về hưu lúc 35 tuổi để chuyên tâm hơn cho việc viết sách và đi du lịch vòng quanh thế giới. Tuy nhiên ông đã không làm như vậy, nhưng qua việc này có thể thấy được niềm đam mê và sở thích cá nhân ngoài công việc thép của Carnegie.
Theo Carnegie, kiến thức có được từ việc học và đi du lịch biểu trưng cho giá trị thực, vì một cuộc sống tốt là thực sự rộng mở đầu óc. Đặc biệt, việc đi du lịch sẽ khiến thế giới quan tiếp nhận một kiến thức mới mẻ hơn và có năng suất hơn khi quay trờ lại công việc của mình.

Không những thế, trải nghiệm của việc du lịch khắp thế giới của Carnegie còn bồi đắp thêm tình yêu nước, yêu quê hương trong ông. Ông chiêm nghiệm rằng chẳng nơi đâu tuyệt vời bằng nhà mình. Dù cho những nơi khác mang lại cho ông sự mới mẻ cuốn hút, nhưng chính quê hương mới là thiên đường dưới trái đất. Do đó, khi thật sự về hưu, Carnegie đã cho xây cất một tòa lâu đài tại Scotland và sống trọn cho đến khi qua đời.

Chuyến đi vòng quanh thế giới đã mở ra một chân trời mới trước mắt ông. Nó đã làm thay đổi hoàn toàn thế giới quan của Carnegie. Ông bắt đầu xem xet các giai đoạn khác nhau của cuộc đời con người theo cách nhìn của thuyết tiến hóa.

Là một người ham học hỏi, khi đến Trung Quốc, Carnegie đọc sách về Khổng Tử. Ở Ấn Độ, ông đọc sách Phật và các sách của đạo Hinđu và trong số các tác phẩm của người Ba Tư ở Mumbay, ông đọc về Zoroaster.

Carnegie tin rằng, sẽ thật là thiếu sót lớn nếu chúng ta không tìm hiểu về tôn giáo ở nơi mà mình sẽ đến. Bởi vì người dân của mỗi quốc gia đều cho rằng tôn giáo của họ là tốt nhất. Cho nên để có được một chuyến đi hoàn hảo, bạn phải tìm hiểu tôn giáo của họ để có thể hòa nhập vào lối sống thường ngày của những người dân bản xứ.

“Trước đây, tâm trí của tôi thường hỗn độn thì bây giờ đã thảnh thơi.” Ông nói. Việc đi du lịch đã mang lại cảm giác bình an cho Carnegie và cuối cùng ông đã hình thành triết lý sống cho riêng mình. Ông bắt đầu cảm nhận được một ý nghĩa mới mẻ rằng “Thiên đàng ở trong mỗi người.”

Không phải quá khứ hay tương lai mà chính là hiện tại và chính ở đây trong chúng ta là Thiên đàng. Tất cả nhiệm vụ và mục tiêu của chúng ta trên thế giới này là ở hiện tại. Nếu cứ cố gắng tìm kiếm cái gì cao hơn thế, chúng ta chỉ đang vô ích mà thôi.

Chẳng đâu bằng nhà mình

Trong chuyến du lịch tới mũi Bắc vịnh Fio, Tromson bằng tàu, Carnegie có đến thăm một trang trại tuần lộc của người Lapland. Một thủy thủ trên tàu làm hướng dẫn viên cho ông. Khi tới vịnh Fio, nhìn xuống bên kia bờ vịnh, ông thấy một vài chiếc lều cheo leo ở đó cùng một căn nhà hai tầng đang được xây dựng. Carnegie hỏi “Căn nhà mới xây để làm gì?”

Đó là căn nhà của một người đàn ông sinh ra ở Tromson, ông ta đã kiếm được rất nhiều tiền và bây giờ trở về để sống tại quê hương. Ông ấy là người rất giàu có. Người hướng dẫn trả lời.

Carnegie tiếp tục hỏi “Nếu giả như anh kiếm được một gia tài như thế, anh sẽ chọn nơi nào để nghỉ ngơi tuổi già?” Anh nói với Carnegie rằng anh đã từng đi du lịch khắp thế giới. Anh từng tới London, New York, Calcutta, Mellbourn và nhiều nơi khác. Nhưng chẳng nơi đâu tuyệt vời bằng Tromson, quê hương của anh cả.

Mà Tromson là vùng đất thuộc Bắc Cực, 6 tháng trời là đêm, khí hậu khá khắc nghiệt, nhưng anh ta đã sinh ra tại đây.

Trong số các điều kiện sống, hoặc quy luật tự nhiên, có những cái không tốt, không công bằng và khắc nghiệt đối với chúng ta, nhưng vẫn có những cái làm cho chúng ta ngạc nhiên vì vẻ đẹp và sự ngọt ngào của nó.

Tình yêu quê hương, bất chấp các điều kiện sống hay vị trí địa lý của nó chính là mảnh đất của sự ngọt ngào và vẻ đẹp đó. Dễ chịu biết bao khi nhận ra rằng, bất chấp tôn giáo sẽ chỉ có ở nơi này hoặc dân tộc đó, mỗi dân tộc đều nhận được những thông điệp riêng phù hợp với nó nhất trong giai đoạn phát triển hiện tại. Quê hương, chính quê hương là nơi tuyệt vời nhất.
(Theo Trí Thức Trẻ )
 >> Từ cậu bé phải ngủ cho quên đói trở thành “vua thép”
Share:

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

13 nấc thang đến sự giàu có

Cuốn sách “Think and Grow Rich” là kết quả của công trình nghiên cứu hơn 20 năm của tác giả, dưới sự bảo trợ của nhà tài phiệt Andrew Carnegie.

Tác giả đã phỏng vấn Henry Ford, William Jennings Bryan, George Eastman, John D.Rocketfeller, Clarence Darow, và hàng trăm người thành công và giàu có khác. Từ kết quả phỏng vấn, tác giả tổng hợp thành 13 nguyên tắc được ví như 13 nấc thang của hành trình làm giàu.
Cuốn sách này không trình bày sâu về cách làm giàu, mà tập trung vào “suy nghĩ giàu” và truyền tải thông điệp: nếu biết cách và rèn luyện suy nghĩ của mình, chúng ta sẽ thành công và giàu có.

Think and Grow Rich liên tục nằm trong danh sách bán chạy từ khi nó được xuất bản năm 1937.
Think and Grow Rich liên tục nằm trong danh sách bán chạy từ khi nó được xuất bản năm 1937.
Tác giả Naponeon Hill (1883 – 1970) được xem là người sáng lập và là tác giả hàng đầu của dòng sách về thành công cá nhân. Ông cũng là cố vấn của Tổng thống Franklin D.Roosevelt từ năm 1933 đến 1936.

Những tác phẩm của ông, đặc biệt là cuốn Think and Grow Rich (Nghĩ giàu và làm giàu) đã giúp cho rất nhiều người thành công và giàu có.

13 nấc thang trong hành trình làm giàu

Nấc thang thứ nhất: Khao khát

Khao khát đơn thuần không chỉ là hy vọng hay ước mơ. Khi khao khát, chúng ta mong muốn một cách mãnh liệt và rõ ràng. Chính sự khao khát cháy bỏng này đã giúp những người sau đây đạt được ước mơ của mình.

Henry Ford chế tạo thành công xe hơi – một phương tiện vận chuyển không dùng ngựa; Thomas Edison chế tạo thành công bóng đèn điện; anh em nhà Wright chế tạo chiếc máy có thể bay, Mme.Schumann - Heink đã trở thành nữ ca sĩ opera nổi tiếng bất chấp sự bắt đầu rất không thuận lợi; Edwin C.Barnes – một người hết sức bình thường cuối cùng đã trở thành đối tác của nhà sáng chế Thomas Edison…

Họ và những người thành công vượt bậc khác sẵn sàng đặt cược vào khát khao cháy bỏng của mình. Edwin C.Barnes đã đặt cược cả tương lai của mình và làm mọi thứ để được Thomas Edison chấp nhận làm đối tác.

Để trở nên giàu có, trước hết chúng ta cần có một khát khao giàu có mãnh liệt, và thực hiện những bước sau đây để biến khát khao đó thành sự thật:

Bước 1: Xác định số tiền mà chúng ta muốn có. Chú ý là số tiền phải được xác định chính xác thì mới có ý nghĩa.

Bước 2: Xác định chính xác những gì chúng ta phải “hy sinh”: thời gian, công sức, những đầu tư khác… để có được số tiền trên.

Bước 3: Thiết lập thời gian cụ thể để đạt được khoản tiền đó.

Bước 4: Lập kế hoạch cụ thể cho việc thực hiện, và bắt tay vào thực hiện ngay, không chần chừ vì bất cứ lý do nào.

Bước 5: Viết một tuyên bố ngắn gọn mô tả 4 bước trên.

Bước 6: Đọc tuyên bố này thật to trước khi đi ngủ và ngay sau khi thức dậy. Khi đọc hãy hình dung, cảm nhận và tin tưởng rằng chúng ta đang sở hữu số tiền đó.

“Nếu chúng ta không sở hữu số tiền này bằng trí tưởng tượng thì số tiền này cũng khó mà nằm trong tài khoản ngân hàng của chúng ta”.

Nấc thang thứ hai: Niềm tin

Niềm tin là một trạng thái của nhận thức, được hình thành bằng việc khẳng định những suy nghĩ lặp đi lặp lại trong tiềm thức thông qua nguyên tắc tự động nhắc – hay còn gọi là tự ám thị.

Mặc dù rất khó để xây dựng, nhưng niềm tin là điều tối cần thiết để thành công.

Niềm tin biến những rung động của ý nghĩ thành sức mạnh tinh thần, và giúp chúng ta khai thác trí tuệ vô hạn vốn tiềm ẩn trong mỗi con người. Niềm tin là thuốc giải hiệu quả đối với thứ độc dược mang tên thất bại.

Những bí quyết xây dựng niềm tin:

- Tự tin năng lực của mình trong việc chinh phục mục tiêu, kiên trì và thực hiện những hành động để đi tới thành công

- Nhận biết rằng những suy nghĩ sẽ ảnh hưởng tới hành động, và do đó mỗi ngày sẽ tập trung 30 phút vào việc suy nghĩ về con người mà chúng ta muốn trở thành.

- Sử dụng 10 phút hằng ngày để xây dựng sự tự tin.

- Viết rõ ràng mục đích chính xác trong cuộc đời của chúng ta.

Cam kết sẽ làm theo lẽ phải và công bằng, không làm gì đi ngược lại lợi ích chính đáng của mọi người xung quanh. Trí tưởng tượng và niềm tin của Charles M.Schwab chính là nhân tố cốt lõi cho sự ra đời thành công của tập đoàn thép hùng mạnh và giàu có hàng đầu nước Mỹ.

Nấc thang thứ ba: Tự ám thị

Tự ám thị nói về sự tự nhắc lại và tự kích thích nhận thức thông qua năm giác quan. Tiềm thức của chúng ta giống như một khu vườn màu mỡ. Nếu chúng ta xao lãng, không kiểm soát thì những hạt giống xấu – những ý nghĩ tiêu cực, thất bại sẽ mọc um tùm. Nếu chúng ta biết kiểm soát và sử dụng đúng, thì tự ám thị sẽ gieo những hạt giống tốt – những suy nghĩ tích cực.

Mục tiêu của tự ám thị là xây dựng tiềm thức cho thành công. Bước thứ sáu của khát khao yêu cầu chúng ta đọc một tuyên bố của bản thân hai lần mỗi ngày. Khi làm như vậy, chúng ta gắn khát khao vào tiềm thức và xây dựng niềm tin.

Nhưng nếu chúng ta đọc những tuyên bố cá nhân của mình mà không có một cảm xúc nào đi kèm, thì sẽ không đem lại kết quả vì tiềm thức chỉ chấp nhận những suy nghĩ có cảm xúc mà chúng ta tin tưởng. Do vậy, những suy nghĩ, những ngôn từ của chúng ta dùng trong ám thị phải có cảm xúc và niềm tin thì mới có thể tác động, tạo ảnh hưởng lên tiềm thức.

Chúng ta cần tập trung cao độ khi thực hiện tự ám thị. Khi đọc lại tuyên bố khát khao của cá nhân, chúng ta cần phải tập trung suy nghĩ và tưởng tượng chính xác số tiền mà chúng ta khát khao muốn sở hữu.

Cách để thực hiện tự ám thị hiệu quả: Ở một mình tại nơi yên tĩnh, chẳng hạn như trên giường vào ban đêm, nhắm mắt lại và lớn tiếng lặp lại tuyên bố về số tiền mà chúng ta khao khát có. Hãy hình dung là chúng ta đang sở hữu và sử dụng số tiền đó. Dán bản tuyên bố đó nơi chúng ta có thể thấy và đọc vào mỗi buổi sáng và buổi tối cho đến khi thuộc lòng.

Nấc thang thứ tư: Kiến thức chuyên ngành

Kiến thức tổng quát và những gì được dạy một cách chính thống không giúp chúng ta làm giàu. Những người giàu có là những người biết tổ chức, sử dụng kiến thức của mình để xây dựng những kế hoạch hành động thực tế, và hướng đến những mục đích rõ ràng.

Henry Ford là một người không có nhiều kiến thức tổng quát, nhưng không có nghĩa là ông ngu dốt như một tờ báo ở Chicago đã phỉ báng ông. Trong phiên toà kiện tờ báo, ông đã không trả lời được những câu hỏi chi tiết về kiến thức tổng quát do tờ báo đưa ra. Ông cho rằng ông không cần thiết phải tự trả lời, những người làm việc cho ông – giỏi về kiến thức tổng quát – có thể trả lời những câu hỏi này. Ông đã thắng phiên toà này. Ông đã chứng minh rằng kiến thức của một người không đo bằng những gì họ biết mà đo bằng khả năng tìm những câu trả lời.

Để có khả năng biến khát khao thành tiền, chúng ta cần có kiến thức chuyên ngành về dịch vụ, hang hoá, hoặc nghề nghiệp mà chúng ta định hướng sẽ làm để đạt sự giàu có.

Khi đã xác định kiến thức cần tiếp thu, chúng ta cần tiến hành tiếp thu từ những nguồn sau: học vấn và kinh nghiệm của cá nhân chúng ta; tri thức và kinh nghiệm của những người khác, đặc biệt là Nhóm Trí Tuệ (gồm những người trí tuệ mà chúng ta thành lập trong tưởng tưng); các trường đại học, trung học; thư viện, những khoá huấn luyện chuyên ngành.

Nấc thang thứ năm: Trí tưởng tượng

Trí tưởng tượng chắp cánh cho khát khao, và cũng là công cụ trong việc tạo ra các kế hoạch để thành công. Những thành tựu to lớn mà loài người đã đạt được giúp chúng ta khẳng định rằng chúng ta hầu như có thể thực hiện được những gì chúng ta tưởng tượng ra.

Có hai hình thức của trí tưởng tượng: trí tưởng tượng tổng hợp và trí tưởng tượng sáng tạo.
Trí tưởng tượng tổng hợp dựa vào kinh nghiệm, kiến thức, và quan sát của chúng ta. Nó giúp chúng ta sắp xếp những khái niệm, ý tưởng, hay kế hoạch.

Trí tưởng tượng sáng tạo giúp chúng ta khám phá ra sức mạnh của trí tuệ vô hạn. Trí tưởng tượng sáng tạo chỉ được kích hoạt những khi nhận thức của chúng ta hoạt động với tốc độ cao, chẳng hạn như khi nó được kích thích bởi một khát khao cháy bỏng.

Thương hiệu Coca-Cola – thương hiệu hàng đầu và đắt giá nhất thế giới – được sinh ra từ một ý tưởng, một công thức đặc biệt mà Asa Candler đã sáng tạo ra. Chính trí tưởng tượng tuyệt vời của ông đã biến chiếc nồi cũ trị giá 500 đô la Mỹ thành những nhà máy tuyển dụng hàng triệu người và chế tạo ra hàng tỷ chai nước giải khát Coca-Cola được tiêu thụ khắp thế giới.

Chính nhờ trí tưởng tượng mà Tu sĩ – Tiến Sĩ Frank W.Gunsaulus đã nhận được 1 triệu đô la tài trợ từ ông Philip D.Armour để xây dựng trường Đại học Công nghệ Armour.

Cũng nhờ trí tưởng tượng của ông Andrew Carnegie và khát khao của tác giả mà cuốn sách “Nghĩ giàu và làm giàu” đã được ra đời, giúp cho hàng triệu người đạt được ước mơ giàu có.

Nấc thang thứ sáu: Lập kế hoạch

Quá trình làm giàu bắt đầu với khát khao cháy bỏng, với sự tưởng tượng, và cuối cùng được thể hiện qua việc lập kế hoạch.

Các bước để phát triển một kế hoạch:

- Thành lập một Nhóm Trí Tuệ gồm những người cần thiết để giúp chúng ta thực hiện kế hoạch.

- Xác định những lợi ích – có thể không phải bằng tiền – chúng ta đem lại cho các thành viên của nhóm.

- Gặp gỡ các thành viên của nhóm ít nhất 1 tuần 2 lần cho đến khi chúng ta xây dựng được kế hoạch cụ thể.

- Tạo mối quan hệ tốt giữa các thành viên của nhóm.

Chúng ta có thể tự lập kế hoạch, nhưng những chi tiết và kế hoạch cần phải được kiểm tra và nhận được sự chấp nhận của các thành viên trong Nhóm Trí Tuệ.

Nếu kế hoạch đầu tiên thất bại thì chúng ta phải thay thế nó bằng một kế hoạch khác, và sẵn sàng thay thế kế hoạch mới cho đến khi thành công.

Thomas Edison đã thất bại 10.000 lần trước khi ông hoàn thiện việc phát minh bóng đèn. Edison đã không thất bại, ông chỉ thất bại tạm thời cho đến khi thành công. Chúng ta phải biết chấp nhận những thất bại tạm thời và chỉnh sửa kế hoạch hành động cho đến khi thành công.

Lãnh đạo và thừa lệnh là 2 kiểu người khác nhau. Những người lãnh đạo nhận được thu nhập cao hơn nhiều lần so với những người thừa lệnh. Nếu là người thừa lệnh, chúng ta hãy là người thừa lệnh thông minh, để có cơ hội học hỏi từ những nhà lãnh đạo của mình.

Các phẩm chất của nhà lãnh đạo thành công: lòng dũng cảm, tự kiểm soát, công bằng, quyết đoán, có kế hoạch cụ thể, thói quen làm nhiều hơn thu nhập nhận được, tính cách dễ gần, cảm thông và thấu hiểu, nắm vững các chi tiết, sẵn lòng chịu mọi trách nhiệm, hợp tác.

Những sai lầm dẫn đến thất bại của các nhà lãnh đạo: không có khả năng tổ chức sắp xếp các chi tiết; không sẵn lòng đảm trách những việc “khiêm tốn”; kỳ vọng được nhận thu nhập dựa trên những gì họ biết chứ không phải những gì họ làm dựa trên sự hiểu biết đó; sợ hãi, lo lắng từ sự cạnh tranh của cấp dưới; thiếu trí tưởng tượng; ích kỷ, chỉ lo cho bản thân; thiếu khả năng kiềm chế; không chung thuỷ, trung thành; nhấn mạnh đến quyền hạn của người lãnh đạo, nhấn mạnh đến chức vụ.

Nâng cao chỉ số QQS. Để quảng bá cá nhân hiệu quả, chúng ta phải nâng cao chỉ số QQS – chất lượng dịch vụ (Quality of Servic), số lượng dịch vụ (Quanlity of Service) và tinh thần làm việc (Spirit of Service).

Chất lượng dịch vụ là sự hoàn thiện đến từng chi tiết liên quan tới công việc của chúng ta với tinh thần không ngừng làm tốt hơn.

Số lượng dịch vụ là thói quen mở rộng và thực hiện các công việc với kỹ năng ngày càng hoàn hảo.

Tinh thần làm việc là thói quen làm việc một cách hoà hợp và hợp tác tốt với đồng nghiệp, đối tác.

Nấc thang thứ bảy: Quyết đoán

Một trong những lý do hàng đầu khiến mọi người thất bại là sự do dự, trì hoãn. Để thành công, chúng ta phải quyết đoán trong việc đưa ra quyết định và hành động. Đa số những người giàu có ra quyết định nhanh và nếu có thay đổi thì khá chậm. Những người không giàu có thường quyết định chậm, nhưng khi thay đổi quyết định thì nhanh chóng và thường xuyên.

Những nhà lãnh đạo quyết đoán ra quyết định một cách nhanh chóng và chắc chắn vì họ biết rõ mục đích của mình. Và nhờ tính quyết đoán, thông thường họ sẽ đạt được mục đích của mình.

Nấc thang thứ tám: Kiên trì

Kiên trì, bền chí là một nhân tố cần thiết trong quá trình biến khát khao, mong muốn thành những thành quả hiện thực. Chính sức mạnh ý chí cùng với sự kiên trì bền chí đã đem lại thành công cho đa số những người giàu có.

Trong khi hầu hết chúng ta đều sẵn sàng từ bỏ mục tiêu và dự định của mình khi vấp phải những khó khăn đầu tiên, thì những người thành công vượt trội không chịu đầu hàng trước bất cứ khó khăn nào. Đó chính là những người như Ford, Carnegie, Rockefeller, Edison…

Tiểu thuyết gia Fannie Hurst đã bị nhà xuất bản gửi thư từ chối đến 36 lần. Thế nhưng, bà vẫn kiên trì viết và gửi tác phẩm trong suốt 4 năm trời. Cuối cùng, sự kiên trì của bà đã được đền đáp. Các nhà xuất bản tranh nhau xuất bản sách của bà.

Ca sĩ Kate Smith đã kiên trì hát không công, không tiền, không giải thưởng trong một thời gian dài và cuối cùng đã được Broadway công nhận và trở thành ca sĩ hàng đầu tại Broadway.

Việc áp dụng những nguyên tắc trong cuốn sách này để làm giàu cũng vậy. Chúng ta cần áp dụng tất cả 13 nguyên tắc với sự kiên trì thì mới có thể thành công.

8 nhân tố để tạo nên sự kiên trì là: xác định mục đích rõ ràng, khát vọng, tự lực, có kế hoạch chi tiết, có kiến thức, tinh thần hợp tác, sức mạnh ý chí, thói quen.

4 bước để phát triển tính kiên trì:

1/ Mục tiêu rõ ràng cụ thể dựa trên khát khao cháy bỏng.
2/ Một kế hoạch chi tiết bao gồm những hành động liên tục.
3/ Độc lập về nhận thức, không bị ảnh hưởng của sự chỉ trích, ý kiến tiêu cực từ những người khác.
4/ Được sự khuyến khích để theo đuổi mục tiêu và thực hiện kế hoạch. Sự khuyến khích không ngừng này đến từ một hay vài người bạn của chúng ta.

4 bước này cực kỳ quan trọng. Chúng không chỉ giúp chúng ta phát triển tính kiên trì mà còn giúp cho chúng ta thành công trên bất cứ lĩnh vực nào.

Toàn bộ 13 nguyên tắc cũng giúp chúng ta biến chúng trở thành thói quen.

Nấc thang thứ chín: Sức mạnh trí tuệ

Những kế hoạch sẽ trở nên vô nghĩa nếu chúng ta không đủ sức mạnh để biến chúng thành hành động.

Sức mạnh giúp chúng ta tích luỹ tiền và duy trì tiền đã được tích luỹ. Sức mạnh là kiến thức được tổ chức và định hướng một cách thông minh.

Ba nguồn kiến thức chính để tạo nên sức mạnh: trí tuệ vô hạn, trải nghiệm, thí nghiệm và nghiên cứu. Kiến thức được thu thập từ các nguồn trên sẽ trở thành sức mạnh nếu chúng ta biết cách tổ chức chúng thành kế hoạch và biến những kế hoạch thành hành động.

Làm chủ nhận thức để tạo ra sức mạnh là sự phối hợp hài hoà kiến thức và nỗ lực của hai hay nhiều người – Nhóm Trí Tuệ - để đạt một mục tiêu nhất định.

Việc sử dụng Nhóm Trí Tuệ sẽ đem đến cho chúng ta lợi ích kinh tế và lợi ích tinh thần. Nghiên cứu cho thấy tất cả những người giàu có đều sử dụng Nhóm Trí Tuệ một cách vô thức hay có nhận thức.
Andrew Carnegie xác nhận rằng ông thành công và trở nên giàu có nhờ sự góp sức của Nhóm Trí Tuệ - gồm 50 người với cùng mục đích sản xuất và bán thép. Sự nghiệp kinh doanh của Henry Ford trở nên thăng hoa nhờ vào sự hợp tác và hỗ trợ của người bạn – nhà phát minh Thomas Edison.

Nấc thang thứ mười: Chuyển hoá tính dục

Chuyển hoá tính dục là chuyển hoá cảm xúc tính dục - một trong những cảm xúc mạnh mẽ nhất của con người - thành năng lượng sáng tạo.

Mong muốn tính dục là một trong những mong muốn mạnh mẽ nhất của con người và có thể tạo ra những rủi ro cho chúng ta. Nhưng khi được kiểm soát và định hướng, dục năng có thể trở thành một sức mạnh sáng tạo trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tích luỹ và làm giàu.

Nghiên cứu khoa học cho thấy: những thành tựu xuất sắc thường là của những người có bản chất tính dục phát triển mạnh và biết được cách chuyển hoá tính dục; nhiều người giàu có hay thành công phần đông đều được tạo động lực nhờ ảnh hưởng của tình yêu sâu đậm đối với một người nào đó.

Nấc thang thứ mười một: Tiềm thức

Chúng ta không thể hoàn toàn kiểm soát tiềm thức của mình, nhưng có thể chủ động “cấy” vào tiềm thức của mình bất cứ kế hoạch, suy nghĩ, hay mục tiêu giúp chuyển hoá tiềm thức thành vật chất hay tiền bạc.

Điều này quan trọng bởi vì tiềm thức làm việc một cách tự động không ngơi nghỉ. Tiềm thức phản ứng với những khát khao, suy nghĩ thống trị trong nhận thức của mỗi chúng ta.

Có nhiều bằng chứng cho thấy tiềm thức chính là con đường kết nối giữa trí tuệ hữu hạn với trí tuệ vô hạn. Khả năng của những nỗ lực sáng tạo kết hợp với tiềm thức gần như là vô tận mà chúng ta chưa thể hiểu hết.

Bảy cảm xúc tích cực: khát khao, niềm tin, tình yêu, tình dục, nhiệt tình, lãng mạn, hy vọng.

Bảy cảm xúc tiêu cực: sợ hãi, ghen tị, thù hận, trả thù, tham lam, mê tín, giận dữ.

Nhận thức của chúng ta không thể cùng lúc chứa cảm xúc tích cực và tiêu cực. Một trong hai nhóm cảm xúc sẽ đóng vai trò chủ đạo. Nhiệm vụ của chúng ta là tạo ra một thói quen để giúp cho cảm xúc tích cực thống trị trong tâm thức của chúng ta.

Nấc thang thứ mười hai: Bộ não

Bộ não là trung tâm của con người, vừa là trạm thu vừa là trạm phát sóng. Tiềm thức là trạm phát tín hiệu của bộ não, phát đi những xung lực ý nghĩ. Còn trí tưởng tượng sáng tạo là trạm thu sóng, nơi thu nhận những xung lực ý nghĩ.

Nấc thang thứ mười ba: Giác quan thứ sáu

Thông qua giác quan thứ sáu, trí tuệ vô hạn sẽ giao tiếp một cách tự nguyện mà không cần chúng ta phải nỗ lực hay yêu cầu.

Giác quan thứ sáu là một phần của tiềm thức vốn được đề cập như trí tưởng tượng sáng tạo. Giác quan thứ sáu cũng được xem như thiết bị thu sóng. Nó thu nhận những ý tưởng, kế hoạch, và đặc biệt là những suy nghĩ vừa loé lên. Những suy nghĩ vừa loé lên này gọi là cảm hứng hay linh cảm.
Giác quan thứ sáu gần như là nơi trung gian giữa trí tuệ hữu hạn của con người với trị tuệ vô hạn. Nó là sự pha trộn giữa tinh thần và trí tuệ. Nó cũng là điểm tiếp xúc giữa nhận thức của con người và nhận thức của vũ trụ.

Sau khi nắm vững những nguyên tắc trên đây, chúng ta - hoàn toàn không mê tín – sẽ nhận thấy rằng: Với sự trợ giúp của giác quan thứ sáu, chúng ta sẽ được cảnh báo kịp thời về những hiểm nguy sắp xảy ra để kịp thời né tránh, cũng như được thông báo về những cơ hội để nắm bắt và làm giàu.

(Theo Trí Thức Trẻ)

 

Share:

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Từ cậu bé phải ngủ cho quên đói trở thành “vua thép”

Andrew Carnegie được mệnh danh là vua thép của nước Mỹ. Xuất thân bần hàn, nhưng nhờ nỗ lực vượt khó, ông đã trở nên giàu có. Ông còn được biết đến như người giúp tạo ra nhiều triệu phú USD nhất. 

Không chỉ nổi tiếng về độ giàu có, Carnegie còn được biết đến với tư cách là một tỷ phú giàu lòng bác ái, từng đóng góp tới 90% tài sản cá nhân tương đương với gần 350,7 triệu USD làm từ thiện.
Năm 2007, ông từng được tạp chí Fortune bình chọn là người giàu thứ 6 trong lịch sử Mỹ.
Andrew Carnegie chào đời trong một ngôi nhà nhỏ ở Dunfermline, Scotland vào ngày 25/11/1835.
Nhiều thế hệ nhà Carnegie nổi tiếng với nghề dệt vải bằng khung cửi, nhưng cuộc cách mạng công nghiệp đã khiến việc kinh doanh của họ bị đổ vỡ.
Gia đình Andrew Carnegie trở nên nghèo khó tới mức hàng ngày họ phải đi ngủ sớm để "quên đi cái đói khủng khiếp đang hành hạ". Năm 1848, gia đình ông rời quê hương sang Mỹ – miền đất hứa của rất nhiều người lao động nghèo châu Âu thời ấy. Và khi thấy người cha phải đi xin xỏ việc làm, Carnegie đã thấy trong tim mình một sự thôi thúc.
Năm 12 tuổi, gia đình Carnegie đã chuyển tới thành phố Pittsburgh, nơi hai người dì của ông đang sinh sống. Cả nhà họ phải ngủ chung với nhau trong một căn phòng.
Lên 13 tuổi, ông bắt đầu làm việc cho một nhà máy dệt. Công việc của ông là vận hành một động cơ hơi nước nhỏ và đốt nóng một cái nồi hơi trong hầm chứa của nhà máy sản xuất cuộn chỉ. Và đêm nào, ông cũng gặp ác mộng nồi hơi của nhà máy bị phát nổ.
Năm 1849, ông chuyển sang làm chân giao điện tín. Chính công việc này giúp ông biết và ghi nhớ được tên của hầu như tất cả doanh nghiệp và những nhân vật quan trọng trong vùng.
Năm 17 tuổi, Carnegie vào làm ở hãng đường sắt Pennsylvania với vai trò trợ lý và là nhân viên điện báo cho Thomas Scott, một trong các quan chức hàng đầu của ngành đường sắt. Công việc này giúp ông tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm về công nghiệp đường sắt và kinh doanh nói chung. Lương của ông khi đó là 35 USD/tháng.
3 năm sau, Carnegie được thăng chức làm người giám sát. Khi làm việc ở đây, Carnegie cũng bắt đầu đầu tư. Khoản đầu tư đầu tiên của ông là số cổ phiếu trị giá đến 600 USD của một công ty đường sắt. Chỉ ít lâu sau, ông đã bán lại số cổ phiếu này và thu được hàng chục nghìn USD. Bên cạnh ngành đường sắt, ông cũng đầu tư vào công nghiệp khai thác dầu mỏ và thu được nhiều khoản hời lớn.
Năm 1865, ông rời công ty đường sắt và chuyển tới New York để theo đuổi những sở thích kinh doanh riêng. Tại đây, ông cùng mẹ đã thuê một phòng ở khách sạn St Nicholas.
Trong 10 năm kế tiếp, Carnegie dành hầu hết thời gian cho ngành thép. Công việc của ông tại Công ty Thép Carnegie đã mở ra thời kỳ cách mạng hóa hoạt động sản xuất thép ở Hoa Kỳ.
Trong 10 năm kế tiếp, Carnegie dành hầu hết thời gian cho ngành thép. Công việc của ông tại Công ty Thép Carnegie đã mở ra thời kỳ cách mạng hóa hoạt động sản xuất thép ở Hoa Kỳ.
Năm 1897, Carnegie trở lại Scotland và bỏ tiền mua tòa lâu đài Skibo. Ông gọi khu bất động sản này "thiên đường trên trái đất".
Năm 1900, Công ty Thép Carnegie đã sản xuất ra lượng thép nhiều hơn cả nước Anh.
Năm 1901, Carnegie đã thay đổi cuộc đời mình khi bán công ty cho United States Steel Corporation, thuộc sở hữu của huyền thoại tài chính J. P. Morgan. Thương vụ này mang về cho ông 480 triệu USD (tương đương 309,2 tỷ USD ở thời điểm hiện nay).
Ở tuổi 65, ông quyết định dùng hết thời gian còn lại để giúp đỡ người khác. Ông bắt đầu xây dựng thư viện, trường học và đóng góp từ thiện. Ông đã đóng góp khoảng 5 triệu USD cho Thư viện Công cộng New York, giúp thư viện này mở thêm một số chi nhánh năm 1901.
Andrew Carnegie từng nói với nhiều người, những tri thức và hiểu biết của ông đều do tự học và tự đọc qua sách mà có cả. Ông đã tài trợ cho gần 3.000 thư viện, công viên, giáo dục, nghệ thuật... Ứớc tính ông đã đóng góp 60 triệu USD cho các thư viện, 78 triệu USD cho giáo dục, tặng các giáo đường 7.000 đàn piano… Tỷ phú Carnegie đã qua đời ngày 11/8/1919. 
 
Nguồn: VNECONOMY
 
Share:

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

Bí quyết thành công của “vua thép” Andrew Carnegie

Andrew Carnegie được mệnh danh là ông “vua ngành thép”. Điều lạ là ông chẳng biết chút gì về việc sản xuất thép. Hàng ngàn người làm việc cho ông có kiến thức về thép hơn ông rất nhiều. Bí quyết nào đã đưa ông đến “ngôi vương” của ngành này?

“Vua dầu hỏa” John Rockefeller là người giàu nhất trong những người giàu nhất, (với khối tài sản tương đương 663 tỷ USD vào năm 2007 theo cách tính của Forbes) là người sẵn sàng dốc hết hầu bao chỉ để mua cách đối nhân xử thế, nếu như nó được bán.

Theo Rockefeller, nếu biết cách xây dựng các mối quan hệ, bạn đã đặt một chân vào ngưỡng cửa thành đạt. Đó là một bài học quan trọng mà Andrew Carnegie đã sớm nắm bắt được ngay từ khi còn nhỏ.

Vì gia cảnh khó khăn nên Andrew Carnegie không được học đến nơi đến chốn. Ông chỉ ngồi trên ghế nhà trường được bốn năm, và bắt đầu kiếm tiền từ khi lên bảy.

Trong khi phải kiếm tiền, Andrew Carnegie vẫn luôn dành thời gian cho việc tự học. Ông rất thích đọc sách và chính điều này là khởi nguồn cho tài đối nhân xử thế của ông.

Tố chất lãnh đạo và nghệ thuật tổ chức của Carnegie đã được bộc lộ từ khá sớm. Đó là khi ông vẫn còn là một cậu bé, sống ở Scotland. Khi đó, ông có nuôi một cặp thỏ. Chẳng lâu sau ông có cả đám thỏ con. Nhưng khó khăn lúc đó là ông chẳng có gì để nuôi chúng cả.

Một ngày, ông nảy ra một sáng kiến. Ông bảo đám bạn trong vùng rằng nếu chúng kiếm được đủ cỏ ba lá và bồ công anh để nuôi bọn thỏ, ông sẽ lấy tên của chúng để đặt tên cho từng chú thỏ con. Kế hoạch ấy thành công như một phép lạ và Carnegie không bao giờ quên điều này.

Nhiều năm sau, ông kiếm được hàng triệu đô la cũng bằng cách ứng dụng tâm lý này trong kinh doanh. Chẳng hạn, khi Andrew Carnegie muốn cung cấp đường ray bằng thép cho Công ty đường sắt Pennsylvania mà Edgar Thomson là chủ tịch lúc đó, ông đã dựng lên một nhà máy thép ở Pittsburgh và đặt tên là “Nhà máy thép Edgar Thomson”.

Thế là khi Công ty Pennsylvania phát đi nhu cầu về vật liệu, vượt qua rất nhiều đối thủ khác, Carnegie đã giành được hợp đồng cung cấp lượng thép khổng lồ cho Thomson.

Sau này khi có điều kiện quay trở lại trường học, Carnegie đã chọn ngành học về bản tính con người. Ông từng nói rằng mình không hiểu cơ chế một chiếc máy chạy bằng hơi nước, nhưng ông sẽ cố gắng tìm hiểu một cơ chế phức tạp hơn nhiều, đó chính là con người.

Ngoài khả năng lãnh đạo và cách đối nhân xử thế xuất sắc, Carnegie còn là một người bác ái và hảo tâm. Ông đã đóng góp tất cả gia tài của mình cho cộng đồng, giúp nhiều nhân viên của mình trở nên giàu có. Ông đã trả cho một giám đốc dưới quyền là Charles Schwab mức lương 1 triệu đô la mỗi năm. Charles Schwab là vị giám đốc đầu tiên của nước Mỹ được trả công cao như vậy.

Carnegie cho biết, số tiền này, ông không phải trả cho kiến thức của Schwab, mà trả cho khả năng đối nhân xử thế tuyệt vời của Schwab với nhân viên.
Theo Doanh Nhân Sài Gòn

 >> Lời khuyên hữu ích của ông “vua thép” Andrew Carnegie

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?