Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn Henry Ford. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Henry Ford. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

Henry Ford đã khiến thế giới chuyển từ ngựa sang ô tô bằng cách nào?

Câu chuyện về tầm nhìn và giai đoạn khởi nghiệp của Henry Ford - cha đẻ ngành công nghiệp ô tô sẽ mang lại những bài học, chiến lược kinh doanh kinh điển của một cá nhân sáng tạo đã làm thay đổi thế giới nhưng lại ít được biết đến trong 40 năm đầu cuộc đời ông.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vix9xm6fdFq
“Khi tôi hỏi mọi người rằng họ muốn phương tiện đi lại của mình như thế nào? Họ nói với tôi rằng họ muốn một con ngựa chạy nhanh hơn”, trích từ tiểu sử của Henry Ford.

Ford sinh thời khi mọi người sử dụng ngựa như là một phương tiện đi lại thông dụng và được ưa chuộng. Vì thế, khi ông khảo sát thị hiếu của mọi người từ sáng chế của mình, ông đã rút được bài học rằng không bao giờ có thị trường cho các hàng hóa mới.

Đó thật sự là thử thách. Thay đổi thói quen con người không dễ, tạo ra một cuộc cách mạng hóa để thay đổi ý niệm truyền thống thậm chí còn khó hơn. Nhưng Ford đã làm được. Ông đã thay đổi thế giới khi giờ đây có hàng triệu người đang sử dụng ý tưởng từ sáng chế của ông như một thói quen thông dụng. Vậy Ford đã làm điều đó bằng cách nào?

Dũng cảm đi theo tầm nhìn của mình

Ngay từ khi còn nhỏ, Ford đã nghĩ rằng có nhiều việc có thể được thực hiện tốt hơn bằng cách nào đó. Chính suy nghĩ này đã khiến ông đam mê ngành cơ khí, và ông được mẹ tả như là một thợ máy bẩm sinh.

Thuở bé, Ford đã có một cái xưởng nhỏ với các mẫu kim loại lặt vặt dùng làm công cụ. Hồi đó, tất cả đồ chơi của ông đều được chế tạo bằng tay thủ công, khác xa so với đồ chơi bây giờ. Khoảng khắc tuyệt nhất trong tuổi thơ của Ford là ông thấy động cơ đường sắt, một chiếc xe chạy bằng hơi nước. Đó là chiếc xe đầu tiên ông thấy chạy được mà không cần ngựa kéo.

Hay thích tháo gỡ, lắp ráp mọi thứ, khi 15 tuổi, ông có thể sửa mọi chiếc đồng hồ và được kỳ vọng sẽ trở thành một nhà sản xuất đồng hồ. Nhưng ý nghĩ về “một cỗ xe không cần ngựa kéo” quá kỳ diệu và với sự tự nỗ lực bản thân, Ford bắt đầu làm ra một chiếc xe từ phân xưởng xây trên trang trại của gia đình.
Khi được 17 tuổi, ông bắt đầu ông bắt đầu công việc của một người thợ máy học nghề, đủ điều kiện trở thành thợ trước thời hạn và được nâng lên các cấp cao hơn trong nhà máy động cơ Drydock. Khi rảnh rỗi, ông nghiên cứu cơ chế hoạt động của động cơ chạy bằng xăng và mơ đến việc làm nên một “chiếc xe hơi toàn cầu” có thể vận chuyển con người ít tốn chi phí và đáng tin cậy.

Trong một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với nhà phát minh Thomas Edison khi được hai mươi tuổi, Ford đã được truyền một nguồn cảm hứng vô tận. Cho dù lúc đó, điện đang được coi là một phát minh quan trọng của Edison và mọi người đều bảo rằng điện sẽ là tương lai, nhưng Edison vẫn nói với Ford rằng phải tiếp tục bền bỉ với hướng đi riêng của ông.

Sau đó, ông chủ của Ford tại công ty Detroit Edison đề cử ông lên một vị trí cao với điều kiện ông phải từ bỏ niềm đam mê cá nhân của mình để chuyên tâm vào công việc hữu ích hơn.

“Điều này khiến tôi phải đứng trước sự lựa chọn giữa công việc với cơ hội thăng tiến đang rộng mở và niềm say mê ô tô của bản thân. Cuối cùng, tôi đã chọn ô tô và thôi việc. Thật ra, tôi chẳng có sự lựa chọn nào khác bởi tôi biết rằng chính ô tô mới mang lại sự thành công cho mình, mặc dù nhiều người khác không nghĩ thế”, trích tiểu sử My life and work của Henry Ford.

Bỏ qua danh vọng trước mắt chỉ để có một cơ hội thay đổi thế giới bằng việc theo đuổi đam mê đòi hỏi sự dũng cảm của mỗi cá nhân. Ông đã chính thức thôi việc vào ngày 15 tháng 8 năm 1899 và bắt đầu bước vào lĩnh vực kinh doanh ô tô từ đó.

Khởi nghiệp

Không có nguồn vốn cá nhân, Ford kết hợp với một nhóm nhà đầu tư để lập ra công ty Detroit Automobile Company. Ông nhanh chóng nhận ra rằng những nhà đầu tư này chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt hơn là sản xuất ra một chiếc xe tốt hơn, vì thế chỉ sau một năm với 20 chiếc xe hơi được sản xuất, Ford rút ra khỏi công ty.

Bốn năm sau, người đàn ông 40 tuổi có dáng người mảnh khảnh lập ra công ty Ford Motor Company. Công ty huy động được số vốn là 100.000 đô la, và lần này Ford sở hữu ¼ cổ phiếu của công ty.

Trong năm đầu tiên, công ty đã sản xuất hơn 1.700 chiếc xe Model A và chúng đạt được thành công ban đầu nhờ tính năng đáng tin cậy. Sang năm thứ hai, do áp lực từ các cộng sự, Ford đưa ra ba mẫu xe và nâng giá bán. Công ty bán được ít xe hơn.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vix9xm6fdFq
Từ đầy, Ford nhận ra cần phải nắm được số cổ phần lớn để có thể toàn quyền kiểm soát. Vì thế, ông dùng thu nhập hàng tháng của mình để mua lại số lượng cổ phiếu, từ 50% và sau đó là 100%.

Năm 1908-1909, công ty bán ra hơn 10.000 chiếc xe và chịu áp lực phải mở rộng dòng sản phẩm. Tuy nhiên, Ford lại đi theo hướng ngược lại hoàn toàn. Một buổi sáng năm 1909, ông tuyên bố từ này công ty chỉ sẽ bán ra một mẫu xe duy nhất với giá thành luôn giảm qua thời gian: Model T. Thêm nữa, chỉ có một màu.

“Khách hàng nào cũng có thể có được chiếc xe hơi sơn màu anh ta muốn nếu như nó màu đen”, là câu nói đã trở thành nổi tiếng của ông.

Trong khi nhiều người vẫn nghĩ rằng giá bán thấp sẽ khiến công ty phá sản thì Ford tin vào chiến lược này sẽ giúp thị trường mở rộng mạnh mẽ. Thực tế đã diễn ra đúng như ông kỳ vọng. Ông bắt đầu xây dựng nhà máy sản xuất dây chuyền lớn nhất thế giới, Highland Park, và công suất nhảy vọt từ 6.000 lên đến 35.000 chiếc/năm, trong khi số lượng nhân viên tăng chưa đến gấp đôi.

Chỉ 10 năm sau, công ty đã làm ra 4.000 chiếc xe mỗi ngày và năm sau là 5 triệu chiếc xe/năm. Vào cuối thập niên, 15 triệu chiếc xe Model T được sản xuất, đánh dấu cột mốc kỳ diệu trong việc sản xuất đại trà.

Sở dĩ nhà máy có thể mở rộng quy mô lớn đến như vậy đều bắt nguồn từ chính chiến lược kinh doanh của Ford. Trong quá khứ, những chiếc xe hơi đầu tiên được xem như là một thứ đồ chơi của người giàu có, được bán cho những người có nhu cầu giải trí hay muốn chứng tỏ địa vị.

Ford đã thay đổi quan niệm này bằng cách quảng cáo tính hữu dụng của những chiếc xe hơi hãng Ford. Xe cũng được bán ra nhờ việc dễ điều khiển, dễ sử dụng và từ đó có câu: “Bất kể ai cũng có thể lái một chiếc Ford”.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vix9xm6fdFq
Tuy nhiên, chính chiến lược giá mới là yếu tố hàng đầu khiến công ty trở nên thành công ngoài mong đợi. Vào những năm 1909-1910, chiếc xe trị giá 950 đô la. Mười năm sau, giá xe chỉ còn 355 đô la.

Ford rất ghét ý tưởng làm cho chiếc xe hơi trở nên đắt đỏ. Thay vào đó, chiến lược của ông là định giá dựa trên chi phí sản xuất. Có nghĩa, nếu các nhà máy của ông có thể hoạt động ngày càng hiệu quả hơn thì người tiêu dùng sẽ được lợi.

Cũng giống như Sam Walton với chuỗi siêu thị Wal-Mart, Ford phát hiện ra rằng ông có thể kiếm được nhiều lãi hơn nhờ bán được nhiều sản phẩm với giá thấp hơn, thay vì bán số lượng ít với giá cao.

Nếu bạn bán được sản phẩm chất lượng cao với giá rẻ, đây sẽ là lợi thế cạnh tranh khó vượt qua của doanh nghiệp, do đó “bạn sẽ tìm thấy nhu cầu cao hơn đến mức có thể gọi là toàn cầu”, Ford viết trong cuốn tiểu sử của mình.

Chiến lược này nghe có vẻ “quen thuộc” với thời đại chúng ta, nhưng đó là một trong những bí quyết kinh điển đã mang lại thành công đáng kinh ngạc trong kinh doanh của Henry Ford.
Đinh Lộc
Theo Trí Thức Trẻ

Share:

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015

Sức hút của lãnh đạo

Henry Ford hay Steve Jobs được đánh giá là những người có sức hút trong giới kinh doanh, không chỉ bởi quyền lực, mà còn là tầm ảnh hưởng lên thế giới.

Sức cuốn hút là một trong những thứ luôn khiến ta hứng thú và ngưỡng mộ. Nó là sự kết hợp giữa sự tự tin, duyên dáng, cái uy, khả năng ứng biến và ấn tượng bên ngoài. Sự duyên dáng thiên bẩm là thứ không thể xem thường.

Một số vị trí, như kế toán, là những người không có sức cuốn hút, dù họ thường giữ vị trí cao trong các tập đoàn lớn. Giám đốc ngân hàng cũng vậy, dù không thể phủ nhận là họ nắm nhiều quyền lực trong tay.

Sức quyến rũ không chỉ nằm ở quyền lực. Nó còn là tầm ảnh hưởng.

Henry Ford có thể được xem là ví dụ tiêu biểu về người có sức hút trong kinh doanh. Ford xuất thân từ nông thôn, không bao giờ tin tưởng vào ngân hàng, luôn tận dụng mọi cơ hội để tạo dựng dây chuyền sản xuất của riêng mình do không thuê được kỹ sư chuyên nghiệp.

Phải thuê những người nhập cư không biết tiếng Anh, ông đã chia công việc trong dây chuyền thành những thao tác đơn giản lặp đi lặp lại. Chỉ phải thực hiện những động tác đơn điệu, nhưng những người làm thuê vẫn có được mức lương khá.

Sản xuất hàng loạt và dây chuyền sản xuất theo phong cách Ford có tầm ảnh hưởng lớn tới nỗi nó nhanh chóng trở thành phương thức sản xuất không chỉ riêng với ngành ôtô, mà còn trong những ngành công nghiệp khác.

Sức cuốn hút trong kinh doanh thường đi liền với cuộc cách mạng công nghệ mà người có sức hút chính là người đi đầu cuộc cách mạng đó. Ở trường hợp này, Ford là một phần của cuộc cách mạng ôtô vĩ đại đầu thế kỷ 20.

Sức cuốn hút thường xuất hiện trong cách mà truyền thông Mỹ nói về các doanh nhân. Làm giàu nhanh mới chỉ là một nửa. Các doanh nhân còn phải "tuyệt vời", và có lẽ phải nóng tính một chút nữa.

Jack Welch luôn có sức hút trong thời gian giữ chức Chủ tịch và cổ đông lớn nhất General Electric. Nhưng danh tiếng của ông đã lập tức sụt giảm sau khi từ chức. Tương tự với các chính trị gia, sự nghiệp của những người từng được coi là "đầy cuốn hút" thường kết thúc trong thất bại.
steve-jobs-smile-7755-1440822893.jpg
Steve Jobs được đánh giá là doanh nhân có sức thu hút. Ảnh: Reuters

Một trường hợp ngoại lệ là Steve Jobs, CEO quá cố của Apple. Ông được đánh giá cao từ thành tựu cho đến cách hành xử. Jobs thành công rực rỡ trong việc kinh doanh máy tính cá nhân, trong ngành công nghiệp âm nhạc, phim hoạt hình và cả bán lẻ. Nhưng ông lại là người thiếu kiên nhẫn và hay cáu kỉnh. Lắm tài có lẽ ắt phải nhiều tật.

Nhưng người lãnh đạo liệu có cần sức quyến rũ hay không? Trong giới truyền thông, câu trả lời là có. Nó khiến những câu chuyện về họ trở nên thú vị, vì những người cuốn hút sẽ hành xử theo cách khác chúng ta.

Đi kèm theo sức cuốn hút và tầm ảnh hưởng lên người khác là sự tự tin cực đại. Chẳng hạn như một vài tỷ phú tin chắc rằng họ sẽ tìm ra cách để bất tử.

Tuy vậy, sức cuốn hút cũng có mặt trái, bởi nó tạo ra sự hào nhoáng nguy hiểm. Nó khiến người ta không còn thời gian và cũng không cảm thấy cần thiết phải nhìn nhận lại bản thân.

Sự tự tin, đối với diễn viên điện ảnh, là tốt. Nhưng trong giới kinh doanh, sự tự tin khiến các ông chủ không nhận ra rằng quan điểm của họ đôi khi là sai lầm và thiếu thực tế.

Những người có sức hút nhất thời thường đưa ra những ý tưởng mà ban đầu trông có vẻ hay ho, nhưng khi tình hình thay đổi, chúng sẽ không phát huy được tác dụng. Giới kinh doanh cũng chẳng ít lần chứng kiến những câu chuyện như vậy - khi những nhà lãnh đạo chỉ lên đỉnh vinh quang trong khoảnh khắc ngắn ngủi, và sau đó gục ngã, kéo theo cả công ty của mình.
 
Hà Tường - Vnexpress/ Theo BBC

>> 7 câu nói của Steve Jobs có thể thay đổi sự nghiệp của bạn
Share:

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

Cử nhân Harvard hay mới ra tù đều như nhau

Anh khao khát làm việc tại đây đến mức nào? Nếu ứng cử viên trả lời được và Henry Ford cảm thấy thuyết phục thì người đó sẽ được nhận làm việc. Ngoài ra, bắt buộc cung cấp đầy đủ thông tin về tên, tuổi, tình trạng hôn nhân để công ty nắm được đôi chút thông tin ứng cử viên.
Trong cuốn nhật ký My life and work của mình, cha đẻ ngành công nghiệp ô tô Henry Ford đã chia sẽ những cách tuyển dụng nhân viên vào làm cho ông. Khác với hầu hết cách tuyển dụng ngày này, công ty Ford không tuyển một người có hồ sơ tốt hay qua những thành tựu đạt được trước đó, nhưng cũng không từ chối người nào chỉ vì quá khứ của anh ta.

Ông cho rằng mình chưa bao giờ gặp ai hoàn toàn xấu cả. Luôn có điểm tốt ở con người đó nếu anh ta có cơ hội thể hiện mình.

Đó là lý do công ty Ford không quan tâm đến lai lịch hay hồ sơ của ứng cử viên. Ford tuyển dụng nhân viên chứ không tuyển dụng quá khứ của nhân viên. Nếu anh ta bị đi tù, chẳng có lý do gì để khẳng định người đó sẽ ăn cơm tù tiếp cả.

Trái lại, Ford còn cược rằng nếu cho người đó cơ hội, chắc chắn anh ta sẽ nổ lực hết mình để không phải lặp lại quá khứ lần nữa.

Phòng tuyển dụng của Ford không ác cảm với một người chỉ vì những gì người đó đã làm gì trong quá khứ. Ứng cử viên hoàn toàn có thể được chấp nhận một cách bình đẳng dù anh ta từng ở “nhà đá” hay mới tốt nghiệp trường Harvard và thậm chí không có bất kỳ đòi hỏi ứng cử viên phải tốt nghiệp ở trường nào hoặc ngành gì.

Quay trở lại thời điểm khi ông trưởng thành, chính sự đam mê được làm công việc chế tạo máy đã thúc đẩy ông mạo hiểm từ bỏ những cơ hội thăng tiến trước mắt hay con đường học vấn để mở ra một cơ hội cho tầm nhìn của mình.

Do đó, tất cả những gì mà Ford cần ở những người nộp đơn vào công ty là lòng khao khát làm việc. Nghe có vẻ quen thuộc nhưng nếu một người không có tham vọng được làm việc thì chắc chắn ứng cử viên đã không xin vào làm ở vị trí đó.

Vì thế, được nhận hay không được nhận còn tùy thuộc vào sự thể hiện của mỗi ứng cử viên dựa trên một tiêu chí duy nhất: Anh mong muốn làm việc tại đây đến mức nào?

Tuy nhiên lợi thế của một hồ sơ tốt là sẽ giúp giúp ứng cử viên có thể vượt lên trước nhanh hơn người khác nhờ những kỹ năng được trang bị, nhưng người đó cũng phải bắt đầu công việc từ vị trí thấp nhất và chứng tỏ khả năng thực sự của mình. Đó là quy luật và không có ngoại lệ của Ford.

Không tuyển các chuyên gia, Ford thích thuê những người “điên” hơn

Ngoài ra, công ty Ford nổi tiếng vì không có bất kỳ chuyên gia nào làm việc tại đây. Lý do là trong phương pháp tuyển dụng, Ford từ chối các chuyên gia bởi vì họ thường biết cái gì không thể làm được. Ông thích tuyển những cá nhân sáng tạo dám xông vào khó khăn để khắc phục vấn đề với một đầu óc cởi mở.

Người mù, điếc và câm, người bị khuyết tật một tay hay chân đều được Ford tuyển dụng với mức lương như người khỏe mạnh. Ông từng nói rằng, “Tôi nghĩ rằng nếu một công ty công nghiệp được cho là hoàn tất vai trò của mình thì nhân viên ở đó phải tiêu biểu cho một xã hội thu nhỏ. Công ty chúng tôi luôn có những người tàn tật làm việc”.

Ford cũng không thuê bất kỳ một giám đốc hay nhà quản lý nào từ bên ngoài, thay vào đó ông muốn những người mang chức danh này khởi đầu từ vị trí thấp nhất tại công ty. Theo ông, thăng tiến trong công việc chỉ đơn giản là một người nhận thấy mình đang làm một công việc thực sự nào đó thay vì quan tâm mình đang làm gì và kiếm được bao nhiêu tiền.

Do đó, tất cả các chức danh quan trọng của công ty sẽ được khởi nguồn từ một vị trí thấp hơn. Giám đốc của công ty bắt đầu từ một kỹ sư điện máy. Người điều hành nhà máy sản xuất hùng hậu tại River Rouge cũng khởi đầu là một nhà thiết kế mẫu sản phẩm. Một người khác, người đứng đầu bộ phận sản xuất leo xuất phát từ một người quét dọn trong nhà xưởng.

Thành công của công ty Ford hôm nay một phần lớn được đóng góp từ những cá nhân xuất sắc này. Những người tiềm năng và không ngừng hoàn thiện mình để vươn lên trong quá trình làm việc.
Bên cạnh đó, Henry Ford trả lương cho nhân viên cao hơn mặt bằng chung vì ông tin rằng lương cao làm tăng sự ổn định của lực lượng lao động và giúp đỡ con người tập trung làm việc vì gia đình họ được lo lắng đầy đủ.
(Tri Thức Trẻ) 

>> Bí quyết từ công nhân trở thành ông chủ của Henry Ford

Share:

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

20 người giàu nhất lịch sử nước Mỹ

Giá trị tài sản của tỉ phú đã qua đời bao gồm cả các khoản đã di chúc được lấy tại thời điểm họ mất, sau đó các chuyên gia tính toán lại dựa trên quy mô nền kinh tế Mỹ và đồng USD hiện nay, tức đã điều chỉnh theo mức độ lạm phát

1. John D. Rockefeller (1839-1937)

Tài sản: 253 tỉ USD
 
Đứng đầu danh sách người giàu nhất lịch sử Mỹ là ông trùm dầu mỏ tỉ phú Rockefeller. Năm 1880, Công ty Standard Oil của ông kiểm soát đến 90% sản lượng dầu toàn nước Mỹ. Đến nỗi chính phủ Mỹ phải ra lệnh chia nhỏ công ty của ông sau nhiều cáo buộc làm giá và những phi vụ ngầm. Các công ty được “cắt” ra từ Standard Oil như ExxonMobil, Chevron, ConocoPhillíp và BP đều là những tập đoàn lớn nhất trong ngành năng lượng thế giới ngày nay.


2. Cornelius Vanderbilt (1794-1877)

Tài sản: 205 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (2)

Vanderbilt khởi nghiệp từ những chiếc sà lan tại cảng New York rồi dần mở rộng sang tàu hơi nước và kinh doanh đường sắt.


Với bản tính thô lỗ khi luôn miệng chửi thề và hút thuốc lá, Vanderbilt chưa bao giờ thực sự hòa nhập với thế giới thượng lưu tại New York. Tuy nhiên, các con của ông thì khác. Họ xây nhiều dinh thự xa xỉ dọc đường Park Avenue và cực thân thiết với giới thượng lưu. Nhưng đến năm 1973, không ai trong số 120 con cháu của Vanderbilt còn là triệu phú, do lối tiêu xài hoang phí.


3. John Jacob Astor (1763-1848)

Tài sản: 138 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (3)

Astor, là một người Đức, khởi nghiệp từ việc buôn lông thú nhưng cơ nghiệp của ông chủ yếu có từ việc đầu tư địa tại khu Manhattan ở New York với sự nâng đỡ khá nhiều của gia đình nhà vợ giàu có.


Vào thời điểm con trai ông lên nắm quyền điều hành công ty, nhà Astors đã sở hữu hơn 700 khu bất động sản tại khu vực này.

4. Stephen Girard (1750-1831)

Tài sản: 120 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (4)
Girard, người Mỹ gốc Pháp, khởi nghiệp bằng công việc trên những con tàu buôn từ châu Âu đến vùng Caribbean. Ở tuổi 23, Stephen Girard trở thành thuyền trưởng và sau đó sở hữu cả một đội tàu buôn.

Girard định cư tại Philadelphia và dùng số tiền kiếm được từ các tàu buôn để đầu tư vào các ngân hàng và cho chính phủ Mỹ vay tiền trong chiến tranh năm 1812. 

5. Richard Mellon (1858-1933)  

Tài sản: 103 tỉ USD

Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (5)
Richard và em trai Andrew (người giàu thứ 15 trong lịch sử Mỹ) là những ông trùm ngân hàng tại Pittsburgh, Pennsylvania. 2 nhà tài phiệt còn nhúng tay vào nhiều ngành công nghiệp màu mỡ của thế kỷ 19, như thép, dầu mỏ, than và đường sắt.

6. Andrew Carnegie (1835-1919)

Tài sản: 101 tỉ USD
 Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (6) 
Là ông trùm ngành thép, gắn với Tập đoàn thép Carnegie Steel (CSC) nhưng Andrew lại được biết đến nhiều với vai trò nhà từ thiện.

Ông bán cả công ty khổng lồ của mình cho J.P.Morgan US Steel và đem tiền góp cho các tổ chức phi lợi nhuận, từ thiện và gần 3.000 thư viện công. 

7. Stephen Van Rensselaer (1764-1839) 

Tài sản: 101 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (7)
Van Rensselaer là người cuối cùng thuộc tầng lớp quý tộc được cấp đất tại Bắc Mỹ, khi nơi này còn là thuộc địa của Hà Lan. Có thời điểm ông sở hữu hàng triệu mẫu đất ở bang New York, với hơn 100.000 tá điền sinh sống.

Ngoài việc thành lập Viện bách khoa Rensselaer, ông còn hỗ trợ tài chính cho chính phủ trong xây dựng kênh đào Erie. Rensselaer cũng là chỉ huy của 6.000 binh sĩ trong chiến tranh Anh – Mỹ 1812 và từng là nghị sĩ quốc hội Mỹ. 

8. Alexander Turney Stewart (1803-1876)

Tài sản: 100 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (8)
Là một thương nhân ngành dệt may người Iceland, Stewart tới Mỹ và xây dựng công ty bán buôn bán lẻ các mặt hàng khô lớn nhất tại đây. Ông cũng là nhà cung cấp đồng phục chủ yếu cho quân đội miền Nam trong cuộc nội chiến Mỹ.

9. Frederick Weyerhäuser (1834-1914)

Tài sản: 91,2 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (9)
Là ông trùm ngành gỗ và giấy tại Mỹ, ông cùng gia đình từng được cho là kiểm soát cả một vùng gỗ rộng lớn, có diện tích tương được bang Wisconsin ngày nay. Tuy vậy, Weyerhaeuser là một trong những công ty gỗ có trách nhiệm với môi trường nhất tại Mỹ.

10. Jay Gould (1836-1892)

Tài sản: 78,3 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (10)
Gould là một nhà đầu cơ, nhà tài chính và là một ông trùm trong ngành đường sắt. Ông cũng mệnh danh là doanh nhân có đạo đức kém nhất lịch sử Mỹ với những hành vi như chiếm đất, thao túng cổ phiếu, hối lộ. Ông từng giành quyền kiểm soát công ty đường sắt của Vanderbilt bằng cách phát hành cổ phiếu giả rồi hối lộ quan chức New York để thông qua thương vụ.

Vì sự man trá đó, Gould có rất ít bạn bè và bị đại đa phần xã hội New York lúc bấy giờ xa lánh dù là người rất giàu có.


11. Marshall Field (1834 – 1906)

Tài sản 75 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (11)
Marshall Field nổi danh với chuỗi cửa hàng bách hóa hàng đầu mang tên ông tại Chicago. Ông đi đầu khi đưa tín dụng, chính sách trả hàng và cửa hàng ăn uống vào trong các chuỗi bách hóa của mình. Marshall Field sau này bị tập đoàn Macy mua lại đổi tên từ đó.

12. Bill Gates (1955 – nay)

Tài sản: 74 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (12)
Bill là người đồng sáng lập tập đoàn công nghệ Microsoft và là người đàn ông giàu nhất thế giới nhiều năm trở lại đây. Sau khi rời khỏi các vị trí lãnh đạo tại Microsoft vào năm 2008, hầu hết thời gian của ông dành cho Quỹ từ thiện Bill và Melinda Gates Foundation.

13. Henry Ford (1863-1947)

Tài sản: 67,2 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (13)
Tên của ông gắn liền với dòng xe Model-T huyền thoại và ngành công nghiệp sản xuất ô tô của Mỹ và thế giới khi ông là người áp dụng việc lắp ráp ô tô bằng dây chuyền


14. Warren Buffett (1930 – nay)

Tài sản: 63,8 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (14)
Buffett mua lại hãng dệt may Berkshire Hathaway vào năm 1965 và biến nó thành một trong những công ty đầu tư thành công nhất mọi thời đại. Từ những năm 1960 đến năm 1990, cổ phiếu Berkshire tăng trung bình 28%. Buffett nổi tiếng với việc đấu tranh cho việc đánh thuế cao người giàu, kế hoạch quyên phần lớn tài sản cho từ thiện sau khi ông qua đời.


15. Andrew Mellon (1855-1937)

Tài sản: 63,2 tỉ USD 
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (15)
Dù sống lâu hơn anh trai Richard Mellon (người số 5) 5 năm, nhưng giá trị tài sản của ông vẫn bị đánh giá thấp. Trong khi người anh Richard tập trung vào từ thiện ở vùng Pittsburgh thì Andrew quan tâm đến nghệ thuật. Ông đã tặng 126 bức tranh nổi tiếng của mình cho Bảo tàng nghệ thuật quốc gia ở thủ đô Washington, DC


16. Samuel M. Walton (1918-1992)

Tài sản: 56,5 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (16)
Samuel là người sáng lập tập đoàn bán lớn nhất hiện nay Wal-Mart. Tập đoàn này hiện có giá trị trên 130 tỉ USD.


17. Moses Taylor (1806 – 1882)

Tài sản: 54,5 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (17)
Là con trai một phụ tá của John Jacob Astor (số 3), Taylor dùng tiền bạc của gia đình để đầu tư vào một loạt các ngành công nghiệp: đường, cà phê, vận chuyển, đường sắt, thép, than đá và cả các tài sản xấu khác. Điều này giúp Taylor để leo lên chức chủ tịch Ngân hàng Quốc gia New York, tiền thân của Citibank hiện nay.

18. Russell Sage (1816-1906)

Tài sản: 53,6 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (18)
Sage khởi nghiệp với nghề bán hàng tạp hóa. Nhờ tiết kiệm và tài năng, ông sớm có đủ tiền để mở các cửa hàng riêng cho mình. Từ đó, ông mở rộng sang môi giới ngựa, vận tải và tài chính. Ông thường hợp tác với Jay Gould (số 10) để thao túng giá cổ phiếu.

Sau khi ông chết, vợ của Sage đem phần lớn tài sản của ông đi làm từ thiện dù trước đó Sega được biết đến là một người khá keo kiệt.


19. James G. Fair (1831-1894)

Tài sản: 52,9 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (19)
Làm giàu từ các mỏ bạc và vàng ở bang Nevada, nhưng tiền không mang lại hạnh phúc cho ông. James G. Fair ly dị vợ sau những cáo buộc ngoại tình và chứng kiến con trai ông tự tử. Ông qua đời ở tuổi 63 nhưng trước đó nhiều người thấy ông chìm đắm trong rượu và đi lang thang với dáng vẻ tiều tụy ở San Francisco.


20. William Weightman (1813-1904)

Tài sản: 51,8 tỉ USD
Ai là người giàu nhất lịch sử Mỹ? (20)
Weightman thành lập một công ty dược phẩm đã phát triển một dạng tổng hợp của quinine, được sử dụng để điều trị bệnh sốt rét. Công ty này sau đó sáp nhập vào Merck
Share:

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Bí quyết từ công nhân trở thành ông chủ của Henry Ford

“Để thành công trên đời có một cách rất đơn giản là chăm chỉ làm việc.” Thomas Edison.

Bí quyết từ công nhân trở thành ông chủ của Henry Ford

Henry Ford tin rằng người càng thành công khó có thể rời công việc của mình được bởi anh ta sẽ nghĩ đến công việc suốt cả ngày, rồi ban đêm lại mơ về nó. Cũng tốt thôi nếu nhiều người khác chỉ làm công việc của mình trong giờ hành chính, tiếp tục vào mỗi buổi sáng, dừng lại vào buổi tối và chẳng quan tâm đến nó nữa cho đến tận sáng hôm sau. Bởi vì khi đó sự thành công sẽ ít bị cạnh tranh.

Bạn hoàn toàn có thể làm đúng như vậy nếu bạn chỉ muốn có một cuộc sống bình lặng. Nhưng như thế, bạn sẽ chỉ có thể là một nhân viên. Đơn thuần là một nhân viên có trách nhiệm chứ không bao giờ trở thành một ông chủ được.

Trách nhiệm của người đi làm cũng tương tự như một học sinh. Nếu bạn đến trường vào mỗi buổi sáng và ra về vào buổi chiều, thì bạn đã hoàn thành trách nhiệm của một học sinh.

Một học sinh bình thường sẽ quăng sách vở vào một góc ngay khi tan trường và không đoái hoài gì nó cho tận sáng hôm sau. Nhưng để leo lên đẳng cấp mới, một học sinh giỏi vẫn sẽ tiếp tục suy nghĩ về chuyện học hành cho dù đã tan trường.

Vì vậy, nếu muốn là công nhân thì bạn không nên tiếp tục suy nghĩ về công việc của mình khi đã hết giờ làm việc. Nhưng nếu bạn muốn tiến xa hơn và có nhiều dự định thì tiếng chuông báo hết giờ làm việc mới chỉ là báo hiệu đã đến lúc bạn phải nghĩ lại về công việc mình đã làm trong ngày hôm đó để tìm ra cách thức làm việc hiệu quả hơn.

Theo cha đẻ của ngành công nghiệp ô tô Henry Ford, khi một người bận rộn với công việc và có nhiều vấn đề để suy nghĩ sẽ có xu hướng thành công hơn. Một người luôn làm việc, chẳng bao giờ rời công việc của mình ra, người mà luôn có tư tưởng tiến thân cuối cùng sẽ thành công.

Trong vậy lý, một động cơ mười mã lực sẽ không thể có sức kéo bằng động cơ hai mươi mã lực. Tương tự, một người chỉ làm việc giờ hành chính sẽ có quyền hành hạn chế. Nếu bạn làm tốt công việc mình được giao thì đó mới chỉ là hoàn thành trách nhiệm. Do vậy, để vươn lên trở thành ông chủ, bạn cần làm cho mình bận rộn.

Người chăm chỉ có hạnh phúc về vật chất và tinh thần hơn người chỉ hoàn thành trách nhiệm?
Nhà khoa học vĩ đại Pasteur từng nói về “sự thanh thản trong thư viện và phòng thí nghiệm.” Tại sao lại tìm được sự thanh thản trong những nơi đó? Vì người làm việc trong thư viện và phòng thí nghiệm luôn miệt mài nghiên cứu khoa học và không còn tâm trí để lo lắng về vấn đề cá nhân của mình. Họ hiếm khi bị suy sụp tinh thần và trông hạnh phúc hơn bởi không có thời gian để phung phí cho việc lo nghĩ.

Tại sao việc đơn giản giữ cho mình luôn bận rộn lại có thể xua tan nỗi lo lắng và khiến chúng ta vui vẻ hơn? Các nhà tâm lý có thể giải thích điều này dựa trên một quy luật cơ bản nhất của tâm lý học. Một người dù thông minh đến mấy cũng không thể đồng thời nghĩ đến hai điều.

Không thể cùng một lúc vừa hăng hái và nhiệt tình làm mọi việc gì đó mà vừa cảm thấy lo lắng, buồn chán. Trạng thái cảm xúc này sẽ loại bỏ trạng thái cảm xúc kia.

Năm 1774, có người đến thăm một bệnh viện điều dưỡng và đã bị sốc trước hình ảnh những bệnh nhân tâm thần tại đây đang hì hục chăm chỉ quay sợi lanh. Anh ta cứ nghĩ những con người khốn khổ này đang bị bốc lột, cho đến khi được giải thích rằng các bệnh nhân cảm thấy hạnh phúc hơn khi có lao động đôi chút. Làm việc sẽ xoa dịu các dây thần kinh của bệnh nhân.

Thông thường, trí tưởng tượng lúc thảnh thơi sẽ vẽ ra những viển cảnh và khả năng không tưởng nhất, sau đó lại phóng đại hậu quả của chúng lên. Những lúc như thế, đầu óc ta như một động cơ quay tít. Phương thuốc hữu hiệu để ngăn chặn những việc như thế là làm cho tâm trí bận rộn với một công việc tích cực nào đó.

Khi lao mình vào công việc, máu trong cơ thể sẽ lưu thông mạnh mẽ, trí óc sẽ năng động và nguồn sống dồi dào của cơ thể sẽ khiến bạn hạnh phúc hơn. Và bất cứ khi nào bạn có thể hoạt động nhiều hơn thì những gì bạn xứng đáng nhận được cũng nhiều hơn. Đó sẽ là vật chất hoặc tinh thần và cũng có thể là cả hai.
(Theo Tri Thức Trẻ) 
>> Từ nữ công nhân thành tỷ phú giàu hơn cả Roman Abramovich, Eric Schmidt


Share:

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

5 việc cần làm mỗi ngày của các nhà lãnh đạo

Đây là những điều các nhà lãnh đạo thực thụ nên làm, lấy cảm hứng từ thuật lãnh đạo của Henry Ford, dựa theo những phát ngôn vĩ đại của ông.

Khi mùa Hè đến, mọi người thường hướng đến các kỳ nghỉ và nhịp độ làm việc dường như bắt đầu chậm lại, nhưng điều này không dành cho doanh nhân, những người biết rằng khi nhiệt độ bên ngoài nóng lên, thì bên trong cũng vậy.

Mùa Hè thời điểm tuyệt vời để mở rộng mạnh mẽ và phát triển không chỉ kỹ năng kinh doanh mà cả kỹ năng quản lý của bạn. Thực tế, mùa Hè năm 1899 nhà công nghiệp nổi tiếng Henry Ford đã từ bỏ vị trí kỹ sư trưởng tại Edison Illuminating Company để tập trung vào việc sản xuất ôtô.

Ông Ford biết rằng ông cần phải từ bỏ vị trí an toàn để sống cuộc đời của một doanh nhân theo cách của riêng mình. Chúng ta đều biết Ford là một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất ở Mỹ, nhưng nếu bạn đã từng nghiên cứu kỹ năng quản lý của ông, bạn sẽ thấy nhiều điều đáng ngạc nhiên.

Sự lãnh đạo, giống như làm chủ doanh nghiệp, thường là vị trí luôn được mong muốn, nhưng phần lớn mọi người hiếm khi đạt được và trình diễn khả năng lãnh đạo thực thụ. Với vai trò ông chủ, người giám sát và doanh nhân, tư cách người sáng lập không có nghĩa là bạn là nhà lãnh đạo giỏi.

Bạn có thể khởi nghiệp nhưng điều đó không có nghĩa bạn có thể dẫn dắt mọi diễn biến và xu hướng hoặc thậm chí nhân viên của bạn. Người lãnh đạo cần duy trì sự cân bằng giữa quyền lực và lòng trắc ẩn, kỷ luật và sự mềm dẻo, thưởng và phạt. Đây có lẽ là vài trò nặng nề nhất mà doanh nhân phải gánh vác khi bắt đầu thuê lao động và đưa doanh nghiệp lên tầm cao mới.

Hãy phát triển và nuôi dưỡng những đặc tính của các nhà lãnh đạo vĩ đại bằng cách thực hiện những hành động nhỏ mỗi ngày. Dưới đây là 5 điều mà các nhà lãnh đạo thực thụ nên làm, lấy cảm hứng từ sự lãnh đạo củ Henry Ford dựa vào những phát ngôn vĩ đại của ông.

1. Lắng nghe

“Nếu có bất kỳ bí mật nào liên quan đến thành công, thì nó nằm ở khả năng nắm bắt được quan điểm của người khác và nhìn nhận vấn đề từ góc độ của người khác và từ chính bạn”.

Cương vị lãnh đạo đòi hỏi lắng nghe nhiều hơn hơn nói. Khi bạn dừng lại để thực sự lắng nghe câu chuyện của người khác, để nắm bắt quan điểm của họ và tự cho phép bạn thoát khỏi định kiến của mình, bạn đang cho thấy phẩm chất thực thụ của người lãnh đạo.

Hãy lắng nghe nhiều hơn nói và hãy học cách lắng nghe những người khác. Điều này không có nghĩa quan điểm của người khác phải luôn đúng, nhưng lắng nghe sẽ giúp bạn hiểu rõ vấn đề. Những nhà lãnh đạo vĩ đại sẽ lắng người khác nói chứ không chỉ dựa vào những gì họ nghe được.

2. Đánh giá

“Một doanh nghiệp không làm được gì ngoài tiền bạc là một doanh nghiệp nghèo”.

Mỗi ngày, các nhà lãnh đạo thực thụ phải đánh giá hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp của họ, hoạt động hàng ngày và đội ngũ nhân viên, sản phẩm và thời gian. Tiền bạc là yếu tố quyết định và cần thiết đối với doanh nghiệp. Bạn cần tiền để vận hành doanh nghiệp, sống sót và phát triển. Đây là điều tuyệt vời. Tuy nhiên, sử dụng tiền bạc chỉ vì lợi ích của tiền mà thôi sẽ không đưa đến những quyết định có lợi cho nhân viên, cộng đồng của bạn hay mang tính nhân văn.

Những nhà lãnh đạo thực sự luôn đánh giá xem lĩnh vực kinh doanh nào có hiệu quả và lĩnh vực nào không, đồng thời cân nhắc quyết định tiền bạc theo nhiều tiêu chí khác. Những quyết định tiền bạc không phải lúc nào cũng đo lường được. Đôi khi chúng cần phải cân bằng với các giá trị như tính toàn vẹn, tầm nhìn và mục đích. Một nhà lãnh đạo thực thụ sẽ đánh giá điểm mấu chốt với định hướng đạo đức, sau đó, đưa ra những điều chỉnh hợp lý.

3+4. Cải thiện và hành động

“Bạn không thể tạo dựng danh tiếng dựa trên cái bạn sẽ làm”.

Sau khi đánh giá, các nhà lãnh đạo sẽ nhắm vào điều họ có thể cải thiện. Khi họ xác định được cách thức tốt hơn để tiến hành công việc, họ hành động. Đây là chu kỳ liên tục: đánh giá, cải thiện, hành động.

Các nhà lãnh đạo thực thụ không chỉ áp dụng chu kỳ này vào hoạt động kinh doanh, họ còn áp dụng cho chính mình. Làm thế nào để bạn có thể trở thành người giao tiếp rõ ràng và dễ hiểu hơn? Làm sao để trở thành nhà lãnh đạo tốt hơn? Bạn có thể cải thiện kỹ năng ở phần nào?
Lãnh đạo là một quá trình liên tục diễn ra và tiến triển dần dần đối với chính bạn và doanh nghiệp của bạn.

5. Kỳ vọng

“Chất lượng nghĩa là luôn làm điều đúng đắn kể cả khi không có ai giám sát”.

Nhà lãnh đạo thực thụ luôn có kỳ vọng lớn đối với người khác, nhưng họ cũng luôn kỳ vọng cao vào chính mình. Người lãnh đạo luôn kỳ vọng vào chính họ nhiều hơn những thành viên khác trong nhóm. Họ lãnh đạo bằng cách lấy mình làm tấm gương chứ không phải dựa vào “quyền lực và đe dọa”. Họ luôn tạo cảm hứng làm việc cho nhóm của mình.

Kỳ vọng nhiều hơn vào chính mình để tạo dựng và duy trì doanh nghiệp của bạn và nhóm làm việc của bạn. Nhà lãnh đạo thực thụ sẽ tiến hành những thay đổi cần thiết và làm điều đúng đắn vì lợi ích chung.
>> Vui vẻ: Điểm mấu chốt để lãnh đạo thành công
Share:

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Hé lộ thói quen ăn uống 'khác người' của Mark Zuckerberg, Steve Jobs,...

Có một điều khá thú vị là khi nhìn vào thói quen của các nhà lãnh đạo trong quá khứ là một cách tuyệt vời để hiểu sâu hơn về phẩm chất của họ. 


Share:

Thứ Tư, 17 tháng 9, 2014

Những người trở thành tỷ phú khi đã qua tuổi tứ tuần

Không bao giờ là quá muộn để tạo dựng sự nghiệp và thành công. 

Khi 20 tuổi, bạn có xu hướng nghĩ rằng mình cần phải làm được điều gì đó khi 30. Tuy nhiên, đôi lúc bạn sẽ bị hoảng loạn khi trải qua tuổi 30 mà chưa làm được điều gì lớn lao trong sự nghiệp.

Nhưng, không có gì là quá muộn, đã có rất nhiều tấm gương thành công và trở thành tỷ phú khi họ bước vào độ tuổi trên 40 thậm chí là 96. 

Dưới đây là những tấm gương như thế:

Stan Lee tạo ra tiêu đề cuốn truyện thành công nhất là "The Fantastic Four" (Bộ tứ siêu phàm) vào ngày sinh nhật thứ 39. Một vài năm sau đó, ông tiếp tục tạo ra Marvel Universe huyền thoại với những nhân vật được yêu thích trên toàn thế giới như Người nhện, X-Men.

Stan Lee created his first hit comic title, "The Fantastic Four," just shy of his 39th birthday. In the next few years, he created the legendary Marvel Universe, whose characters like Spider-Man and the X-Men became American cultural icons.

Gary Heavin 40 tuổi khi ông mở trung tâm thể dục Curves đầu tiên. Curves được biết đến là một trong những thương hiệu nhượng quyền nhanh nhất trong những năm 90.

Gary Heavin was 40 when he opened the first Curves fitness center in 1992, which ended up becoming one of the fastest-growing franchises of the '90s.

Vera Wang là một nhà báo, vận động viên trượt băng trước khi gia nhập vào ngành công nghiệp thời trang ở tuổi 40. Ngày nay, bà được biết đến như một trong những nhà thiết kế thời trang nữ hàng đầu thế giới. 

Vera Wang was a figure skater and journalist before entering the fashion industry at age 40. Today she's one of the world's premier women's designers.

Samuel Jackson khởi nghiệp tại Hollywood nhiều năm trước khi dành được giải thưởng quan trọng với bộ phim Jungle Fever vào năm 1991. Khi đó, ông 43 tuổi. 

Samuel Jackson has been a Hollywood staple for years now, but he'd had only bit parts before landing an award-winning role at age 43 in Spike Lee's film "Jungle Fever" in 1991.

Henry Ford 45 tuổi khi ông tạo ra mẫu xe được coi là cách mạng trong ngành công nghiệp xe hơi là Model T. 

Henry Ford was 45 when he created the revolutionary Model T car.

Jack Weil 45 tuổi khi ông khi ông thành lập nên thương hiệu mũ cao bồi nổi tiếng Rockmount Ranch Wear. Ông vẫn tiếp tục nắm giữ vị trí CEO công ty này cho đến khi mất vào năm 2008 ở tuổi 107. 

Jack Weil was 45 when he founded what became the most popular cowboy-wear brand, Rockmount Ranch Wear. He remained its CEO until he died at the ripe old age of 107 in 2008.

Rodney Dangerfield được biết đến là một diễn viên hài huyền thoại. Tuy nhiên, sự nghiệp của ông thật sự thăng hoa tại đêm diễn "The Ed Sullivan Show", lúc đó ông 46 tuổi. 

Rodney Dangerfield is remembered as a legendary comedian, but he didn't catch a break until he made a hit appearance on "The Ed Sullivan Show" at age 46.

Momofuku Ando khẳng định vị trí tên tuổi trong lịch sử đồ ăn nhẹ bằng việc sáng tạo ra loại mỳ ăn liền ở tuổi 48 vào năm 1958. 

Momofuku Ando cemented his spot in junk food history when he invented instant ramen at age 48 in 1958.

Charles Darwin được biết đến là một nhà tự nhiên học. Tuy nhiên, ở tuổi 50, công bố của ông về "nguồn gốc các loài" vào năm 1859 đã khiến thay đổi cách nhìn của toàn bộ giới khoa học.

Charles Darwin spent most of his life as a naturalist who kept to himself, but at age 50 his "On the Origin of Species" changed the scientific community forever in 1859.

Julia Child làm việc trong lĩnh vực quảng cáo và truyền thông trước khi viết nên cuốn sách nấu ăn đầu tiên khi bà bước vào tuổi 50. Sau đó, sự nghiệp của bà đã thay đổi và trở thành một trong những đầu bếp nổi tiếng. 

Julia Child worked in advertising and media before writing her first cookbook when she was 50, launching her career as a celebrity chef.

Jack Cover từng làm việc như một nhà nghiên cứu khoa học tại NASA và IBM trước khi trở thành doanh nhân ở tuổi 50. Hiện bà đang quản lý công ty sản xuất súng khí điện Taser (một loại thiết bị làm bất động tạm thời kẻ chống đối). 

Jack Cover worked as a scientist for institutions like NASA and IBM before he became a successful entrepreneur at 50 for inventing the Taser gun.

Ray Kroc là một nhân viên kinh doanh thiết bị quấy sữa trước khi mua lại McDonald vào năm 1954 ở tuổi 52. Hiện tại McDonald's đang là một trong những chuỗi đồ ăn nhanh phát triển mạnh nhất thế giới.

Ray Kroc spent his career as a milkshake device salesman before buying McDonald's at age 52 in 1954. He grew it into the world's biggest fast-food franchise.

Taikichiro Mori là một viện sỹ trước khi trở thành nhà đầu tư bất động sản thành công ở tuổi 51. Công việc kinh doanh thành công của Mori Building Company đã giúp ông trở thành người đàn ông giàu nhất thế giới vào năm 1992 với tổng giá trị tài sản lên tới 13 tỷ USD. 

Taikichiro Mori was an academic who became a real estate investor at age 51 when he founded Mori Building Company. His brilliant investments made him the richest man in the world in 1992, when he had a net worth of $13 billion.

Wally Blume có một thời gian dài kinh doanh sữa trước khi thành lập thương hiệu kem riêng của mình là Denali Flavors lúc vào năm 1995, lúc đó ông đã 57 tuổi. Tính tại thời điểm năm 2009, giá trị của công ty này là 80 triệu USD. 

Wally Blume had a long career in the dairy business before starting his own ice cream company, Denali Flavors, at age 57 in 1995. The company reported revenue of $80 million in 2009.

Laura Ingalls Wilder đã dành những năm cuối đời để viết cuốn bán tự truyện với sự trợ giúp biên tập của con gái. Bà công bố cuốn sách đầu tiên là "Little House" vào năm 1932 khi đã 65 tuổi. Sau đó, bộ truyện là nền tảng tạo nên chương trình ti vi ăn khách "Little House on the Prairie" (Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên).

Laura Ingalls Wilder spent her later years writing semi-autobiographical stories using her educated daughter Rose as an editor. She published the first in the "Little House" books at age 65 in 1932. They soon became children's literary classics, and the basis for TV show "Little House on the Prairie."

Harland Sanders, thường được biết đến với cái tên Colonel Sanders chính thức nhượng quyền kinh doanh thương hiệu Kentucky Fried Chicken vào năm 1952 khi ông 62 tuổi. 12 năm sau đó, ông đã bán cổ phần của mình tại đây với giá 2 triệu USD cho một nhóm nhà đầu tư. 

Harland Sanders, better known as Colonel Sanders, was 62 when he franchised Kentucky Fried Chicken in 1952, which he would sell for $2 million 12 years later.

Anna Mary Robertson Moses, được biết đến với cái tên Grandma Moses bắt đầu sự nghiêp vẽ tranh của mình khi đã 78 tuổi. Năm 2006, một trong những tác phẩm của bà được bán với giá 1,2 triệu USD. 

Anna Mary Robertson Moses, better known as Grandma Moses, began her prolific painting career at 78. In 2006, one of her paintings sold for $1.2 million.

Harry Bernstein chỉ đạt được thành công đỉnh cao trong sự nghiệp viết văn của mình vào năm 2007 khi ông 96 tuổi với cuốn hồi ký "The Invisible Wall: A love Story That Broke Barriers". 

Harry Bernstein spent a long life writing in obscurity, achieving notoriety at long last at age 96 for his 2007 memoir "The Invisible Wall: A Love Story That Broke Barriers."
Theo Infonet/BusinessInsider
Share:

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

Bước ngoặt quan trọng trong đời của 7 doanh nhân nổi tiếng

Dưới đây là những bước ngoặt trọng đại nhất trong sự nghiệp lừng lẫy của các doanh nhân nổi tiếng như Steve Jobs, Richard Branson… 

 

Richard Branson phát hiện và lăng xê một ca sĩ tài năng

Năm 16 tuổi, Richard Branson thành lập một tạp chí có tên Student. Nhưng bước ngoặt trong sự nghiệp của ông xảy ra 6 năm sau đó, khi ông mở một phòng thu và lăng xê ca sĩ Mike Oldfield. Oldfield cho ra mắt đĩa đơn “Tubular Bells” thành công rực rỡ, đứng đầu các bảng xếp hạng tại Anh trong 247 tuần. “Sau thành công đó, chúng tôi thành lập công ty thu âm. Và mọi thứ bắt đầu từ đó”, Richard chia sẻ.

Henry Ford gây ấn tượng với thị trưởng thành phố Detroit, bang Michigan, Mỹ

Năm 1898, sau khi chế tạo một bộ chế hòa khí, Henry Ford đã gây được ấn tượng với thị trưởng phố Detroit William C. Maybury và được Maybury cấp bằng sáng chế. Maybury đã giúp Ford rất nhiều trong quá trình phát triển công ty sản xuất xe hơi. “Sự giúp đỡ từ Maybury, cộng những ý tưởng tuyệt vời và uy tín của Ford, đã thu hút một nhóm các nhà đầu tư với 150.000 USD để thành lập công ty Detroit Automobile vào đầu tháng 8/1899”, trang History.com cho biết. Sau sự kiện này, Ford bỏ việc tại công ty Edison Illuminating và thành lập công ty sản xuất xe hơi hàng loạt đầu tiên trên thế giới.

Bill Gates ký một hợp đồng với IBM


Năm 1980, Bill Gates bỏ học trường Harvard và thành lập công ty nhỏ mang tên Microsoft bước những bước chân chập chững vào ngành công nghiệp máy tính còn rất non trẻ. Bước ngoặt lớn của Gates và Microsoft liên quan tới IBM. Khi đó, IBM (Big Blue) muốn tung ra dòng máy tính cá nhân giá rẻ để chiếm lĩnh thị trường nhanh chóng. Công ty này ký hợp đồng cung cấp hệ điều hành Windows của Microsoft.
 Steve Jobs nảy ra ý tưởng thành lập Apple từ một chủ cửa hàng máy tính

Mùa thu năm 1975, một tín đồ công nghệ tên Steve Jobs nhận thấy rằng bạn bè tại Carlifornia của mình đều phát cuồng với những chiếc máy tính tại nhà. Ông hỏi bạn mình Steve Wozniak rằng liệu Wozniak có muốn tạo ra một bảng mạch cho máy tính 25 USD và bán ra với giá 50 USD. Sau đó, Jobs tới một cửa hàng điện tử và đây chính là dấu mốc trong sự nghiệp của ông.
Tờ Cal Newport đăng tải thông tin về sự kiện này như sau: Jobs đi chân trần tới cửa hàng Byte Shop, cửa hàng máy tính của Paul Terrell và đề nghị Terrel mua bảng mạch của mình. 

Khi đó, Terrell không muốn mua bảng mạch nhưng nói rằng ông sẽ mua nếu đó là những chiếc máy tính được lắp ráp hoàn chỉnh. Ông sẽ trả 500 USD mỗi chiếc và muốn có ngay 50 chiếc. Jobs lập tức chớp lấy cơ hội này để kiếm nhiều tiền hơn. Ông bắt đầu tìm nguồn vốn để thành lập công ty. Và hãng công nghệ khổng lồ Apple ra đời từ đây.

Larry Page học cách kiếm tiền qua công cụ tìm kiếm

Trước năm 2002, Google hầu như không có nguồn doanh thu nào. Sau đó, Larry Page và Sergey Brin lên trang Goto.com của doanh nhân Bill Gross và học cách kiếm tiền của công cụ tìm kiếm này. Khi đó, Gross có thứ mà Page và Brin không có: Đó là dòng tiền mặt.
Theo trang Slate, Page và Brin đã tìm ra cách kiếm tiền từ những tìm kiếm trên công cụ của mình, giống như cách các công ty trả tiền để quảng cáo trong Trang vàng danh bạ, hay các website trả tiền để được lên đầu tiên trong những tìm kiếm liên quan trên GoTo.com. Hai nhà sáng lập Google đã tạo ra phiên bản của riêng mình mang tên AdWords Select và bắt đầu có doanh thu từ quảng cáo.

Howard Schultz học về cà phê

Starbucks từng là nhà cung cấp hạt cà phê có trụ sở tại Seattle cho đến khi nhà sáng lập Howard Schultz tham dự một hội thảo về ngành cà phê tại Milan vào năm 1983. Khi đó, đi tới bất cứ đâu Howard đều la vào các quán bán đồ uống này. “Chỉ riêng tại thành phố Milan có tới 1.500 cửa hàng, nằm tại mọi góc phố và tất cả cà phê đều được đóng hộp”. Và Schultz nhận ra rằng tính cộng đồng của việc thưởng thức món đồ uống trên. Đây là khởi nguồn của chuỗi cửa hàng lớn nhất thế giới Starbucks.

Vợ Sam Walton khăng khăng muốn sống tại một thị trấn nhỏ

Năm 1949, Sam Walton muốn rời Newport, bang Arkansas, Mỹ tới tại St. Louis. Nhưng vợ ông không muốn vậy. Bà khăng khăng muốn sống tại thị trấn nhỏ với dân số dưới 10.000 dân này. Và chính điều đó giúp ích cho sự khởi đầu của Walmart, bởi cộng đồng người dân tại thị trấn nhỏ Newport chưa được các hãng bán lẻ khác khai thác. Đây là bàn đạp cho sự phát triển và lớn mạnh của Walmart sau này.
 Theo Zing.vn
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?