Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 12, 2017

Từ ngày 01/01/2018, tội thao túng giá chứng khoán thu lợi hơn 500 triệu đồng sẽ bị xử lý hình sự, thị trường sẽ bớt đi các “Cổ phiếu điên”?

So với luật hiện hành, yếu tố xác định tội phạm trong BLHS 2015 mở rộng hơn, nếu không xác định được mức thiệt hại cho nhà đầu tư thì có thể căn cứ vào mức thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự. 

Chiều ngày 27/02/2017, thị trường chứng khoán được một phen xôn xao khi Ủy ban chứng khoán Nhà nước công bố vụ xử phạt hành chính có thể nói là lớn nhất từ trước đến nay. Bà Đỗ Thị Cẩm Thúy – Cựu Chủ tịch HĐQT của CTCP Khoáng sản Đá Spilit (SPI) đã sử dụng nhiều tài khoản chứng khoán để mua bán, tạo cung cầu giả tạo, thao túng cổ phiếu SPI trong khoảng thời gian từ ngày 01/9/2015 đến ngày 13/5/2016.

Thời gian đó, SPI được gọi là “Cổ phiếu điên” với quá trình tăng rất sốc dù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khoáng sản không quá nổi bật.


Chưa đủ căn cứ để khởi tố bà Thúy theo Điều 181c Bộ Luật Hình sự 1999 (tội thao túng chứng khoán), UBCKNN đã xử phạt hành chính 600 triệu đồng và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm là gần 9,3 tỷ đồng.

Sự việc nói trên khiến cho những người thờ ơ nhất cũng phải quan tâm đến việc: Từ ngày 01/01/2018, hành vi thao túng giá cổ phiếu thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên sẽ bị xử lý hình sự.

Tại sao TTCK Việt Nam mới chỉ có 2 vụ khởi tố vì hành vi thao túng giá chứng khoán?

Vụ việc bà Nguyễn Vân Giang (nguyên là Giám đốc Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội) bị khởi tố hình sự với tội danh “Thao túng giá chứng khoán” theo quy định tại Điều 181c, Bộ luật Hình sự (BLHS) sửa đổi, bổ sung năm 2009 – là vụ án khởi tố hình sự thứ 2 trên TTCK trong gần 10 năm qua, sau vụ việc tại CTCP Dược Viễn Đông.

Hành vi thao túng giá chứng khoán thực tế không lạ đối với giới đầu tư, tuy nhiên ít trường hợp bị khởi tố bởi theo quy định pháp luật đang có hiệu lực là Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì căn cứ xác định tội phạm là “gây hậu quả nghiêm trọng”. Theo đó, đối tượng bị khởi tố hình sự khi (1) xác định có hành vi thao túng, (2) xác định có thu lợi bất chính, (3) xác định đối tượng bị thiệt hại.

Trong khi yếu tố (1) và (2) có thể xác định thì việc xác định đối tượng bị thiệt hại nghe tưởng dễ lại thành khó khi thông thường ít có nhà đầu tư đứng ra tố cáo, hoặc có thể các bên đã sử dụng giải pháp đàm phán, bù đắp thiệt hại “đằng sau” với nhau để tránh bị khởi tố.

Từ ngày 01/01/2018, mọi chuyện sẽ khác?

Trước thực tiễn nói trên, Bộ luật hình sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) được bổ sung thêm các tội: Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (Điều 209); Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 210); Tội thao túng thị trường chứng khoán (Điều 211); Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán (Điều 212).

Một nội dung quan trọng là quy định đối với tội danh “Thao túng thị trường chứng khoán” đã được bổ sung thêm căn cứ xác định tội phạm là “thu lợi bất chính”: Trường hợp có khoản thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên sẽ bị xử lý hình sự.

Điều đó có nghĩa là so với luật hiện hành, yếu tố xác định tội phạm mở rộng hơn, nếu không xác định được mức thiệt hại cho nhà đầu tư thì có thể căn cứ vào mức thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng - 1,5 tỷ đồng sẽ bị phạt tiền từ 500 triệu đồng - 2 tỷ đồng, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Khung hình phạt cao nhất đối với tội danh này là 7 năm tù giam.

Trước thời điểm Bộ luật hình sự năm 2015 đi vào hiệu lực, thị trường đã ghi nhận hàng loạt vụ phạt hành chính của UBCKNN đối với hành vi thao túng giá chứng khoán với những mức phạt lớn hơn nhiều so với những năm trước đây. Động thái này được đánh giá là động thái giúp nâng cao tính minh bạch của thị trường chứng khoán và từ năm 2018, với quy định mới, thị trường cũng kỳ vọng sẽ không còn các “cổ phiếu điên” tăng trần hàng chục phiên liên tục rồi lao dốc không phanh dù hoạt động kinh doanh không có gì đặc biệt.


Tội thao túng thị trường chứng khoán được quy định, hướng dẫn tại Điều 211 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015, cụ thể như sau:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng với nhau liên tục mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo;

b) Thông đồng với người khác đặt lệnh mua và bán cùng loại chứng khoán trong cùng ngày giao dịch hoặc thông đồng với nhau giao dịch mua bán chứng khoán mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành viên trong nhóm nhằm tạo giá chứng khoán, cung cầu giả tạo;

c) Liên tục mua hoặc bán chứng khoán với khối lượng chi phối vào thời điểm mở cửa hoặc đóng cửa thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng cửa hoặc giá mở cửa mới cho loại chứng khoán đó trên thị trường;

d) Giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tục đặt lệnh mua, bán chứng khoán gây ảnh hưởng lớn đến cung cầu và giá chứng khoán, thao túng giá chứng khoán;

đ) Đưa ra ý kiến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phương tiện thông tin đại chúng về một loại chứng khoán, về tổ chức phát hành chứng khoán nhằm tạo ảnh hưởng đến giá của loại chứng khoán đó sau khi đã thực hiện giao dịch và nắm giữ vị thế đối với loại chứng khoán đó;

e) Sử dụng các phương thức hoặc thực hiện các hành vi giao dịch khác để tạo cung cầu giả tạo, thao túng giá chứng khoán.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Thu lợi bất chính 1.500.000.000 đồng trở lên;

c) Gây thiệt hại cho nhà đầu tư 3.000.000.000 đồng trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật hình sự 2015, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.



Theo Trí thức trẻ
Share:

Thứ Năm, 12 tháng 10, 2017

Nhà đầu tư Việt đã hiểu đúng về cổ tức?



Ben Graham và Phil Fisher là hai trong số những người có ảnh hưởng lớn đến triết lý đầu tư của Warren Buffett. Tuy nhiên, hai nhà đầu tư này lại có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó bao gồm vấn đề cổ tức.


 
Benjamin Graham (1894-1976). Ảnh: Wikipedia

Không phải nhà đầu tư Việt nào cũng có cái nhìn đúng về cổ tức – một khái niệm quan trọng trong đầu tư cổ phiếu niêm yết. Bài viết này nhằm giúp nhà đầu tư Việt thấy được quyền lợi của mình và đánh giá đúng khái niệm này khi ra quyết định đầu tư.

Tại sao cổ tức lại quan trọng với nhà đầu tư?

Đa phần các nhà đầu tư cá nhân không phải là cổ đông chiến lược của công ty mà mình đầu tư vào, và do đó không có được nhiều tiếng nói có trọng lượng trong chiến lược kinh doanh và phát triển của công ty. Vì vậy, việc được nhận cổ tức không chỉ mang lại ý nghĩa về mặt lợi nhuận tài chính đơn thuần, mà còn là một sự cam kết của công ty đại chúng đối với quyền lợi của các cổ đông nhỏ, vốn cũng là những chủ sở hữu của công ty.

Cổ tức bằng tiền mặt hay bằng cổ phiếu tốt hơn?

“Mục đích căn bản của một doanh nghiệp là trả cổ tức cho chủ sở hữu của nó”.
Benjamin Graham và David L. Dodd, Security Analysis (1934).


Về nguyên tắc, cổ tức bằng tiền mặt mang lại lợi ích trước mắt cho cổ đông về mặt lợi nhuận tài chính, trong khi cổ tức bằng cổ phiếu mang lại lợi ích về thanh khoản nhưng thường mất thời gian để hoàn thành. Đa số các nhà đầu tư có kinh nghiệm thường muốn nhận cổ tức bằng tiền mặt (sau thuế). Mặc dù vậy, cổ tức tiền mặt làm giảm vốn hóa công ty (do một phần lợi ích kinh tế đã được chuyển giao cho cổ đông) trong khi cổ tức bằng cổ phiếu không thay đổi vốn hóa công ty.

Có phải cổ tức càng cao thì càng tốt?

Cổ tức cao hay không, không quan trọng bằng một chính sách cổ tức nhất quán. Do cổ tức thường có liên hệ mật thiết với lợi nhuận công ty, nên một chính sách cổ tức nhất quán thường đi kèm với một tỷ lệ trả cổ tức (payout ratio) nhất định, được tính toán bằng lượng cổ tức phải trả chia cho lợi nhuận sau thuế của công ty.

Vinamilk là một trong số ít các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam tuân thủ thông lệ quốc tế và công khai tỷ lệ trả cổ tức bằng tiền mặt ở mức tối thiểu 50% lợi nhuận sau thuế, thông qua các Nghị quyết Đại hội cổ đông thường niên. Mặt khác, cũng có những doanh nghiệp sử dụng chính sách cổ tức cố định, ví dụ như StarHub (một trong ba nhà mạng lớn ở Singapore), với mục đích giúp nhà đầu tư dễ dàng yên tâm với số tiền nhận được hằng năm, kèm theo tiềm năng tăng giá của cổ phiếu.

Việc doanh nghiệp trả cổ tức cao bất thường ở một thời điểm nhất định không phải lúc nào cũng nhận được sự ủng hộ của thị trường, do (1) nhà đầu tư không chắc chắn về sự phát triển bền vững trong tương lai của công ty và (2) giá cổ phiếu sẽ bị điều chỉnh giảm ngay sau khi cổ tức bằng tiền mặt được trả.
Phil. A. Fisher (1907-2004). Ảnh: Wikipedia

Ngược lại, có nhiều doanh nghiệp đang ở trong giai đoạn tăng trưởng cao và mong muốn giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư, mở rộng kinh doanh sản xuất. Những doanh nghiệp này có thể ít hoặc không trả cổ tức tiền mặt trong nhiều năm.

Ví dụ, trước khi Microsoft bắt đầu trả cổ tức tiền mặt lần đầu tiên vào năm 2003, giá cổ phiếu đã tăng bình quân khoảng 30%/năm kể từ khi doanh nghiệp này niêm yết vào năm 1986.

Tỷ lệ cổ tức (theo mệnh giá) ở Việt Nam nên được hiểu thế nào?

Theo thông lệ thị trường Việt Nam, cổ tức thường được hiển thị dưới dạng phần trăm mệnh giá. Mệnh giá hiện được cố định ở mức 10.000 đồng/cổ phiếu và nhằm giúp nhà đầu tư dễ dàng tính toán số lượng cổ tức thực nhận được hằng năm. Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm này không có nhiều ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ hấp dẫn của cổ tức.

“Điều quan trọng là chính sách cổ tức không nên được đề cao tới mức làm hạn chế khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp”.
Philip A. Fisher, Common Stocks and Uncommon Profits (1958).
Các công ty đại chúng ở Việt Nam không phải lúc nào cũng điều chỉnh vốn điều lệ kịp thời để phản ánh tình hình kinh doanh và tăng trưởng vốn chủ sở hữu. Do vậy, có rất nhiều trường hợp giá cổ phiếu đã tăng cao, phù hợp với kết quả kinh doanh, nhưng vốn điều lệ chưa kịp tăng tương ứng, dẫn đến tỷ lệ phần trăm cổ tức trên mệnh giá là một con số có giá trị bề ngoài cao nhưng lại khá thấp khi so với thị giá cổ phiếu mà nhà đầu tư cần bỏ tiền ra mua.
Theo thông lệ quốc tế, nhà đầu tư thường sử dụng tỷ suất cổ tức (dividend yield), được tính bằng lượng cổ tức được nhận cho mỗi cổ phiếu chia cho thị giá cổ phiếu để tính toán mức độ hấp dẫn của cổ phiếu này.

Nhà đầu tư cần làm gì?

- Khi doanh nghiệp công bố tỷ lệ chi trả cổ tức được hiển thị dưới dạng phần trăm mệnh giá, nhà đầu tư cần quy đổi ra giá trị tuyệt đối (ví dụ tỷ lệ 50% được hiểu là 5.000 đồng/cổ phiếu) rồi tính tỷ suất cổ tức dựa trên thị giá hiện tại.

- Khi doanh nghiệp công bố kế hoạch chi trả (hoặc không chi trả) cổ tức, nhà đầu tư nên tìm hiểu kế hoạch này có phù hợp với tình hình kinh doanh và triển vọng của doanh nghiệp hay không.
- Nhà đầu tư có thể tham khảo các cuốn sách của Benjamin Graham (đầu tư giá trị) và Philip Fisher (đầu tư tăng trưởng), vốn có những góc nhìn rất khác nhau về cổ tức, để hiểu vì sao triết lý đầu tư của Warren Buffett lại bị ảnh hưởng bởi cả hai nhà đầu tư huyền thoại này.
Source: http://www.thesaigontimes.vn/165403/Nha-dau-tu-Viet-da-hieu-dung-ve-co-tuc.html
Share:

Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2017

Ngăn ngừa xung đột lợi ích đối với công ty đại chúng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 71/2017/NĐ-CP hướng dẫn quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng; trong đó có đưa ra các quy định nhằm ngăn ngừa xung đột lợi ích.

 Đại hội cổ đông của một công ty đại chúng

Theo đó, liên quan đến trách nhiệm trung thực và tránh các xung đột về quyền lợi của ngưòi quản lý doanh nghiệp, Nghị định quy định, thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc (Tổng giám đốc) và người quản lý khác phải công khai các lợi ích liên quan theo quy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật liên quan.

Thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc (Tổng giám đốc), người quản lý khác và những người có liên quan của các thành viên này không được sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ của mình để tư lợi cá nhân hay để phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác.

Thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc (Tổng giám đốc) và người quản lý khác có nghĩa vụ thông báo cho Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát về các giao dịch giữa công ty, công ty con, công ty do công ty đại chúng nắm quyền kiểm soát trên 50% trở lên vốn điều lệ với chính thành viên đó hoặc với những ngườỉ có liên quan của thành viên đó theo quy định của pháp luật. Đối với các giao dịch của các đối tượng nêu trến do Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận, công ty đại chúng phải thực hiện công bố thông tin về các nghị quyết này theo quy định của pháp luật chứng khoán về công bố thông tin.

Thành viên Hội đồng quản trị không được biểu quyết đối với giao dịch mang lại lợi ích cho thành viên đó hoặc người có liên quan của thành viên đó theo quy định của Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty.

Thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc (Tổng giám đốc), người quản lý khác và những người có liên quan của các thành viên này không được sử dụng các thông tin chưa được phép công bố của công ty hoặc tiết lộ cho người khác đế thực hiện các giao dịch có liên quan.

Về giao dịch với người có liên quan, Nghị định quy định, khi tiến hành giao dịch với người có liên quan, công ty đại chúng phải ký kết hợp đồng bằng văn bản theo nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện.
Công ty đại chúng áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa những người có liên quan can thiệp vào hoạt động của công ty và gây tổn hại cho lợi ích của công ty thông qua việc kiểm soát các giao dịch, mua bán, giá cả hàng hóa và dịch vụ của công ty,

Công ty đại chúng áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa cổ đông và những người có liên quan tiến hành các giao dịch làm thất thoát vốn, tài sản hoặc các nguồn lực khác của công ty.

Nghị định cũng quy định rõ việc giao dịch với cổ đông, người quản lý doanh nghiệp và ngưòi có liên quan của các đối tượng này. Theo đó, công ty đại chúng không được cung cấp khoản vay hoặc bảo lãnh cho cổ đông là cá nhân và người có liên quan của cô đông đó là cá nhân, trừ trường hợp công ty đại chúng là tố chức tín dụng.

Công ty đại chúng không được cung cấp khoản vay hoặc bảo lãnh cho cổ đông là tổ chức và người có liên quan của cổ đông đó là cá nhân, trừ các trường hợp sau đây: Công ty đại chúng là tố chức tín dụng; hoặc cổ đông là công ty con trong trường họp công ty con là các công ty không có cổ phần, phần vốn góp nhà nước nắm giữ và đã thực hiện góp vốn, mua cổ phần của công ty đại chúng trước ngày 1/7/2015 theo quy định tại khoản 6 Điều 16 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật doanh nghiệp.

Công ty đại chúng không được cung cấp khoản vay hoặc bảo lãnh cho người có liên quan của cổ đông là tổ chức, trừ các trường hợp sau đây: Công ty đại chúng là tổ chức tín dụng; hoặc công ty đại chúng và tổ chức là người có liên quan của cố đông là các công ty trong cùng tập đoàn hoặc các công ty hoạt động theo nhóm công ty, bao gồm công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế và giao địch này phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận theo quy định tại Điều lệ công ty; hoặc trường hợp pháp luật có quy định khác.

Đặc biệt, công ty đại chúng không được thực hiện giao dịch sau (trừ trường hợp các giao dịch được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận). Thứ nhất là, cấp các khoản vay hoặc bảo lãnh cho thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc (Tổng giám đốc), các người quản lý khác và những cá nhân, tổ chức có liên quan của các đối tượng này, trừ trường hợp công ty đại chúng và tố chức có liên quan đến cố đông là các công ty trong cùng tập đoàn hoặc các công ty hoạt động theo nhóm công ty, bao gồm công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế và pháp luật chuyên ngành có quy định khác.

Thứ hai là, giao dịch dẫn đến tổng giá trị giao dịch có giá trị từ 35% trở lên tổng giá trị tàỉ sản ghi trên báo cáo tài chính gần nhất giữa công ty đại chúng với một trong các đối tượng sau: Thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc (Tổng giám đốc), các người quản lý khác và người có liên quan của các đối tượng này; Cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 10% tổng vốn cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ; Doanh nghiệp có liên quan đến các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 159 Luật doanh nghiệp.

Để đảm bảo quyền hợp pháp của người có quyền lợi liên quan đến công ty, Nghị định quy định, công ty đại chúng phải thực hiện trách nhiệm với cộng đồng và người có quyền lợi liên quan đến công ty theo quy định của pháp luật hiện hành và Điều lệ công ty. bên cạnh đó, công ty đại chúng phải tuân thủ các quy định pháp luật về lao động, môi trường và xã hội.

Nghị định có hệu lực thi hành từ ngày 1/8/2017; trừ quy định tại khoản 2 Điều 12 của Nghị định có hệu lực thi hành sau 3 năm kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, khoản 3 Điều 12 có hiệu lực thi hành sau 2 năm kê rtuwf ngày Nghị định có hệu lực.
 

Thời Báo Ngân Hàng
Share:

Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017

Những quy định mới tác động đến hoạt động ngân hàng 2017

Hoạt động kinh doanh ngân hàng trong năm 2017 chịu ảnh hưởng sâu rộng từ một loạt văn bản quy phạm pháp luật mới.

 
Không giống như doanh nghiệp thông thường, ngân hàng hoạt động trên cơ sở mỗi nghiệp vụ được dựa trên nền tảng hàng loạt văn bản quy chế, quy trình, quy định. 

Các văn bản quy định nội bộ của ngân hàng lại có mối liên hệ chặt chẽ với các văn bản pháp quy. Pháp luật có sự thay đổi, thì quy trình nội bộ của ngân hàng cũng phải thay đổi.

Thay đổi cơ bản từ Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2017, ngay lập tức đã tác động đến hệ thống ngân hàng. 

Hãy thử hình dung trường hợp ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư một hệ thống máy móc, thiết bị. Ngay khi khách hàng mua hệ thống máy móc thiết bị, ngân hàng và khách hàng đã tiến hành ký hợp đồng thế chấp, đăng ký giao dịch bảo đảm. 

Nếu như trước đây, quyền ưu tiên xử lý tài sản bảo đảm chắc chắn thuộc về ngân hàng, nhưng nay thì ngân hàng không thể chủ quan, vì có một quy định mới trong Bộ luật Dân sự 2015 làm thay đổi vấn đề này.

Đó là biện pháp bảo đảm có tên gọi "bảo lưu quyền sở hữu", xuất hiện bên cạnh các biện pháp bảo đảm quen thuộc như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, ký quỹ... 

Bảo lưu quyền sở hữu cho phép các bên thỏa thuận quyền sở hữu tài sản chỉ chuyển từ bên bán tới bên mua khi việc thanh toán hoàn tất. Giả sử các bên mua bán thực hiện “bảo lưu quyền sở hữu” và đăng ký giao dịch bảo đảm trước thì hợp đồng thế chấp của ngân hàng sẽ xếp thứ tự ưu tiên sau. 

Không chỉ có “bảo lưu quyền sở hữu” mà “cầm giữ tài sản” cũng mới xuất hiện với tư cách một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự. Như vậy, các thay đổi này đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải có những nghiên cứu để cập nhật, sử dụng các biện pháp bảo đảm mới trong nghiệp vụ bảo đảm tiền vay hoặc có các nghiên cứu phát hiện rủi ro, giải pháp quản lý.

Bộ luật Dân sự 2015 cũng có hàng loạt điểm mới, chẳng hạn như cơ chế ủy quyền thông thoáng hơn. Nếu trước đây, việc ủy quyền lại chỉ có thể thực hiện một lần, thì nay có thể ủy quyền lại nhiều lần với các điều kiện luật định. 

Các quy định về chủ thể pháp lý như cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình có sự thay đổi. Đáng chú ý là các nội dung quy định mới về hợp đồng vay tài sản, lãi suất (mức lãi suất trần của hợp đồng vay tài sản), lãi quá hạn, lãi phạt đều được quy định hoàn toàn mới trong Bộ luật Dân sự. Các quy định này sẽ thực sự tác động trực tiếp vào hệ thống các nghiệp vụ của ngân hàng như giao dịch tài khoản, huy động vốn, cho vay, bảo lãnh…

Những hướng dẫn mới của Ngân hàng Nhà nước

Không chỉ chịu tác động từ những quy định mới của Bộ luật Dân sự, hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng chịu sự điều chỉnh của hàng loạt văn bản pháp quy nghiệp vụ chuyên ngành hoàn toàn mới. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành một loạt thông tư quy định nghiệp vụ cho lĩnh vực ngân hàng. Có những Thông tư sẽ sớm tác động tức thời với ngành ngân hàng như Thông tư số 39/2016/TT-NHNN.

Từ ngày 15/3/2016 trở đi, toàn bộ hoạt động cho vay của các ngân hàng vốn hơn 16 năm qua thực hiện trên cơ sở Quy chế cho vay số 1627 sẽ phải thay đổi dựa trên các quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN. 

Có những thông tư được ban hành với hiệu lực áp dụng muộn hơn vào thời điểm giữa năm như Thông tư số 35 về an toàn bảo mật thông tin cho dịch vụ internet banking (có hiệu lực từ ngày 1/7/2017). 

Xa hơn nữa, Thông tư số 41/2016/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2020. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu kỹ sẽ thấy các ngân hàng nên giật mình với thời hạn tưởng dài mà hóa ngắn tại thông tư này. 

Các tỷ lệ, giới hạn an toàn vốn đối với ngân hàng theo hướng dẫn tại Thông tư cần sự khẩn trương nghiên cứu, chuẩn bị ngay từ bây giờ. Các ngân hàng thiếu chủ động trong kế hoạch ứng phó, triển khai có thể rơi vào tình trạng khó khăn trong thực thi kế hoạch tăng trưởng những năm tới. 

Bên cạnh đó, có những chính sách nghiệp vụ mới đến từ các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước như Thông tư số 43 về cho vay tiêu dùng của công ty tài chính, hay Thông tư số 40 về sản phẩm phái sinh giá cả hàng hóa của ngân hàng thương mại. 

Mặc dù giới ngân hàng đã thực tế triển khai các nghiệp vụ giao dịch dạng này, nhưng quy định mới tại các thông tư sẽ thiết lập cơ bản nền tảng pháp lý chính thức cho nghiệp vụ.

Với những quy định mới trên đây, các ngân hàng phải có nhiều thay đổi về hệ thống quy trình nghiệp vụ trong năm 2017.

Luật sư Trần Minh Hải, Giám đốc Công ty Luật Basico
 ĐTCK
Share:

“Ma lực” của chứng khoán phái sinh: Cùng một tình huống, tỷ suất sinh lời của hợp đồng tương lai gấp 7 lần cổ phiếu

Tuy nhiên, trong trường hợp bị lỗ thì khoản lỗ của hợp đồng tương lai chỉ số cũng cao gấp nhiều lần khi mua cổ phiếu.

Lợi thế đòn bẩy là một đặc điểm khác biệt của Chứng khoán phái sinh đối với các chứng khoán cơ sở. Về cơ bản, khi tham gia giao dịch Hợp đồng tương lai, nhà đầu tư chỉ phải bỏ ra một khoản tiền (Ký quỹ) có giá trị nhỏ hơn giá trị của hợp đồng mà nhà đầu tư muốn tham gia (giá trị hợp đồng).


Ví dụ: NĐT có nhu cầu tham gia vị thế mua 01 HĐTL trên chỉ số HNX30 đáo hạn vào tháng 5/2016. NĐT đặt lệnh mua 01 hợp đồng với giá chào mua là 103 điểm và được khớp trên thị trường với giá trên. Như vậy, nhà đầu tư đã được Trung tâm thanh toán bù trừ (TTTTBT) ghi nhận là đã tham gia 01 vị thế mua với giá 103 điểm.

Nếu tại mẫu hợp đồng tương lai chỉ số HNX30 quy định: Hệ số nhân của 01 hợp đồng là 1 triệu đồng/điểm chỉ số thì giá trị 01 hợp đồng của NĐT trên bằng:
103 điểm x 1 triệu đồng/điểm chỉ số = 103 triệu đồng.

Tuy nhiên, nếu mức ký quỹ ban đầu được quy định là 15% thì thay vì việc phải bỏ ra 103 triệu, NĐT chỉ phải bỏ ra số tiền và/hoặc tài sản có giá trị = 103 triệu *15% = 15,45 triệu đồng để tham gia hợp đồng.

Số tiền ký quỹ ban đầu này sẽ được TTTTBT sử dụng trong việc tính toán lãi/lỗ của NĐT. Ví dụ: khi giá HĐTL tăng từ 103 lên 105 điểm, NĐT đang có lãi với giá trị bằng: (105-103)*1 triệu đồng/điểm chỉ số = 2 triệu đồng.

Giá trị ký quỹ của nhà đầu tư sẽ tăng: 15,45 triệu + 2 triệu = 17,45 triệu đồng.

Nếu như giao dịch tại thị trường cơ sở thì phần trăm lãi của NĐT trên số tiền ban đầu bỏ ra sẽ chỉ bằng: (105-103)/103*100%=1,94%.

Tuy nhiên, đối với HĐTL thì phần trăm lãi của NĐT sẽ bằng: (105-103)/15,45*100%= 12,95%.

Như vậy có thể thấy, một biến động nhỏ về giá của HĐTL có thể tạo ra hiệu ứng lãi/lỗ trên khoản đầu tư lớn hơn nhiều so với việc đầu tư vào các chứng khoán cơ sở.

Tuy nhiên, đây là trường hợp NĐT có lãi. Lợi thế đòn bẩy được coi là con dao 2 lưỡi với nhà đầu tư. Khi giá của HĐTL biến động theo chiều hướng có lợi (ví dụ: Giá HĐ tăng đối với NĐT nắm vị thế mua và giá HĐ giảm đối với NĐT nắm vị thế bán), thì NĐT có thể ghi nhân một khoản lãi lớn trên giá trị ký quỹ ban đầu. Nhưng ngược lại, khi giá HĐ biến động theo chiều hướng bất lợi, NĐT có thể sẽ phải chịu những khoản thiệt hại lớn trên khoản ký quỹ trong thời gian ngắn.

Cũng ví dụ trên nếu giá HĐTL giảm từ 103 xuống 100, thì nhà đầu tư A lỗ: (103-100)*1 triệu đồng= 3 triệu đồng.

Giá trị ký quỹ giảm còn 12,45 triệu đồng, tương ứng mất (3/15,45=19,4%)

Trong khi khoản lỗ trên thị trường cơ sở chỉ là 2,9%.
Theo Trí thức trẻ
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?