Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn Doanh nhân Nhật Bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Doanh nhân Nhật Bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

Doanh nhân kiên nhẫn nhất Nhật Bản: Năm nào cũng viết thư hỏi mua các công ty trên khắp thế giới, kiên nhẫn chờ tới 16 năm để đối tác gật đầu bán mình

Cứ cuối mỗi năm, ông chủ hãng xe Nidec của Nhật lại viết thư gửi tới cho ông chủ nhiều công ty khác nhau trên thế giới với nội dung: "Nếu muốn bán công ty của mình, làm ơn hãy báo cho tôi biết". 

Cứ cuối mỗi năm, mỗi người Nhật lại có truyền thống ngồi xuống và viết thiệp chúc mừng năm mới cho bạn bè và gia đình. Shigenobu Nagamori cũng bận rộn viết lách, nhưng mà với mục đích khác. Chủ tịch và sáng lập tập đoàn công nghệ cao Nidec viết hàng loạt lá thư gửi tới các lãnh đạo của nhiều công ty trên toàn cầu để bày bỏ mong muốn... thâu tóm doanh nghiệp của họ.

"Nếu muốn bán công ty của mình, làm ơn hãy báo cho tôi biết", ông viết trong một bức thư với lời lẽ hết sức lịch sự và nhã nhặn. Thông thường, các lãnh đạo sẽ trả lời rằng họ hiện chưa muốn bán công ty nhưng sẽ thông báo với ông nếu khi nào đó có sự thay đổi.

Cứ như vậy, Nagamori lặp lại thói quen viết thư hàng năm của mình. Thi thoảng, vài năm sau lời đề nghị đầu tiên, một doanh nhân nào đó đã thực sự thay đổi suy nghĩ. "Việc mua các công ty yêu cầu một sự kiên nhẫn đặc biệt. Bạn chẳng thể nào biết được công việc này sẽ tốn bao nhiêu thời gian mới hoàn thành", vị CEO 73 tuổi chia sẻ.

Sinh ra tại cố đô Kyoto, là người con trẻ nhất trong gia đình 6 người, phong cách thâu tóm công ty hết sức bình tĩnh của Nagamori chính là bài học sâu sắc dành cho nhiều công ty Nhật Bản khác khi muốn thực hiện các thương vụ thâu tóm, sáp nhập để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng.
Doanh nhân kiên nhẫn nhất Nhật Bản: Năm nào cũng viết thư hỏi mua các công ty trên khắp thế giới, kiên nhẫn chờ tới 16 năm để đối tác gật đầu bán mình - Ảnh 1.
Trước đây, các tập đoàn Nhật Bản thường thích mở rộng một cách tự nhiên, tức là nỗ lực trong nội bộ để đẩy mạnh sản lượng đầu ra và doanh thu. Tuy nhiên, các thương vụ mua bán sáp nhập đang ngày một phổ biến hơn dù hầu hết đều kết thúc trong thất bại.

Ví dụ điển hình có lẽ là thương vụ mua lại nhà máy hạt nhân Westinghouse Electric của Toshia – hiện giờ trở thành cái giá quá đắt đối với tập đoàn Nhật Bản lừng lẫy một thời này. Japan Post Holdings cũng đã gặp khó khăn với những thương vụ thâu tóm ở nước ngoài.

Trường hợp của Nagamori là một ngoại lệ. Ông chưa bao giờ hối hận với các thương vụ mà mình thực hiện. Nidec được biết đến là một công ty thâu tóm nhiều công ty khác với tổng cộng 56 thỏa thuận cả trong và ngoài nước. Vị chủ tịch của hãng đã tóm gọn thành quả của mình bằng một tuyên bố súc tích: "56 thương vụ thành công. Không có thất bại. Tất cả đều thành công".

Nidec khởi nguồn là nhà sản xuất động cơ chính xác nhỏ vào năm 1973. Công ty có trụ sở tại Kyoto hiện đang thích nghi với đà tăng nhu cầu động cơ đối với những sản phẩm như xe điện, robot, thiết bị tiết kiệm điện năng và máy bay không người lái.

Tính kiên nhẫn có lẽ là thứ đã giúp Nagamori gặt hái được thành quả. Nagamori tính toán trung bình mất khoảng 5 năm để Nidec hoàn thành một thương vụ thâu tóm, khởi đầu cũng chỉ là những bức thư chào mua vào dịp cuối năm. Đôi khi, thời gian chờ đợi còn lâu hơn.

"Kỷ lục là chúng tôi phải chờ tới 16 năm để công ty đó muốn bán mình".

Điều đó để nói rằng việc mua những công ty khác giống như mua thời gian vậy: Để tăng trưởng nhanh hơn, bạn thâu tóm công nhân, trang thiết bị, công nghệ và thương hiệu của những công ty mục tiêu. Nagamori thích chờ đợi để chớp thời cơ. Nhiều ngân hàng đầu tư bày tỏ ý định muốn giúp Nagamori hoàn thành các thỏa thuận tiềm năng nhanh hơn nhưng ông đều từ chối.

"Họ nói với tôi rằng: Ông sẽ tiếc nếu không mua công ty ấy bây giờ nhưng đó chỉ là kế sách của họ thôi. Tôi chẳng bao giờ tiếc cả".

Trong một bài phỏng vấn trước đó với Nikkei, Nagamori nói rằng có 3 lý do tại sao ông không bao giờ thất bại. "Đừng trả giá quá cao. Đừng mua những thứ mình không cần. Luôn nhắm tới mục tiêu tạo ra sự hiệp đồng với doanh nghiệp chủ đạo". Nagamori tự hào rằng ông chưa sa thải bất kỳ ai ở những công ty ông thâu tóm và không công ty nào trong số 56 thương vụ kể trên bị thua lỗ.

"Tôi không bao giờ mua khách sạn là một ví dụ". Nidec sản xuất động cơ điều kiển cửa sổ ô tô, điều hòa. "Nếu xét về khoảng cách, tôi sẽ mua những công ty mà tôi có thể đến đó bằng thuyền nhỏ hoặc đường bộ. Sai lầm phổ biến là mua những công ty mà bạn chỉ có thể đi tới bằng máy bay hoặc một con thuyền rất lớn".

Nếu xét về tốc độ tăng trưởng và lợi nhuận của công ty sau các thương vụ thâu tóm thì chỉ có ít hơn 10% thương vụ thâu tóm trên thế giới mà những công ty Nhật Bản thực hiện là thành công.

Matsumoto – một Giáo sư tại Đại học Doshisaha ở Kyoto đã giải thích rằng rất nhiều công ty nhận ra họ chẳng biết phải làm gì với các công ty mà mình thâu tóm và cuối cùng lại bán lại. Ví dụ điển hình cho trường hợp này chính là Toshiba. Mặt khác, họ tiếp tục nắm giữ những tài sản chẳng mang lại được một đồng lợi nhuận nào cho mình.

Rào cản ngôn ngữ và văn hóa, sự ra quyết định chậm chạp và quan điểm khác biệt về cách trả lương cho các lãnh đạo là một số nguyên nhân chủ yếu gây ra rắc rối này.

Lật lại những thương vụ thâu tóm của Sony có thể thấy được bài học sâu sắc. Nhà sản xuất đồ điện tử đã khởi xướng trong số các tập đoàn Nhật Bản vào những năm 1980 khi mua lại hàng loạt công ty Mỹ tên tuổi như CBS Records và Columbia Pictures Entertainment. Tuy nhiên số phận của 2 thương vụ này, sau đó đổi thành Sony Music Entertainment và Sony Pictures Entertainment khá khác biệt.

Mảng âm nhạc vẫn kiếm được tiền trong khi đó mảng kinh doanh phim ảnh đã 2 lần đối diện với những sự cố nghiêm trọng và đang tiếp tục gặp khó khăn.

Kenichiro Yoshida – chủ tịch Sony đồng thời là Giám đốc tài chính nói rằng số phận khác nhau của 2 mảng kinh doanh là bởi kinh nghiệm của Sony trong 2 lĩnh vực này trước đó cũng khác nhau.
"Trong trường hợp của mảng âm nhạc, chúng tôi có một công ty thu âm tại Nhật trước khi mua lại chi nhánh ở Mỹ vì vậy những tôi có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Tuy nhiên trong mảng phim ảnh, đây là lần đầu tiên chúng tôi tham gia vào lĩnh vực này và hoàn toàn không có bất kỳ kinh nghiệm nào".

Kiên nhẫn, bền bỉ, chuẩn bị kỹ lưỡng (3P) là chìa khóa mang lại thành công cho các thương vụ mua lại. Các công ty cần nhớ rằng: "Anh không thể tham gia vào quá trình thoả thuận những thương vụ M&A một cách liều lĩnh".

Câu nói nổi tiếng của Nagamori là: "Muốn nghỉ ngơi phải không? Thế rút lui đi? Cho tới gần đây ông vẫn nằm trong hội đồng quản trị Softbank. Tadashi Yanai – Chủ tịch Fast Retailing của Uniqlo cũng nằm trong hội đồng quản trị công ty này. Son, Yanai và Nagamori được xem như "3 ông lớn" của Nhật Bản.

"Son là một nhà thuyết giáo của tất cả chúng ta", Nagamori chia sẻ sự ngưỡng mộ với ông chủ Softbank. Quỹ trị giá 93 tỷ của Son và những ý tưởng của ông "vượt ngoài trí tưởng tượng của tôi".

"Tuy nhiên nếu hỏi tôi công ty nào sẽ tồn tại được 100 năm nữa kể từ bây giờ, chắc chắn chính là công ty tôi", Nagamori quả quyết.

>> Tỷ phú doanh nhân Shigenobu Nagamori - người đi “ngược chiều”

 Tri Thức Trẻ
Share:

Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017

Munehisa Homma - Ông tổ đầu cơ xứ Phù Tang

Chỉ với 3 ngày mua vào và 1 ngày bán ra, ông tổ đầu cơ xứ Phù Tang không chỉ trở thành người giàu có nhất nước Nhật mà còn kiểm soát được toàn bộ thị trường gạo nơi này. 

Thời kỳ hòa bình lâu dài nhất ở Nhật Bản được gọi là “Thời kỳ Edo” kéo dài từ thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 19. Đó là thời kỳ không còn nội chiến, đất nước thống nhất và do dòng họ lãnh chúa Damyos cai trị đến tận năm 1867. Đó cũng là thời kỳ sản sinh ra người đã sáng lập phương thức làm giàu bằng đầu cơ để rồi nhảy từ thương trường vào chính trường, có tiền và quyền lực, có danh ở nước Nhật và có cả di sản mà các hậu bối trên khắp thế giới đến nay vẫn còn nhờ cậy. Đó là ông Munehisa Homma, hay còn được gọi là ông tổ đầu cơ ở xứ Phù Tang, có biệt danh là “Chúa tể thị trường”. 

Tên tuổi của Munehisa Homma đươc lưu danh với thời gian còn nhờ một phát minh vô cùng độc đáo và sáng tạo được sử dụng làm cơ sở cho mọi quyết định đầu cơ mà phải 200 năm sau các nhà đầu cơ ở Châu Âu mới biết đến để vận dụng, đó là “Đồ thị cây nến”. 

Ngày nay, hậu thế vẽ đồ thị trên giấy hoặc trên máy vi tính, còn ở vào thế kỷ 18, Homma phát minh và vẽ đồ thị hình nến trên giấy làm bằng bột gạo - như bánh đa nem bây giờ. Điều cốt lõi trong triết lý và chiến lược đầu cơ của Homma là, nghiên cứu và dự báo thị trường cũng như tổ chức hệ thống thông tin để có thể đi trước đối thủ cạnh tranh. Munesiha Homma sinh năm 1724 ở Sakata, một địa danh nằm ở phía tây bắc hòn đảo Honshu của Nhật Bản, trong một gia đình giàu có, sở hữu nhiều đồn điền trồng lúa rộng lớn.

Năm 1750, Homma quản lý toàn bộ “doanh nghiệp gia đình” mặc dù không phải là con cả. Nhưng mối quan tâm chính của Homma không phải là truyền thống trồng lúa của gia đình, mà là đầu cơ lúa gạo. Ngày đó, thành phố cảng Sakata đã là một thị trường giao dịch gạo, nhưng trung tâm buôn bán gạo chính của Nhật Bản từ thế kỷ 17 lại là Osaka. Vì thế Homma chuyển về Osaka. 

Thời ấy, nông nghiệp và nội thương Nhật bản phát triển rất mạnh và Osaka trở thành thị trường lớn nhất nước, còn được gọi là “Nhà bếp của Nhật Bản”. 

Nông dân và địa chủ trồng lúa, đem lúa gạo đến Osaka bán cho người trả giá cao nhất. Ở đó có tới 1.300 thương gia buôn bán lúa gạo. Gạo không chỉ là lương thực mà còn là phương tiện thanh toán, chẳng hạn như dùng để đóng thuế, đổi lấy các vận dụng hàng ngày khác như xà phòng, chè. Để tăng cường giao dịch và đáp ứng nhu cầu về tiền cũng như hàng hóa, các nhà buôn chấp nhận cả “văn tự bán gạo”, có nghĩa là giấy bán lúa non, bán trước và khi thu hoạch mới giao lúa. 

Trên sàn giao dịch, cả những giấy chứng nhận có hàng trong kho cũng được mua bán và cả hai loại văn tự này đều trở thành một kiểu đồng tiền thay thế trong khi đồng tiền thống nhất chung của đất nước chưa được chấp nhận rộng rãi. 

Người ta cho rằng Nhật Bản là xứ sở của thể thức giao dịch kỳ hạn mà hiện nay đã trở nên rất thịnh hành tại các sàn giao dịch chứng khoán trên khắp thế giới. Đó chính là bối cảnh mà Homma thể hiện trí tuệ và khả năng kinh doanh đặc biệt của mình, nhưng hơn hết là năng khiếu về đầu cơ. 

Ông ý thức được rằng giao dịch kỳ hạn như vậy thì nhân tố quyết định là thông tin, ai có được thông tin trước thì sẽ thắng. Thông tin về mùa màng, nơi nào khan hiếm hay dư thừa, giá tăng hay giảm sẽ giúp nhà đầu cơ có được quyết định thích hợp vào thời điểm thích hợp. Để có được ưu thế về thông tin so với các đối thủ cạnh tranh khác, Homma phát minh ra cái gọi là “Đồ thị cây nến”, trên thực tế là dùng hình tượng giống như cây nến để biểu thị diễn biến giá cả trên thị trường trong thời gian nhiều năm liền. Ông vẽ chúng trên những tấm giấy gạo, nghiên cứu và so sánh trong tác động của những nhân tố khác nữa như biến động của thời tiết, tình hình chính trị xã hội, chính sách của giới cầm quyền, giá phiên giao dịch đầu và cuối… để tìm ra quy luật diễn biến của giá cả trên thị trường. 

Tất cả những đồ thị, quan sát và nhận xét đều được ông ghi chép lại tỷ mỷ, và vì thế ngày nay người ta cho rằng ông là tác giả của hai cuốn sách “Sakata Senho” và “Soba Sani Ni Den” bàn về những nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường và giao dịch chứng khoán. 

Cũng không ít người viện dẫn hai cuốn sách này để bác bỏ quan điểm cho rằng kinh tế thị trường và giao dịch chứng khoán là sản phẩn của chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, Homma xây dựng mạng lưới thông tin riêng để có được ưu thế về thông tin so với các đối thủ cạnh tranh. 

Vì gia đình Homma có truyền thống trồng lúa nên Homma có đầy đủ các thông tin chuyên môn cần thiết, nhưng do Sakata cách Osaka tới 600 km nên ông sử dụng 150 người làm thành đường dây chuyển tải thông tin. Ông mã hóa tín hiệu bằng các màu cờ khác nhau treo trên các mái nhà và tháp vào thời điểm nhất định trong ngày để chuyển thông tin đến Osaka. Do nghiên cứu thị trường và có được thông tin nhanh chóng nên Homma trở thành nhà đầu cơ thành đạt nhất, gần như bách chiến bách thắng. 

Trận đầu cơ quyết định đầu tiên đi vào lịch sử đầu cơ xứ Phù Tang của ông có tên gọi “Ba ngày mua, một ngày bán”. Sách kể lại rằng, khi thấy Homma chỉ mua vào chứ không bán ra suốt 3 ngày liền, những người khác không những không ngạc nhiên mà nhạo báng. Nhưng trong 3 ngày đó chỉ có toàn thông tin tốt lành về mùa màng. 

Homma chờ đợi thông tin về mất mùa từ các khu vực khác, và khi tin đó đến trong ngày thứ tư thì giá tăng vọt mà không có gạo hay văn tự để mua, tất cả đều phải mua của Homma. Chỉ trong vòng 4 ngày, Homma không chỉ trở thành người giàu có nhất nước Nhật mà còn kiểm soát được toàn bộ thị trường gạo Nhật Bản. Về sau, Homma đến Tokyo, trở thành cố vấn tài chính cho Nhà Vua. Người ta kể rằng, ở Tokyo Homma đã thắng 100 phi vụ đầu cơ liên tục. 

Khi mất vào năm 1803, Homma không chỉ giàu mà còn có địa vị xã hội. Biệt danh “Chúa tể thị trường” được dành cho ông từ đó. 200 năm sau, di sản tinh thần của Homma mới được truyền bá ở Châu Âu. Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, một thương gia trẻ người Mỹ tên là Steve Nison tình cờ biết đến cách thức minh họa đơn giản và rõ ràng bằng đồ thị của Homma nên đã nghiên cứu và viết một cuốn sách về “Đồ thị cây nến” giới thiệu cho công chúng. 

Trong vòng một thập kỷ, loại đồ thị này đã chinh phục được tất cả các sàn giao dịch chứng khoán phương Tây. Hiện tại nó là công cụ gần như không thể thiếu để minh họa diễn biến giá cả của chứng khoán trên thị trường. Hơn hai thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Homma qua đời, cho dù xứ Phù Tang giờ đây đã trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới thì hậu thế của ông cũng vẫn chưa có được nhà đầu cơ nào sánh được với ông.



 Vietstock
Share:

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2016

Từng phải bán công ty với giá 31 USD, vị CEO này đã quay trở lại một cách ngoạn mục

Những tờ tiền mặt có tổng trị giá 3.240 yên (tương đương 31 USD) được đóng khung cẩn thận và đặt trên bàn làm việc của Hideto Fujino là thứ nhắc nhở ông về điều bẽ mặt nhất trong cuộc đời.

31 USD chỉ đủ để trả cho một bữa ăn tối tại nhà hàng Thái Lan nằm ngay dưới chân tòa nhà có văn phòng của Fujino. Tuy nhiên, cách đây 7 năm, đó là số tiền mà ông nhận được sau khi bán công ty quản lý tài sản mà bản thân đã dày công gây dựng từ con số 0. Khi mà khách hàng hối hả ra đi vì khủng hoảng tài chính, Fujino buộc phải rời khỏi Rheos Capital Works, từ bỏ chức Chủ tịch và quay lại làm nhân viên quèn lần đầu tiên sau 6 năm.

Giống như một vị tướng quân nổi tiếng của Nhật Bản mang theo bên mình tấm chân dung sau khi thua trận chiến quan trọng, Fujino muốn những đồng tiền này nhắc nhở ông về những điều không bao giờ được phép quên.

Giờ đây, những tờ tiền cũ kỹ cũng là một trong số những vật tượng trưng cho thời kỳ đen tối nhất của Fujino. Hifumi, quỹ “lá cờ đầu” của Rheos Capital, đang đánh bại 97% các quỹ cùng ngành với tài sản vượt mốc 200 tỷ yên. Fujino cũng trở lại với vị trí Chủ tịch kiêm CEO của quỹ. Ông mua lại 25% cổ phần và đang lên kế hoạch mua lại toàn bộ.

Huyền thoại Nhật Bản

Cựu nhân viên cấp cao của Goldman Sachs Asset Management vốn đã nổi danh ở Nhật Bản (vốn là một thị trường khá e ngại rủi ro so với các thị trường phương Tây) sau khi nghỉ việc để tự lập nên cơ ngơi của riêng mình. Tuy nhiên, con đường trở lại ngoạn mục đã giúp vị CEO 50 tuổi trở thành huyền thoại trong ngành quản lý quỹ ở Nhật Bản, đặc biệt trong bối cảnh ngành này đang chật vật cố gắng quay trở lại thời hoàng kim gần 3 thập kỷ sau khi bong bóng cổ phiếu vỡ tung.

“Ông ấy là một người nghệ sĩ”, Ken Shibusawa, Chủ tịch của Commons Asset Management và đồng thời là hậu duệ của người sáng lập sàn chứng khoán Tokyo nói. “Kể cả nếu như người khác cố gắng làm những gì ông ấy đã làm, chắc họ cũng không làm nổi”.

Theo số liệu của Bloomberg, quỹ Hifumi đã có được mức lợi suất 22% trong 5 năm qua, đánh bại 97% các quỹ tương tự trên thị trường. Năm 2016 quỹ này chỉ lỗ 2,5%, so với mức giảm 11% của chỉ số Nikkei 225. Tính từ khi ra đời năm 2008, quỹ có mức lợi suất 231%.

Trong khi hầu hết các nhà quản lý khác ở Nhật Bản tập trung vào các mã cổ phiếu blue-chip, Fujino nhắm đến những doanh nghiệp nhỏ hơn. Ông chọn những công ty có lợi nhuận tăng trưởng bền vững ở mức 2 con số và giá cổ phiếu ở mức phải chăng.

Những cổ phiếu nhàm chán

“Tôi thích những công ty đơn giản và thậm chí có phần nhàm chán”, Fujino chia sẻ. Theo ông những cái tên “sáng lấp lánh” thường ở mức giá cao hơn giá trị thực.

Cổ phiếu chiếm tỷ trọng nhiều nhất trong danh mục của Hifumi là Ai Holdings, công ty chuyên bán thiết bị văn phòng và camera an ninh. 3 năm qua, tỷ lệ EPS của công ty này đều đặn tăng trưởng 30% mỗi năm trong khi cổ phiếu đã tăng giá gấp 6 lần so với năm 2012. CEO của Ai sở hữu 20% cổ phần của công ty và có cái nhìn dài hạn khi đưa ra quyết định đầu tư hoặc M&A. Theo Fujino, Ai là một ngoại lệ trên thị trường Nhật Bản, nơi đầy rẫy những ông chủ quá sợ rủi ro và không còn thức thời.

Trong khi 2/3 khoản đầu tư của Hifumi đổ vào những cổ phiếu có giá trị vốn hóa nhỏ nhưng tăng trưởng tốt, phần còn lại của danh mục gắn với những xu hướng kinh tế vĩ mô. Fujino cho biết ông đang chuyển từ trạng thái phòng vệ sang tấn công, mua những cổ phiếu như Mitsubishi (là công ty được hưởng lợi từ đà tăng của giá hàng hóa) hay Komatsu (vì đặt cược nhu cầu về máy móc thiết bị xây dựng đang tăng lên trên toàn cầu).

Tốt nghiệp trường ĐH Waseda danh giá năm 1990, Fujino có 10 năm tiếp theo làm việc ở vị trí quản lý cấp thấp tại Nomura Asset Management và Jardine Asset Mangagement. Sau đó ông về đầu quân cho Goldman Sachs.

“Tôi đã từng làm việc cho những công ty rất nổi tiếng, với mức lương hậu hĩnh. Nếu chỉ quan tâm đến tiền có lẽ tôi đã không ra đi”.

Khủng hoảng tài chính 2008 – 2009 là những năm tháng đen tối nhất của Fujino. Trong khi thu hút được sự chú ý của những nhà đầu tư định chế lớn (như quỹ đầu tư quốc gia Na Uy), Fujino không hề chuẩn bị cho khủng hoảng tài chính. Quỹ của ông đầu tư quá nhiều tiền mặt vào việc thành lập một quỹ tương hỗ mới. Và khi nhà đầu tư ồ ạt rút tiền, Rheos không gánh nổi. Fujino phải quay sang cầu cứu tập đoàn tài chính IS Holdings và cũng mất đi công ty do mình lập nên.

Ngay cả bây giờ Fujino vẫn cho rằng Rheos không miễn nhiễm với khủng hoảng. Điểm khác biệt là quỹ đã chuẩn bị tốt hơn, mở rộng phạm vi khách hàng sang cả nhà đầu tư nhỏ lẻ. Những cú sốc từ thảm họa sóng thần năm 2011 hay sự kiện Trung Quốc phá giá nhân dân tệ mùa hè năm ngoái không thể khiến Rheos chao đảo.

Là một trong số ít các công ty quản lý quỹ độc lập ở Nhật Bản, Rheos sử dụng cách tiếp cận mới lạ để mở rộng. Theo chiến lược marketing trực tiếp, Fujino thuyết phục 20 ngân hàng địa phương phân phối sản phẩm của mình – những sản phẩm hầu như chưa từng được biết đến ở Nhật Bản, nơi các ngân hàng thường ưa thích những công ty quản lý đến từ những tập đoàn danh giá. Tuy nhiên giờ đây các khách hàng từ nguồn này đã chiếm tới hơn 20% số tài sản mà Rhoes đang quản lý.

Đeo chiếc kính giống với phong cách của John Lennon với hi vọng có thể xóa tan định kiến tiêu cực ở Nhật Bản về các nhà quản lý quỹ, Fujino cho biết ông mong muốn có thể tiếp tục duy trì tốc độ mở rộng khách hàng ở cả trong và ngoài nước, trong đó có các quỹ hưu trí và quỹ hiến tặng của Mỹ.

>> Công thức thành công đáng suy ngẫm của nhà kinh doanh hàng đầu Nhật Bản

Theo Thu Hương
Trí thức trẻ/CafeF
 
Share:

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2016

Cô gái Nhật giúp hàng ngàn người Việt thoát nghèo nhờ nông nghiệp hữu cơ

Thông qua dự án phi lợi nhuận Seed To Table thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam, cô Mayu Ino đã giúp hàng ngàn nông dân thoát nghèo. 
 

Vào năm 2009, cô gái Mayu Ino đến từ Tokyo đã thành lập một tổ chức phi chính phủ là Seed To Table để hỗ trợ những người nông dân Việt Nam, thông qua việc giúp đỡ họ làm nông nghiệp hữu cơ và chăn nuôi.

"Chúng tôi khuyến khích phát triển bền vững bằng cách giúp người nông dân tạo ra nguồn thu nhập thường xuyên. Song song với việc giúp họ tự chủ về kinh tế, chúng tôi còn hỗ trợ việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong cộng đồng", Ino nói.

Seed To Table hoạt động dựa vào nguồn ngân sách 15 triệu yen mỗi năm (khoảng 3 tỷ đồng), được tài trợ bởi nhiều cá nhân và tổ chức, trong đó có công ty mỹ phẩm Lush (Anh), quỹ môi trường của tập đoàn Mitsui và Bộ Ngoại giao Nhật Bản. Chỉ trong vòng 3 năm qua, dự án này đã giúp xóa đói giảm nghèo cho hơn 1.300 hộ gia đình.

Ino đã có nhiều kỷ niệm gắn bó với đất nước Việt Nam, kể từ lần đầu tiên cô đặt chân đến mảnh đất hình chữ S vào năm 1997, để nhập học ngành ngôn ngữ và văn hóa tại Đại học Quốc Gia Hà Nội.

Ino vẫn nhớ như in cái cảm giác đau đớn ở cơ lưỡi khi cô phát âm 6 âm sắc của tiếng Việt. Sau nhiều tháng liền khổ luyện, cuối cùng cô đã tiến bộ và tự tin rằng mình có thể phát âm được tiếng Việt hoàn hảo. Một lần nọ, khi chiếc xe của cô bị thủng lốp, cô hỏi bằng tiếng Việt với bà chủ nhà nơi cô thuê ở về chỗ sửa xe đạp. "Bà chủ nhà gật đầu ra vẻ đã hiểu những gì tôi nói. Nhưng sau khi đi một hồi, bà quay lại với một hộp sữa chua trên tay", Ino nhớ lại và cười.

Không nản lòng, Ino tiếp tục kiên trì việc học. Sau khi rời Hà Nội, cô gái này đã lấy bằng Thạc sĩ ngành Đông Nam Á học tại Đại học Hitotsubashi (Tokyo), sau đó gia nhập Trung tâm Tình nguyện Quốc tế Nhật Bản (JVC) với vai trò là điều phối chương trình, và sau đó là người đại diện tổ chức này tại Việt Nam. Trong 6 năm liền, Ino đã hỗ trợ các dự án phát triển cộng đồng như xây dựng đập nước và trồng quýt để chống xói mòn đất.

Khi JVC đóng cửa văn phòng tại Việt Nam vào năm 2009, Ino đã quá gắn bó với mảnh đất này, vì vậy cô đã thành lập Seed To Table. Giờ đây, dự án này hiện đang hoạt động chủ yếu ở hai khu vực chính là tỉnh Hòa Bình và tỉnh Bến Tre.
 Mayu Ino đã gắn bó với đất nước Việt Nam kể từ năm 1997 tới nay - Ảnh: Japan Times
Hành trình trở lại với di sản

Hòa Bình là nơi sinh sống chủ yếu của các đồng bào dân tộc Mường và Ino đã làm việc với họ kể từ năm 2003. Theo cô, một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất trong cộng đồng người Mường là tình trạng lạm dụng hóa chất nông nghiệp, đây cũng là mầm mống gây nên nhiều căn bệnh cho trẻ em ở địa phương này.

"Các nông dân ở Hòa Bình từng dựa vào phương thức canh tác truyền thống để trồng cây lúa và mía đường. Nhưng gần đây, họ lại quá phụ thuộc vào thuốc trừ sâu và phân bón hóa học đến mức nhiều người không còn biết cách làm nông nếu không có những loại hóa chất này. Chúng tôi cố gắng chỉ lại cho họ những phương pháp mà họ đã quên", Ino bộc bạch.

Để hợp tác chặt chẽ với bà con nông dân địa phương, Ino tiến hành chiến dịch thu thập côn trùng và các loài sống trong ao hồ để xác định loài nào có hại và có lợi cho cây trồng. Trong khi đó, nông dân sẽ thu thập hạt giống của các loài cây trồng bản địa nhằm phân loại và để dành cho các mùa vụ kế tiếp. Bằng cách này, hạt giống có thể thích hợp với điều kiện ở địa phương và có thể phát triển trong phân ủ mà không cần hóa chất.
Co gai Nhat giup hang ngan nguoi Viet thoat ngheo nho nong nghiep huu co
Cô Bùi Thị Thương ở Hòa Bình và những hạt giống quý được giữ lại để bảo quản - Ảnh: Mayu Ino

Năm 2014, những chiến dịch này đã giúp các nông dân Hòa Bình được cấp giấy chứng nhận sản phẩm hữu cơ, cho phép họ bán các sản phẩm của mình với giá cao hơn so với các loại cây trồng bằng phân hóa học. Để quảng bá các sản phẩm hữu cơ của nông dân Hòa Bình như thịt heo, trứng và bưởi, Ino vừa tổ chức một buổi hội thảo với Câu lạc bộ Đầu bếp Hà Nội, một tổ chức bao gồm nhiều đầu bếp có tiếng từ các khách sạn và nhà hàng lớn.

"Ngân hàng" chuyên cho vay vịt và bò

Trong khi đó tại tỉnh Bến Tre, vẫn còn có khá nhiều người dân sống trong cảnh thiếu thốn. Chẳng hạn, công nhân chế biến hải sản chỉ được trả 80.000 đồng cho một ngày công, và tình trạng đất chật người đông khiến cho nhiều nông dân không có đủ đất canh tác để nuôi sống gia đình.

Do đó, Ino đã giúp đỡ nông dân Bến Tre trồng trọt các sản phẩm hữu cơ có thể bán với giá cao hơn hai, ba lần so với mức bình quân thị trường. Một trong số các khách hàng trung thành nhất của nông dân là các trường học tại địa phương. Họ thường mua sản phẩm để phục vụ bữa ăn "không hóa chất" cho học sinh.

Năm 2015, Seed To Table tổ chức một cuộc thi cho trẻ em nhằm tìm ra logo cho các sản phẩm rau quả hữu cơ. Mẫu thiết kế đoạt giải trong cuộc thi lần đó là một bó bắp cải được quấn băng có ghi chữ "Hữu cơ", và nó đã được in vào các bao bì đóng gói trái cây và rau quả cùng với số điện thoại của nông dân. Nhờ đó, người tiêu dùng có thể liên hệ trực tiếp họ để thắc mắc hoặc khiếu nại về sản phẩm.

Ngoài các hóa chất nông nghiệp, người dân Bến Tre cũng đang lo ngại về tình trạng ô nhiễm từ hàng triệu lít chất độc màu da cam sau chiến tranh. Ngày nay, có khoảng 13.000 người dân trong tỉnh (trên tổng dân số 1,5 triệu người) đang bị phơi nhiễm chất độc này. Trong đó có nhiều trẻ em mắc bệnh, buộc cha mẹ các em phải ở nhà chăm sóc. Do không thể làm việc, những gia đình này nhận được hỗ trợ từ Seed To Table dưới hình thức xây dựng nhà và nâng cấp phương tiện chăm sóc. Chẳng hạn như vào năm 2014, đóng góp của các nhà từ thiện từ Nhật Bản đã giúp Seed To Table xây dựng một phòng ngủ có lát gạch cho một bệnh nhân trẻ mắc bệnh tràn dịch não.

Dù Seed To Table thường xuyên nhận được sự ủng hộ rất tích cực, tuy nhiên nhiều người cũng có phần hoài nghi về những lợi ích lâu dài của các dự án có quy mô nhỏ như vậy. Mặc dù vậy, Ino vẫn khá tâm huyết với công việc và giá trị từ sự giúp đỡ, và không gì chứng minh được điều này tốt hơn ý tưởng "ngân hàng vịt" của cô.

Từ năm 2012, Ino đã sắp xếp cho nhiều gia đình "vay" 25 con vịt con để họ nuôi lớn, thu hoạch trứng rồi bán thịt.

"Tại Bến Tre, một gia đình đã nhận nuôi 25 con vịt để lấy trứng và trong vòng một năm, họ đã kiếm đủ tiền để mua bốn bể chứa nước. Đổi lại, các bể chứa này cho phép họ có thể trồng nhiều loại rau. Và năm sau đó, họ đã có đủ tiền để mua cho riêng mình một mảnh đất", Ino kể.

Ino cũng thành lập một "ngân hàng bò", nơi nông dân có thể "vay" một con bò cái với mức giá thấp. Sau khi nuôi lớn, con bò này đẻ con và nông dân sẽ trả lại một con bê cho "ngân hàng". Điều tuyệt nhất là họ được phép giữ lại con bò ban đầu và những lứa bê tiếp theo.
Co gai Nhat giup hang ngan nguoi Viet thoat ngheo nho nong nghiep huu co
Mẹ con cô Phan Thị Hồng Nguyên ở Bến Tre nằm trong số những người được hỗ trợ bởi "ngân hàng bò" của Seed To Table - Ảnh: Mayu Ino
Nếu biết rằng một con bò trưởng thành có thể có giá tới 30 triệu đồng, "ngân hàng" của Ino thực sự mang lại nông dân một cơ hội độc nhất vô nhị để thoát nghèo.

Cho đến nay, Seed To Table đã cho vay 72 con bò và hàng chục ngàn con vịt. Dự án này cũng dạy cho nông dân nguyên tắc tính toán cơ bản để họ có thể quản lý tốt hơn nguồn tài chính mới của mình.

Từ tháng 1/2016, chính quyền địa phương tại Bến Tre cũng tuyên bố sẽ bắt đầu áp dụng cách tiếp cận tương tự như các dự án kiểu Seed To Table để phát triển cộng đồng trong tương lai.

Theo báo Japan Times, trong thời gian tới người nông dân Việt Nam sẽ còn phải đối mặt với nhiều yếu tố bất định. Việc cho phép việc trồng các giống cây trồng biến đổi gen từ năm 2015 được cho là có thể đe dọa các giống cây trồng địa phương mà Ino đã cố gắng hết sức để bảo vệ. Hơn nữa, việc tham gia hiệp định TPP cũng có thể khiến người nông dân phải tìm cách cạnh tranh với các tập đoàn nông nghiệp lớn của nước ngoài.

Dù mọi chuyện có thế nào đi nữa, thì Ino vẫn giữ cam kết hỗ trợ những nông dân cần được giúp đỡ nhất. Mục tiêu ngắn hạn hiện tại của Seed To Table bao gồm việc tạo ra mạng lưới hỗ trợ mạnh mẽ hơn nữa cho các phụ nữ trong cộng đồng nông thôn để đảm bảo thu nhập thường xuyên. Trong dài hạn, Ino đang lên kế hoạch xây dựng kết nối giữa người nông dân Việt và các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu.

Điều khiến cho Ino giữ được sự lạc quan của cô chính là thế hệ trẻ của Việt Nam. Cô chia sẻ: "Ngày càng nhiều người trẻ sống ở thành phố và có học thức trở nên quan tâm hơn tới ngành nông nghiệp. Họ thường xuyên sử dụng mạng xã hội để chia sẻ thông tin về những lợi ích của thực phẩm hữu cơ. Gần đây, họ thậm chí bắt đầu tổ chức những tour du lịch sinh thái ở khu vực nông thôn để tận mắt nhìn thấy hoạt động tại các trang trại".


Nguồn Nhịp Cầu Đầu Tư/Japan Times

Share:

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2016

Toilet và chuyện làm ăn với người Nhật

Tôi là người có cơ duyên được tiếp xúc, làm ăn với nhiều đối tác là doanh nhân đến từ nhiều nơi như Mỹ, châu Âu và châu Á. Để thuận lợi cho công việc kinh doanh của mình, tôi buộc phải tìm hiểu về văn hóa, tập quán của họ và trên hết tôi muốn biết điều gì khiến họ trở thành các doanh nhân tài ba đi khắp thế giới như vậy. Vào thời ấy chưa có “Mr. Google”, cho nên tôi phải tự lần mò tìm hiểu mọi thứ qua báo chí, sách vở và ngay chính bản thân của những đối tác ấy.

Nếu bạn hỏi tôi ấn tượng với người nước ngoài nào trong số ấy, tôi sẽ không ngần ngại mà trả lời với bạn là người Nhật. Bởi vì những bài học mà các doanh nhân Nhật mang lại không chỉ là những kỹ năng một doanh nhân cần có mà còn là triết lý về kinh doanh, về cuộc sống, về con người.

Luôn hướng đến sự hoàn thiện

Chắc hẳn những ai đã từng làm ăn với người Nhật đều biết rằng muốn trở thành đối tác của họ phải đủ kiên nhẫn. Khi làm ăn với người Nhật, đừng bao giờ kỳ vọng chỉ qua đôi ba lần tiếp xúc là bạn có thể đạt được sự thỏa thuận. Hành trình ngắn nhất cũng mất vài ba tháng, đôi khi là cả vài năm trời. Một khi đã là đối tác, người Nhật sẽ rất kiên nhẫn để cùng bạn phát triển sự hoàn thiện cho sản phẩm, dịch vụ mà bạn cung cấp cho họ.

Bạn luôn luôn bị đòi hỏi phải nâng cao về chất lượng cho đến khi nào bạn chứng tỏ rằng bạn đã làm hết khả năng. Vào thời ấy, tôi chưa biết nhiều về Kaizen, về Just in time và Zero defect,... những biện pháp về quản trị chất lượng, nhưng qua quá trình làm việc cùng với các doanh nhân người Nhật tôi ngộ ra một điều là đừng thỏa mãn với những gì mình đạt được và phải luôn hướng tới sự hoàn thiện. Đây là nền tảng cho việc thành công trong kinh doanh. Có một điều rất chắc chắn là một khi bạn đã bán được hàng cho người Nhật thì có thể bán cho khắp thế giới. Bởi không một thị trường nào khó tính hơn thị trường Nhật.

Sự trung thực và chữ tín

Đối với người Nhật, chữ tín rất quan trọng. Bạn đã hứa thì phải giữ lời và đừng nên đem bất kỳ lý do nào ra để biện minh cho sự thất hứa của mình. Việc đầu tiên của chữ tín là đúng giờ. Nếu bạn đã hẹn với họ lúc 7 giờ, thì tôi khuyên bạn nên đến trước 15 phút. Bạn hãy tìm một nơi nào gần đó để chỉn chu lại trang phục, tĩnh tâm xem lại những gì cần bàn trong cuộc hẹn và chỉ nên thông báo cho họ biết là bạn đã có mặt khoảng 5 phút trước giờ hẹn. Đừng bao giờ xin vào gặp họ ngay khi bạn đến sớm 15 phút và cũng đừng đến đúng phắt ngay giờ hẹn vì như thế cũng làm cho họ cảm thấy không thoải mái.

Làm ăn với người Nhật có gì khác

Trong kinh doanh ta khó lường được các yếu tố bất ngờ nên giao trễ hàng là việc có thể xảy ra. Tôi đã từng rơi vào tình cảnh như thế. Tôi có một hợp đồng phải giao hàng bằng container theo đường biển nhưng do hàng bị hỏng nên tôi buộc phải dời việc giao hàng sau đó một tuần. Đây là một sự cố ngoài ý muốn và theo L/C hay hợp đồng ràng buộc tôi có thể dời lại một tuần mà không bị phạt gì cả. 

Nhưng vì đã hứa là sẽ giao hàng đúng hẹn nên tôi trung thực trình bày với phía khách hàng Nhật về sự cố và đề nghị phương án chuyển bằng đường hàng không một số lượng hàng họ cần ngay, số còn lại sẽ được giao bằng container theo đường biển. Phương án đã được chấp thuận và sự cố này khiến tôi đã lỗ vài ngàn đô la Mỹ, nhưng bù lại tôi có được một khách hàng chung thủy trong nhiều năm và những đơn hàng sau đó tôi có lãi rất nhiều. Sau này vào một dịp thuận tiện, tôi đã hỏi họ nếu tôi cứ làm theo đúng L/C và giao hàng trễ thì họ sẽ suy nghĩ như thế nào. Họ chỉ cười nói rằng “nếu vậy thì đây là mối quan hệ không đáng tin cậy”.

Càng làm ăn nhiều với người Nhật, tôi lại càng thấm thía nét văn hóa về tính trung thực và chữ tín. Người Nhật rất trung thực đến độ nhiều người nước ngoài cho là khờ dại. Khi tôi đến làm việc tại nhiều nơi trên thế giới, bạn bè tại đó thường khuyên và chỉ dẫn cho tôi cách thức để không bị tài xế taxi chạy lòng vòng kiếm thêm tiền. Nhưng nếu đến Nhật, bạn hãy yên tâm về điều này bởi vì có khi tài xế taxi khuyên bạn nên đi tàu điện ngầm cho kinh tế hơn đi taxi.

Đối với người Nhật chữ tín trong kinh doanh luôn được coi trọng như một nét văn hóa đặc thù. Bạn có thể gặp đâu đó những cửa hàng không có người thu tiền. Khách mua hàng coi giá, lấy hàng và tự trả tiền vào một chiếc hộp nhỏ mà chủ cửa hàng đã chuẩn bị sẵn. Cũng có những siêu thị không hề yêu cầu bạn phải gửi túi xách khi vào mua hàng. Chính vì được đào tạo từ nhỏ với tinh thần văn hóa như vậy, nên đối với người Nhật việc không tin tưởng vào đối tác và bội tín sẽ khó chấp nhận.

Sự khiêm nhường

Người Nhật rất đề cao tính khiêm nhường. Nếu một người có vẻ quá tự tin về bản thân, người đó sẽ có nguy cơ đánh mất sự ủng hộ của những người khác, bởi theo quan điểm của nhiều người Nhật “nếu bạn tự tin như thế về bản thân, chắc hẳn bạn không cần sự hỗ trợ của tôi”. Trong khi đó, quan điểm của phương Tây thường là ngược lại, “làm sao tôi tin tưởng được vào anh nếu anh không tự tin vào mình”. Ta có thể thấy ngay điều này trong cách giới thiệu bằng tiếng Nhật. Nếu bạn nói: “Tôi tên là X” thì người ta hiểu rằng bạn đang nói tiếng Nhật theo cách của người phương Tây. Bởi vì người Nhật thật sự họ sẽ nói: “Người ta gọi tôi là X”. Đây là cách thể hiện sự khiêm nhường. Chính vì thế nếu bạn gặp đối tác là người Nhật và bạn quá đề cao về mình và sản phẩm của mình thì bạn đã mất điểm trong mắt của họ. Hãy khiêm nhường để hữu xạ tự nhiên hương.

Đừng vội vã tạo áp lực trong đàm phán

Trong đàm phán và thương thảo với người Nhật thì mọi toan tính theo kiểu chuẩn bị sẵn sàng để có thể ký ngay hợp đồng theo cách của người phương Tây sẽ thất bại. Người Nhật luôn muốn tìm hiểu cặn kẽ mọi vấn đề và sẽ quyết định sau khi cân nhắc và thảo luận. Cho nên nếu muốn thúc đẩy quá trình đàm phán để có thể đi đến một kết quả thuận lợi, bạn hãy gửi trước thông tin thật đầy đủ để họ đánh giá.

Một người bạn từng làm ăn với người Nhật đã nói với tôi rằng “làm ăn với người Nhật, đôi khi con đường vòng lại là con đường ngắn nhất”. Việc tiếp cận khách hàng cũng vậy. Bạn không nên đường đột đến công ty của họ và xin gặp để chào hàng, bởi vì họ sẽ không bao giờ tiếp bạn. Bạn phải tìm hiểu và thông qua những người trung gian có ảnh hưởng để giới thiệu trước cho họ biết bạn là ai.

Cách nói không

Là một dân tộc ưa chuộng tính lịch sự nên người Nhật không bao giờ nói không theo kiểu người phương Tây. Họ cho rằng nói không như thế là sỗ sàng và khiếm nhã. Chính vì thế mà việc từ chối một cách lịch sự của người Nhật đã tạo ra không ít sự ngộ nhận cho nhiều người nước ngoài. Khi bạn chào một sản phẩm cho họ, dù không thích họ cũng không bao giờ kết luận thẳng thừng hay chỉ trích sản phẩm của bạn, thay vào đó họ sẽ khen là sản phẩm của bạn rất tốt chúng tôi sẽ xem xét thêm. Nghe như vậy, bạn phải hiểu rằng đó là cách nói lịch sự. Chỉ những sản phẩm nào được họ truy hỏi cặn kẽ về nhiều điểm thì đó mới là những sản phẩm mà họ thực sự quan tâm.

Câu chuyện về sự sòng phẳng và cái toilet

Khi tôi còn làm tổng giám đốc cho một công ty gốm sứ của Nhật tại Sài Gòn, có một lần sau khi làm việc với một nhóm khách hàng đến từ Nhật xong chúng tôi cùng họ đi ăn trưa. Sau bữa ăn, với tính cách hiếu khách của người Việt Nam tôi gọi trả tiền coi như chiêu đãi khách vì họ đến làm ăn với mình. Đây là một việc bình thường đối với các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng đối tác người Nhật của tôi đã cản lại. Ông nói rằng hành động này của tôi sẽ khiến các khách hàng người Nhật kia hiểu lầm là trong quan hệ này, tôi là người được lợi so với họ nên tôi mới bỏ tiền chiêu đãi và như thế họ sẽ xem xét lại các điều kiện thỏa thuận.

Tôi đã làm theo lời khuyên đó và để cho họ góp tiền tự trả theo kiểu “hồn ai nấy giữ”. Đồng thời vào buổi chiều khi đàm phán về giá, tôi đã tính với họ đến từng xu lẻ. Kết quả thật bất ngờ, các vị khách đều đặt hàng với giá trên cả sự mong đợi. Sau này tôi có hỏi ông bạn người Nhật đối tác thì được biết toàn bộ khách hàng đều thỏa mãn vì họ cho rằng giá cả đã thỏa thuận là hợp lý vì tôi phải mặc cả với họ đến từng xu.

Còn một chuyện nữa là trong làm ăn, người Nhật luôn đi tham quan tìm hiểu thực địa để đánh giá đối tác và nơi mà họ quan tâm đầu tiên là cái toilet của công ty bạn. Những doanh nghiệp Việt Nam nào có toilet dưới chuẩn sẽ bị điểm trừ trong mắt của họ. Bởi vì theo họ, cái điều cần thiết nhất ảnh hưởng đến bạn hàng ngày mà bạn làm chưa tốt thì làm sao bạn có thể làm tốt thứ khác.

Trên đây là một vài câu chuyện mà tôi từng trải nghiệm với khách hàng Nhật. Còn rất nhiều câu chuyện khác về phong tục tập quán, cách thức chào hỏi, trao danh thiếp... của người Nhật mà một đối tác cần thông hiểu. Với xu hướng của một làn sóng đầu tư mới từ Nhật đang tìm đến Việt Nam, tôi tin sẽ có những cơ hội cho những ai biết nắm bắt.

Theo TBKTSG
Share:

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

Công thức thành công đáng suy ngẫm của nhà kinh doanh hàng đầu Nhật Bản

“Cách nghĩ x lòng nhiệt tình x năng lực” chính là công thức được ông Inamori Kazou, nhà sáng lập hãng điện tử khổng lồ Kyocera, hãng điện thoại KDDI và nguyên Chủ tịch Hãng Japan Airlines đưa ra để tính thành công của mỗi người.
Inamori là một nhà kinh doanh hàng đầu của xứ sở mặt trời mọc. Ông đã xuất bản nhiều cuốn sách về triết lý kinh doanh được nhiều người biết đến. Trong cuốn sách mới được xuất bản ở Việt Nam, ông đã đưa ra công thức tính toán cho thành công của mỗi cá nhân.

Theo đó, thành công của mỗi một con người là phép tính nhân của 3 yếu tố: “cách nghĩ”, “lòng nhiệt tình” và “năng lực”. Vì là phép tính nhân nên kết quả sẽ được thay đổi theo bội số.

Ông Inamori đưa ra ví dụ, với thang 100 điểm giả định cho mỗi yếu tố. Giả sử một người có năng lực vượt trội hơn người bình thường rơi vào khoảng 80 điểm nhưng do kiêu ngạo, không nỗ lực làm việc nên điểm nhiệt tình của người đó chỉ đạt 30 điểm.

Vậy, khả năng thành công của người đó là: 80 x 30 = 2.400 điểm.

Trong khi đó một người khác có xuất phát điểm năng lực thấp hơn, chỉ đạt 60 điểm. Vì biết mình ở vị trí thấp nên anh ta nỗ lực hết mình để bù lại, điểm nhiệt tình của anh ta đạt 80, phép tính sẽ cho kết quả là 4.800 điểm.

Như vậy, khả năng thành công của anh ta sẽ gấp đôi người có năng lực nhưng lười biếng.

Thái độ hay ở đây được cụ thể hoá là lòng nhiệt tình là một trong những yếu tố sống còn để thành công. Nếu bạn giỏi giang nhưng tự phụ, lười biếng, bạn sẽ trở nên thất bại so với một người kém hơn nhưng chăm chỉ.

Do đó, ông Inamori khẳng định: Nỗ lực hết mình sẽ khiến bạn không thua kém một ai.

Tuy nhiên, cho dù tài năng đến đâu, nỗ lực nhiệt tình đến chừng nào, nhưng nếu không có cách nghĩ tốt, bạn cũng không thể nào thành công được. Cách nghĩ chính là yếu tố quan trọng hàng đầu để thành công, ông Inamori cho biết.

Ông cho rằng kết quả bạn có được phụ thuộc phần nhiều vào cách nghĩ của bạn.

Cách nghĩ tốt nhất được ông đưa ra là lạc quan, có tính xây dựng, hoà hợp, vui tươi, dứt khoát, đầy thiện ý, không ích kỷ, không tham lam, biết đủ là đủ, luôn nhớ ơn người khác,…

Ngược lại, bi quan, có tínhphủ định, không hợp tác, ủ rũ, ác ý, chơi xấu, hung dữ, lười biếng, nói dối, ngạo mạn, ích kỷ, tham lam là những cách nghĩ tiêu cực cần bị loại bỏ.

“Gieo cách nghĩ, gặt tương lai”, do đó Inamori khẳng định trong cuốn sách của mình, tùy theo cách nghĩ và trái tim của bạn, tương lai của bạn sẽ được định hình.
Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016

Văn hóa cafe Nhật khác với phương Tây như thế nào?

Giá bán lẻ cafe tại Nhật cao nhất thế giới và các tiệm cafe Nhật cũng mang một phong cách riêng không trộn lẫn.

http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html

Số liệu công bố bởi Hiệp hội café quốc tế chắc hẳn khiến không ít người ngạc nhiên bởi nếu tính theo tổng lượng tiêu thụ tuyệt đối, Nhật là 1 trong 3 nước tiêu thụ nhiều nhất thế giới. Ngoài ra, nếu tính theo giá bán lẻ thì giá cafe tại Nhật cao nhất thế giới, sau đó mới đến Italy.

Tiệm Starbucks đông đúc và có lãi nhất thế giới không phải nằm tại quê hương của thương hiệu này mà là Starbucks ở Shibuya – một trong những khu mua sắm và kinh doanh sầm uất nhất tại Nhật.

Thế nhưng nếu bạn đã từng sống tại Nhật trong một khoảng thời gian đủ dài để có thể cảm nhận được cuộc sống nơi đây, bạn sẽ hiểu tại sao Nhật lại có thứ hạng cao đến vậy trong các bảng xếp hạng tiêu thụ café thế giới.

Trên khắp các đường phố của thủ đô Tokyo là hàng trăm, hàng nghìn thậm chí hàng chục nghìn những tiệm cafe lớn nhỏ đủ cả ở khắp các góc phố với hàng trăm phong cách khác nhau.

Đó có thể là những tiệm cafe tên tuổi bám sát các ga tàu đông đúc nhộn nhịp nhưng cũng có thể chỉ là một quán cafe nhỏ xíu trên mặt bằng 20 mét vuông với những chú mèo xinh xắn.

Đó có thể là những tiệm cafe thuộc chuỗi Key Coffee thuộc tháp Tokyo, biểu tượng của thời kỳ kinh tế Nhật tăng trưởng cao, hay hàng triệu những chai cafe pha sẵn bán từ các máy bán hàng tự động.

Bạn có thể uống cafe ở Nhật không chỉ với con người mà đó có thể là mèo, chó, thỏ, chim cánh cụt, dê, cú. Tiệm cafe mèo đầu tiên trên thế giới được cho là ở Nhật, sau đó ý tưởng này mới lan sang nước Anh và trở nên rất được ưa chuộng.

Hãy bỏ ra khoảng 1.100 yên, tức 200 nghìn đồng Việt Nam để đến thăm tiệm cafe mèo ở gần ga Akihabara, khu vực nổi tiếng với đồ điện tử và cả “đặc sản” là các cô gái tuổi teen xinh đẹp. Với số tiền trên bạn sẽ được một cốc cafe và chơi với các chú mèo xinh đẹp trong 1 tiếng đồng hồ.

Bởi ở Nhật bất kỳ địa điểm công cộng nào cũng quá đông đúc, vì thế để phục vụ được tối đa khách, rất nhiều các nhà hàng, tiệm cafe quy định giờ đón khách, thường với quán café khoảng một tiếng còn với quán ăn sẽ là 2 tiếng đồng hồ.

Chủ tiệm cafe mèo ở Akihabara cho biết có những khách đến cửa hàng 1 tuần vài lần chỉ để gặp chú mèo yêu thích của mình, họ cũng chẳng quan tâm nhiều lắm đến cafe ngon hay dở thế nào.

Ai đã đưa cafe vào Nhật?

Dù cafe là một thức uống rất phổ biến với người Nhật nhưng lịch sử uống cafe của người Nhật mới chỉ hơn 40 năm qua, điều gây không ít ngạc nhiên cho nhiều người. Theo số liệu của Euromonitor, lịch sử uống cafe có thể coi như rất ngắn nếu so với các loại đồ uống khác như trà xanh.

Gói cafe đầu tiên đến lãnh thổ Nhật từ vài trăm năm trước đây, nhưng người Nhật mới chỉ thực sự thưởng thức nó từ thập niên 1970 bởi công ty Doutor, công ty Nhật đã mở cửa hàng cafe mang phong cách châu Âu đầu tiên tại Nhật vào năm 1980. Tiệm cafe này chỉ có diện tích 9 mét vuông nhưng nó đã thành công đáng kinh ngạc và được coi như bàn đạp cho sự phát triển của Doutor sau này.

Trong khi đó, người châu Âu và Arab đã uống cafe hàng trăm năm nay. Ban đầu cafe được tìm ra và đưa nó thành thức uống tại Ethiopia, sau đó trở nên phổ biến trong thế giới Arab và cuối cùng đến châu Âu qua các con đường giao thương thương mại.

Tại các tiệm cafe ở thế giới Arab, dù đó là Damacus ở Syria hay Cairo tại Ai Cập hoặc các nước từng là thuộc địa Mỹ, các đề tài chính trị tôn giáo luôn rất được quan tâm, thậm chí người ta có thể xô đổ bàn ghế để tranh cãi về các vấn đề này.

Tại châu Âu, các tiệm cafe được coi là nơi gặp gỡ bạn bè và trao đổi đủ thứ chuyện phiếm trên đời, chính vì thế nó cũng rất ồn ào với nhạc và tiếng người nói chuyện ào ào.

Bởi vì cafe bắt đầu trở nên phổ biến tại Nhật trong thời kỳ kinh tế Nhật tăng trưởng cao vì thế không có gì là ngạc nhiên khi mà các tiệm cafe tại Nhật là nơi gặp gỡ thường xuyên của giới doanh nhân trong nước và quốc tế.

Khi ngồi trong tiệm cafe, người Nhật cũng thường không thích tranh luận sôi nổi về tôn giáo, chính trị hay những chủ đề quá nghiêm túc, khá nhiều người trong số họ nói chuyện công việc của cá nhân hay chơi cờ, domino.

Các tiệm cafe tại Nhật thường cũng rất yên tĩnh, đó là văn hóa đặc trưng Nhật: dù có vấn đề gì đi nữa cũng nên tránh làm phiền người khác. Chính vì vậy họ hay im lặng để giữ không gian riêng cho mình và cũng tôn trọng khoảng không gian riêng của người khác. Khách du lịch từ các nơi khác đến không thể hiểu được điều này, vì thế nhiều người Nhật thường tránh đến những tiệm cafe ở các khu vực mà họ cho là sẽ có đông du khách như Shibuya hay Shinjuku.
Ngọc Thúy
Theo Trí Thức Trẻ
 
Share:

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

Vì sao hàng loạt đại gia công nghệ Nhật Bản đi bán rau?

Hàng loạt gã khổng lồ công nghệ Nhật Bản như Toshiba, Fujitsu đang chuyển đổi các nhà máy đã ngừng hoạt động của họ sang trồng rau.

Haruyasu Miyabe từng là nhân viên giám sát một dây chuyền sản xuất chip tại tập đoàn điện tử Fujitsu. Bất ngờ vào một ngày năm 2013, quản đốc của nhà máy này nói với Miyabe rằng hãy sẵn sàng chuyển sang một công việc hoàn toàn mới.

“Bắt đầu từ ngày mai, anh sẽ đi trồng rau diếp”, Miyabe vẫn nhớ chính xác những gì được nói ngày hôm đó.

Trong suốt khoảng thời gian gặp khó khăn của ngành công nghiệp điện tử Nhật Bản nói chung, Fujitsu đã phải đóng cửa 1 trong 3 dây chuyền sản xuất chip vào năm 2009. Hiện tại, trong căn phòng vô trùng và sạch sẽ tuyệt đối từng là nơi sản xuất ra những thiết bị công nghệ cao hàng đầu, Miyabe cùng 30 nhân viên khác đang chăm sóc những cây rau diếp.

Miyabe nói rằng: “Tôi cảm thấy mình gắn bó với quá trình lớn lên của cây. Điều này thật thú vị”.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VjBjOm6fdFo
Trên thực tế Miyabe và Fujitsu không phải là những người duy nhất đi tiên phong trong quá trình thay đổi này. Do gặp phải cạnh tranh gay gắt với những đối thủ tới từ Hàn Quốc và Trung Quốc trong các lĩnh vực kinh doanh như ti vi và điện thoại thông minh – hàng loạt gã khổng lồ công nghệ Nhật Bản đang chuyển đổi các nhà máy đã ngừng hoạt động của họ sang sản xuất nông nghiệp.

Năm 2014, Fujitsu bắt đầu bán rau diếp sạch được trồng từ nhà máy Aizu-Wakamatsu. Cùng thời điểm, Toshiba tuyên bố họ cũng bắt đầu trồng rau bên trong nhà máy sản xuất đĩa mềm gần Tokyo vốn đã không được sử dụng trong suốt 2 thập kỷ trước đó.

Đến cuối năm 2014, Panasonic chính thức triển khai công nghệ nhà kính để trồng rau chân vịt và những loại khác.

Cuối cùng là Sharp - công ty này đã chính thức mở phòng thí nghiệm trồng dâu tây trong nhà tại Dubai sử dụng công nghệ chiếu sáng và lọc không khí của mình.

Bản thân Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe luôn khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng này. Ngoài mong muốn mang lại thay đổi cho các hãng điện tử đang gặp khó khăn, ông Abe cũng muốn tái cấu trúc nền nông nghiệp của nước nhà vốn lâu nay được thực hiện chủ yếu bởi những hộ nông dân trồng cấy trên các thửa ruộng, khu đất nhỏ.

Hệ quả là giá thực phẩm ở mức rất cao. Chính vì vậy, nếu những công ty lớn kể trên tấn công vào lĩnh vực nông nghiệp, ông Abe khẳng định giá thực phẩm sẽ giảm.

Fujitsu ban đầu tài trợ cho dự án Aizu-Wakamatsu tại Fukushima – một dự án giúp khu vực Fukushima tái thiết sau thảm hoạ động đất sóng thần vào năm 2011. Fukushima là một trong những khu vực nông nghiệp lớn nhất tại Nhật Bản. Dự án này nằm cách 60 dặm từ nhà máy hạt nhân đã bị phá hủy sau thảm họa.

Kể từ năm 2014, chính phủ Nhật Bản cũng đã mở rộng các khoản trợ cấp cho lĩnh vực nông nghiệp tiên tiến. Chính nhờ vậy, số lượng các nhà máy sử dụng phương pháp công nghệ cao để trồng rau như của Fujitsu kể trên đã tăng gấp 4 lần trong 3 năm qua lên tới hơn 380 nhà máy.

Tại nhà máy của Fujitsu – các công nhân mặc áo phòng thí nghiệm và đeo mặt nạ để đảm bảo môi trường vô trùng trong khu vực trồng rau. Ngoài ra thay vì đất, các loại rau tại đây sẽ lớn lên nhờ nước tưới theo công nghệ nhỏ giọt mang theo các chất dinh dưỡng.

Trồng rau theo cách này giúp giảm lượng kali – rất phù hợp với thực tế ngày càng nhiều người Nhật lớn tuổi mắc bệnh thận tại Nhật Bản.

Cũng bởi được trồng trong môi trường vô trùng tuyệt đối nên nó có thể giữ được lâu hơn so với những sản phẩm thông thường lên tới 2 tháng nếu được làm lạnh.

“Vì tươi rất lâu nên loại rau này có lợi thế cạnh tranh rất tốt khi mang đi xuất khẩu”, theo Akihiko Sato – quản lý nhà máy nói.

Dĩ nhiên giá của loại rau trồng công nghệ cao này không hề rẻ. Tại một siêu thị gần Tokyo – một túi rau nhỏ của Fujitsu được bán với giá 3 USD tức là hơn 1 USD so với túi rau thông thường.

Toshiba nói rằng họ cần tăng sản lượng để có thể tạo ra lợi nhuận trong lĩnh vực này. Công ty hiện nhắm tới việc phát triển 3 triệu cây rau diếp mỗi năm và doanh số bán hàng đạt mức 2,9 triệu USD tính đến năm tài chính 2015.

Họ cũng lên kế hoạch mở rộng mảng kinh doanh này sang những khu vực khác tại châu Á và Trung Đông – nơi có khí hậu khắc nghiệt và nguồn nước nghèo nàn gây khó khăn trong việc trồng rau.
Sản phẩm rau của Toshiba:
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VjBjOm6fdFo
Fujitsu thì khởi đầu khiêm tốn với năng suất 3.500 cây rau diếp mỗi ngày. Họ dự định thu về 4 triệu USD tính tới năm tài chính 2016 – tăng từ mức 1,5 triệu USD trong năm 2014.

Dẫu có nhiều ưu điểm như vậy nhưng không phải ai cũng bị thuyết phục rằng nông nghiệp công nghệ cao là hướng đi đúng đắn trong tương lai.

Yukihiro Kato – một nông dân tại tỉnh Yokohama – người bán hàng loạt các sản phẩm nông nghiệp tại chợ địa phương nói rằng nhu cầu rau hữu cơ đang tăng.

“Nếu nói về kiểm soát chất lượng, các công ty lớn có thể có một vài lợi thế. Tuy nhiên nếu nói về dinh dưỡng, chúng tôi lại có lợi thế lớn hơn”, anh nói.

Panasonic đang cố gắng tìm ra cách kết hợp hài hoà giữa công nghệ cao và các nông trại truyền thống. Trong các nhà kính thông minh, nông dân sẽ chuẩn bị đất và giống cây theo cách thông thường.

Tuy nhiên trong quá trình cây phát triển có sử dụng bộ cảm biến nhiệt độ và độ ẩm. Nếu quá nóng, hệ thống của Panasonic sẽ tự động đóng rèm cửa để ngăn ánh sáng mặt trời và mở cửa sổ để lưu thông gió hoặc ngược lại khi trời quá lạnh.

Với Takayoshi Tanizawa – một nhân viên Panasonic 40 tuổi thì bước ngoặt trong sự nghiệp của ông tới vào 3 năm trước khi quyết định chuyển từ làm ghế massage sang trồng rau chân vịt.

Sự thay đổi này thực chất không quá nghiêm trọng như mọi người nghĩ và có một vài điểm chung. Trong khi một chiếc ghế massage sử dụng động cơ để di chuyển các quả bóng lăn bên trong thì nhà kính sử dụng động cơ để điều chỉnh rèm ngăn ánh sáng mặt trời.

Thay vì bơm không khí vào 1 chiếc túi để massage chân thì nhà kính được sử dụng các máy bơm nước để tưới rau chân vịt.

Ngoài ra, ông Takayoshi cũng tìm được niềm an ủi khác bởi khách hàng không quá kỹ tính với các loại rau. “Khi thử ghế massage, có người sẽ cảm thấy nó tốt trong khi một số khác lại nghĩ ngược lại. Trong khi đó, với các loại rau thì không như vậy”.
Vân Đàm
Theo Trí Thức Trẻ/WSJ 

Share:

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015

Bí quyết 'sống thọ' suốt 900 năm của một hãng rượu gạo Nhật Bản

Cho đến giờ, thay vì tập trung mở rộng mảng kinh doanh, hiện hãng rượu Sudohonke vẫn giữ quan điểm coi trọng chất lượng thay vì lợi nhuận

Trong suốt hơn 900 năm, nhà sản xuất rượu gạo Sudohonke vẫn tồn tại qua các cuộc chiến tranh, nạn đói, động đất, bão lũ và nhiều thảm họa khác. Tuy nhiên, khủng hoảng hạt nhân đầu năm 2011 xảy ra tại nhà máy Fukushima có lẽ là biến cố lớn nhất khiến Sudohonke thật sự sợ hãi.

“Nguồn nước chính là yếu tố quan trọng nhất đối với sản phẩm của chúng tôi”, Genuemon Sudo – chủ tịch Sudohonke nói với tờ The Japan Times trong một bài phỏng vấn vào năm 2012. “Chúng tôi gần như phải đóng cửa nếu nguồn nước sản xuất rượu bị nhiễm phóng xạ”. Sudo là người chủ sở hữu thứ 55 của công ty.

Nguồn gốc của nhà máy rượu này hiện không còn chính xác nhưng một giấy tờ được lưu trữ ở công ty cho thấy nó được mở vào năm 1141 tại chính địa điểm hiện tại ở Kasama, Ibaraki Prefecture.

Khuôn viên gia tộc Sudohonke hiện tại
Khuôn viên gia tộc Sudohonke hiện tại

Ông Sudo ban đầu không tự tin có thể đảm đương vị trí chủ tịch Sudohonke thành công như cha mình. Tuy nhiên quan điểm này đã thay đổi khi ông vào trung học. Do nhận thấy việc rượu whiskey ngày càng trở nên phổ biến trong các nhà hàng Nhật Bản, ông thấy mình có trách nhiệm phải cung cấp rượu gạo của gia đình cho những người chưa được thưởng thức.

Thêm nữa trong một chuyến thăm quan nhà hàng Nhật Bản ở Mỹ vào những năm 1980, ông hoàn toàn bị “sốc” vì chất lượng tồi của rượu gạo được phục vụ khách hàng.

“Tôi muốn quay trở về những thứ cơ bản, tạo ra một loại rượu ngon, sử dụng những nguồn nguyên liệu có sẵn tốt nhất. Tôi muốn chứng minh rượu gạo tốt nhất thật sự sẽ phù hợp với mọi loại thức ăn”.
Cho đến giờ, thay vì tập trung mở rộng mảng kinh doanh, hiện công ty vẫn giữ quan điểm này và đi tiên phong về chất lượng thay vì lợi nhuận.

Trong suốt mùa nấu rượu bắt đầu từ tháng 11 cho tới cuối tháng 4, Sudohonke đã sản xuất ra 180 kiloliter mỗi năm và chỉ sử dụng nguồn nước ở địa phương và loại gạo hảo hạng nhất.

Tuy nhiên, mặc cho sức tàn phá của trận động đất, sóng thần diễn ra vào ngày 11/3/2011, nhà máy Sudohonke chỉ phải trải qua một vài vấn đề nhỏ bao gồm việc một vài bình ủ rượu bị hư hại.
Chính những kinh nghiệm khôn ngoan truyền lại từ thế hệ trước đó về cách chiến đấu với các thảm họa thiên nhiên đã đóng vai trò quan trọng trong việc tối thiểu hóa thiệt hại gây ra vào ngày 11/3/2011.

Gia tộc sở hữu Sudohunke qua nhiều đời không bao giờ chặt bất kỳ loại cây nào trong khuôn viên đất của họ. Một bí quyết truyền đời từ thế hệ này sang thế hệ khác trong gia tộc Sudo nữa là tránh chuyển tới gần bờ biển hay vùng núi.

Bờ biển Ibaraki vốn đã chịu thiệt hại không nhỏ tự trận sóng thần. Hơn nữa, việc bụi phóng xạ từ nhà máy Fukushima 1 cách Sudohonke 130km gây ra rắc rối không hề nhỏ.

Tuy nhiên, hãng này vẫn nói rằng việc đảm bảo an toàn nguồn nước là ưu tiên hàng đầu. Ngoài những biện pháp phòng tránh, Sudohonke vẫn mang mẫu nước đến trung tâm nghiên cứu cứ 2 tháng một lần để đảm bảo không có gì bất thường.

“Nếu mất nguồn nước, không có cách nào để chúng tôi có thể duy trì hoạt động kinh doanh”, Sudo nói. Dẫu vậy, doanh số bán hàng đã giảm mạnh vào tháng 3/2011.

Sudohonke đã bị mất hết những khách hàng nước ngoài – chiếm 20% doanh số bán hàng hàng năm. Tình huống này thậm chí không được cải thiện thậm chí sau 17 tháng kể từ khi xảy ra thảm họa.

“Một khi các nhà hàng đưa loại rượu của chúng tôi ra khỏi thực đơn, rất khó để làm ăn lại được với họ. Công ty chúng tôi bắt đầu xuất khẩu rượu vào năm 1995 nhưng giờ thì phải bắt đầu lại từ đầu”. Sudo giải thích rằng không có con đường tắt nào để phục hồi doanh số bán hàng của công ty.

Gen-Uemon Sudo, Chủ tịch hiện tại của hãng rượu 900 năm tuổi Sudohonke.
Gen-Uemon Sudo, Chủ tịch hiện tại của hãng rượu 900 năm tuổi Sudohonke.

Kinh doanh giống như quy trình sản xuất rượu gạo - chỉ có thể thành công nếu bạn bỏ thời gian và công sức làm mọi thứ một cách tỉ mỉ kỹ càng ngay từ những thứ nhỏ nhặt nhất. Nếu Sudo phải để lại lời nhắn gửi cho thế hệ tương lai liên quan tới trận động đất khủng khiếp năm 2011, nó đơn giản chỉ là:

“Đừng bao giờ nghĩ rằng con người có thể kiểm soát được thiên nhiên. Đừng chặt phá rừng – giống như các bậc tiền bối đã nói”, ông nói và nói thêm rằng bảo vệ môi trường cũng là yếu tốt then chốt để tạo nên một hãng rượu gạo thành công.

“Tập trung vào bảo vệ thiên nhiên là yếu tố quan trọng để làm nên loại rượu ngon hảo hạng và tôi cho đó là vấn đề lớn nhất. Yếu tố quan trọng không phải là tạo ra một thương hiệu phổ biến hay bán nhiều sản phẩm”.

Hiện tại ông Sudo nói rằng đang trao lại công việc kinh doanh của gia đình cho 3 người con để giành thời gian nhiều hơn cho bản thân.

“Có 4 chiếc hộp lớn mà chúng tôi luôn giữ ở công ty trong nhiều năm nay trong đó chứa các công thức, giấy tờ kế toán từ trước đó, thậm chí là thời kỳ Edo. Thật tuyệt vời nếu tôi có thể dành thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu và học hỏi từ những câu chuyện kinh doanh của chính gia đình”.

Theo Trí Thức Trẻ/JapanTimes

>> Bí quyết trường thọ nghìn tuổi của công ty Nhật: Không chọn con ruột nhưng có thể chọn con rể
Share:

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2015

Bí quyết trường thọ nghìn tuổi của công ty Nhật: Không chọn con ruột nhưng có thể chọn con rể

Có một số lượng không nhỏ những công ty của Nhật Bản đã tồn tại và hoạt động liên tục được cả nghìn năm.


Những công ty trăm năm tuổi ở Mỹ như General Electric hay Ford trở thành “cây đai thụ” dưới con mắt Google hay Facebook. Tuy nhiên, thực tế có một số lượng không nhỏ những công ty của Nhật Bản - đã tồn tại và hoạt động liên tục được cả nghìn năm.

Quốc gia này là quê hương của không ít doanh nghiệp hoạt động liên tục lâu đời nhất trên thế giới. Một trong số đó phải để đến hệ thống khách sạn suối nước nóng Nishiyama Onsen Keiunkan 1.300 năm tuổi hay nhà sản xuất bia Sudohonke 900 năm tuổi.

Trong khi nhà sản xuất súng lâu đời của Ý là Beretta hoạt động từ năm 1526 hay hãng sản xuất mũ Zildjian được thành lập năm 1623 tại Thổ Nhĩ Kỳ. Thì những công ty lâu đời như vậy lại tương đối phổ biến tại Nhật Bản.

Đất nước này hiện là quê hương của hơn 50.000 doanh nghiệp có tuổi đời trên 100 năm. Trong số đó, có 3.886 doanh nghiệp đã hoạt động được trên 200 năm. Đối lập lại, theo số liệu thống kê chỉ có 1 trong 4 công ty ở Mỹ được thành lập từ năm 1994 vẫn hoạt động cho tới năm 2004.

Bí quyết để tồn tại tới hàng nghìn năm là gì?

Câu hỏi được nhiều người đặt ra là vì sao những công ty kể trên lại có thể tồn tại lâu đến vậy. Lý do đầu tiên có thể kể đến là bởi những công ty này có xu hướng tập trung vào những ngành công nghiệp gần như không bao giờ lỗi thời.

Kongo Gumi - công ty từng hoạt động trong suốt 1.429 năm trước khi đóng cửa vào năm 2007 chuyên xây dựng các ngôi đền Phật giáo. Rõ ràng, đây là mảng kinh doanh hứa hẹn trong mọi thời kỳ ở một đất nước có lịch sử Phật giáo lâu đời như Nhật Bản.

Ngôi đền đầu tiên mà Kongo Gumi xây dựng gần Osaka được hoàn thành vào năm 593. Kể từ sau đó, cũng chính công ty này đã đảm đương công việc tu sửa công trình này tới 6 lần.

Theo tác giả cuốn sách “Centuries of Succes” là William O’Hara thì: “Có một mô hình thành công chung. Hoạt động của những công ty gia đình lâu đời nhất tại Nhật Bản thường liên quan tới những lĩnh vực cơ bản của con người như ăn uống, vận chuyển, xây dựng”.

Bên cạnh đó, còn một lý do khác khiến số lượng những công ty “trường thọ” tại Nhật Bản cao bậc nhất thế giới là bởi cách các doanh nghiệp gia đình ở đây kế thừa và truyền lại cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Theo đó, chủ sở hữu của các doanh nghiệp gia đình Nhật Bản thường trao tại toàn bộ công ty cho người con trai cả của họ. Tuy nhiên, bí mật khiến công việc kinh doanh của những doanh nghiệp kiểu này vẫn suôn sẻ là bởi khi người chủ sở hữu doanh nghiệp không tin tưởng trao ngai vàng cho thế hệ sau thì họ có thể tìm người thay thế bằng cách nhận con trai nuôi. Và người này thường là con rể trong gia đình.

“Việc duy trì công việc kinh doanh liên tục được đảm bảo bởi việc tuỳ chỉnh để một người con trai nuôi thay thế người con ruột điều hành công ty nếu cảm thấy không phù hợp”, theo Mike Smitka - một giáo sư kinh tế tại Đại học Washington and Lee.

Các công ty lâu đời nhất tại Nhật Bản thường được cho là công ty gia đình trị tuy nhiên thực tế đây là một nhận định chưa chuẩn xác.

Một nghiên cứu vào năm 2011 tại Nhật Bản chỉ ra rằng các doanh nghiệp được điều hành bởi những người thừa kế là con nuôi thường làm tốt hơn những người thừa kế có quan hệ máu mủ.

Điều này cũng lý giải được phần nào số liệu thống kê khá kỳ lạ về các gia đình tại Nhật Bản: Không giống với Mỹ - nơi hầu hết người được nhận nuôi là trẻ con thì 98% những người được nhận nuôi ở Nhật Bản khi họ từ 25 - 30 tuổi. Đúng như câu tục ngữ của người Nhật: “Không thể chọn con ruột nhưng có thể chọn con rể”.

Những dấu hiệu thoái trào

Nổi tiếng là vậy nhưng trong thập kỷ vừa qua, một vài doanh nghiệp lâu đời nhất của Nhật Bản cuối cùng đã phải đóng cửa. Tháng 1 năm nay, thương hiệu bán đồ hải sản 465 năm tuổi là Minoya Kichibee đã nộp đơn xin phá sản. Trước đó, nhà sản xuất kẹo 533 tuổi Surugaya cũng chứng kiến số phận tương tự.

Trong năm 2007, sau 1.429 năm hoạt động, công ty xây dựng đền chùa Konga Gumi cũng tuyên bố phá sản và sau đó bị thâu tóm bởi một công ty lớn hơn.

Dĩ nhiên, việc 3 công ty kể trên phá sản không đủ để nói rằng đang có một trào lưu thoái trào của những doanh nghiệp kỳ cựu tại Nhật Bản. Tuy nhiên rõ ràng nó đang cho thấy có một điều gì đó không ổn diễn ra khiến ngay cả những công ty đã hoạt động trong suốt hàng nghìn năm đột nhiên bị đóng cửa.

Vì vậy lý do có thể khiến những doanh nghiệp “lão làng” này phá sản là gì?

Hầu hết mọi người bị thuyết phục bởi lập luận của giáo sư Ulrike Schaede đến từ đại học U.C. San Diego khi cho rằng chính phủ Nhật Bản đã thay đổi luật đối với những công ty đang gặp khó khăn.
Trên phương diện lịch sử, giáo sư Schaede nói rằng trước đây các ngân hàng Nhật Bản thường ra tay giúp đỡ đối với ngay cả những doanh nghiệp túng quẫn nhất mà không cần mảy may suy nghĩ. “Khoảng giữa năm 1955 và 1990, chỉ 72 công ty của Nhật Bản phá sản. Lý do là bởi các ngân hàng từ chối cho họ vay tiền”.

Sau đó tới năm 2000 - thời điểm Nhật Bản thông qua luật phá sản và 4 năm sau đó, bộ luật này tiếp tục được sửa đổi đã khiến những công ty đang gặp khó khăn trở nên khốn khổ. “Những công ty làm ăn thua lỗ sẽ không còn nhận được sự giúp đỡ từ các ngân hàng nữa trừ khi họ có kế hoạch thay đổi cụ thể”.

Những hãng lâu đời như công ty thực phẩm Minoya Kichibee thậm chí vẫn sử dụng công thức từ 350 năm trước một phần là bởi họ vẫn nhận được sự hỗ trợ từ phía ngân hàng ngay cả khi sản phẩm của công ty không còn khả quan trong thế giới hiện đại.

Ngoài ra Schaede nhận định rằng sở dĩ những công ty lâu đời của Nhật Bản vẫn có thể tồn tại được thêm 15 năm sau khi bộ luật mới được công bố là bởi các ngân hàng vẫn chưa kịp thích ứng với những thay đổi ngay lập tức. “Việc chuyển từ hệ thống cũ sang mới không thể chỉ được thực hiện qua một đêm”.

Dù luật mới là nguyên nhân chủ yếu khiến những công ty lâu đời này phá sản nhưng đó chưa phải là tất cả. Cần phải nói thêm rằng chuẩn mực văn hoá Nhật Bản cũng đã thay đổi rất nhiều trong những thập kỷ gần đây. Chỉ có điều, ít người biết hoá ra nó lại gây tổn thương không nhỏ cho các công ty bán đồ truyền thống.

“Giới trẻ Nhật Bản không còn thích thú với văn hoá truyền thống Nhật Bản so với bố mẹ và ông bà chúng. Khi lớp người già mất, nhu cầu cũng theo đó mà giảm đi đối với các sản phẩm của những công ty kể trên”.

Xã hội Nhật Bản cũng bắt đầu xuất hiện những lập trường khác nhau về hôn nhân, nhận con nuôi và thừa kế.

Rất nhiều nhà báo và học giả thường xuyên theo dõi các doanh nghiệp lâu đời ở Nhật Bản đã cố gắng đúc kết bí quyết kinh doanh trường tồn của họ. Như một bài viết trên tờ BusinessWeek vào năm 2007 nói rằng: "Câu chuyện của Kongo Gumi cho thấy các doanh nghiệp cần phải hài hoà được giữa yếu tố bảo thủ và linh hoạt”.

Nhìn chung, với những công ty kể trên, hoàn cảnh thường quan trọng hơn là kế hoạch kinh doanh. Và như vị chủ tịch đời cuối cùng của Kongo Gumi đã nói khi được hỏi về bí quyết thành công của công ty ông: Một quy tắc không thể chối bỏ để có thể sống thọ đó là "Đừng uống quá nhiều!"
Vân Đàm
Theo Trí Thức Trẻ/The Atlantic

 
Share:

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015

Cuộc đời bí ẩn của tỷ phú Nhật Bản từng 4 năm giữ ngôi vị 'Người giàu nhất thế giới'

Yoshiaki Tsutsumi là tỷ phú người Nhật Bản, ông từng giữ ngôi vị Người giàu nhất thế giới trong 4 năm liên tiếp kể từ 1987 cho đến 1990 theo xếp hạng của Forbes.

http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html
Ai cũng từng nghe tới những tên tuổi tỷ phú hàng đầu như Bill Gates, Richard Branson hay Warren Buffett – những người có tài sản nhiều tới mức họ có thể mua được cả một đất nước nhỏ nếu muốn.

Tuy nhiên, có một người đàn ông bí ẩn rất ít được mọi người nhắc tới, ít nhất là tại thời điểm này. Ông không chỉ là người đàn ông giàu nhất Nhật Bản mà thậm chí từng là người giàu nhất thế giới.

Ông ấy là ai?

Trong suốt thời kỳ bùng nổ kinh tế vào những năm 80, đất nước Nhật Bản đã phát triển không ngừng nghỉ. Thành công về kinh tế của họ cứ như vậy phình to hơn và không hề có dấu hiệu dừng lại.

Thời kỳ này cũng tạo ra không ít câu chuyện kinh doanh thành công. Và một trong những doanh nhân, tỷ phú điển hình sản sinh ra trong thời kỳ này là Yoshiaki Tsutsuni.

Tsutsumi là người đàn ông giàu nhất thế giới trong 4 năm liên tiếp kể từ 1987 cho đến 1990 theo xếp hạng của Forbes. Cụ thể trong năm 1989, ông là người giàu nhất thế giới với khối tài sản 15 tỷ USD. Với số tiền đó, Tsutsuni vượt qua hàng loạt tên tuổi khác bao gồm cả Sam Walton – nhà sáng lập chuỗi siêu thị Walmart với khối tài sản 13,3 tỷ USD.

Và theo như cuốn sách Outliers, trong danh sách 75 người giàu nhất trong lịch sử loài người - bao gồm những tên tuổi tới trong rất nhiều lĩnh vực: Từ những tay cướp bóc khét tiếng của thế kỷ 19 đến các tỷ phú dot-com, vua chúa và cả các pharaoh. Tsutsuni vinh dự là đại diện duy nhất của Nhật Bản có mặt trong danh sách này.

Ngài Yasujiro Tsutsumi - Nhà sáng lập tập đoàn Seibu:
http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html
Có thời gian, ông là chủ tịch Hội đồng Olympic Nhật Bản và đã quyên góp rất nhiều tiền cho cuộc vận động hành lang để kỳ Olympic mùa đông năm 1998 được tổ chức tại Nagano, Nhật Bản.

Có thể thấy, dù không phải người “chơi trội” như tỷ phú Richard Branson hay có khối tài sản ấn tượng như Bill Gates, nhưng ở thời điểm những năm 1990, Tsutsumi được xem là người đàn ông cực kỳ giàu có và có tầm ảnh hưởng lớn.

Vì đâu Tsutsumi giàu tới vậy?

Tsutsumi may mắn được sinh ra trong một gia đình giàu có. Cha của Tsutsumi là tộc trưởng của một trong những gia tộc có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong xã hội Nhật Bản hiện đại. Yasujirō Tsutsumi khi đó là chủ tịch của tập đoàn Seibu – công ty quyền lực nhất trong ngành đường sắt, khách sạn và bất động sản tại xứ sở mặt trời mọc. Tuy nhiên, ông luôn được đánh giá thấp hơn người anh em cùng cha khác mẹ của mình là Seiji Tsutsumi.

Ngài Yasujiro nắm giữ vị trí chủ tịch Seibu và cho tới mãi năm 1964 Tsutsumi – khi đó 30 tuổi mới được thừa kế ngai vàng sau cái chết của nhà sáng lập. Điều đáng nói là lúc này, rất nhiều người nghĩ rằng người anh Seiji Tsutsumi mới là người thừa kế tập đoàn. Tuy nhiên thay vào đó, Seiji chỉ thừa kế chuỗi cửa hàng mua sắm của Seibu và sau đó ông này tự tạo nên đế chế riêng của mình là Credit Saison.

Sau khi lên nắm quyền, Tsutsumi tiếp tục xây dựng và mở rộng đế chế của cha mình. Tsutsumi đã mua nhiều khách sạn, khu trượt tuyết, sân golf, phát triển đế chế bất động sản thành một tập đoàn khổng lồ.

Ông mua đội bóng rổ Saitama Lions và giúp nó liên tiếp giành cúp vô địch. Tập đoàn Seibu thậm chí có lúc còn cân nhắc tới việc mua lại Seattle Mariners – đội tuyển bóng chày nổi tiếng của Mỹ.
http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html
Hãng tàu của tập đoàn Seibu

Khối tài sản khổng lồ và sức ảnh hưởng của tập đoàn Seibu đã khiến hai người con trai tỷ phú của Yasujirō trở thành đề tài đặc biệt thú vị tại Nhật Bản. Trong cuốn sách “The Brothers: The Hidden World of Japan’s Richest Family” (Tạm dịch: The Brothers: Thế giới bí ẩn của gia tộc giàu có nhất Nhật Bản) cũng đề cập tới vấn đề này.

Cuốn sách viết rằng thật khó nếu như tới Nhật Bản mà không bắt gặp hoặc sử dụng dịch vụ và sản phẩm của gia tộc Tsutsumi. Họ sở hữu rất nhiều thứ từ tàu lửa, khu resort nghỉ dưỡng, trung tâm mua sắm Seibu, đội bóng Seibu Lions và rất nhiều mảng kinh doanh khác.

Đặc biệt, cuốn sách đã nhắc tới Yasuhiro như một người đàn ông nắm quyền lực vô song trong giới tài chính Nhật Bản lúc bấy giờ.

Vì sao hiện giờ không còn ai nhắc tới Tsutsumi?

Tsutsumi từng có tất cả, ở trên đỉnh cao của danh vọng. Tuy nhiên đáng tiếc, phần đời còn lại ông đã không nhận được một kết thúc có hậu. Sự cố bong bóng bất động sản đổ vỡ vào những năm 1986 - 1991 khiến toàn bộ nền kinh tế Nhật lao dốc. Điều này đã khiến đế chế Seibu chao đảo. Tuy nhiên, còn một yếu tố khác khiến Seibu sụp đổ hoàn toàn.

Trong năm 2004, chính phủ Nhật Bản đã thiết lập những quy chuẩn kế toán và quản trị tập đoàn chặt chẽ. Tập đoàn Seibu đã rơi vào tầm ngắm và bị phanh phui rất nhiều sai phạm. Cuối cùng họ đã buộc phải hủy niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tokyo.

Đây chính là những năm tháng tồi tệ nhất trong cuộc đời Yoshiaki Tsutsumi nói riêng và thanh danh của gia tộc Tsutsumi nói chung. Trong năm 2005, ông bị bắt vì cáo buộc giao dịch ngầm và làm giả giấy tờ. Hình phạt của ông là gần 50.000 USD và ngồi tù 4 năm.

Tuy nhiên, nỗi hổ thẹn của ông không phải là việc bị phạt và ngồi tù mà là mất đi đế chế Seibu. Khi Seibu gặp phải bê bối, Tsutsumi buộc phải rời khỏi mọi vị trí ông đang nắm giữ trong tập đoàn.

Thậm chí, tờ Business Insider còn miêu tả ông như một trong những tỷ phú đen đủi nhất trong lịch sử khi thổi bay toàn bộ khối tài sản tỷ đô chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi.

Nhiều người cho rằng thành công của Tsutsumi và sự sụp đổ của ông là ví dụ tiêu biểu của sự bùng nổ và suy sụp của nền kinh tế Nhật Bản. Khi kinh tế Nhật Bản đạt đỉnh cao vào những năm 80 đã sản sinh ra không ít tỷ phú, doanh nhân thành đạt. Tuy nhiên sau đó khi bong bóng vỡ, những người này ngập chìm trong thất bại và bê bối.

Hiện tại Tsutsumi đã 82 tuổi và mặc dù tuổi thọ của người Nhật Bản rất cao. Tuy nhiên sẽ rất khó có một phép màu nào đó giúp Tsutsumi có thể lấy lại phong độ và gây dựng lại cơ nghiệp của gia đình.
Trí Thức Trẻ/CafeBiz

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?