Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn người Nhật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn người Nhật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2016

Cô gái Nhật giúp hàng ngàn người Việt thoát nghèo nhờ nông nghiệp hữu cơ

Thông qua dự án phi lợi nhuận Seed To Table thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam, cô Mayu Ino đã giúp hàng ngàn nông dân thoát nghèo. 
 

Vào năm 2009, cô gái Mayu Ino đến từ Tokyo đã thành lập một tổ chức phi chính phủ là Seed To Table để hỗ trợ những người nông dân Việt Nam, thông qua việc giúp đỡ họ làm nông nghiệp hữu cơ và chăn nuôi.

"Chúng tôi khuyến khích phát triển bền vững bằng cách giúp người nông dân tạo ra nguồn thu nhập thường xuyên. Song song với việc giúp họ tự chủ về kinh tế, chúng tôi còn hỗ trợ việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong cộng đồng", Ino nói.

Seed To Table hoạt động dựa vào nguồn ngân sách 15 triệu yen mỗi năm (khoảng 3 tỷ đồng), được tài trợ bởi nhiều cá nhân và tổ chức, trong đó có công ty mỹ phẩm Lush (Anh), quỹ môi trường của tập đoàn Mitsui và Bộ Ngoại giao Nhật Bản. Chỉ trong vòng 3 năm qua, dự án này đã giúp xóa đói giảm nghèo cho hơn 1.300 hộ gia đình.

Ino đã có nhiều kỷ niệm gắn bó với đất nước Việt Nam, kể từ lần đầu tiên cô đặt chân đến mảnh đất hình chữ S vào năm 1997, để nhập học ngành ngôn ngữ và văn hóa tại Đại học Quốc Gia Hà Nội.

Ino vẫn nhớ như in cái cảm giác đau đớn ở cơ lưỡi khi cô phát âm 6 âm sắc của tiếng Việt. Sau nhiều tháng liền khổ luyện, cuối cùng cô đã tiến bộ và tự tin rằng mình có thể phát âm được tiếng Việt hoàn hảo. Một lần nọ, khi chiếc xe của cô bị thủng lốp, cô hỏi bằng tiếng Việt với bà chủ nhà nơi cô thuê ở về chỗ sửa xe đạp. "Bà chủ nhà gật đầu ra vẻ đã hiểu những gì tôi nói. Nhưng sau khi đi một hồi, bà quay lại với một hộp sữa chua trên tay", Ino nhớ lại và cười.

Không nản lòng, Ino tiếp tục kiên trì việc học. Sau khi rời Hà Nội, cô gái này đã lấy bằng Thạc sĩ ngành Đông Nam Á học tại Đại học Hitotsubashi (Tokyo), sau đó gia nhập Trung tâm Tình nguyện Quốc tế Nhật Bản (JVC) với vai trò là điều phối chương trình, và sau đó là người đại diện tổ chức này tại Việt Nam. Trong 6 năm liền, Ino đã hỗ trợ các dự án phát triển cộng đồng như xây dựng đập nước và trồng quýt để chống xói mòn đất.

Khi JVC đóng cửa văn phòng tại Việt Nam vào năm 2009, Ino đã quá gắn bó với mảnh đất này, vì vậy cô đã thành lập Seed To Table. Giờ đây, dự án này hiện đang hoạt động chủ yếu ở hai khu vực chính là tỉnh Hòa Bình và tỉnh Bến Tre.
 Mayu Ino đã gắn bó với đất nước Việt Nam kể từ năm 1997 tới nay - Ảnh: Japan Times
Hành trình trở lại với di sản

Hòa Bình là nơi sinh sống chủ yếu của các đồng bào dân tộc Mường và Ino đã làm việc với họ kể từ năm 2003. Theo cô, một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất trong cộng đồng người Mường là tình trạng lạm dụng hóa chất nông nghiệp, đây cũng là mầm mống gây nên nhiều căn bệnh cho trẻ em ở địa phương này.

"Các nông dân ở Hòa Bình từng dựa vào phương thức canh tác truyền thống để trồng cây lúa và mía đường. Nhưng gần đây, họ lại quá phụ thuộc vào thuốc trừ sâu và phân bón hóa học đến mức nhiều người không còn biết cách làm nông nếu không có những loại hóa chất này. Chúng tôi cố gắng chỉ lại cho họ những phương pháp mà họ đã quên", Ino bộc bạch.

Để hợp tác chặt chẽ với bà con nông dân địa phương, Ino tiến hành chiến dịch thu thập côn trùng và các loài sống trong ao hồ để xác định loài nào có hại và có lợi cho cây trồng. Trong khi đó, nông dân sẽ thu thập hạt giống của các loài cây trồng bản địa nhằm phân loại và để dành cho các mùa vụ kế tiếp. Bằng cách này, hạt giống có thể thích hợp với điều kiện ở địa phương và có thể phát triển trong phân ủ mà không cần hóa chất.
Co gai Nhat giup hang ngan nguoi Viet thoat ngheo nho nong nghiep huu co
Cô Bùi Thị Thương ở Hòa Bình và những hạt giống quý được giữ lại để bảo quản - Ảnh: Mayu Ino

Năm 2014, những chiến dịch này đã giúp các nông dân Hòa Bình được cấp giấy chứng nhận sản phẩm hữu cơ, cho phép họ bán các sản phẩm của mình với giá cao hơn so với các loại cây trồng bằng phân hóa học. Để quảng bá các sản phẩm hữu cơ của nông dân Hòa Bình như thịt heo, trứng và bưởi, Ino vừa tổ chức một buổi hội thảo với Câu lạc bộ Đầu bếp Hà Nội, một tổ chức bao gồm nhiều đầu bếp có tiếng từ các khách sạn và nhà hàng lớn.

"Ngân hàng" chuyên cho vay vịt và bò

Trong khi đó tại tỉnh Bến Tre, vẫn còn có khá nhiều người dân sống trong cảnh thiếu thốn. Chẳng hạn, công nhân chế biến hải sản chỉ được trả 80.000 đồng cho một ngày công, và tình trạng đất chật người đông khiến cho nhiều nông dân không có đủ đất canh tác để nuôi sống gia đình.

Do đó, Ino đã giúp đỡ nông dân Bến Tre trồng trọt các sản phẩm hữu cơ có thể bán với giá cao hơn hai, ba lần so với mức bình quân thị trường. Một trong số các khách hàng trung thành nhất của nông dân là các trường học tại địa phương. Họ thường mua sản phẩm để phục vụ bữa ăn "không hóa chất" cho học sinh.

Năm 2015, Seed To Table tổ chức một cuộc thi cho trẻ em nhằm tìm ra logo cho các sản phẩm rau quả hữu cơ. Mẫu thiết kế đoạt giải trong cuộc thi lần đó là một bó bắp cải được quấn băng có ghi chữ "Hữu cơ", và nó đã được in vào các bao bì đóng gói trái cây và rau quả cùng với số điện thoại của nông dân. Nhờ đó, người tiêu dùng có thể liên hệ trực tiếp họ để thắc mắc hoặc khiếu nại về sản phẩm.

Ngoài các hóa chất nông nghiệp, người dân Bến Tre cũng đang lo ngại về tình trạng ô nhiễm từ hàng triệu lít chất độc màu da cam sau chiến tranh. Ngày nay, có khoảng 13.000 người dân trong tỉnh (trên tổng dân số 1,5 triệu người) đang bị phơi nhiễm chất độc này. Trong đó có nhiều trẻ em mắc bệnh, buộc cha mẹ các em phải ở nhà chăm sóc. Do không thể làm việc, những gia đình này nhận được hỗ trợ từ Seed To Table dưới hình thức xây dựng nhà và nâng cấp phương tiện chăm sóc. Chẳng hạn như vào năm 2014, đóng góp của các nhà từ thiện từ Nhật Bản đã giúp Seed To Table xây dựng một phòng ngủ có lát gạch cho một bệnh nhân trẻ mắc bệnh tràn dịch não.

Dù Seed To Table thường xuyên nhận được sự ủng hộ rất tích cực, tuy nhiên nhiều người cũng có phần hoài nghi về những lợi ích lâu dài của các dự án có quy mô nhỏ như vậy. Mặc dù vậy, Ino vẫn khá tâm huyết với công việc và giá trị từ sự giúp đỡ, và không gì chứng minh được điều này tốt hơn ý tưởng "ngân hàng vịt" của cô.

Từ năm 2012, Ino đã sắp xếp cho nhiều gia đình "vay" 25 con vịt con để họ nuôi lớn, thu hoạch trứng rồi bán thịt.

"Tại Bến Tre, một gia đình đã nhận nuôi 25 con vịt để lấy trứng và trong vòng một năm, họ đã kiếm đủ tiền để mua bốn bể chứa nước. Đổi lại, các bể chứa này cho phép họ có thể trồng nhiều loại rau. Và năm sau đó, họ đã có đủ tiền để mua cho riêng mình một mảnh đất", Ino kể.

Ino cũng thành lập một "ngân hàng bò", nơi nông dân có thể "vay" một con bò cái với mức giá thấp. Sau khi nuôi lớn, con bò này đẻ con và nông dân sẽ trả lại một con bê cho "ngân hàng". Điều tuyệt nhất là họ được phép giữ lại con bò ban đầu và những lứa bê tiếp theo.
Co gai Nhat giup hang ngan nguoi Viet thoat ngheo nho nong nghiep huu co
Mẹ con cô Phan Thị Hồng Nguyên ở Bến Tre nằm trong số những người được hỗ trợ bởi "ngân hàng bò" của Seed To Table - Ảnh: Mayu Ino
Nếu biết rằng một con bò trưởng thành có thể có giá tới 30 triệu đồng, "ngân hàng" của Ino thực sự mang lại nông dân một cơ hội độc nhất vô nhị để thoát nghèo.

Cho đến nay, Seed To Table đã cho vay 72 con bò và hàng chục ngàn con vịt. Dự án này cũng dạy cho nông dân nguyên tắc tính toán cơ bản để họ có thể quản lý tốt hơn nguồn tài chính mới của mình.

Từ tháng 1/2016, chính quyền địa phương tại Bến Tre cũng tuyên bố sẽ bắt đầu áp dụng cách tiếp cận tương tự như các dự án kiểu Seed To Table để phát triển cộng đồng trong tương lai.

Theo báo Japan Times, trong thời gian tới người nông dân Việt Nam sẽ còn phải đối mặt với nhiều yếu tố bất định. Việc cho phép việc trồng các giống cây trồng biến đổi gen từ năm 2015 được cho là có thể đe dọa các giống cây trồng địa phương mà Ino đã cố gắng hết sức để bảo vệ. Hơn nữa, việc tham gia hiệp định TPP cũng có thể khiến người nông dân phải tìm cách cạnh tranh với các tập đoàn nông nghiệp lớn của nước ngoài.

Dù mọi chuyện có thế nào đi nữa, thì Ino vẫn giữ cam kết hỗ trợ những nông dân cần được giúp đỡ nhất. Mục tiêu ngắn hạn hiện tại của Seed To Table bao gồm việc tạo ra mạng lưới hỗ trợ mạnh mẽ hơn nữa cho các phụ nữ trong cộng đồng nông thôn để đảm bảo thu nhập thường xuyên. Trong dài hạn, Ino đang lên kế hoạch xây dựng kết nối giữa người nông dân Việt và các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu.

Điều khiến cho Ino giữ được sự lạc quan của cô chính là thế hệ trẻ của Việt Nam. Cô chia sẻ: "Ngày càng nhiều người trẻ sống ở thành phố và có học thức trở nên quan tâm hơn tới ngành nông nghiệp. Họ thường xuyên sử dụng mạng xã hội để chia sẻ thông tin về những lợi ích của thực phẩm hữu cơ. Gần đây, họ thậm chí bắt đầu tổ chức những tour du lịch sinh thái ở khu vực nông thôn để tận mắt nhìn thấy hoạt động tại các trang trại".


Nguồn Nhịp Cầu Đầu Tư/Japan Times

Share:

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2016

Toilet và chuyện làm ăn với người Nhật

Tôi là người có cơ duyên được tiếp xúc, làm ăn với nhiều đối tác là doanh nhân đến từ nhiều nơi như Mỹ, châu Âu và châu Á. Để thuận lợi cho công việc kinh doanh của mình, tôi buộc phải tìm hiểu về văn hóa, tập quán của họ và trên hết tôi muốn biết điều gì khiến họ trở thành các doanh nhân tài ba đi khắp thế giới như vậy. Vào thời ấy chưa có “Mr. Google”, cho nên tôi phải tự lần mò tìm hiểu mọi thứ qua báo chí, sách vở và ngay chính bản thân của những đối tác ấy.

Nếu bạn hỏi tôi ấn tượng với người nước ngoài nào trong số ấy, tôi sẽ không ngần ngại mà trả lời với bạn là người Nhật. Bởi vì những bài học mà các doanh nhân Nhật mang lại không chỉ là những kỹ năng một doanh nhân cần có mà còn là triết lý về kinh doanh, về cuộc sống, về con người.

Luôn hướng đến sự hoàn thiện

Chắc hẳn những ai đã từng làm ăn với người Nhật đều biết rằng muốn trở thành đối tác của họ phải đủ kiên nhẫn. Khi làm ăn với người Nhật, đừng bao giờ kỳ vọng chỉ qua đôi ba lần tiếp xúc là bạn có thể đạt được sự thỏa thuận. Hành trình ngắn nhất cũng mất vài ba tháng, đôi khi là cả vài năm trời. Một khi đã là đối tác, người Nhật sẽ rất kiên nhẫn để cùng bạn phát triển sự hoàn thiện cho sản phẩm, dịch vụ mà bạn cung cấp cho họ.

Bạn luôn luôn bị đòi hỏi phải nâng cao về chất lượng cho đến khi nào bạn chứng tỏ rằng bạn đã làm hết khả năng. Vào thời ấy, tôi chưa biết nhiều về Kaizen, về Just in time và Zero defect,... những biện pháp về quản trị chất lượng, nhưng qua quá trình làm việc cùng với các doanh nhân người Nhật tôi ngộ ra một điều là đừng thỏa mãn với những gì mình đạt được và phải luôn hướng tới sự hoàn thiện. Đây là nền tảng cho việc thành công trong kinh doanh. Có một điều rất chắc chắn là một khi bạn đã bán được hàng cho người Nhật thì có thể bán cho khắp thế giới. Bởi không một thị trường nào khó tính hơn thị trường Nhật.

Sự trung thực và chữ tín

Đối với người Nhật, chữ tín rất quan trọng. Bạn đã hứa thì phải giữ lời và đừng nên đem bất kỳ lý do nào ra để biện minh cho sự thất hứa của mình. Việc đầu tiên của chữ tín là đúng giờ. Nếu bạn đã hẹn với họ lúc 7 giờ, thì tôi khuyên bạn nên đến trước 15 phút. Bạn hãy tìm một nơi nào gần đó để chỉn chu lại trang phục, tĩnh tâm xem lại những gì cần bàn trong cuộc hẹn và chỉ nên thông báo cho họ biết là bạn đã có mặt khoảng 5 phút trước giờ hẹn. Đừng bao giờ xin vào gặp họ ngay khi bạn đến sớm 15 phút và cũng đừng đến đúng phắt ngay giờ hẹn vì như thế cũng làm cho họ cảm thấy không thoải mái.

Làm ăn với người Nhật có gì khác

Trong kinh doanh ta khó lường được các yếu tố bất ngờ nên giao trễ hàng là việc có thể xảy ra. Tôi đã từng rơi vào tình cảnh như thế. Tôi có một hợp đồng phải giao hàng bằng container theo đường biển nhưng do hàng bị hỏng nên tôi buộc phải dời việc giao hàng sau đó một tuần. Đây là một sự cố ngoài ý muốn và theo L/C hay hợp đồng ràng buộc tôi có thể dời lại một tuần mà không bị phạt gì cả. 

Nhưng vì đã hứa là sẽ giao hàng đúng hẹn nên tôi trung thực trình bày với phía khách hàng Nhật về sự cố và đề nghị phương án chuyển bằng đường hàng không một số lượng hàng họ cần ngay, số còn lại sẽ được giao bằng container theo đường biển. Phương án đã được chấp thuận và sự cố này khiến tôi đã lỗ vài ngàn đô la Mỹ, nhưng bù lại tôi có được một khách hàng chung thủy trong nhiều năm và những đơn hàng sau đó tôi có lãi rất nhiều. Sau này vào một dịp thuận tiện, tôi đã hỏi họ nếu tôi cứ làm theo đúng L/C và giao hàng trễ thì họ sẽ suy nghĩ như thế nào. Họ chỉ cười nói rằng “nếu vậy thì đây là mối quan hệ không đáng tin cậy”.

Càng làm ăn nhiều với người Nhật, tôi lại càng thấm thía nét văn hóa về tính trung thực và chữ tín. Người Nhật rất trung thực đến độ nhiều người nước ngoài cho là khờ dại. Khi tôi đến làm việc tại nhiều nơi trên thế giới, bạn bè tại đó thường khuyên và chỉ dẫn cho tôi cách thức để không bị tài xế taxi chạy lòng vòng kiếm thêm tiền. Nhưng nếu đến Nhật, bạn hãy yên tâm về điều này bởi vì có khi tài xế taxi khuyên bạn nên đi tàu điện ngầm cho kinh tế hơn đi taxi.

Đối với người Nhật chữ tín trong kinh doanh luôn được coi trọng như một nét văn hóa đặc thù. Bạn có thể gặp đâu đó những cửa hàng không có người thu tiền. Khách mua hàng coi giá, lấy hàng và tự trả tiền vào một chiếc hộp nhỏ mà chủ cửa hàng đã chuẩn bị sẵn. Cũng có những siêu thị không hề yêu cầu bạn phải gửi túi xách khi vào mua hàng. Chính vì được đào tạo từ nhỏ với tinh thần văn hóa như vậy, nên đối với người Nhật việc không tin tưởng vào đối tác và bội tín sẽ khó chấp nhận.

Sự khiêm nhường

Người Nhật rất đề cao tính khiêm nhường. Nếu một người có vẻ quá tự tin về bản thân, người đó sẽ có nguy cơ đánh mất sự ủng hộ của những người khác, bởi theo quan điểm của nhiều người Nhật “nếu bạn tự tin như thế về bản thân, chắc hẳn bạn không cần sự hỗ trợ của tôi”. Trong khi đó, quan điểm của phương Tây thường là ngược lại, “làm sao tôi tin tưởng được vào anh nếu anh không tự tin vào mình”. Ta có thể thấy ngay điều này trong cách giới thiệu bằng tiếng Nhật. Nếu bạn nói: “Tôi tên là X” thì người ta hiểu rằng bạn đang nói tiếng Nhật theo cách của người phương Tây. Bởi vì người Nhật thật sự họ sẽ nói: “Người ta gọi tôi là X”. Đây là cách thể hiện sự khiêm nhường. Chính vì thế nếu bạn gặp đối tác là người Nhật và bạn quá đề cao về mình và sản phẩm của mình thì bạn đã mất điểm trong mắt của họ. Hãy khiêm nhường để hữu xạ tự nhiên hương.

Đừng vội vã tạo áp lực trong đàm phán

Trong đàm phán và thương thảo với người Nhật thì mọi toan tính theo kiểu chuẩn bị sẵn sàng để có thể ký ngay hợp đồng theo cách của người phương Tây sẽ thất bại. Người Nhật luôn muốn tìm hiểu cặn kẽ mọi vấn đề và sẽ quyết định sau khi cân nhắc và thảo luận. Cho nên nếu muốn thúc đẩy quá trình đàm phán để có thể đi đến một kết quả thuận lợi, bạn hãy gửi trước thông tin thật đầy đủ để họ đánh giá.

Một người bạn từng làm ăn với người Nhật đã nói với tôi rằng “làm ăn với người Nhật, đôi khi con đường vòng lại là con đường ngắn nhất”. Việc tiếp cận khách hàng cũng vậy. Bạn không nên đường đột đến công ty của họ và xin gặp để chào hàng, bởi vì họ sẽ không bao giờ tiếp bạn. Bạn phải tìm hiểu và thông qua những người trung gian có ảnh hưởng để giới thiệu trước cho họ biết bạn là ai.

Cách nói không

Là một dân tộc ưa chuộng tính lịch sự nên người Nhật không bao giờ nói không theo kiểu người phương Tây. Họ cho rằng nói không như thế là sỗ sàng và khiếm nhã. Chính vì thế mà việc từ chối một cách lịch sự của người Nhật đã tạo ra không ít sự ngộ nhận cho nhiều người nước ngoài. Khi bạn chào một sản phẩm cho họ, dù không thích họ cũng không bao giờ kết luận thẳng thừng hay chỉ trích sản phẩm của bạn, thay vào đó họ sẽ khen là sản phẩm của bạn rất tốt chúng tôi sẽ xem xét thêm. Nghe như vậy, bạn phải hiểu rằng đó là cách nói lịch sự. Chỉ những sản phẩm nào được họ truy hỏi cặn kẽ về nhiều điểm thì đó mới là những sản phẩm mà họ thực sự quan tâm.

Câu chuyện về sự sòng phẳng và cái toilet

Khi tôi còn làm tổng giám đốc cho một công ty gốm sứ của Nhật tại Sài Gòn, có một lần sau khi làm việc với một nhóm khách hàng đến từ Nhật xong chúng tôi cùng họ đi ăn trưa. Sau bữa ăn, với tính cách hiếu khách của người Việt Nam tôi gọi trả tiền coi như chiêu đãi khách vì họ đến làm ăn với mình. Đây là một việc bình thường đối với các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng đối tác người Nhật của tôi đã cản lại. Ông nói rằng hành động này của tôi sẽ khiến các khách hàng người Nhật kia hiểu lầm là trong quan hệ này, tôi là người được lợi so với họ nên tôi mới bỏ tiền chiêu đãi và như thế họ sẽ xem xét lại các điều kiện thỏa thuận.

Tôi đã làm theo lời khuyên đó và để cho họ góp tiền tự trả theo kiểu “hồn ai nấy giữ”. Đồng thời vào buổi chiều khi đàm phán về giá, tôi đã tính với họ đến từng xu lẻ. Kết quả thật bất ngờ, các vị khách đều đặt hàng với giá trên cả sự mong đợi. Sau này tôi có hỏi ông bạn người Nhật đối tác thì được biết toàn bộ khách hàng đều thỏa mãn vì họ cho rằng giá cả đã thỏa thuận là hợp lý vì tôi phải mặc cả với họ đến từng xu.

Còn một chuyện nữa là trong làm ăn, người Nhật luôn đi tham quan tìm hiểu thực địa để đánh giá đối tác và nơi mà họ quan tâm đầu tiên là cái toilet của công ty bạn. Những doanh nghiệp Việt Nam nào có toilet dưới chuẩn sẽ bị điểm trừ trong mắt của họ. Bởi vì theo họ, cái điều cần thiết nhất ảnh hưởng đến bạn hàng ngày mà bạn làm chưa tốt thì làm sao bạn có thể làm tốt thứ khác.

Trên đây là một vài câu chuyện mà tôi từng trải nghiệm với khách hàng Nhật. Còn rất nhiều câu chuyện khác về phong tục tập quán, cách thức chào hỏi, trao danh thiếp... của người Nhật mà một đối tác cần thông hiểu. Với xu hướng của một làn sóng đầu tư mới từ Nhật đang tìm đến Việt Nam, tôi tin sẽ có những cơ hội cho những ai biết nắm bắt.

Theo TBKTSG
Share:

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

Công thức thành công đáng suy ngẫm của nhà kinh doanh hàng đầu Nhật Bản

“Cách nghĩ x lòng nhiệt tình x năng lực” chính là công thức được ông Inamori Kazou, nhà sáng lập hãng điện tử khổng lồ Kyocera, hãng điện thoại KDDI và nguyên Chủ tịch Hãng Japan Airlines đưa ra để tính thành công của mỗi người.
Inamori là một nhà kinh doanh hàng đầu của xứ sở mặt trời mọc. Ông đã xuất bản nhiều cuốn sách về triết lý kinh doanh được nhiều người biết đến. Trong cuốn sách mới được xuất bản ở Việt Nam, ông đã đưa ra công thức tính toán cho thành công của mỗi cá nhân.

Theo đó, thành công của mỗi một con người là phép tính nhân của 3 yếu tố: “cách nghĩ”, “lòng nhiệt tình” và “năng lực”. Vì là phép tính nhân nên kết quả sẽ được thay đổi theo bội số.

Ông Inamori đưa ra ví dụ, với thang 100 điểm giả định cho mỗi yếu tố. Giả sử một người có năng lực vượt trội hơn người bình thường rơi vào khoảng 80 điểm nhưng do kiêu ngạo, không nỗ lực làm việc nên điểm nhiệt tình của người đó chỉ đạt 30 điểm.

Vậy, khả năng thành công của người đó là: 80 x 30 = 2.400 điểm.

Trong khi đó một người khác có xuất phát điểm năng lực thấp hơn, chỉ đạt 60 điểm. Vì biết mình ở vị trí thấp nên anh ta nỗ lực hết mình để bù lại, điểm nhiệt tình của anh ta đạt 80, phép tính sẽ cho kết quả là 4.800 điểm.

Như vậy, khả năng thành công của anh ta sẽ gấp đôi người có năng lực nhưng lười biếng.

Thái độ hay ở đây được cụ thể hoá là lòng nhiệt tình là một trong những yếu tố sống còn để thành công. Nếu bạn giỏi giang nhưng tự phụ, lười biếng, bạn sẽ trở nên thất bại so với một người kém hơn nhưng chăm chỉ.

Do đó, ông Inamori khẳng định: Nỗ lực hết mình sẽ khiến bạn không thua kém một ai.

Tuy nhiên, cho dù tài năng đến đâu, nỗ lực nhiệt tình đến chừng nào, nhưng nếu không có cách nghĩ tốt, bạn cũng không thể nào thành công được. Cách nghĩ chính là yếu tố quan trọng hàng đầu để thành công, ông Inamori cho biết.

Ông cho rằng kết quả bạn có được phụ thuộc phần nhiều vào cách nghĩ của bạn.

Cách nghĩ tốt nhất được ông đưa ra là lạc quan, có tính xây dựng, hoà hợp, vui tươi, dứt khoát, đầy thiện ý, không ích kỷ, không tham lam, biết đủ là đủ, luôn nhớ ơn người khác,…

Ngược lại, bi quan, có tínhphủ định, không hợp tác, ủ rũ, ác ý, chơi xấu, hung dữ, lười biếng, nói dối, ngạo mạn, ích kỷ, tham lam là những cách nghĩ tiêu cực cần bị loại bỏ.

“Gieo cách nghĩ, gặt tương lai”, do đó Inamori khẳng định trong cuốn sách của mình, tùy theo cách nghĩ và trái tim của bạn, tương lai của bạn sẽ được định hình.
Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016

Văn hóa cafe Nhật khác với phương Tây như thế nào?

Giá bán lẻ cafe tại Nhật cao nhất thế giới và các tiệm cafe Nhật cũng mang một phong cách riêng không trộn lẫn.

http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html

Số liệu công bố bởi Hiệp hội café quốc tế chắc hẳn khiến không ít người ngạc nhiên bởi nếu tính theo tổng lượng tiêu thụ tuyệt đối, Nhật là 1 trong 3 nước tiêu thụ nhiều nhất thế giới. Ngoài ra, nếu tính theo giá bán lẻ thì giá cafe tại Nhật cao nhất thế giới, sau đó mới đến Italy.

Tiệm Starbucks đông đúc và có lãi nhất thế giới không phải nằm tại quê hương của thương hiệu này mà là Starbucks ở Shibuya – một trong những khu mua sắm và kinh doanh sầm uất nhất tại Nhật.

Thế nhưng nếu bạn đã từng sống tại Nhật trong một khoảng thời gian đủ dài để có thể cảm nhận được cuộc sống nơi đây, bạn sẽ hiểu tại sao Nhật lại có thứ hạng cao đến vậy trong các bảng xếp hạng tiêu thụ café thế giới.

Trên khắp các đường phố của thủ đô Tokyo là hàng trăm, hàng nghìn thậm chí hàng chục nghìn những tiệm cafe lớn nhỏ đủ cả ở khắp các góc phố với hàng trăm phong cách khác nhau.

Đó có thể là những tiệm cafe tên tuổi bám sát các ga tàu đông đúc nhộn nhịp nhưng cũng có thể chỉ là một quán cafe nhỏ xíu trên mặt bằng 20 mét vuông với những chú mèo xinh xắn.

Đó có thể là những tiệm cafe thuộc chuỗi Key Coffee thuộc tháp Tokyo, biểu tượng của thời kỳ kinh tế Nhật tăng trưởng cao, hay hàng triệu những chai cafe pha sẵn bán từ các máy bán hàng tự động.

Bạn có thể uống cafe ở Nhật không chỉ với con người mà đó có thể là mèo, chó, thỏ, chim cánh cụt, dê, cú. Tiệm cafe mèo đầu tiên trên thế giới được cho là ở Nhật, sau đó ý tưởng này mới lan sang nước Anh và trở nên rất được ưa chuộng.

Hãy bỏ ra khoảng 1.100 yên, tức 200 nghìn đồng Việt Nam để đến thăm tiệm cafe mèo ở gần ga Akihabara, khu vực nổi tiếng với đồ điện tử và cả “đặc sản” là các cô gái tuổi teen xinh đẹp. Với số tiền trên bạn sẽ được một cốc cafe và chơi với các chú mèo xinh đẹp trong 1 tiếng đồng hồ.

Bởi ở Nhật bất kỳ địa điểm công cộng nào cũng quá đông đúc, vì thế để phục vụ được tối đa khách, rất nhiều các nhà hàng, tiệm cafe quy định giờ đón khách, thường với quán café khoảng một tiếng còn với quán ăn sẽ là 2 tiếng đồng hồ.

Chủ tiệm cafe mèo ở Akihabara cho biết có những khách đến cửa hàng 1 tuần vài lần chỉ để gặp chú mèo yêu thích của mình, họ cũng chẳng quan tâm nhiều lắm đến cafe ngon hay dở thế nào.

Ai đã đưa cafe vào Nhật?

Dù cafe là một thức uống rất phổ biến với người Nhật nhưng lịch sử uống cafe của người Nhật mới chỉ hơn 40 năm qua, điều gây không ít ngạc nhiên cho nhiều người. Theo số liệu của Euromonitor, lịch sử uống cafe có thể coi như rất ngắn nếu so với các loại đồ uống khác như trà xanh.

Gói cafe đầu tiên đến lãnh thổ Nhật từ vài trăm năm trước đây, nhưng người Nhật mới chỉ thực sự thưởng thức nó từ thập niên 1970 bởi công ty Doutor, công ty Nhật đã mở cửa hàng cafe mang phong cách châu Âu đầu tiên tại Nhật vào năm 1980. Tiệm cafe này chỉ có diện tích 9 mét vuông nhưng nó đã thành công đáng kinh ngạc và được coi như bàn đạp cho sự phát triển của Doutor sau này.

Trong khi đó, người châu Âu và Arab đã uống cafe hàng trăm năm nay. Ban đầu cafe được tìm ra và đưa nó thành thức uống tại Ethiopia, sau đó trở nên phổ biến trong thế giới Arab và cuối cùng đến châu Âu qua các con đường giao thương thương mại.

Tại các tiệm cafe ở thế giới Arab, dù đó là Damacus ở Syria hay Cairo tại Ai Cập hoặc các nước từng là thuộc địa Mỹ, các đề tài chính trị tôn giáo luôn rất được quan tâm, thậm chí người ta có thể xô đổ bàn ghế để tranh cãi về các vấn đề này.

Tại châu Âu, các tiệm cafe được coi là nơi gặp gỡ bạn bè và trao đổi đủ thứ chuyện phiếm trên đời, chính vì thế nó cũng rất ồn ào với nhạc và tiếng người nói chuyện ào ào.

Bởi vì cafe bắt đầu trở nên phổ biến tại Nhật trong thời kỳ kinh tế Nhật tăng trưởng cao vì thế không có gì là ngạc nhiên khi mà các tiệm cafe tại Nhật là nơi gặp gỡ thường xuyên của giới doanh nhân trong nước và quốc tế.

Khi ngồi trong tiệm cafe, người Nhật cũng thường không thích tranh luận sôi nổi về tôn giáo, chính trị hay những chủ đề quá nghiêm túc, khá nhiều người trong số họ nói chuyện công việc của cá nhân hay chơi cờ, domino.

Các tiệm cafe tại Nhật thường cũng rất yên tĩnh, đó là văn hóa đặc trưng Nhật: dù có vấn đề gì đi nữa cũng nên tránh làm phiền người khác. Chính vì vậy họ hay im lặng để giữ không gian riêng cho mình và cũng tôn trọng khoảng không gian riêng của người khác. Khách du lịch từ các nơi khác đến không thể hiểu được điều này, vì thế nhiều người Nhật thường tránh đến những tiệm cafe ở các khu vực mà họ cho là sẽ có đông du khách như Shibuya hay Shinjuku.
Ngọc Thúy
Theo Trí Thức Trẻ
 
Share:

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

Vì sao hàng loạt đại gia công nghệ Nhật Bản đi bán rau?

Hàng loạt gã khổng lồ công nghệ Nhật Bản như Toshiba, Fujitsu đang chuyển đổi các nhà máy đã ngừng hoạt động của họ sang trồng rau.

Haruyasu Miyabe từng là nhân viên giám sát một dây chuyền sản xuất chip tại tập đoàn điện tử Fujitsu. Bất ngờ vào một ngày năm 2013, quản đốc của nhà máy này nói với Miyabe rằng hãy sẵn sàng chuyển sang một công việc hoàn toàn mới.

“Bắt đầu từ ngày mai, anh sẽ đi trồng rau diếp”, Miyabe vẫn nhớ chính xác những gì được nói ngày hôm đó.

Trong suốt khoảng thời gian gặp khó khăn của ngành công nghiệp điện tử Nhật Bản nói chung, Fujitsu đã phải đóng cửa 1 trong 3 dây chuyền sản xuất chip vào năm 2009. Hiện tại, trong căn phòng vô trùng và sạch sẽ tuyệt đối từng là nơi sản xuất ra những thiết bị công nghệ cao hàng đầu, Miyabe cùng 30 nhân viên khác đang chăm sóc những cây rau diếp.

Miyabe nói rằng: “Tôi cảm thấy mình gắn bó với quá trình lớn lên của cây. Điều này thật thú vị”.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VjBjOm6fdFo
Trên thực tế Miyabe và Fujitsu không phải là những người duy nhất đi tiên phong trong quá trình thay đổi này. Do gặp phải cạnh tranh gay gắt với những đối thủ tới từ Hàn Quốc và Trung Quốc trong các lĩnh vực kinh doanh như ti vi và điện thoại thông minh – hàng loạt gã khổng lồ công nghệ Nhật Bản đang chuyển đổi các nhà máy đã ngừng hoạt động của họ sang sản xuất nông nghiệp.

Năm 2014, Fujitsu bắt đầu bán rau diếp sạch được trồng từ nhà máy Aizu-Wakamatsu. Cùng thời điểm, Toshiba tuyên bố họ cũng bắt đầu trồng rau bên trong nhà máy sản xuất đĩa mềm gần Tokyo vốn đã không được sử dụng trong suốt 2 thập kỷ trước đó.

Đến cuối năm 2014, Panasonic chính thức triển khai công nghệ nhà kính để trồng rau chân vịt và những loại khác.

Cuối cùng là Sharp - công ty này đã chính thức mở phòng thí nghiệm trồng dâu tây trong nhà tại Dubai sử dụng công nghệ chiếu sáng và lọc không khí của mình.

Bản thân Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe luôn khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng này. Ngoài mong muốn mang lại thay đổi cho các hãng điện tử đang gặp khó khăn, ông Abe cũng muốn tái cấu trúc nền nông nghiệp của nước nhà vốn lâu nay được thực hiện chủ yếu bởi những hộ nông dân trồng cấy trên các thửa ruộng, khu đất nhỏ.

Hệ quả là giá thực phẩm ở mức rất cao. Chính vì vậy, nếu những công ty lớn kể trên tấn công vào lĩnh vực nông nghiệp, ông Abe khẳng định giá thực phẩm sẽ giảm.

Fujitsu ban đầu tài trợ cho dự án Aizu-Wakamatsu tại Fukushima – một dự án giúp khu vực Fukushima tái thiết sau thảm hoạ động đất sóng thần vào năm 2011. Fukushima là một trong những khu vực nông nghiệp lớn nhất tại Nhật Bản. Dự án này nằm cách 60 dặm từ nhà máy hạt nhân đã bị phá hủy sau thảm họa.

Kể từ năm 2014, chính phủ Nhật Bản cũng đã mở rộng các khoản trợ cấp cho lĩnh vực nông nghiệp tiên tiến. Chính nhờ vậy, số lượng các nhà máy sử dụng phương pháp công nghệ cao để trồng rau như của Fujitsu kể trên đã tăng gấp 4 lần trong 3 năm qua lên tới hơn 380 nhà máy.

Tại nhà máy của Fujitsu – các công nhân mặc áo phòng thí nghiệm và đeo mặt nạ để đảm bảo môi trường vô trùng trong khu vực trồng rau. Ngoài ra thay vì đất, các loại rau tại đây sẽ lớn lên nhờ nước tưới theo công nghệ nhỏ giọt mang theo các chất dinh dưỡng.

Trồng rau theo cách này giúp giảm lượng kali – rất phù hợp với thực tế ngày càng nhiều người Nhật lớn tuổi mắc bệnh thận tại Nhật Bản.

Cũng bởi được trồng trong môi trường vô trùng tuyệt đối nên nó có thể giữ được lâu hơn so với những sản phẩm thông thường lên tới 2 tháng nếu được làm lạnh.

“Vì tươi rất lâu nên loại rau này có lợi thế cạnh tranh rất tốt khi mang đi xuất khẩu”, theo Akihiko Sato – quản lý nhà máy nói.

Dĩ nhiên giá của loại rau trồng công nghệ cao này không hề rẻ. Tại một siêu thị gần Tokyo – một túi rau nhỏ của Fujitsu được bán với giá 3 USD tức là hơn 1 USD so với túi rau thông thường.

Toshiba nói rằng họ cần tăng sản lượng để có thể tạo ra lợi nhuận trong lĩnh vực này. Công ty hiện nhắm tới việc phát triển 3 triệu cây rau diếp mỗi năm và doanh số bán hàng đạt mức 2,9 triệu USD tính đến năm tài chính 2015.

Họ cũng lên kế hoạch mở rộng mảng kinh doanh này sang những khu vực khác tại châu Á và Trung Đông – nơi có khí hậu khắc nghiệt và nguồn nước nghèo nàn gây khó khăn trong việc trồng rau.
Sản phẩm rau của Toshiba:
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VjBjOm6fdFo
Fujitsu thì khởi đầu khiêm tốn với năng suất 3.500 cây rau diếp mỗi ngày. Họ dự định thu về 4 triệu USD tính tới năm tài chính 2016 – tăng từ mức 1,5 triệu USD trong năm 2014.

Dẫu có nhiều ưu điểm như vậy nhưng không phải ai cũng bị thuyết phục rằng nông nghiệp công nghệ cao là hướng đi đúng đắn trong tương lai.

Yukihiro Kato – một nông dân tại tỉnh Yokohama – người bán hàng loạt các sản phẩm nông nghiệp tại chợ địa phương nói rằng nhu cầu rau hữu cơ đang tăng.

“Nếu nói về kiểm soát chất lượng, các công ty lớn có thể có một vài lợi thế. Tuy nhiên nếu nói về dinh dưỡng, chúng tôi lại có lợi thế lớn hơn”, anh nói.

Panasonic đang cố gắng tìm ra cách kết hợp hài hoà giữa công nghệ cao và các nông trại truyền thống. Trong các nhà kính thông minh, nông dân sẽ chuẩn bị đất và giống cây theo cách thông thường.

Tuy nhiên trong quá trình cây phát triển có sử dụng bộ cảm biến nhiệt độ và độ ẩm. Nếu quá nóng, hệ thống của Panasonic sẽ tự động đóng rèm cửa để ngăn ánh sáng mặt trời và mở cửa sổ để lưu thông gió hoặc ngược lại khi trời quá lạnh.

Với Takayoshi Tanizawa – một nhân viên Panasonic 40 tuổi thì bước ngoặt trong sự nghiệp của ông tới vào 3 năm trước khi quyết định chuyển từ làm ghế massage sang trồng rau chân vịt.

Sự thay đổi này thực chất không quá nghiêm trọng như mọi người nghĩ và có một vài điểm chung. Trong khi một chiếc ghế massage sử dụng động cơ để di chuyển các quả bóng lăn bên trong thì nhà kính sử dụng động cơ để điều chỉnh rèm ngăn ánh sáng mặt trời.

Thay vì bơm không khí vào 1 chiếc túi để massage chân thì nhà kính được sử dụng các máy bơm nước để tưới rau chân vịt.

Ngoài ra, ông Takayoshi cũng tìm được niềm an ủi khác bởi khách hàng không quá kỹ tính với các loại rau. “Khi thử ghế massage, có người sẽ cảm thấy nó tốt trong khi một số khác lại nghĩ ngược lại. Trong khi đó, với các loại rau thì không như vậy”.
Vân Đàm
Theo Trí Thức Trẻ/WSJ 

Share:

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2016

Bữa ăn năm mới cầu kỳ của người Nhật

Người dân Nhật Bản ăn mừng năm mới vào Tết Dương lịch với Osechi - một loạt món ăn được chế biến kỹ lưỡng, mỗi món lại có một ý nghĩa may mắn riêng.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VoaOlU-fesV

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VoaOlU-fesV

Osechi là các món ăn được đựng trong khay sang trọng, trước kia được ăn vào dịp lễ hội, nhưng giờ phổ biến vào dịp Tết của người Nhật Bản. Tùy từng địa phương, các món ăn trong khay sẽ thay đổi, nhưng chủ yếu vẫn là các món quen thuộc như bánh cá, trứng cuộn, đậu đen, tôm chiên... với ý nghĩa sâu sắc. Ảnh: Doyouknowjapan.

Daidai: Đây là một loại cam của Nhật. Khi viết theo bộ chữ Kanji, daidai có nghĩa là “từ thế hệ này sang thế hệ khác”, thể hiện mong muốn có con cái trong năm mới. Ảnh: Tsunagujapan.
Daidai: Đây là một loại cam của Nhật. Khi viết theo bộ chữ Kanji, daidai có nghĩa là “từ thế hệ này sang thế hệ khác”, thể hiện mong muốn có con cái trong năm mới. Ảnh: Tsunagujapan.

Datemaki: Món trứng cuộn ngọt ngào này thường được cho thêm cá xay hoặc tôm bằm, tượng trưng cho ý muốn có nhiều ngày lễ tốt lành. Vào ngày lễ, người Nhật thường mặc trang phục truyền thống. Ảnh: Tsunagujapan.
Datemaki: Món trứng cuộn ngọt ngào này thường được cho thêm cá xay hoặc tôm bằm, tượng trưng cho ý muốn có nhiều ngày lễ tốt lành. Vào ngày lễ, người Nhật thường mặc trang phục truyền thống. Ảnh: Tsunagujapan.

Kamaboko: Bánh cá nướng truyền thống gồm các miếng màu hồng và trắng được sắp xếp theo hình nhất định. Màu sắc và hình dạng của chúng mô phỏng hình ảnh mặt trời mọc, tượng trưng cho nước Nhật. Ảnh: Ichimasa.
Kamaboko: Bánh cá nướng truyền thống gồm các miếng màu hồng và trắng được sắp xếp theo hình nhất định. Màu sắc và hình dạng của chúng mô phỏng hình ảnh mặt trời mọc, tượng trưng cho nước Nhật. Ảnh: Ichimasa.

Kazunoko: “Kazu” trong tiếng Nhật nghĩa là “nhiều” và “ko” nghĩa là “trẻ con”. Món trứng cá trích này thể hiện mong ước có nhiều con cháu trong năm mới. Ảnh: Bebeloveokazu.
Kazunoko: “Kazu” trong tiếng Nhật nghĩa là “nhiều” và “ko” nghĩa là “trẻ con”. Món trứng cá trích này thể hiện mong ước có nhiều con cháu trong năm mới. Ảnh: Bebeloveokazu.

Konbu: Loại tảo biển này có liên quan tới từ “yorokobu”, nghĩa là “niềm vui”. Ảnh: Takaojapan/Blogspot.
Konbu: Loại tảo biển này có liên quan tới từ “yorokobu”, nghĩa là “niềm vui”. Ảnh: Takaojapan/Blogspot.

Kuro-mame: Mame có nghĩa là “sức khỏe”. Do đó, món đậu đen ngọt ngào này thể hiện ước muốn có sức khỏe dồi dào trong năm mới. Ảnh: Odigo.
Kuro-mame: Mame có nghĩa là “sức khỏe”. Do đó, món đậu đen ngọt ngào này thể hiện ước muốn có sức khỏe dồi dào trong năm mới. Ảnh: Odigo.

Kohaku-namasu: Món dưa góp được làm từ củ cải và cà rốt trộn dấm ngọt này có màu đỏ trắng bắt mắt, hai màu tượng trưng cho sự ăn mừng. Ảnh: Bohnenhase/Blogspot.
Kohaku-namasu: Món dưa góp được làm từ củ cải và cà rốt trộn dấm ngọt này có màu đỏ trắng bắt mắt, hai màu tượng trưng cho sự ăn mừng. Ảnh: Bohnenhase/Blogspot.

Tai: Tai là cá tráp đỏ, đồng thời có liên hệ với từ “medatai” chỉ một sự kiện lễ hội. Ảnh: Thefoodulove/Wordpress.
Tai: Tai là cá tráp đỏ, đồng thời có liên hệ với từ “medatai” chỉ một sự kiện lễ hội. Ảnh: Thefoodulove/Wordpress.

Tazukuri: Cá mòi khô được nấu cùng xì dầu tạo ra hương vị hấp dẫn. Loại cá này từng được dùng để bón ruộng lúa. Chúng tượng trưng cho một mùa màng bội thu. Ảnh: Recetasjaponesas.
Tazukuri: Cá mòi khô được nấu cùng xì dầu tạo ra hương vị hấp dẫn. Loại cá này từng được dùng để bón ruộng lúa. Chúng tượng trưng cho một mùa màng bội thu. Ảnh: Recetasjaponesas.

Zōni: Món súp với bánh mochi này có nước dùng trong ở miền Đông và nước dùng mì miso ở miền Tây. Đây được coi là món truyền thống nhất trong osechi. Ảnh: Mygazeta.
Zōni: Món súp với bánh mochi này có nước dùng trong ở miền Đông và nước dùng mì miso ở miền Tây. Đây được coi là món truyền thống nhất trong osechi. Ảnh: Mygazeta.

Nishiki tamago: Lòng trứng được tách ra trước khi chế biến, lòng đỏ tượng trưng cho vàng, lòng trắng tượng trưng cho bạc. Cả hai kết hợp thể hiện ao ước về sự thịnh vượng và may mắn trong năm mới. Ảnh: Sophiealamode.
Nishiki tamago: Lòng trứng được tách ra trước khi chế biến, lòng đỏ tượng trưng cho vàng, lòng trắng tượng trưng cho bạc. Cả hai kết hợp thể hiện ao ước về sự thịnh vượng và may mắn trong năm mới. Ảnh: Sophiealamode.

Ebi: Tôm được nấu cùng rượu sake và xì dầu tượng trưng cho mong ước sống thọ, với hình ảnh lưng còng và râu dài. Ảnh: John Lander.
Ebi: Tôm được nấu cùng rượu sake và xì dầu tượng trưng cho mong ước sống thọ, với hình ảnh lưng còng và râu dài. Ảnh: John Lander.
Theo Hoàng Linh
Zing
Share:

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015

Bí quyết 'sống thọ' suốt 900 năm của một hãng rượu gạo Nhật Bản

Cho đến giờ, thay vì tập trung mở rộng mảng kinh doanh, hiện hãng rượu Sudohonke vẫn giữ quan điểm coi trọng chất lượng thay vì lợi nhuận

Trong suốt hơn 900 năm, nhà sản xuất rượu gạo Sudohonke vẫn tồn tại qua các cuộc chiến tranh, nạn đói, động đất, bão lũ và nhiều thảm họa khác. Tuy nhiên, khủng hoảng hạt nhân đầu năm 2011 xảy ra tại nhà máy Fukushima có lẽ là biến cố lớn nhất khiến Sudohonke thật sự sợ hãi.

“Nguồn nước chính là yếu tố quan trọng nhất đối với sản phẩm của chúng tôi”, Genuemon Sudo – chủ tịch Sudohonke nói với tờ The Japan Times trong một bài phỏng vấn vào năm 2012. “Chúng tôi gần như phải đóng cửa nếu nguồn nước sản xuất rượu bị nhiễm phóng xạ”. Sudo là người chủ sở hữu thứ 55 của công ty.

Nguồn gốc của nhà máy rượu này hiện không còn chính xác nhưng một giấy tờ được lưu trữ ở công ty cho thấy nó được mở vào năm 1141 tại chính địa điểm hiện tại ở Kasama, Ibaraki Prefecture.

Khuôn viên gia tộc Sudohonke hiện tại
Khuôn viên gia tộc Sudohonke hiện tại

Ông Sudo ban đầu không tự tin có thể đảm đương vị trí chủ tịch Sudohonke thành công như cha mình. Tuy nhiên quan điểm này đã thay đổi khi ông vào trung học. Do nhận thấy việc rượu whiskey ngày càng trở nên phổ biến trong các nhà hàng Nhật Bản, ông thấy mình có trách nhiệm phải cung cấp rượu gạo của gia đình cho những người chưa được thưởng thức.

Thêm nữa trong một chuyến thăm quan nhà hàng Nhật Bản ở Mỹ vào những năm 1980, ông hoàn toàn bị “sốc” vì chất lượng tồi của rượu gạo được phục vụ khách hàng.

“Tôi muốn quay trở về những thứ cơ bản, tạo ra một loại rượu ngon, sử dụng những nguồn nguyên liệu có sẵn tốt nhất. Tôi muốn chứng minh rượu gạo tốt nhất thật sự sẽ phù hợp với mọi loại thức ăn”.
Cho đến giờ, thay vì tập trung mở rộng mảng kinh doanh, hiện công ty vẫn giữ quan điểm này và đi tiên phong về chất lượng thay vì lợi nhuận.

Trong suốt mùa nấu rượu bắt đầu từ tháng 11 cho tới cuối tháng 4, Sudohonke đã sản xuất ra 180 kiloliter mỗi năm và chỉ sử dụng nguồn nước ở địa phương và loại gạo hảo hạng nhất.

Tuy nhiên, mặc cho sức tàn phá của trận động đất, sóng thần diễn ra vào ngày 11/3/2011, nhà máy Sudohonke chỉ phải trải qua một vài vấn đề nhỏ bao gồm việc một vài bình ủ rượu bị hư hại.
Chính những kinh nghiệm khôn ngoan truyền lại từ thế hệ trước đó về cách chiến đấu với các thảm họa thiên nhiên đã đóng vai trò quan trọng trong việc tối thiểu hóa thiệt hại gây ra vào ngày 11/3/2011.

Gia tộc sở hữu Sudohunke qua nhiều đời không bao giờ chặt bất kỳ loại cây nào trong khuôn viên đất của họ. Một bí quyết truyền đời từ thế hệ này sang thế hệ khác trong gia tộc Sudo nữa là tránh chuyển tới gần bờ biển hay vùng núi.

Bờ biển Ibaraki vốn đã chịu thiệt hại không nhỏ tự trận sóng thần. Hơn nữa, việc bụi phóng xạ từ nhà máy Fukushima 1 cách Sudohonke 130km gây ra rắc rối không hề nhỏ.

Tuy nhiên, hãng này vẫn nói rằng việc đảm bảo an toàn nguồn nước là ưu tiên hàng đầu. Ngoài những biện pháp phòng tránh, Sudohonke vẫn mang mẫu nước đến trung tâm nghiên cứu cứ 2 tháng một lần để đảm bảo không có gì bất thường.

“Nếu mất nguồn nước, không có cách nào để chúng tôi có thể duy trì hoạt động kinh doanh”, Sudo nói. Dẫu vậy, doanh số bán hàng đã giảm mạnh vào tháng 3/2011.

Sudohonke đã bị mất hết những khách hàng nước ngoài – chiếm 20% doanh số bán hàng hàng năm. Tình huống này thậm chí không được cải thiện thậm chí sau 17 tháng kể từ khi xảy ra thảm họa.

“Một khi các nhà hàng đưa loại rượu của chúng tôi ra khỏi thực đơn, rất khó để làm ăn lại được với họ. Công ty chúng tôi bắt đầu xuất khẩu rượu vào năm 1995 nhưng giờ thì phải bắt đầu lại từ đầu”. Sudo giải thích rằng không có con đường tắt nào để phục hồi doanh số bán hàng của công ty.

Gen-Uemon Sudo, Chủ tịch hiện tại của hãng rượu 900 năm tuổi Sudohonke.
Gen-Uemon Sudo, Chủ tịch hiện tại của hãng rượu 900 năm tuổi Sudohonke.

Kinh doanh giống như quy trình sản xuất rượu gạo - chỉ có thể thành công nếu bạn bỏ thời gian và công sức làm mọi thứ một cách tỉ mỉ kỹ càng ngay từ những thứ nhỏ nhặt nhất. Nếu Sudo phải để lại lời nhắn gửi cho thế hệ tương lai liên quan tới trận động đất khủng khiếp năm 2011, nó đơn giản chỉ là:

“Đừng bao giờ nghĩ rằng con người có thể kiểm soát được thiên nhiên. Đừng chặt phá rừng – giống như các bậc tiền bối đã nói”, ông nói và nói thêm rằng bảo vệ môi trường cũng là yếu tốt then chốt để tạo nên một hãng rượu gạo thành công.

“Tập trung vào bảo vệ thiên nhiên là yếu tố quan trọng để làm nên loại rượu ngon hảo hạng và tôi cho đó là vấn đề lớn nhất. Yếu tố quan trọng không phải là tạo ra một thương hiệu phổ biến hay bán nhiều sản phẩm”.

Hiện tại ông Sudo nói rằng đang trao lại công việc kinh doanh của gia đình cho 3 người con để giành thời gian nhiều hơn cho bản thân.

“Có 4 chiếc hộp lớn mà chúng tôi luôn giữ ở công ty trong nhiều năm nay trong đó chứa các công thức, giấy tờ kế toán từ trước đó, thậm chí là thời kỳ Edo. Thật tuyệt vời nếu tôi có thể dành thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu và học hỏi từ những câu chuyện kinh doanh của chính gia đình”.

Theo Trí Thức Trẻ/JapanTimes

>> Bí quyết trường thọ nghìn tuổi của công ty Nhật: Không chọn con ruột nhưng có thể chọn con rể
Share:

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2015

Bí quyết trường thọ nghìn tuổi của công ty Nhật: Không chọn con ruột nhưng có thể chọn con rể

Có một số lượng không nhỏ những công ty của Nhật Bản đã tồn tại và hoạt động liên tục được cả nghìn năm.


Những công ty trăm năm tuổi ở Mỹ như General Electric hay Ford trở thành “cây đai thụ” dưới con mắt Google hay Facebook. Tuy nhiên, thực tế có một số lượng không nhỏ những công ty của Nhật Bản - đã tồn tại và hoạt động liên tục được cả nghìn năm.

Quốc gia này là quê hương của không ít doanh nghiệp hoạt động liên tục lâu đời nhất trên thế giới. Một trong số đó phải để đến hệ thống khách sạn suối nước nóng Nishiyama Onsen Keiunkan 1.300 năm tuổi hay nhà sản xuất bia Sudohonke 900 năm tuổi.

Trong khi nhà sản xuất súng lâu đời của Ý là Beretta hoạt động từ năm 1526 hay hãng sản xuất mũ Zildjian được thành lập năm 1623 tại Thổ Nhĩ Kỳ. Thì những công ty lâu đời như vậy lại tương đối phổ biến tại Nhật Bản.

Đất nước này hiện là quê hương của hơn 50.000 doanh nghiệp có tuổi đời trên 100 năm. Trong số đó, có 3.886 doanh nghiệp đã hoạt động được trên 200 năm. Đối lập lại, theo số liệu thống kê chỉ có 1 trong 4 công ty ở Mỹ được thành lập từ năm 1994 vẫn hoạt động cho tới năm 2004.

Bí quyết để tồn tại tới hàng nghìn năm là gì?

Câu hỏi được nhiều người đặt ra là vì sao những công ty kể trên lại có thể tồn tại lâu đến vậy. Lý do đầu tiên có thể kể đến là bởi những công ty này có xu hướng tập trung vào những ngành công nghiệp gần như không bao giờ lỗi thời.

Kongo Gumi - công ty từng hoạt động trong suốt 1.429 năm trước khi đóng cửa vào năm 2007 chuyên xây dựng các ngôi đền Phật giáo. Rõ ràng, đây là mảng kinh doanh hứa hẹn trong mọi thời kỳ ở một đất nước có lịch sử Phật giáo lâu đời như Nhật Bản.

Ngôi đền đầu tiên mà Kongo Gumi xây dựng gần Osaka được hoàn thành vào năm 593. Kể từ sau đó, cũng chính công ty này đã đảm đương công việc tu sửa công trình này tới 6 lần.

Theo tác giả cuốn sách “Centuries of Succes” là William O’Hara thì: “Có một mô hình thành công chung. Hoạt động của những công ty gia đình lâu đời nhất tại Nhật Bản thường liên quan tới những lĩnh vực cơ bản của con người như ăn uống, vận chuyển, xây dựng”.

Bên cạnh đó, còn một lý do khác khiến số lượng những công ty “trường thọ” tại Nhật Bản cao bậc nhất thế giới là bởi cách các doanh nghiệp gia đình ở đây kế thừa và truyền lại cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Theo đó, chủ sở hữu của các doanh nghiệp gia đình Nhật Bản thường trao tại toàn bộ công ty cho người con trai cả của họ. Tuy nhiên, bí mật khiến công việc kinh doanh của những doanh nghiệp kiểu này vẫn suôn sẻ là bởi khi người chủ sở hữu doanh nghiệp không tin tưởng trao ngai vàng cho thế hệ sau thì họ có thể tìm người thay thế bằng cách nhận con trai nuôi. Và người này thường là con rể trong gia đình.

“Việc duy trì công việc kinh doanh liên tục được đảm bảo bởi việc tuỳ chỉnh để một người con trai nuôi thay thế người con ruột điều hành công ty nếu cảm thấy không phù hợp”, theo Mike Smitka - một giáo sư kinh tế tại Đại học Washington and Lee.

Các công ty lâu đời nhất tại Nhật Bản thường được cho là công ty gia đình trị tuy nhiên thực tế đây là một nhận định chưa chuẩn xác.

Một nghiên cứu vào năm 2011 tại Nhật Bản chỉ ra rằng các doanh nghiệp được điều hành bởi những người thừa kế là con nuôi thường làm tốt hơn những người thừa kế có quan hệ máu mủ.

Điều này cũng lý giải được phần nào số liệu thống kê khá kỳ lạ về các gia đình tại Nhật Bản: Không giống với Mỹ - nơi hầu hết người được nhận nuôi là trẻ con thì 98% những người được nhận nuôi ở Nhật Bản khi họ từ 25 - 30 tuổi. Đúng như câu tục ngữ của người Nhật: “Không thể chọn con ruột nhưng có thể chọn con rể”.

Những dấu hiệu thoái trào

Nổi tiếng là vậy nhưng trong thập kỷ vừa qua, một vài doanh nghiệp lâu đời nhất của Nhật Bản cuối cùng đã phải đóng cửa. Tháng 1 năm nay, thương hiệu bán đồ hải sản 465 năm tuổi là Minoya Kichibee đã nộp đơn xin phá sản. Trước đó, nhà sản xuất kẹo 533 tuổi Surugaya cũng chứng kiến số phận tương tự.

Trong năm 2007, sau 1.429 năm hoạt động, công ty xây dựng đền chùa Konga Gumi cũng tuyên bố phá sản và sau đó bị thâu tóm bởi một công ty lớn hơn.

Dĩ nhiên, việc 3 công ty kể trên phá sản không đủ để nói rằng đang có một trào lưu thoái trào của những doanh nghiệp kỳ cựu tại Nhật Bản. Tuy nhiên rõ ràng nó đang cho thấy có một điều gì đó không ổn diễn ra khiến ngay cả những công ty đã hoạt động trong suốt hàng nghìn năm đột nhiên bị đóng cửa.

Vì vậy lý do có thể khiến những doanh nghiệp “lão làng” này phá sản là gì?

Hầu hết mọi người bị thuyết phục bởi lập luận của giáo sư Ulrike Schaede đến từ đại học U.C. San Diego khi cho rằng chính phủ Nhật Bản đã thay đổi luật đối với những công ty đang gặp khó khăn.
Trên phương diện lịch sử, giáo sư Schaede nói rằng trước đây các ngân hàng Nhật Bản thường ra tay giúp đỡ đối với ngay cả những doanh nghiệp túng quẫn nhất mà không cần mảy may suy nghĩ. “Khoảng giữa năm 1955 và 1990, chỉ 72 công ty của Nhật Bản phá sản. Lý do là bởi các ngân hàng từ chối cho họ vay tiền”.

Sau đó tới năm 2000 - thời điểm Nhật Bản thông qua luật phá sản và 4 năm sau đó, bộ luật này tiếp tục được sửa đổi đã khiến những công ty đang gặp khó khăn trở nên khốn khổ. “Những công ty làm ăn thua lỗ sẽ không còn nhận được sự giúp đỡ từ các ngân hàng nữa trừ khi họ có kế hoạch thay đổi cụ thể”.

Những hãng lâu đời như công ty thực phẩm Minoya Kichibee thậm chí vẫn sử dụng công thức từ 350 năm trước một phần là bởi họ vẫn nhận được sự hỗ trợ từ phía ngân hàng ngay cả khi sản phẩm của công ty không còn khả quan trong thế giới hiện đại.

Ngoài ra Schaede nhận định rằng sở dĩ những công ty lâu đời của Nhật Bản vẫn có thể tồn tại được thêm 15 năm sau khi bộ luật mới được công bố là bởi các ngân hàng vẫn chưa kịp thích ứng với những thay đổi ngay lập tức. “Việc chuyển từ hệ thống cũ sang mới không thể chỉ được thực hiện qua một đêm”.

Dù luật mới là nguyên nhân chủ yếu khiến những công ty lâu đời này phá sản nhưng đó chưa phải là tất cả. Cần phải nói thêm rằng chuẩn mực văn hoá Nhật Bản cũng đã thay đổi rất nhiều trong những thập kỷ gần đây. Chỉ có điều, ít người biết hoá ra nó lại gây tổn thương không nhỏ cho các công ty bán đồ truyền thống.

“Giới trẻ Nhật Bản không còn thích thú với văn hoá truyền thống Nhật Bản so với bố mẹ và ông bà chúng. Khi lớp người già mất, nhu cầu cũng theo đó mà giảm đi đối với các sản phẩm của những công ty kể trên”.

Xã hội Nhật Bản cũng bắt đầu xuất hiện những lập trường khác nhau về hôn nhân, nhận con nuôi và thừa kế.

Rất nhiều nhà báo và học giả thường xuyên theo dõi các doanh nghiệp lâu đời ở Nhật Bản đã cố gắng đúc kết bí quyết kinh doanh trường tồn của họ. Như một bài viết trên tờ BusinessWeek vào năm 2007 nói rằng: "Câu chuyện của Kongo Gumi cho thấy các doanh nghiệp cần phải hài hoà được giữa yếu tố bảo thủ và linh hoạt”.

Nhìn chung, với những công ty kể trên, hoàn cảnh thường quan trọng hơn là kế hoạch kinh doanh. Và như vị chủ tịch đời cuối cùng của Kongo Gumi đã nói khi được hỏi về bí quyết thành công của công ty ông: Một quy tắc không thể chối bỏ để có thể sống thọ đó là "Đừng uống quá nhiều!"
Vân Đàm
Theo Trí Thức Trẻ/The Atlantic

 
Share:

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

Tỷ phú Kazuo Inamori và triết lý “làm nhân viên hạnh phúc”

Với vị tỷ phú Nhật Bản 83 tuổi, ông chủ Hãng điện tử Kyocera Corp thì một trong những bài học quan trọng nhất trên thương trường.


“Hãy dành tất cả mối quan tâm cho các cổ đông” lại là sai lầm.

“Hãy quên điều đó đi!” Kazuo Inamori, doanh nhân và Phật tử đã chia sẻ như vậy.

Theo Inamori, thay vì làm tất cả cho cổ đông, ông chủ doanh nghiệp hãy dành thời gian để làm cho nhân viên được hạnh phúc. Triết lý này được ông áp dụng với tất cả các doanh nghiệp ông có cổ phần và điều hành như Hãng điện tử Kyocera Corp (được thành lập hơn năm thập kỷ trước đây), hãng điện thoại giá trị 6,4 tỷ USD KDDI Corp và Hãng hàng không Nhật Bản (Japan Airlines).
"Nếu bạn muốn có trứng, hãy chăm sóc tốt những con gà mái. Nếu bạn bỏ đói nó, nó sẽ không đủ sức và dinh dưỡng để đẻ trứng hoặc đẻ ra những quả trứng có chất lượng tồi" - Kazuo Inamori.
Từ trụ sở chính của Tập đoàn Kyocera nhìn ra những ngọn đồi và đền thờ của cố đô Kyoto, vào các giờ nghỉ, Inamori đã suy nghĩ nhiều về phương thức quản lý doanh nghiệp.

Quan điểm của ông cũng là một lời nhắc nhở về thành lũy bền vững của các doanh nghiệp Nhật Bản. Chính nhờ sự quan tâm đến các chính sách phúc lợi với nhân viên mà những công ty này đã sống sót qua các thời kỳ đen tối do khủng hoảng kinh tế, bởi sự tận tụy cống hiến và không đòi hỏi từ nhân viên.

"Nếu bạn muốn có trứng, hãy chăm sóc tốt những con gà mái. Nếu bạn bỏ đói nó, nó sẽ không đủ sức và dinh dưỡng để đẻ trứng hoặc đẻ ra những quả trứng có chất lượng tồi",  Inamori chia sẻ triết lý kinh doanh này trong một cuộc phỏng vấn mới đây, .

Chính quan điểm mang tính nhân văn này đã mang lại sự thành công cho Inamori. KDDI và Kyocera được định giá khoảng 8,2 tỷ USD. Khi Inamori trở thành Giám đốc điều hành của Japan Airlines vào năm 2010, ông đã 77 tuổi và không hề có kinh nghiệm trong ngành công nghiệp hàng không. Tuy nhiên, ông đã điều hành tốt và vài năm sau hãng đã có lãi trở lại và dẫn dắt hãng hàng không này thoát ra khỏi viễn cảnh phá sản. Năm 2012, nhờ Inamori, Hãng Hàng không Nhật Bản niêm yết trở lại trên thị trường chứng khoán Tokyo.

Inamori cho biết, ông thường lấy những răn của Phật làm cảm hứng sống cho bản thân và các nhân viên của mình, như khiêm tốn và làm tròn trách nhiệm.

"Người lãnh đạo nên tìm cách để tất cả các nhân viên của mình đều cảm thấy hạnh phúc khi làm việc trong công ty, cả về vật chất lẫn tinh thần. Bởi đó chính là mục đích của họ khi tham gia vào công ty của bạn. Họ không chỉ làm việc cho các cổ đông”, Inamori nói.

Inamori là con trai thứ hai trong một gia đình có bảy người con tại vùng Kagoshima. Theo Forbes, Inamori và gia đình ông hiện đang sở hữu khối tài sản trị giá 1,1 tỷ USD. Với khối tài sản này, Inamori đang đứng thứ 32 trong danh sách 50 người giàu nhất Nhật Bản. Theo dữ liệu của Bloomberg, Kyocera là cổ đông lớn nhất của hãng điện thoại KDDI, với tỷ lệ sở hữu 13,7%. Kyocera cũng sở hữu 2,1 % cổ phần của Japan Airlines.

Seth Fischer, Giám đốc đầu tư tại Oasis cho biết, đây là một cách lạc hậu về tư duy và có thể sẽ gặp phải những rủi ro mà doanh nghiệp khác đã từng vấp phải. Thế nhưng, Inamori đã phản bác lại điều này.

“Các nhà đầu tư luôn muốn được lợi nhuận cao nhất có thể. Thế nhưng, việc chúng tôi điều hành tốt KDDI và trả cổ tức tốt là một sự phục vụ tận tâm rồi. Đôi khi, vào những thời điểm khó khăn của Công ty, chúng tôi buộc phải nói không với những yêu cầu quá ích kỷ của cổ đông”, Inamori nói
Mặc dù vậy, quan điểm của Inamori lại không hề gây ấn tượng xấu với các nhà đầu tư. Họ đều hiểu rằng, nếu nhân viên vui vẻ và hài lòng sẽ làm việc tích cực hơn, hiệu quả hơn để sản xuất ra những sản phẩm tốt hơn và tất nhiên là lợi nhuận sẽ nhiều hơn…

"Hàng trăm, hàng ngàn nhân viên cũng tham gia mua cổ phần, bản thân họ cũng đã là cổ đông. Họ đều hiểu triết lý, con gà khỏe mạnh sẽ ra trứng tốt" Inamori chia sẻ “ và đó cũng chính là bí mật để nắm vững và điều hành công ty của tôi”.
Kim Tuyến(Theo báo chí nước ngoài)/ ĐTCK
Share:

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

Người giàu ở Nhật và cách sống "lẫn trong đám đông"

Ở Nhật, có thể bạn sẽ chẳng bao giờ biết hàng xóm của bạn là một triệu phú bởi nhà của ông ấy trông cũng giống nhà của bạn....

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vh-BJW5mqsW

Trong ngành tài chính, một người sẽ được coi là giàu nếu thu nhập của người đó mỗi năm hơn 30 triệu yên và có tài sản ít nhất 100 triệu yên - Ảnh: Japan Times

Suốt bao nhiêu thập kỷ qua, một trong những vấn đề nhức nhối nhất trên thế giới đó là khoảng cách chênh lệch giữa người giàu và người nghèo ngày càng rộng ra. Tại Mỹ cũng như nhiều nền kinh tế phát triển khác, luôn có những khu dành riêng cho nhà giàu, giới nhà giàu đi siêu xe xài trực thăng và tự sống tách biệt ra khỏi cộng đồng.

Thế nhưng ở Nhật người giàu cư xử rất khác người giàu các nước phát triển khác, hay ít nhất họ thường thể hiện ra như vậy. Người giàu thường sống lẫn vào trong đám đông. Đó là những miêu tả về người giàu ở Nhật trong một bài báo mới đây trên Japan Times.

Ở Nhật người ta hay nói với nhau rằng có thể bạn sẽ chẳng bao giờ biết hàng xóm của bạn là một triệu phú bởi nhà của ông ấy trông cũng giống nhà của bạn.

Lý giải cho việc người giàu Nhật không thích khoe khoang tài sản có lẽ bắt nguồn từ quan niệm không nên nổi trội trong đám đông của giáo dục Nhật. Những năm gần đây, khi thị trường chứng khoán Nhật không ngừng tăng điểm, giới truyền thông Nhật đang nhắc nhiều hơn đến những người siêu giàu (cho-fuyuso).

Vậy có bao nhiêu tiền thì được coi là siêu giàu ở Nhật? Theo tác giả cuốn sách “The New Rich”, ông Atsushi Miura, trong ngành tài chính, một người sẽ được coi là giàu nếu thu nhập của người đó mỗi năm hơn 30 triệu yên và có tài sản ít nhất 100 triệu yên. Hiện có khoảng 1,3 triệu người Nhật tức khoảng 1% dân số có lượng tài sản như trên. Người giàu sẽ chỉ cần sống bằng lợi suất từ số tài sản trên chứ không cần phải động đến khối tài sản đó.

Cũng trong nghiên cứu của mình, ông Miura chỉ ra rằng người giàu ở Nhật thường rất tránh phô trương. Họ không thích xây dựng những dinh thự hoành tráng chỉ để cho thiên hạ biết rằng mình giàu. Họ thích dùng tiền cho những thứ mà họ thích cũng như thường thích những tài sản có giá trị vô hình. 

Ví dụ như họ thích sưu tập các tác phẩm nghệ thuật, đi nghe hòa nhạc hơn là mua sắm xe ô tô thể thao sang trọng hay mua sắm đồ trang sức đắt tiền. Họ đi du lịch rất nhiều và thuê riêng những chuyến du thuyền sang trọng để đảm bảo sự riêng tư.

Người giàu Nhật rất yêu nước, họ mua hàng Nhật và đi du lịch nội địa. Họ thích mua rượu Nhật siêu đắt chứ không thích rượu nước ngoài, thích trưng bày tác phẩm nghệ thuật của Nhật, không hứng thứ nhiều lắm với nghệ thuật phương Tây. Đối với họ, câu chuyện ở đây không chỉ là vấn đề thị hiếu mà tiêu tiền cũng thể hiện trách nhiệm công dân.

Những người Nhật mới giàu lên hiểu vị thế của họ trong xã hội và biết rằng nước Nhật cần tiền của họ. Nói cách khác, họ hiểu chương trình kích thích kinh tế của Thủ tướng Shinzo Abe đến từng chi tiết.

Tuy nhiên, cùng lúc đó, nhiều người giàu Nhật vẫn muốn trốn thuế và họ vẫn tìm cách để giấu tài sản ở nước ngoài. Chính vì vậy thời gian gần đây, chính phủ Nhật đã yêu cầu những tỷ phú có tài sản ở nước ngoài trên 50 triệu USD buộc phải khai báo.

Quan điểm dạy con của người Nhật giàu có

Đối với người giàu ở Nhật, việc để lại tài sản cho con cháu không quan trọng bằng dậy chúng cách làm giàu, tiêu tiền và gìn giữ tài sản. Họ đặc biệt quan tâm đến việc mang đến cho con những cơ hội giáo dục tốt nhất, hiểu cách vận động của dòng tiền trong xã hội, cách kiếm tiền.

Theo nhà nghiên cứu Junji Hatoriya thuộc tổ chức Nomura Research, có rất nhiều điểm khác biệt giữa con cái của những người giàu và những người bình thường ở Nhật. Con cái của nhà giàu Nhật không nhất thiết quan tâm đến việc thừa kế, thay vào đó, họ quan tâm hơn đến việc nhìn vào những gì cha mẹ họ đã làm và tự lập ra chiến lược đầu tư riêng cho mình. 

24% con cái của những người giàu có tài sản trên 100 triệu yên có kinh nghiệm đầu tư, 52% có danh mục đầu tư riêng trong khi con số này với toàn bộ dân số Nhật chỉ ở mức 8%. Cũng theo Nomura, bố mẹ giữ vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nên kinh nghiệm đầu tư cho con cái. Nomura đưa ra định nghĩa “cặp đôi quyền lực”, đó là những gia đình với hai bố mẹ đi làm và kiếm mỗi năm 10 triệu yên. Trong nhóm này, có đến 44% có kinh nghiệm đầu tư, tương tự tỷ lệ này với đại chúng chỉ là 15%.

Một đối tượng người giàu khác được Nomura nhấn mạnh trong nghiên cứu của mình chính là những người giàu Nhật rất sành công nghệ. Họ đã về hưu và họ có rất nhiều tiền, đồng thời cũng biết sử dụng máy tính thành thạo. Họ tự tìm hiểu về thế giới và học về đầu tư thông qua mạng Internet.

Họ không tự giao dịch mua cổ phiếu qua mạng mà vẫn phải cần thông qua môi giới, nhưng bởi nắm vững về xu thế tài chính, họ đưa ra được rất nhiều những quyết định đầu tư đúng đắn và có thể nói chuyện với con họ và bạn bè về đầu tư.

Nomura ước tính có khoảng 8,8 triệu người giàu Nhật thuộc nhóm này, tài sản của họ trung bình khoảng 26 triệu yên Nhật.
(Vneconomy) 
Share:

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Văn hoá kinh doanh đáng nể của người Nhật

“Người Nhật luôn cảm thấy khiếm nhã khi nói: “Tôi không thích sản phẩm này”. Vì vậy, họ sẽ nói: ‘Tôi thích, oh, đây là một ý tưởng khá thú vị, hãy để chúng tôi suy nghĩ về nó”.


Tại Nhật Bản, việc đưa danh thiếp được coi là một nghi lễ quan trọng. Nếu làm sai việc này, bạn sẽ bị coi là ngu ngốc, hoặc tệ hơn nó cho thấy đây là hành động xúc phạm tới đối tác.

Trong khi đó, theo Giáo sư Nakayama đến từ Đại học Keio: “Người Mỹ thường chỉ đưa danh thiếp cho đối tác bằng một tay và đây thật sự là một hành động khiếm nhã”.

Đi kèm với “nghi lễ” đưa danh thiếp, người Nhật đặc biệt chú trọng đến “nghệ thuật cúi đầu”. “Bởi nếu cúi đầu quá sâu trong hoàn cảnh không đúng sẽ bị cho là hành động kỳ quặc”.

Nhìn chung, với đa số người Nhật, đây đều là những quy tắc hết sức đơn giản. Tuy nhiên với người nước ngoài, nó thật sự là những vấn đề phức tạp. Donna Childs - nhà sáng lập công ty tư vấn Prisere chia sẻ thêm rằng: “Tại Nhật Bản, bạn có thể nói về mọi thứ liên quan tới kinh doanh và thậm chí đây là điều rất được khuyến khích. Bạn cũng nên thể hiện sự thích thú đối với công ty của đối tác phía Nhật. Như vậy, họ mới đánh giá bạn là người thành thật và quan tâm tới công ty của họ”.

Không chỉ dừng lại những lễ nghi trong giao tiếp như cúi đầu và đưa danh thiếp. Phong cách giao tiếp kinh doanh của người Mỹ và Nhật còn thể hiện sự khác biệt rõ ràng. Trong khi người Mỹ luôn được biết đến có khí chất thẳng thắn và luôn đi thẳng vào vấn đề. Thì “gu” của người Nhật lại hoàn toàn đối lập. Người Nhật thường không trực tiếp nói “không” nếu muốn từ chối.

Yuko Morimoto - một chuyên gia tư vấn về văn hoá giao tiếp nói: “Người Nhật luôn cảm thấy khiếm nhã khi nói: “Tôi không thích sản phẩm này”. Vì vậy, họ sẽ nói: ‘Tôi thích, oh, đây là một ý tưởng khá thú vị, hãy để chúng tôi suy nghĩ về nó”.

“Vâng” theo cách nói của người Nhật không có nghĩ giống với “vâng” (yes) theo tiếng Anh. Thay vào đó, theo Morimoto, nó có nghĩa là: “Chúng ta chỉ mới gặp nhau và tôi không nghĩ mình nên nói không ngay lập tức”.

Người Nhật thường nói: “Vâng". Nhưng “vâng” ở đây có nghĩa là “Vâng, tôi nghe thấy rồi” chứ không phải “Vâng, tôi thích nó”.

Nếu muốn biết người Nhật đang thật sự muốn nói gì, bạn cần phải có thêm thông tin. Liệu có lịch trình cho buổi gặp mặt nào khác không? Mức giá đã hợp lý chưa? Hợp đồng ký chưa?…

Người Nhật cũng ghét chấp nhận rủi ro hơn người Mỹ. Họ luôn cần sự chắc chắn và nhất trí đồng lòng của cả tổ chức. Vì vậy, không ngạc nhiên khi bạn phải tốn thời gian chờ đợi một công ty Nhật Bản đưa ra quyết định cuối cùng bởi họ cần phải đảm bảo chắc chắn mọi thành viên trong hội đồng quản trị biết và đồng tình.

Điều này cũng giải thích tại sao một số công ty Mỹ mắc sai lầm nghiêm trọng khi làm ăn kinh doanh tại Nhật. Người Mỹ luôn cố gắng nhanh chóng hoàn thành công việc, “họ vội vàng và muốn mọi thứ chỉ xảy ra trong 2 - 3 ngày”.

Chính vì vậy, để công việc giữa một người Mỹ và người Nhật có hiệu quả hơn, có lẽ: “Người Mỹ sẽ phải chậm lại và người Nhật phải nhanh hơn và đi thẳng vào vấn đề”.
Vân Đàm
Theo Trí Thức Trẻ

Share:

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

Ai đã góp phần tạo ra cuộc đại cách mạng cho ngành bán lẻ Nhật? (P.1)

Toshifumi Suzuki là người đã đưa mô hình cửa hàng tiện lợi vào Nhật cũng như góp phần quan trọng thay đổi cục diện ngành bán lẻ Nhật vốn từng hoạt động rất thiếu hiệu quả.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VhyMcG5mqsW

Trong 41 năm qua, Toshifumi Suzuki đã mở rộng chuỗi cửa hàng tiện ích 7&11 lên gần 57 nghìn cửa hàng trên khắp thế giới, số lượng cao hơn tất cả các đối thủ cạnh tranh. Nay ở độ tuổi 82 ông cho biết ông vẫn chưa có ý định nghỉ hưu bởi cho rằng ông vẫn còn quá nhiều việc để làm.

Mục tiêu lớn nhất của Suzuki lúc này là đổi mới cách bán hàng và mở rộng thị phần tại Mỹ, nơi thương hiệu 7&11 đã được khai sinh 86 năm trước đây khi ông chủ một cửa hàng kem quyết định bán thêm cả trứng, bánh mì và sữa.

Suzuki được coi như một trong những người có công đầu đã tạo ra cuộc cách mạng thay đổi cục diện ngành bán lẻ Nhật vốn từng được coi như rất thiếu hiệu quả. Ông là người đầu tiên đưa mô hình kinh doanh nhượng quyền “franchising” vào Nhật năm 1974, hay nói cách khác ông chính là người đã sáng lập ra mô hình 7&11 của riêng nước Nhật.

Từ năm 1974 cho đến nay, số lượng cửa hàng tiện lợi 7&11 tại Nhật đã chạm mức 17.800 cửa hàng, tức là mỗi năm trung bình 41 cửa hàng 7&11 mới được mở ra, rất nhiều trong số này hoạt động 24/24. Năm 1991, khi chủ thương hiệu 7&11 chuẩn bị nộp hồ sơ xin phá sản, Suzuki đã quyết định mua lại và vực dậy công việc kinh doanh của hãng trên phạm vi toàn cầu.

Cũng trong khoảng thời gian 41 năm trên, Suzuki đã giúp cho 7&11 vươn ra thị trường của 16 nước trên thế giới với gần 57 nghìn cửa hàng ở thời điểm hiện tại. Tuy nhiên đáng tiếc ngay chính tại thị trường Mỹ tăng trưởng của 7&11 đang thu hẹp lại.

Nếu như đến năm 2013, 7&11 có khoảng 8.500 cửa hàng tại Mỹ thì đến hiện tại con số này chỉ còn lại hơn 8.000. Với bản chất không phải người dễ bỏ cuộc, ông Suzuki khẳng định sẽ tiếp tục cải thiện chất lượng quản lý để có thể nâng tổng số cửa hàng lên con số 30 nghìn.

Kết quả thống kê ở thời điểm cuối năm 2013 cho thấy tổng số 15.218 cửa hàng 7&11 tại Nhật có doanh thu 8.000USD/ngày trong khi đó con số này tại Mỹ chỉ ở mức 5.000USD/ngày.

Nếu tính theo tỷ suất lợi nhuận hoạt động 7&11 còn kiếm được nhiều tiền hơn cả Wal-Mart hay Carrefour. Ví dụ như năm tài khóa 2013, tỷ suất lợi nhuận hoạt động của 7&11 đạt 7,13% trong khi đó con số này tại Wal-Mart đạt 5,93% còn Carrefour chỉ đạt 2,79%. Tăng trưởng lợi nhuận của 7&11 khá đều đặn qua các năm, đến năm 2013 đã lập kỷ lục cao chưa từng có.

Dám làm những điều chưa ai nghĩ đến

Ông Toshifumi Suzuki sinh năm 1932 tại tỉnh Nagano, phía Tây Bắc Tokyo. Sau khi học hết phổ thông ông đã chuyển lên thành phố để học đại học. Ông hoàn thành chương trình cử nhân ngành kinh tế và thương mại năm 1956 tại đại học Chuo vào năm 1956. Trong quá trình học ông rất năng nổ trong các hoạt động tập thể, ông từng là một lãnh đạo sinh viên rất năng nổ.

Giống như bao nhiêu thanh niên Nhật khác, ông đã từng nghĩ mình sẽ trở thành một nhân viên văn phòng ngày ngày xách cặp đi làm, cống hiến cuộc đời mình cho chỉ một công ty duy nhất. Thế nhưng số phận đã đưa đẩy ông đến một cuộc gặp gỡ tình cờ với Masatoshi Ito, người được coi như “huyền thoại” ngành bán lẻ của Nhật, người đang nắm trong tay công ty Ito-Yokado và đang có ý tưởng sẽ bán chung các sản phẩm tiện dụng như ô, tạp chí, bút, đồ dùng học tập cùng một chỗ với đồ ăn.

“Thiên thời địa lợi nhân hòa”, thành công của Toshifumi Suzuki cũng được hỗ trợ khá nhiều từ môi trường pháp lý của Nhật khi đó. Thập niên 1970 tại Nhật có một số quy định mới được đưa ra đối với ngành bán lẻ, theo đó, các rào cản pháp lý đối với việc mở các đại siêu thị trở nên rất ngặt nghèo. Lựa chọn duy nhất khi đó đối với các nhà kinh doanh chỉ có thể là mở siêu thị nhỏ. Cùng thời điểm đó, Suzuki cũng đang “đau đáu” với suy nghĩ làm sao để tiếp tục phát triển mảng bán lẻ.

Công việc quản lý công ty Ito-Yokado của Suzuki khi đó đã tạo điều kiện cho ông đến Mỹ nhiều lần. Sau các chuyến đến Mỹ đó, ông đã nhìn thấy tiềm năng của việc phát triển hệ thống cửa hàng tiện lợi tại Nhật, đặc biệt là với thương hiệu 7&11. Và ông đã quyết tâm theo đuổi mục tiêu phát triển mô hình này tại Nhật từ thời điểm những năm 1970.

Thói quen sinh hoạt và tiêu dùng của người Nhật cũng tạo ra môi trường phát triển thuận lợi cho mô hình cửa hàng tiện lợi. Tại các thành phố lớn đất chật người đông, nhà của người Nhật thường rất nhỏ, tủ lạnh cũng nhỏ chính vì vậy nó không chứa được nhiều thức ăn.

Hơn nữa ngay cả nếu họ mua nhiều thức ăn, họ cũng gặp rất nhiều khó khăn khi mang về nhà bởi đường sá cũng như các nhà ga bến tàu rất đông đúc. Nhiều người Nhật vì vậy có thói quen mua đồ ăn vài lần trong ngày và mỗi lần chỉ mua rất ít. Họ quan tâm đến độ tươi ngon của sản phẩm hơn tất cả.

Những siêu thị, cửa hàng nhỏ của Nhật khi đó hoạt động rất thiếu hiệu quả, hàng hóa không được bảo quản tốt, thiếu các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu căn bản và nằm ở những vị trí rất không thuận lợi cho người tiêu dùng. Với những gì được trải nghiệm ở Mỹ, Suzuki cho rằng kinh nghiệm quản lý và điều hành của Southland (công ty mẹ của 7&11) sẽ có thể giúp giải quyết vấn đề trên cho Nhật. Ông mất rất nhiều công để thuyết phục ban điều hành công ty Ito-Yokado chấp nhận ý tưởng mua thương hiệu 7&11 đưa vào phát triển ở Nhật.

Về phía công ty Southland, Suzuki cũng phải dành nhiều thời gian công sức để đưa ra lý do thuyết phục Southland nhượng quyền thương hiệu 7&11 cho ông. Đứng trước một người đàn ông “da vàng mũi tẹt” chưa có mấy tên tuổi trong ngành bán lẻ Nhật, Southland có rất nhiều ngờ vực.

Thế nhưng bằng sự quyết tâm của mình, Suzuki đã khiến Southland thay đổi quan điểm. Tháng 11/1973, Southland đặt bút ký vào thỏa thuận nhượng quyền kinh doanh thương hiệu 7&11 cho công ty Ito-Yokado, đổi lại họ nhận được 0,6% tổng lợi nhuận cũng như lời cam kết rằng Suzuki sẽ phát triển được 1.200 cửa hàng tiện lợi 7&11 trong 8 năm.

Nhận thấy rằng mình đã chơi một canh bạc lớn chưa từng có, Ito và Suzuki đã lập riêng là một công ty kinh doanh có tên 7&11 Nhật, ông Suzuki giữ vị trí chủ tịch và tuyển nhân viên mới từ bên ngoài, độc lập với bộ phận bán lẻ hiện có của công ty.

Công ty này giữ nguyên hai tôn chỉ hoạt động của công ty Southland: không chạy đua giá thấp với các siêu thị gần đó và luôn minh bạch toàn bộ số liệu kế toán đối với Southland để giữ được niềm tin của họ.
Ngọc Thúy
Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?