Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn giá trị thương hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giá trị thương hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Tổng giá trị 50 thương hiệu số 1 Việt Nam chưa bằng nửa giá trị một thương hiệu của Malaysia

Giá trị thương hiệu Vinamilk + FPT + Viettel + Thế giới di động + Vinhome + .... chưa bằng nửa giá trị một thương hiệu của Malaysia.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vh8wMG5mqsW

Theo công bố của Brand Finance, hầu hết thương hiệu đặt giá tại Việt Nam đều là những thương hiệu rất thông dụng, được nhiều người biết tới nhưu Vinamilk, Viettel, Mobifone, FPT, Vietcombank,...

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vh8wMG5mqsW
Những tên tuổi đắt giá nhất thuộc về nhóm ngành tiêu dùng, viễn thông, ngân hàng, bất động sản. Vinamilk, thống trị ngành sữa Việt Nam được định giá trên 1,1 tỉ USD, vượt qua rất xa so với thương hiệu xếp thứ 2 là Viettel (580 triệu USD).

Mặc dù vậy, đây không phải là thông tin vui của Vinamilk vì năm ngoái, thương hiệu này được định giá tới 1,5 tỉ USD. Chỉ trong vòng 1 năm, thương hiệu này đã bị mất giá tới 400 triệu USD.

Yếu tố nào quyết định giá trị một thương hiệu? Theo ban tổ chức, giá trị thương hiệu nằm trong các yếu tố vô hình của các công ty. Đáng tiếc là tại Việt Nam, phần yếu tố này đang bị xem nhẹ. Các yếu tố vô hình mới chỉ đóng góp 38% trong tổng giá trị một doanh nghiệp Việt Nam, trong khi tỉ lệ này trung bình trên thế giới là 53%.

Chẳng hạn với Vinamilk, tỷ lệ này chỉ ở mức 23%. Một số ngành hàng tiêu dùng có độ nhận biết cao cũng có tỉ lệ tốt hơn, như Vinacafe, tỉ lệ giá trị vô hình trên tổng giá trị công ty đạt 36%.

Ngược lại là nhóm ngành sản xuất. Thép Hòa Phát, một trong những doanh nghiệp đứng đầu ngành thép Việt Nam, giá trị thương hiệu không đáng kể khi chỉ đáng 5% trên tổng giá trị doanh nghiệp.

“Nếu tỷ lệ này cao, chính thương hiệu đã tạo nên doanh số cho doanh nghiệp. Nếu tỷ lệ này thấp, cần xem lại tiền cho quảng bá thương hiệu đang đầu tư thế nào”, ông Samir Dixit - Giám đốc Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của Brand Finance, cho biết.

Tổng giá trị thương hiệu toàn cầu là 7.000 tỷ đô, tăng 11%. So với tỷ lệ quốc tế, đáng lẽ Việt Nam phải tăng mạnh hơn vì mô hình kinh tế ở mức thấp, nhưng tổng giá trị thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam là 67,3 tỷ USD – không tăng trưởng. Chưa kể đến giá trị thương hiệu quốc gia của Việt Nam sụt giảm tới 18%, từ 172 tỷ USD năm 2014 xuống còn 139,5 tỷ USD năm 2015.

“Điều này có nghĩa chúng ta không cạnh tranh được với các thương hiệu toàn cầu. Khi thương hiệu toàn cầu vào Việt Nam, việc giữ miếng bánh thị phần của doanh nghiệp Việt sẽ khó khăn hơn nhiều”, ông Samir nói.

Ông Samir dẫn chứng, tổng giá trị thương hiệu của Top 50 ở Việt Nam là 5,5 tỷ USD. “Một thương hiệu của Malaysia có thể gấp đôi con số này”.

Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp nội địa cần phải chú ý nhiều hơn nữa đến việc xây dựng thương hiệu – tài sản vô hình quan trọng nhất để tạo ra những giá trị lớn cho bản thân doanh nghiệp đó, cũng như cho các bên liên quan như nhà đầu tư, đối tác, khách hàng hay công chúng nói chung.

“Khả năng quản trị thương hiệu kém của các doanh nghiệp là một trong những trở ngại lớn nhất khiến các doanh nghiệp không tận dụng được những lợi thế mà tài sản thương hiệu của họ có thể mang lại”, ông Samir nói.

Bảo Bảo
Theo Trí Thức Trẻ
>>  22 cuốn sách về tài chính đáng đọc nhất mọi thời đại

Share:

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

Quên storytelling marketing đi, giờ là thời đại của storydoing

“Storydoing marketing” – vẫn là những câu chuyện dẫn dắt người đọc đến gần hơn với thương hiệu, nhưng sống động và mang tính chất thực tế, đánh thẳng vào sản phẩm và doanh số, chứ không chỉ xoay quanh cái tên của công ty như trước.
Storytelling marketing – marketing bằng cách kể chuyện giờ đây vô cùng phổ biến với các thương hiệu trên thế giới. Đây là hình thức marketing dựa trên việc xây dựng, phát triển và lan tỏa những câu chuyện thú vị, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới thương hiệu sản phẩm hay hình ảnh của hãng. Đã từ rất lâu, storytelling marketing trở thành một chiến lược không thể thiếu với các nhãn hàng.

Tuy nhiên, thực tế phương thức marketing này đang dần trở nên cũ kĩ và không còn tính đột phá, vì được sử dụng quá nhiều. Một khái niệm mới vừa được đưa ra “Storydoing marketing” – vẫn là những câu chuyện dẫn dắt người đọc đến gần hơn với thương hiệu, nhưng sống động và mang tính chất thực tế, đánh thẳng vào sản phẩm và doanh số, chứ không chỉ xoay quanh cái tên của công ty như trước.

Doanh nhân, nhà đầu tư và kĩ sư phần mềm nổi tiếng Marc Andreessen từng phát biểu: “Một công ty không có câu chuyện của riêng mình thì coi như không có chiến lược gì hết”. Chúng ta hoàn toàn nhất trí với nhận định này, chỉ có điều, mang một câu chuyện đến công chúng liệu có đủ? Hay phải tạo cho nó một sức sống để hối thức hành động mua sản phẩm của khách hàng?

Chúng ta đang sống trong thời đại hoàn toàn khác với trước đây, khi mà các thông tin không còn “hiếm có khó tìm” mà đầy rẫy trên internet, các trang mạng xã hội và phương tiện truyền thông.
Trong một thập kỉ trở lại đây, số lượng các thương hiệu cũng như những câu chuyện đi kèm tăng lên một cách chóng mặt. Các công ty này nên gửi lời cảm ơn đến những Youtube, Twitter, Tumblr,… khi mà 10 năm trước chúng không hề tồn tại, hay Facebook - thời gian đó mới chỉ lóe lên trong tâm trí Mark Zuckerberg.

Tuy vậy, khi có quá nhiều trang thông tin để marketing cũng có những bất lợi. Các thương hiệu đua nhau đăng tải những câu chuyện, thông điệp tới khách hàng đã vô tình tạo nên một sự rối rắm, chồng chéo và khiến người tiêu dùng trở nên chai lì với những thông tin trên. Hơn nữa, chi phí dành cho quảng bá trên internet hay mạng xã hội không hề nhỏ, nếu không muốn nói là tốn kém khi hình ảnh cần xuất hiện ở vị trí nổi bật trong một thời gian dài.

Thực tế chứng minh phương thức này không còn hiệu quả như trước nữa. Theo thống kê của trang Brand Asset Valuator, hiện nay các tỷ lệ phản ánh chất lượng, sự trung thành và tin tưởng vào thương hiệu của khách hàng đang giảm mạnh, lần lượt là 24%, 31% và 50%. Độ hiện diện giảm xuống do tất cả đều áp dụng chung một công thức quảng bá khiến không nhãn hàng nào có thể nổi bật hơn hẳn, dẫn đến sự xuống dốc của giá trị thương hiệu.

Các số liệu thống kế đang ở mức báo động, nhưng điều đáng lo ngại hơn là các CEO dường như không quan tâm mấy đến thực tế. Khi các nhà lãnh đạo này được đặt câu hỏi liệu sản phẩm của họ có tạo ra sự khác biệt, đến 80% trả lời là “có”, trong khi chỉ 10% người tiêu dùng đồng ý với nhân định trên.

Từ Storytelling đến Storydoing

Rõ ràng, nếu chỉ marketing bằng cách kể chuyện là chưa đủ, làm thế nào để đưa câu chuyện ấy vào sản phẩm một cách thực dụng và hiệu quả hơn?

Câu trả lời là hãy “lợi dụng” chính những khách hàng. Vậy "lợi dụng" như thế nào?

Con người ta tin đến 90% gợi ý của bạn thân, 75% những ý kiến đánh giá trên mạng và chỉ 50% quảng cáo. Tất nhiên, tất cả đều phải bắt đầu từ việc họ có được những trải nghiệm tuyệt vời khi các thương hiệu phải cung cấp một cách thực tế. Sau đó, những người này sẽ giới thiệu cho bạn bè mình hoặc để lại những lời đánh gia tốt đẹp, tỷ lệ này chiếm 70% nếu so với mức 2% khi họ chỉ xem quảng cáo.

Hiện nay, có một số công ty đã áp dụng hình thức “storydoing marketing” thay cho “storytelling” như trước. Mục đích chính của họ không còn là tạo nên sức hút truyền thông mà cung cấp cho những khách hàng cơ hội được trải nghiệm thực tế tốt nhất. Nhờ đó có thể thông qua chính người dùng để quảng bá cho sản phẩm của mình. Hành động thì thường giá trị hơn lời nói.

Điều gì tạo nên một công ty “storydoing” thành công?

Quy trình thực hiện phương thức hoàn toàn khác. Không giống như trước đây, chỉ đơn giản là chia sẻ câu chuyện về thương hiệu đến với những khách hàng tiềm năng và làm cho càng nhiều người biết tới càng tốt, các nhà marketing hiện nay ngoài việc xây dựng thông điệp còn phải tìm cách đưa chúng vào sản phẩm sao cho khi sử dụng, khách hàng có thể cảm nhận được và có tâm lý sở hữu ngay.

Trở thành một công ty thành công trong “storydoing marketing” giống như tham gia một cuộc chinh phục. Đầu tiên phải xác định tham vọng, mục đích thương mại. Tài chính không đóng vai trò quá nhiều cho cách thức quảng bá này, vấn đề cốt yếu là tạo được cảm hứng cho người dùng.

Do đó, đối thủ lớn nhất của những công ty này là chất lượng dịch vụ kém, họ cần nhìn nhận rõ “kém” là như thế nào để phòng tránh hoặc cải thiện.

Đơn cử như JetBlue đã cố gắng làm thay đổi định kiến của khách hàng về những hãng hàng không quốc gia khi tuyên bố “mang tính nhân văn trở lại ngành hàng không”, hay những slogan được đưa ra như “bay trên những bầu trời thân thiện”. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là chất lượng phục vụ. Hãng này có ghế da, ti vi vệ tinh cho tất cả mọi người, thâm chí có cả đồ ăn nhẹ miễn phí.

Trong thế giới mà mọi người được kết nối chặt chẽ như hiện nay, chuyển đổi từ “storying marketing” sang “storydoing marketing” không chỉ giúp các công ty kinh doanh hiệu quả hơn mà còn mang đến cho khách hàng những trải nghiệm và dịch vụ tốt nhất.
Theo Trí Thức Trẻ/Inc. 

>> 4 cách tương tác với khách hàng trong marketing
Share:

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Bài học từ Starbucks và Virgin khi đối mặt với phàn nàn từ khách hàng

Trong tổng số khách hàng có khúc mắc với doanh nghiệp, chỉ 4% sẽ phàn nàn với công ty, trong khi 96% còn lại chọn cách nói cho 9 hoặc 10 người khác về trải nghiệm đó của mình. Điều này có khiến cho bạn phải suy nghĩ?


Bạn thấy tình huống sau có quen không?

Bạn vừa mua một sản phẩm hoặc dịch vụ, và người bán hàng đưa cho bạn bảng đánh giá về chất lượng. Sau đó trong lúc bạn điền thì họ đứng đó và bắt đầu nói với bạn những lý do bạn nên cho họ điểm 10 trên 10: để giúp họ được công ty thưởng, nuôi con và tránh khỏi cuộc sống lề đường (các đại diện hãng du lịch trên những xe trung chuyển là đối tượng thường xuyên than thở chuyện này với khách hàng).

Việc này xảy ra thường xuyên và nó thực sự khiến tôi thấy khó chịu. Một nhân viên bán ôtô gọi cho tôi (thương hiệu Vauxhall) sau khi tôi cho anh ta điểm 7 thay vì điểm 10/10, cho dịch vụ mà anh ta cho tôi trong quá trình mua chiếc xe Corsa loại nhỏ (đó là một chiếc xe tuyệt vời). Anh ta muốn nâng điểm của mình ‘lên 10’ để có thể đạt được chỉ tiêu trong tháng. Khi tôi không thay đổi kết quả đánh giá của mình, anh ta gọi tôi lần thứ 2 và sau đó, tệ hơn nữa, anh ta gọi lần thứ 3- và sau đó tôi thực sự đã thay đổi đánh giá của mình.

Tôi cho anh ta điểm 5.

Đừng né tránh những phàn nàn- hãy tận dụng chúng

Tôi cá là chúng ta ai cũng từng gặp trường hợp trên. Đồng thời sự gia tăng của xu hướng khen thưởng và công nhận thành tích nhân viên dựa trên bảng đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng thường dẫn đến sự gian lận trắng trợn trong hệ thống. Điều này đương nhiên cũng gây nguy hiểm nếu nó chỉ mang lại những kết quả với mức độ hài lòng cao cùng lúc cũng tước đi của doanh nghiệp một trong những món quà tuyệt vời nhất- lời phàn nàn.

Toàn bộ quá trình một doanh nghiệp giải quyết phàn nàn là yếu tố quan trọng để thành công, có rất nhiều thống kê để làm minh chứng nên rất khó để chọn ra chỉ một yếu tố minh họa. Tuy nhiên, có một yếu tố luôn nổi bật xuyên suốt;

Trong tổng số khách hàng có khúc mắc với doanh nghiệp, chỉ 4% sẽ phàn nàn với công ty, trong khi 96% còn lại chọn cách nói cho 9 hoặc 10 người khác về trải nghiệm đó của mình.

Điều này hẳn khiến cho bạn phải suy nghĩ.

Mặt khác, khi 1 doanh nghiệp khắc phục tốt tình huống đó, khách hàng sẽ kể cho 6 hoặc 7 người khác về trải nghiệm mà họ đã có với thương hiệu và tiếp tục mối quan hệ trong tương lai.

Phàn nàn thực sự là một món quà.

Bạn có đang tối đa hóa sức mạnh của phàn nàn chưa?

Mặc dù có một số những quy tắc đơn giản và hiển nhiên mà mọi doanh nghiệp nên làm theo khi giải quyết phàn nàn của khách hàng, dưới đây là 10 mẹo hay:

1. Lắng nghe với thái độ tích cực và cảm thông- hãy chắc chắn rằng bạn thực sự hiểu vấn đề và có khả năng đưa ra hướng giải quyết của cá nhân
2. Phản hồi nhanh chóng- dù bằng cách nào, càng hành động nhanh càng tốt
3. Hãy là người đứng mũi chịu sào- người tiếp nhận phàn nàn sẽ tiếp nhận và giải quyết vấn đề đó. Kể cả khi bản thân họ không có câu trả lời, họ sẽ chịu trách nhiệm cho đến khi sự việc được giải quyết
4. Chọn cách tiếp cận trực tiếp- đặc biệt là khi giao tiếp với khách hàng qua cách kênh như truyền thông xã hội.
5. Sử dụng ngôn ngữ tích cực, chủ động- điều này sẽ giúp tạo dựng sự tin tưởng giữa khách hàng và doanh nghiệp của bạn.
6. Tránh sử dụng ngôn ngữ không đẹp nơi công cộng- tránh phát ngôn tiêu cực về hoạt động nội bộ công ty với những người bên ngoài.
7. Đừng hứa hão- phải chắc chắn rằng khoảng thời gian bạn đưa ra đủ để giải quyết vấn đề
8. Trấn an khách hàng- chứng tỏ rằng bạn nhận thức được gốc rễ của vấn đề và doanh nghiệp đang cố gắng giải quyết.
9. Theo dõi tiến trình- lưu lại những thỏa thuận giữa khách hàng và doanh nghiệp, lý tưởng nhất là trong môt hệ thống mà mọi người trong công ty có thể xem được.
10. Duy trì phong cách trang trọng- hãy nhớ rằng mặc dù thương hiệu của bạn không phải lúc nào cũng sử dụng ngữ điệu trang trọng, bạn có thể giải quyết phàn nàn với sự nhạy cảm và hiểu biết. Điều này có nghĩa là yếu tố hài hước trong một số tình huống khác sẽ có lợi nhưng không phải lúc nào cũng là phương pháp tối ưu nhất.

Bằng cách nắm bắt 10 bí quyết này, bạn sẽ tiến xa trên con đường biến những phàn nàn thành một món quà. Tuy nhiên, nếu bạn muốn biến nó thành một món quà để có thể luôn luôn trao tặng, bạn cần phải áp dụng 1 chữ ‘A’; Alignment (Tạm dịch: Sự điều chỉnh tương ứng)

‘Tương lai phụ thuộc vào chữ ‘A’ đó’; phát ngôn của giám đốc điều hành United Biscuits, 2015

Những thương hiệu nào đang tận dụng phàn nàn như một lợi thế?

Những công ty thực sự tận dụng được phàn nàn là những công ty đã ổn định được thương hiệu của mình trên mọi khía cạnh, như sự định vị, những giá trị và đặc tính thương hiệu được đưa vào quá trình phản hồi của họ; chúng ta gọi đó là ‘ sự điều chỉnh tương ứng’.

Giá trị thương hiệu tạo ra bộ lọc hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp quyết định điều nên làm và không nên làm, trong khi đặc tính thương hiệu sẽ giúp chỉ dẫn cách thức phản hồi xét trên khía cạnh sắc thái và ngôn ngữ sử dụng. Những doanh nghiệp làm tốt điều này sẽ nhanh chóng trở nên khác biệt và cùng lúc củng cố danh tiếng, bởi những phản hồi tuyệt vời thường được chia sẻ rộng rãi.

Starbucks

Starbucks sử dụng một tài khoản Twitter chuyên để phản hồi yêu cầu của khách hàng
@MyStarbucksIdea (Tạm dịch: những ý tưởng cho Starbuck của tôi). Qua trang này họ phát triển một cá tính thương hiệu và ngôn ngữ ‘thân thiết’ mà họ sử dụng khi trả lời các yêu cầu và phàn nàn. Chỉ riêng cái tên cũng đã gắn với sứ mệnh của thương hiệu là trở thành ‘nơi thứ 3 khách hàng ghé đến sau gia đình và công sở’.
Warby Parker

Một “ gã tí hon” mới gia nhập xu hướng này là thương hiệu mắt kính- Warby Parker. Một trong những giá trị của công ty là ‘ chăm sóc với khách hàng theo cách họ muốn’. Thương hiệu quyết định rằng họ thích mọi người phàn nàn trực tiếp hơn, và động thái gần nhất của công ty để đạt được điều này là thực hiện những video phản hồi phàn nàn của khách hàng.

Họ cũng nhận ra rằng những tweet có kèm video trung bình được tương tác lại nhiều hơn 65 lần so với những tweet riêng lẻ. David Gilboa, đồng sáng lập của Warby Parker cho biết: “Khách hàng rất hài lòng rằng chúng tôi đang có những bước tiến dài để phục vụ nhu cầu của họ và đồng thời họ tweet để kể cho hàng tá những người khác về thương hiệu của chúng tôi.”
Virgin

Virgin thì hiển nhiên là đang làm tốt điều này. Dưới đây là ví dụ về một đoạn chat hài hước trên Twitter sau đó được đặt tên là ‘poogate’( tạm dịch: sự cố toilet)

Khi một khách hàng của Virgin lâm vào tình thế dở khóc dở cười- hết giấy vệ sinh trên một trong những chuyến tàu của công ty, anh này quyết định sử dụng Twitter để kêu gọi trợ giúp.
Phản hồi của Virgin rất nhanh chóng, dí dỏm và quan trọng nhất là- hữu ích. Họ đã tuân thủ phương châm phục vụ khách hàng của mình ‘Vấn đề không phải bạn làm cái gì, mà là cách bạn thực hiện ra sao’, qua đó phát huy cá tính thương hiệu độc đáo của mình. Đó cũng là yếu tố nổi bật xuyên suốt trong mọi dịch vụ do hãng cung cấp.

Tạm kết…

Những món quà đến dưới muôn hình vạn trạng. Những lời phàn nàn là điều mà các doanh nghiệp cố gắng tránh nhưng chúng cũng có thể trở thành một trong những món quà tuyệt vời nhất. Nếu doanh nghiệp giải quyết phàn nàn tốt, họ có thể biến những kẻ gièm pha thành những người ủng hộ. Nhưng nếu đồng thời điều chỉnh được thương hiệu tương ứng trong suốt quá trình đó, họ sẽ trở thành những nhà tạo dựng thương hiệu quyền lực.
(Tri Thức Trẻ)

>> 8 lý do doanh nghiệp nên tận dụng Instagram


Share:

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2015

6 sai lầm giết chết chiến lược Content marketing của doanh nghiệp Việt

Đổ tiền đầu tư content marketing theo xu hướng nhưng một số doanh nghiệp Việt lại tự làm khó mình khi không xác định được mục tiêu cốt lõi của chiến dịch, để rồi không đạt đến thành công ở bất cứ phương diện gì. 

Ông Nguyễn Đăng Ngọc, Đồng Giám đốc Điều hành Hệ thống Quảng cáo trực tuyến Admicro (VCCorp) chia sẻ:
"Content marketing không phải một xu hướng nhất thời, dù có nhận ra hay không thì trước giờ, trong các hoạt động quảng cáo tiếp thị của mình, các doanh nghiệp đều đã vận dụng content. Tuy nhiên, để nâng tầm nó lên thành chiến lược trong thời đại số, đòi hỏi doanh nghiệp có tầm nhìn dài hạn, đủ năng lực để nắm bắt và hiểu rõ về thói quen, nhu cầu của người dùng internet Việt Nam. Bên cạnh việc dám mạo hiểm, không ngần ngại thay đổi chiến thuật thường xuyên, doanh nghiệp cũng luôn cần bám sát các số liệu đo lường hiệu quả thực tế, tránh 'ném tiền qua cửa sổ'. Thế mạnh của mỗi doanh nghiệp chính là cơ sở đầu tiên để xây dựng một chiến lược content marketing có giá trị." 
Dưới đây là 6 sai lầm phổ biến mà các doanh nghiệp Việt thường xuyên “dính” phải khi bắt tay làm tiếp thị nội dung và gợi ý giải pháp cho các vấn đề đó.
6 sai lầm giết chết chiến lược Content marketing của doanh nghiệp Việt (1)
1. Website: Chỉ cóp nhặt thông tin trên mạng
Trên 90% doanh nghiệp Việt đang duy trì website bằng cách cóp nhặt thông tin liên quan đến lĩnh vực, ngành nghề, thương hiệu của mình từ các tờ báo và trang tin tức chuyên ngành khác.
Biên soạn và tập hợp thông tin là cách nhanh và rẻ nhất để có được những bài viết đa dạng, chuyên sâu. Tuy nhiên, chưa kể đến các vấn đề bản quyền, thì uy tín thấp, thứ hạng website trên các công cụ tìm kiếm thấp, lượng truy cập thực tế ít ỏi và khả năng quy ra ra giá trị kinh tế thấp là cái giá phải trả cho cách làm "tiết kiệm" này.
Giải pháp: Để làm content marketing trên website, hãy xác định giá trị thông tin sâu nhất, hữu ích nhất bạn có thể mang lại cho khách hàng, và cố gắng trở thành chuyên gia trong nội dung đó. Thường xuyên khuếch trương giá trị các bài đăng này bằng cách đẩy mạnh SEO và bản quyền, tích cực chia sẻ nội dung lên các diễn đàn, mạng xã hội, đặc biệt trong các hội nhóm có liên quan trực tiếp.
2. Chỉ sùng “chuyên gia ngoại”
Với những thế mạnh về kinh nghiệm, uy tín, chỉ phải trả tiền khi hài lòng với chất lượng sản phẩm, ngày càng nhiều doanh nghiệp không ngần ngại bỏ tiền thuê các chuyên gia, các công ty tư vấn xây dựng và vận hành các chiến dịch content marketing cho mình.
Tuy nhiên, giao phó 100% chiến lược nội dung của mình cho họ không phải giải pháp khôn ngoan. Thứ nhất, họ có thể rất giỏi, nhưng chưa chắc đã hiểu sâu về sản phẩm, giá trị cốt lõi và tầm nhìn chiến lược của công ty. Thứ hai, bạn có thể tìm đến họ thì người khác, bao gồm các đối thủ kinh doanh của bạn cũng có thể. Bên cạnh đó, nguy cơ về bảo mật cũng là vấn đề không thể xem thường.

Giải pháp: Song song với việc nhờ cậy các blogger, chuyên gia và công ty tư vấn chuyên nghiệp bên ngoài, hãy tích cực xây dựng và phát triển đội ngũ chuyên gia nội bộ, bắt đầu từ việc lựa chọn những nhân viên tiềm năng, đào tạo và xây dựng thương hiệu cá nhân cho họ. Việc có được một đội ngũ chuyên gia hiểu sâu sản phẩm và chiến lược, gắn bó lâu dài với công ty và tạo ra những sản phẩm truyền thông độc đáo là phần thưởng xứng đáng cho sự kiên nhẫn và chi phí cơ hội ban đầu.
3. Cẩm nang “đuổi khách”
Những thông tin hữu ích, số liệu công phu, phân tích chuyên sâu… luôn có sức hấp dẫn và góp phần đáng kể cho uy tín của thương hiệu. Một số công ty thậm chí còn có được nguồn thu đáng kể từ việc bán những sản phẩm nội dung này.
Tuy nhiên, quá tự tin ở tính chuyên sâu, giá trị, hữu ích của tài liệu đã khiến nhiều công ty không quan tâm đến cảm nhận của người dùng. Họ thiết kế những cẩm nang quá dài và “làm giá” sản phẩm bằng những rào cản như yêu cầu khách hàng phải đăng nhập, để lại email, thậm chí trả phí để xem được văn bản, trong khi không hề cho khách hàng một cơ sở nào để hào hứng móc ví. Nên nhớ rằng khách hàng thời nay có rất nhiều lựa chọn, họ sẽ không tốn thời gian để tìm hiểu thứ vốn dĩ không hề gợi mở.
Giải pháp: Cần đến một khảo sát nghiêm túc để biết chắc độ dài cẩm nang của bạn là vừa vặn khiến số đông đối tượng mục tiêu muốn đọc đến trang cuối cùng. "Tặng" khách hàng những đoạn xem thử đủ hấp dẫn để họ muốn bỏ công sức và tiền bạc ra xem bản đầy đủ.
6 sai lầm giết chết chiến lược Content marketing của doanh nghiệp Việt (2)

4. Chỉ cần có video
Sức lan truyền khủng khiếp và khả năng tạo trào lưu nhanh chóng, mạnh mẽ của các clip hot trên Youtube đã khiến nhiều người nghĩ rằng, tất cả những gì họ cần làm là tạo ra một video có khả năng lan truyền.
Trên thực tế, video cũng như một liều thuốc tốt, nó không chữa được bách bệnh và cần được uống đúng giờ. Ngay cả khi video của bạn được chia sẻ khắp nơi mà sự nổi tiếng đó không dẫn đến những hiệu quả đo đếm được như thương hiệu, thị trường hay doanh số thì đó vẫn cứ là một khoản đầu tư thất bại.
Một TVC thành công cần tập trung truyền tải một số thông điệp nhất định, phục vụ cho một mục tiêu nhất định và được phát đúng lúc. Khảo sát của Outbrand (US) đã cho thấy, không phải buổi sáng, mà chính giờ nghỉ trưa mới là thời điểm người dùng cập nhật thông tin nhiều nhất.
Giải pháp: Luôn ghi nhớ rằng TVC là giải pháp hiệu quả, nhưng không thể tồn tại đơn lẻ, tách rời khỏi chiến lược content marketing tổng thể với thông điệp cốt lõi xuyên suốt. Hỗ trợ người xem bằng những đoạn mô tả ngắn gọn cũng như lời bình thú vị về nội dung clip, giúp họ có thể hiểu và hứng thú với nó ngay cả khi không thể xem trọn vẹn.
5. Mobile marketing: Chỉ đẩy tin buổi sáng
Quan niệm cho rằng lượng truy cập trên mobile cao nhất vào buổi sáng không hoàn toàn chính xác. Đối với những khu vực mà độc giả đa phần là dân văn phòng ngày làm 8 tiếng, đỉnh truy cập trên thiết bị di động cao nhất là vào buổi chiều và tối, khi họ rời máy tính công sở.
Giải pháp: Lựa chọn nội dung và hình thức đăng tải phù hợp với thiết bị truy cập chiếm ưu thế vào từng thời điểm. Nắm được thông tin chi tiết về tốc độ truy cập, kích thước màn hình, xu hướng lựa chọn tin tức theo khung giờ, giới tính... sẽ giúp bạn không bỏ phí bất cứ cơ hội nào để tiếp cận khách hàng một cách hiệu quả nhất trên mobile.
6. Kế hoạch "trên trời"
Một sai lầm phổ biến của giới marketers trong nước là quá ít sử dụng các số liệu đo lường thực tế, dẫn đến áp đặt tư duy chủ quan của mình cho người dùng. Điều này đặc biệt nguy hiểm trong content marketing, nơi các chiến lược không theo dạng "đánh nhanh thắng nhanh", mà cần có thời gian để thẩm thấu và phát huy tác dụng.
6 sai lầm giết chết chiến lược Content marketing của doanh nghiệp Việt (3)

Suy nghĩ "content is king" (nội dung là vua) chỉ đúng một phần. Nội dung tốt vẫn hoàn toàn có thể thất bại nếu truyền tải thiếu hiệu quả, sai đối tượng mục tiêu, vào thời điểm không phù hợp, thông qua các kênh phân phối không phù hợp và chưa đủ lượng thời gian cần thiết.
Giải pháp: Nghiên cứu kĩ đối tượng mục tiêu trước khi lên chiến lược content marketing, vận dụng tổng lực tất cả các công cụ truyền bá tốt nhất, đảm bảo rằng các kênh và các công cụ bạn sử dụng phải liên kết chặt chẽ với nhau.
 CafeBiz
Share:

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Xanh là tiền, sạch là bạc

Phát triển xanh không chỉ mang lại những giá trị về thương hiệu mà đang trực tiếp tạo ra tăng trưởng doanh thu.

Xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng chiếm ưu thế khi người tiêu dùng trên khắp thế giới đang ủng hộ những công ty biết tích cực chia sẻ lợi ích với cộng đồng, đặc biệt là những giá trị bảo vệ môi trường sống.
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?