Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn mạng xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn mạng xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Chiến lược mạng xã hội của tỉ phú Richard Branson

Khi bạn hỏi ai là doanh nhân thành công nhất trên mạng xã hội, cái tên Richard Branson luôn xuất hiện trong top dẫn đầu. Với 7 triệu “followers” (người theo dõi) trên Twitter, 9 triệu “followers” trên LinkedIn và gần đây là gần 3 triệu “like” (thích) trên Facebook, Branson là một trong những doanh nhân nổi bật nhất trên mạng xã hội, cùng với Mark Cuban và Elon Musk. 

Thành công trên mạng xã hội không đơn giản chỉ là số lượng “like” và “follow”. Branson tuân thủ một số cách thực hành trên mạng xã hội đã giúp ông luôn là người dẫn đầu. Sau đây là 4 cách thực hành mạng xã hội giúp kết nối với khách hàng tiềm năng và nuôi dưỡng mối quan hệ qua mạng xã hội.



1. Kết nối từ những góc độ thật nhất của con người

Branson đã thành công khi sử dụng mạng xã hội để kể những câu chuyện và xây dựng sự gắn bó một cách tự nhiên, tạo nên cảm xúc cá nhân, gần gũi với những người theo dõi.

Người dùng mạng xã hội hiện nay khôn ngoan hơn bao giờ hết. Cách đây vài năm, các thông điệp marketing có thể tạo ra sự tương tác hay những cú “click” nhưng các công dân mạng xã hội hiện nay mong đợi sự kết nối thật sự.

Branson thường đưa hình ảnh cá nhân vào nội dung đăng tải. Hằng ngày, ông cũng có những phản hồi trực tiếp trên Twitter. Và một điều rất quan trọng cần lưu ý là Branson tự mình tương tác trên mạng xã hội.

Thật khó có thể xây dựng và nuôi dưỡng những quan hệ thật sự nếu một đội ngũ bên ngoài đang tương tác thay cho bạn, trên tài khoản của bạn. Ông hiểu rằng sự thành công trên mạng xã hội đòi hỏi “một Branson thật” và “social media” trở thành một trong những ưu tiên hằng ngày của ông.

2. Dùng mạng xã hội để đưa những quan tâm đến website của Virgin 

Đăng tải những nội dung “có vẻ hay” có thể giúp tăng sự gắn kết và lượng “click” nhưng nội dung có thể đưa người quan tâm đến với website của bạn là nội dung phải chuyển đổi được người theo dõi và thích thành đối tượng tiềm năng và sau cùng là bán được hàng.

Branson hiểu tầm quan trọng của blog nội dung đối với chiến lược social media của ông; ông hầu như viết các bài viết mới trên blog mỗi ngày. Bằng cách đặt các “link” trong những trạng thái kết nối trên mạng xã hội, Branson đưa lượng người quan tâm đến với các nội dung mới trên blog thuộc website của Virgin.

3. Branson vui nhộn


Trong quyển sách Jab, Jab, Jab, Right Hook, chuyên gia mạng xã hội Gary Vaynerchuk gợi ý nên có nội dung bổ ích và vui tươi trước khi đòi hỏi điều gì đó từ các “followers”. Dù đó là một bức hình động vật rất dễ thương, một ý tưởng hài hước hay một câu chuyện cá nhân, Branson luôn chia sẻ những điều ông thích thú trên Twitter và quan trọng hơn là ông chia sẻ những nội dung mà ông biết người theo dõi cũng sẽ thích thú.

Việc chia sẻ những nội dung mà người theo dõi thật sự thích giúp mang lại sự cân bằng với nội dung có tính định hướng kinh doanh, đồng thời làm tăng khả năng người theo dõi sẽ tin tưởng vào nội dung mang tính tiếp thị, quảng bá của bạn.

4. Chào đón những đóng góp của khách hàng

Branson hiểu rằng hoạt động trên mạng xã hội và việc hưởng lợi từ sự hiện diện mạnh mẽ trên mạng cũng có nghĩa là sẽ dễ bị tấn công bởi những phản hồi hay nhận xét tiêu cực từ khách hàng. Thay vì tránh dạng phản hồi thế này, Branson sẵn sàng chào đón, ông nói: “Tôi thích xem những tương tác mới xuất hiện. Đó là một cách tuyệt vời để nhận phản hồi về hàng hóa và dịch vụ và để tìm cảm hứng cho những ý tưởng mới”.

Qua kênh #AskRichard live Twitter Q&A và qua những tương tác hằng ngày, Branson gắn kết với người theo dõi trong các đối thoại mở về nhiều chủ đề. Branson chọn cách tiếp cận cộng đồng với người dùng mạng Twitter chứ không phải là cách tiếp cận mà người doanh nhân trở thành một phía đối nghịch. Nhờ thế, vị tỉ phú này đã tạo nên một cộng đồng những người ủng hộ trên mạng xã hội với sự gắn bó cao.


Theo DNSG/ Entrepreneur
Share:

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

Giải mã WeChat - Mạng xã hội đang làm mưa làm gió ở Trung Quốc

Không ngoa khi nói rằng WeChat chính là tương lai của mạng xã hội.


Yu Hui là một cô bé 4 tuổi hiếu động đang sống ở Thượng Hải. Giới marketing sẽ gọi cô bé là một digital native, nghĩa là người sinh ra trong một thế giới nơi công nghệ đã trở nên quá phổ biến do đó rất thoải mái khi sử dụng các thiết bị công nghệ.
Cách đây 1 năm, Yu đã bắt đầu sử dụng WeChat, ứng dụng nhắn tin phổ biến nhất ở Trung Quốc. Cô bé còn quá nhỏ để sử dụng một chiếc điện thoại di động. Thay vào đó Yu sử dụng Mon Mon, món đồ chơi có kết nối Internet và sử dụng được phần mềm WeChat. Mon Mon có thể gửi hình ảnh về cô bé cho bố mẹ và cũng sẽ sáng lên khi nhận cuộc gọi.
Giống như hầu hết người dân Trung Quốc, mẹ của Yu sử dụng WeChat chứ không phải email để bàn bạc công việc. Ứng dụng này cung cấp mọi thứ, từ các cuộc gọi video miễn phí đến trò chuyện theo nhóm hay cập nhật tin tức và cho phép người dùng chia sẻ các tập tin đa phương tiện dung lượng lớn. Bà còn sử dụng điện thoại thông minh để quét WeChat QR khi gặp gỡ đối tác mới thay vì đưa danh thiếp.
Bố của Yu Hui thì sử dụng WeChat để mua sắm trực tuyến, thanh toán hóa đơn mua hàng hay tiền điện nước và chỉ mất vài lần chạm để chia hóa đơn bữa tối với bạn bè. Ông còn có thể gọi taxi, đặt vé xem phim hay đặt lịch hẹn với bác sĩ và sắp xếp các kỳ nghỉ ở nước ngoài mà chẳng cần phải rời khỏi ứng dụng này.
WeChat có thể giúp người dùng kết nối với thế giới bên ngoài từ sáng đến tối mà chẳng cần phải thoát ra và đây cũng chính là lý do khiến các công ty công nghệ của thung lũng Silicon (trong đó có Facebook) phải theo dõi WeChat chặt chẽ. Những người hay phải đi lại giữa Trung Quốc và phương Tây than phiền rằng không sử dụng WeChat khiến họ cảm thấy như bị quay ngược thời gian.
Ứng dụng này đem đến sự hứa hẹn về một nền kinh tế không tiền mặt. Đây cũng chính là ví dụ tốt nhất cho việc Trung Quốc đang định hình tương lai của mobile internet như thế nào. Người Trung Quốc sử dụng smartphone nhiều nhất thế giới và tỷ lệ truy cập trên thiết bị di động cũng nhiều hơn bất cứ đâu. Nhiều người bỏ qua thời đại truy cập internet trên web mà nhảy luôn vào mobile internet, bỏ qua máy tính cá nhân để bước vào thiết bị di động. Khoảng một nửa doanh thu bán hàng qua mạng ở Trung Quốc diễn ra trên điện thoại động, trong khi tỷ lệ ở Mỹ chỉ là 1/3. Nói cách khác, Trung Quốc tạo điều kiện thuận lợi nhất để WeChat "cất cánh": công nghệ mới, các mô hình kinh doanh được xây dựng xung quanh điện thoại di động và quan trọng hơn cả là người dùng sẵn sàng trải nghiệm.
WeChat mới chỉ được Tencent tung ra cách 5 năm nhưng hiện đã có hơn 700 người dùng và là một trong những ứng dụng nhắn tin phổ biến nhất thế giới, chiếm tới 1/3 thời gian dùng internet trên di động của người Trung Quốc. Trung bình 1 người dùng sẽ vào WeChat tối thiểu 10 lần 1 ngày.
Quan trọng hơn cả, hơn một nửa người dùng WeChat đã kết nối thẻ ngân hàng của họ với ứng dụng này. Đây là một thành công lớn bởi xã hội Trung Quốc mang nặng tính hoài nghi và cũng có rất nhiều vụ lừa đảo trên mạng. Bằng thương hiệu được tin cậy và tính bảo mật cao, Tencent đã có thể chiếm được lòng tin của người dùng, điều mà các ứng dụng tương tự của phương Tây như Snapchat và WhatsApp chưa làm được.
Thống trị tất cả
Vì sao Tencent lại thành công? Một phần là bởi tính dị thường của thị trường Trung Quốc. Người phương Tây đã quen sử dụng nhiều ứng dụng một lúc để truy cập Internet còn người Trung Quốc thì quá quen với việc chỉ đi qua một cửa. Không giống như phương Tây, ứng dụng nhắn tin miễn phí gần như không có đối thủ ở Trung Quốc. Chi phí nhắn tin thông qua nhà mạng bình thường rất đắt đỏ, và email cũng không phổ biến ở Trung Quốc đơn giản vì thời kỳ email bùng nổ thì ở Trung Quốc internet còn chưa phát triển.
Nhưng không thể không kể đến khả năng cải tiến sáng tạo của Tencent. Nhiều người Trung Quốc lớn lên cùng với QQ – cũng là một ứng dụng của Tencent nhưng hoạt động trên máy tính cá nhân hiện vẫn có hơn 800 triệu người dùng. QQ là bản sao của ICQ – dịch vụ nhắn tin do người Israel phát triển được Tencent học tập và đã cải tiến để phù hợp với người dùng. Khi WeChat ra đời người dùng dễ dàng chuyển danh bạ trên QQ sang ứng dụng mới.
WeChat phổ cập tính năng chat theo nhóm bằng chiến dịch "phong bao đỏ" cho phép người dùng gửi tiền điện tử cho bạn bè và người thân để chúc mừng năm mới âm lịch thay vì lì xì như truyền thống. WeChat đã biến hoạt động này thành một trò chơi, khuyến khích người dùng tập hợp thành nhóm để gửi tiền ngẫu nhiên. Nếu bạn gửi 3.000 nhân dân tệ cho 30 người bạn, không phải mỗi người nhận được 100 nhân dân tệ mà số tiền sẽ do WeChat quyết định. Dịp Tết vừa qua đã có hơn 400 triệu người dùng (cả cá nhân và nhóm) gửi đi 32 tỷ "phong bao đỏ".
Sau nhiều năm kiên trì, Tencent đang được hái quả ngọt từ WeChat. Trong khi những ứng dụng khác đang chật vật, năm ngoái WeChat có doanh thu lên đến 1,8 tỷ USD. Một phần không nhỏ đến từ thương mại điện tử, nơi WeChat thu phí từ người mua hàng.
Mức độ phổ biến của WeChat cũng giúp thương hiệu này gia tăng giá trị trong mắt các nhà quảng cáo. Goldman Sachs nhận định hiếm có công ty nào ở trong vị thế tốt hơn so với WeChat để có thể tận dụng sự trỗi dậy của quảng cáo trên mạng xã hội. Khi hãng xe hơi BMW triển khai quảng cáo đầu tiên trên WeChat nhưng quảng cáo chỉ hiện ra trước mắt một nhóm người dùng có chọn lọc, nhiều người đã phản đối nhưng không phải vì bất tiện mà vì thắc mắc tại sao họ không nhìn thấy quảng cáo này.
Đối với các công ty phương Tây, bài học đáng nói nhất về thành công của WeChat là người dùng và các công ty quảng cáo sẵn sàng trao phần thưởng cho những công ty giải quyết được vô số vấn đề đang hành hạ họ. Smartphone là một phát minh vĩ đại nhưng cũng gây ra không ít phiền toái vì suốt ngày cập nhật. WeChat đã giải quyết được điều này.
Thu Hương
Theo Trí thức trẻ/Economist
Share:

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Marketing trên Facebook kém hiệu quả hơn trước

Nhiều đơn vị kinh doanh chỉ tập trung vào một kênh quảng bá online, khiến thông tin bị nhiễu loạn, gây khó cho người tiêu dùng và làm giảm hiệu quả của công cụ này.

Khảo sát gần đây của công ty chuyên về marketing truyền thông qua mạng xã hội - Social Media Examiner cho thấy 92% chủ doanh nghiệp đánh giá Facebook là kênh marketing online quan trọng, nhưng có tới 55% lại cảm thấy nỗ lực của họ không thực sự mang lại hiệu quả.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Phan Anh - chuyên gia E-marketing, hiệu quả của Facebook với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những người làm kinh doanh là rất lớn, rõ rệt. Tuy nhiên, so với những năm trước đây, tác động từ việc quảng cáo qua mạng xã hội này có xu hướng giảm.

"Số người bán hàng và nhà quảng cáo gia tăng chóng mặt, dẫn tới cạnh tranh khốc liệt hơn", ông lý giải. Thực tế này đòi hỏi giới kinh doanh có chiến lược quảng cáo và truyền thông tốt hơn, am hiểu về kỹ thuật quảng cáo và tính ứng dụng cũng như tạo sự khác biệt, nắm bắt xu hướng hành vi tiêu dùng của khách hàng tốt hơn.
Tỷ lệ tương tác tự nhiên của người dùng với các fanpage giảm dần qua các năm. Ảnh: TechCrunch

Một nguyên nhân khác là sự thay đổi các thuật toán hiển thị của Facebook. Trong tháng 4 và tháng 6/2015, mạng xã hội này đã khiến các đơn vị kinh doanh online gặp trở ngại khi tỷ lệ reach (tiếp cận) trên các fanpage bán hàng sụt giảm nghiêm trọng. Đây là kết quả của quá trình thay đổi thuật toán khiến các fanpage hiển thị ít hơn trên trang chủ của người dùng. Để khắc phục, các chủ kinh doanh buộc phải chi tiền quảng cáo hay thuê nhân vật nổi tiếng quảng bá nhằm tăng lượt xem, chia sẻ, giữ ổn định lượng tương tác. Tuy nhiên không phải đơn vị nào cũng đủ tiềm lực để chi nhiều tiền phục vụ công tác này.

Việt Nam có hơn 30 triệu người dùng Facebook và theo khảo sát của công ty chuyên thiết kế website bán hàng Bizweb với các chủ số vừa và nhỏ, có tới 97% chủ website tích hợp bán hàng trên Facebook, 67% sử dụng quảng cáo trên mạng xã hội này, trong đó có nhiều đơn vị làm hàng ngày.

Ông Trần Trọng Tuyến, Giám đốc Công ty cổ phần công nghệ DKT (đơn vị quản lý Bizweb) nhận định: “Môi trường tại Việt Nam đã sẵn sàng để đón nhận sự thành công đến từ kinh doanh online. Tuy nhiên, công cụ này không phải là thần dược, cứ làm là thành công mà cần đầu tư và có chiến lược rõ ràng”.

Một số chuyên gia cho hay quảng cáo qua Facebook đang là lựa chọn số đông, nhưng nếu chỉ áp dụng nguyên kênh bán hàng này sẽ dẫn đến nhiều hạn chế. Lạm dụng quảng cáo trên mạng xã hội sẽ làm cho khách hàng bị nhiễu loạn thông tin, và có xu hướng nghi ngờ thương hiệu. "Đầu tư nhiều hơn vào Facebook và tăng cường hoạt động trên mạng xã hội này là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Đăng bài hàng loạt không có nghĩa là thành công, người quản trị cần có khung thời gian phân phối lượng tin hợp lý và nguồn tin cũng phải chất lượng, tạo được tính lan truyền trong cộng đồng", một chuyên gia chia sẻ.

Trao đổi với VnExpress, ông Nguyễn Kỳ Minh, Phó giám đốc Trung tâm Phát triển thương mại điện tử (Cục Thương mại điện tử & Công nghệ thông tin, Bộ Công Thương) đánh giá các đơn vị kinh doanh đang vướng phải một số vấn đề nên không thấy Facebook marketing hiệu quả như trước.

Trong đó, ngoài việc người dùng chưa thực sự hiểu mình cần đạt mục tiêu gì thì "chưa thông thạo các kỹ năng liên quan đến marketing qua Facebook cũng là một vấn đề".

"Dù được thiết kế đơn giản và tương đối dễ dùng nhưng nếu như không có quá trình tìm tòi sâu, thậm chí là 'thử sai' nhiều lần thì khó tối ưu hết được hiệu quả do kênh này đem lại", vị chuyên gia nhận định. Bên cạnh đó, Facebook marketing phù hợp cho chiến lược tiếp cận khách hàng thụ động. "Người kinh doanh cần phân loại nhóm khách hàng chính xác và phù hợp với sản phẩm chào bán, đồng thời có chiến lược tiếp cận khách hàng bài bản", đại diện Cục chia sẻ.

Share:

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

Bí quyết dẫn đầu của Nike

Những sản phẩm sáng tạo của Nike, tất nhiên, đóng góp một phần vào sự nổi tiếng của thương hiệu này, nhưng sự sáng tạo đó cũng sẽ không thể đem lại thành công nếu không có sự hỗ trợ đắc lực từ những chiến lược marketing xuất sắc của hãng.

Thời kỳ đầu

Kể từ khi xuất hiện vào năm 1964, Nike (trước đó là Blue Ribbon Sports) đã trở thành một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới với logo “swosh” đặc trưng, được thiết kế bởi sinh viên thiết kế Carolyn Davidson với giá 35USD.

Cách nhìn của Nike với marketing đã thay đổi ít nhiều trong suốt hơn 40 năm lịch sử của hãng. Khi mới bắt đầu, Nike muốn hướng mình trở thành một công ty định hướng sản phẩm, tập trung cải thiện khâu thiết kế và sản xuất, bởi chính sự cải cách trong các khâu đó ngay từ đầu đã là thế mạnh đã giúp Nike trở nên khác biệt với các đối thủ cạnh tranh khác.

Tuy nhiên, vào những năm 1990, sau một đợt rà soát và khắc phục các thiếu xót của công ty, Nike đã có một cách tiếp cận tập trung hơn vào khách hàng và thị trường.

Vào năm 1992, trong một buổi phỏng vấn với bộ phận nghiên cứu kinh doanh của Harvard, CEO Phil Knight đã có bình luận về sự thay đổi này, “Chúng tôi từng nghĩ rằng phòng nghiên cứu là nơi khởi điểm của tất cả. Giờ chúng tôi nhận thấy rằng tất cả mọi thứ đều xoay quanh khách hàng.

"Và trong thời đại công nghệ này, mọi sự sáng tạo đều phải được bắt nguồn từ nhu cầu của khách hàng. Chúng tôi phải có những lý do cụ thể cho mỗi sáng kiến của mình, và những lý do đó thì bắt nguồn từ thị trường. Nếu không như vậy thì cuối cùng những gì chúng tôi làm sẽ chẳng khác gì đồ trưng bày trong bảo tàng”.

Thay đổi các chiến lược marketing

Đã từ lâu, Nike đã rất thành công khi sử dụng những chiến lược quảng cáo qua tivi và các ấn phẩm truyền thông đại chúng để quảng bá cho từng sản phẩm mới hay từng nhà tài trợ của họ. Câu khẩu hiệu “Just Do It” và “Bo Knows” đã trở nên gắn liền với thương hiệu của hãng. Tuy nhiên, hiện nay Nike không còn sử dụng những phương pháp quảng cáo đó nữa.

Từ năm 2009 đến năm 2012, chi phí mà công ty bỏ ra cho marketing truyền thống đã giảm 40% và tiếp tục giảm đến giờ, ngay cả khi ngân sách cho marketing được tăng lên mức kỷ lục 2.4 tỷ đô la. Vậy số tiền đó đã đi đâu?

Câu trả lời nằm tại các phương thức quảng cáo tận dụng các công nghệ mới đã cho phép Nike giao tiếp trực tiếp với khách hàng mục tiêu của họ - những bạn trẻ ở tuổi 17 với mức chi tiêu cho giày dép nhiều hơn phụ huynh của họ 20%.

Emotional branding (Tạo thương hiệu bằng cảm xúc khách hàng)

Emotional branding là một kỹ thuật trong marketing, sử dụng chính nhu cầu, cảm hứng hay trạng thái cảm xúc của khách hàng để xây dựng một thương hiệu cụ thể. Emotional branding đạt được hiệu quả tốt nhất khi khách hàng cảm thấy có sự gắn bó thân thiết với thương hiệu, đó có thể là cảm giác gắn kết, yêu thích hay mong muốn tiếp tục đồng hành trong tương lai. Những cảm giác này có thể tuân theo lý trí, cũng có thể không, nhưng đó không phải điều quá quan trọng.

Khi nhắc đến emotional branding, Nike là một trong những thương hiệu thành công nhất; có lẽ bởi hãng đã dựa vào một câu chuyện có tuổi đời hàng ngàn năm, câu chuyện về một vị anh hùng. Rất ít người có thể cưỡng lại được câu chuyện về các anh hùng – hai thế lực hùng mạnh đối đầu nhau, một cuộc hỗn chiến, và một chiến thắng oanh liệt – đặc biệt khi chính khách hàng là những nhân vật anh hùng trong câu chuyện đó.

Nike sử dụng mô típ xưa như trái đất này một cách mới lạ và sáng tạo bằng việc tập trung vào kẻ thù bên trong mỗi người chứ không phải những đối thủ bên ngoài. Và kẻ thù đó chính là sự lười biếng.
Các quảng cáo của Nike đưa ra nhằm mục đích tạo động lực để khách hàng đứng lên, tiến về phía trước, không ngừng cố gắng, và tóm gọn là “hãy hành động”. Quảng cáo của Nike thường ca ngợi sự chăm chỉ và ăn mừng các chiến thắng, đặc biệt là chiến thắng của khách hàng trước sự lười biếng, và những gì Nike làm chính là đánh vào mong muốn trở nên vĩ đại của khách hàng.

Nike đã rất thành công khi thực hiện điều đó, quảng cáo của họ không chỉ tác động đến các vận động viên, mà tất cả mọi người, bởi khát khao trở nên vĩ đại là một điều mà ai cũng có, giúp cho chiến lược này có một sức hút gần như toàn cầu.

Và mặc dù đã chuyển từ quảng cáo qua in ấn và tivi sang quảng cáo số, Nike vẫn không nhừng việc sử dụng emotional branding. Thông qua việc gửi các thông điệp ý nghĩa trên Twitter, hay vinh danh những vận động viên trên Fanpage và Instagram, Nike vẫn luôn duy trì được kết nối với khách hàng theo cách mà không nhiều đối thủ khác có thể làm được.

Phương tiện truyền thông xã hội

Cũng như phần đông các doanh nghiệp lớn khác, Nike đã nhận thấy được lợi ích to lớn từ sự hiện diện của những phương tiện truyền thông xã hội. Công ty sử dụng tài khoản trên các mạng xã hội của mình để kết nối trực tiếp với khách hàng và Nike chính là một trong những doanh nghiệp hoạt động trực tuyến nhiều nhất.

Twitter

Nike đã tách riêng các tài khoản Twitter cho mỗi thương hiệu nhỏ của mình, và với mỗi kênh đó, Nike tập trung vào việc phản hồi với các @mention. Điều này có nghĩa là một phần lớn các hoạt động của Nike trên Twitter được tạo nên từ các phản hồi truy vấn của khách hàng cá nhân, cho phép khách hàng kết nối trực tiếp với doanh nghiệp theo một cách mà chưa từng được thực hiện trong quá khứ.

Các nhân viên của Nike trả lời các câu hỏi về sản phẩm, thông tin hàng hóa, và các đơn đặt hàng – tất cả đều qua các cuộc trao đổi với từng cá nhân. Đây chính là một công cụ bổ trợ đắc lực cho bộ phận hỗ trợ khách hàng của Nike.

Trên các tài khoản của những thương hiệu nhỏ của Nike (golf, bóng đá, bóng rổ,...) khách hàng có thể tìm được những tư vấn luyện tập, chi tiết sản phẩm, được giải đáp các thắc mắc, và nhận được những thông điệp cổ vũ và động viên đáng quý.

Instagram

Tài khoản trên Instagram của Nike là một trong những tài khoản nổi tiếng nhất, với lượng theo dõi đáng nể lên đến 13.2 triệu người. Bằng việc sử dụng cả video và những tấm hình nghệ thuật, Nike đã trưng bày những tấm ảnh của những sản phẩm được ưa chuộng nhất trên tài khoản chính và các tài khoản con.

Nike hiểu rõ vai trò của Instagram và biết được những gì mà khách hàng muốn xem, vì vậy công ty đã lấp đầy tài khoản Insta của họ với các hình ảnh về người dùng sản phẩm cùng những cảnh quan tuyệt đẹp, được chụp một cách tự nhiên nhất, không giống như những bức ảnh trong catalogue.

Pinterest

Đã từng có thời điểm, trang Pinterst của Nike chỉ được dùng để phục vụ các khách hàng nữ, nhưng giờ thì không như vậy nữa. Hiện nay có 20 bảng với các dòng sản phẩm giày dép, lễ phục, và các trang phụ kiện. Tuy nhiên, thật đáng tiếc khi ở thời điểm hiện tại, dường như Nike mới chỉ có thể liên kết sản phẩm và nội dung của chính sản phẩm đó.

Trong khi Pinterest là một ứng dụng tuyệt vời trong việc giúp công ty quảng bá giá trị cốt lõi và văn hóa của mình, Nike lại chỉ dùng Pinterest như một catalogue giới thiệu sản phẩm mà không phải là một công cụ marketing sáng tạo.

Facebook

Nike đã tách riêng các fanpage trên facebook cho mỗi danh mục sản phẩm của mình. Các trang chuyên về thể thao của Nike thường xuyên cập nhật hình ảnh và video mỗi ngày, thường là hình ảnh của các vận động viên được công ty tài trợ và các sản phẩm của Nike.

Digital Sport (tạm dịch: thiết bị thể thao số)

Digital Sport là một mảng khá mới của Nike, được khởi động từ năm 2010, (cũng là năm mà Nike đã chi 800 triệu đô cho quảng cáo theo kiểu mới), tập trung vào việc phát triển công nghệ và thiết bị để cho phép người dùng theo dõi được các chỉ số sức khỏe. Thiết bị được biết đến nhiều nhất của digital sport là thiết bị cảm biến chạy bộ Nike+, được phát triển cùng với Apple.

Sản phẩm này đã được tin dùng bởi ít nhất là 6 triệu người. Nike+ theo dõi thể trạng của các vận động viên qua một kết nối không dây. Dữ liệu được lưu trữ trên website của Nike và người dùng có thể đăng tải hay chia sẻ thông tin luyện tập của mình qua Twitter và Facebook.

Bộ thiết bị này bao gồm một thiết bị cảm biến Nike+, một đôi giày tương thích của Nike+, và một thiết bị theo dõi Nike+. Mới đây nhât, Nike còn đưa ra sản phẩm FuelBand giúp đo lường lượng năng lượng tiêu hao của người dùng.

Việc Nike áp dụng quảng cáo số đã mang lại những thành công đáng kể cho hãng và nhận được sự ủng hộ từ hàng triệu người dùng. Bằng việc kịp thời nhận thấy sự kém hiệu quả của quảng cáo qua tivi và in ấn, Nike đã có thể chuyển mình, sử dụng các phương tiện mạng xã hội và phát triển công nghệ để vượt xa các đối thủ cạnh tranh khác.
Vinh Lê
Share:

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

American Express sử dụng mạng xã hội để marketing khéo thế nào?

American Express (AmEx) đã lựa chọn Instagram là trang mạng xã hội chủ đạo của hãng giúp truyền tải những chiến lược nội dung của thương hiệu này, đồng thời có những thay đổi nhất định trong tư tưởng của mình.


Instagram được coi là nền tảng xã hội phát triển nhanh nhất của American Express, với mức tăng trưởng lên tới 18% vào quý trước và tăng gấp đôi trong năm nay, đạt mốc 98.000 followers (người theo dõi) trong một thời gian ngắn. Thật bất ngờ khi những bức ảnh về thẻ tín dụng được đăng tải trên mạng xã hội này mang có thể truyền tải một sự nhạy cảm về tài chính và thu hút khách hàng tới như vậy.

Giám đốc thương hiệu của American Express, bà Mona Hamouly, cho biết trên Digiday rằng, mọi người thực sự yêu thích những hình ảnh thẻ AmEx mới được đăng tải trên Instagram. Một số khách hàng thậm chí còn chụp ảnh những chiếc thẻ cũ của mình và yêu cầu American Express phát hành thẻ mới cho họ.

Nhận thấy tiềm năng này, Hamouly đã lên kế hoạch biến Instagram trở thành kênh thông tin chiến lược cho kế hoạch marketing nội dung của American Express khi hiệu suất và độ tương tác giữa khách hàng và hình ảnh ở đó luôn duy trì ở mức cao ổn định. Điều này khiến chính bà cũng phải ngạc nhiên.

Kể từ đó, AmEx tăng cường đăng tải nhiều hình ảnh kèm theo những nội dung xã hội của mình một cách rõ ràng hơn nhằm kết nối hiệu quả hơn với các khách hàng.

Thương hiệu này cũng chú ý hơn đến tính nghệ thuật trong các thiết kế với dòng sản phẩm mang tên “Card Art” để thu hút lượt ưa thích. Các hình ảnh này thường nhận được gấp đôi số retweets trên Twitter và lượt like trên Instagram, trong khi các loại thẻ khác sở hữu trung bình 1.000 like.

Một mẫu thẻ Card Art của American Express được đăng trên Instagram của hãng
Một mẫu thẻ Card Art của American Express được đăng trên Instagram của hãng

American Express tỏ ra không thích Snapchat cho lắm. Đối với thương hiệu này mà nói, khi các dịch vụ tài chính trên thị trường đã trở nên bão hòa, thì việc nhắn tin để quảng cáo không còn có nhiều tác dụng.

Cách duy nhất để quảng bá thương hiệu trong hiện tại là mạng xã hội và các kênh thông tin truyền thông khác, nơi mà những thông điệp muốn truyền tải được đi kèm với những hình ảnh bắt mắt và giúp người dùng dễ hình dung hơn. “Snapchat không phải là một lựa chọn phù hợp với chúng tôi”, bà Hamouly cho biết.

Trong khi American Express luôn tự định vị mình như một thương hiệu độc quyền đối với những người sử dụng thẻ, điều này dễ tạo cảm giác xa cách, thì với phương tiện truyền thông xã hội, hãng này đã mang lại sự gần gũi và tương tác cao hơn với khách hàng của mình.

Đặc biệt khi chiến dịch marketing online của AmEx được liên kết chặt chẽ với các kênh offline, những người sử dụng sẽ cảm nhận sự nhất quán và thống nhất giữa nội dung thông điệp của thương hiệu.

Hiện nay, một số thương hiệu để nắm lấy các cơ hội kinh doanh trực tuyến bằng cách yêu cầu khách hàng để đồng bộ thẻ với Facebook, Twitter để có thể nhận được các ưu đãi về giá cả cho những sản phẩm thuộc thương hiệu mà họ ưa thích.

Tuy nhiên, AmEx vẫn khá dè dặt với ứng dụng Facebook, do mạng xã hội này quá phổ biến và đa dạng người sử dụng, đồng thời tính riêng tư không được đảm bảo. Cho dù hiện nay thương hiệu này đã bắt đầu thay đổi dần dần, bằng việc cho phép đăng tải những video quảng cáo của mình lên nền tảng này, nhưng độ tương tác không thường xuyên như Instagram.

Một mạng xã hội khác được American Express sử dụng là YouTube, khi thương hiệu cho phép những người không sử dụng thẻ của mình cũng có quyền truy cập. Sắp tới, AmEx có ý định hợp tác với Airbnb nhằm mang đến một sự tích hợp công nghệ tiện ích cho người dùng.

Cụ thể, tính năng này sẽ cho phép khách hàng tạo ra một tài khoản Airbnb bằng các thông tin có sẵn trong dữ liệu của AmEx. Tài khoản này sẽ có đầy đủ các chức năng như nhận điểm thưởng, check-out và đạt được sự tin tưởng của các chủ nhà khi có được sự xác minh đúng tiêu chuẩn của American Express. Bên cạnh đó, công ty cung cấp dịch vụ tài chính cũng sẽ có thêm nhiều khách hàng tiềm năng đến từ nhiều tầng lớp trên thế giới.

"Chúng tôi rằng American Express cần phải tiếp cận với những khách hàng thuộc phân khúc khác nhau," dẫn lời bà Hamouly, "Do đó, các thông điệp cũng như cách quảng bá chúng đang dần được thay đổi để trở nên dễ hiểu hơn, đồng thời mở rộng phạm vi tìm kiếm để nhiều người biết đến và sử dụng những sản phẩm của hãng."
Thư Anh
Theo Trí Thức Trẻ/Digiday

Share:

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

Tại sao Phố Wall thích Facebook?

Giá cổ phiếu của trang mạng xã hội Facebook tại Mỹ đã tăng mạnh trong thời gian gần đây và vẫn có xu thế tiếp tục đi lên. Vậy đâu là nguyên nhân khiến nhà đầu tư đổ tiền vào cổ phiếu này dù mức giá đã cao?

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VjmM8W6fdFp
Chỉ 3 năm rưỡi sau lần phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), tổng mức vốn hóa trên thị trường chứng khoán của Facebook đang dần tiến tới mốc 300 tỷ USD.

Khi mới được IPO, giá cổ phiếu của trang mạng xã hội này không vượt quá được mốc 38USD/cổ trong hơn 1 năm. Nhưng giờ đây, với kết quả kinh doanh khả quan, cổ phiếu của Facebook đang tăng mạnh và giao dịch ở mức 103USD/cổ trong phiên 3/11/2015 với tổng mức vốn hóa đạt 290 tỷ USD, đứng thứ 5 trong bảng xếp hạng các công tu công nghệ có mức vốn hóa lớn nhất thị trường sau Amazon, Microsoft, Alphabet (tên mới của Google) và Apple.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VjmM8W6fdFp
Các nhà đầu tư Phố Wall hiện đang tích cực mua vào cổ phiếu Facebook dù mức giá cổ phiếu trên doanh thu (tỷ lệ P/S) của hãng này đạt 20 lần, cao hơn nhiều so với những công ty công nghệ khác như Apple, Amazon hay Alphabet.

Vào cuối phiên 4/11/2015, Facebook sẽ công bố kết quả kinh doanh quý III/2015 và nhiều chuyên gia dự đoán doanh thu của hãng sẽ đạt 43,7 tỷ USD, tang 36% so với cùng kỳ năm trước. Hãng Thomson Reuters cũng dự đoán hệ số EPS của trang mạng xã hội này sẽ đạt 52 cent, tăng 43% so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, hãng phân tích Pivotal Research nhận định Phố Wall đánh giá Facebook vẫn đang tăng trưởng và hoạt động kinh doanh tốt, đồng thời ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ngành quảng cáo.

Vậy lý do nào khiến nhà đầu tư Phố Wall ưa thích cổ phiếu Facebook dù mức giá đã quá cao? Câu trả lời rất đơn giản, do kết quả kinh doanh của mảng điện thoại di động. Lĩnh vực quảng cáo trên điện thoại di động của Facebook hiện chiếm 76% tổng doanh thu, cao hơn so với mức 72% của năm trước.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VjmM8W6fdFp

Theo khảo sát của ComScore, ứng dụng Facebook và Facebook Messenger dành cho điện thoại di động luôn đứng đầu tại thị trường Mỹ. Nghiên cứu của hãng này cũng cho thấy người sử dụng điện thoại thông minh tốn 50% thời gian cho những ứng dụng họ hay vào nhất và 80% thời gian cho 3 ứng dụng mà họ thường xuyên dùng.

Ngày 14/10/2015, hãng nghiên cứu Argus Research đã nâng mức khuyến nghị từ nắm giữ lên mua vào với mức giá mục tiêu 115 USD/cổ cho Facebook cũng như nâng tỷ lệ EPS cho cả năm 2015 của công ty này lên 2,04 USD. Theo báo cáo của hãng Argus, Facebook đã thành công trong việc chuyển đổi mô hình tập trung từ máy tính cá nhân sang khách hang sử dụng điện thoại di động.

Hiện Phố Wall đang theo kỳ vọng vào hoạt động của những ứng dụng Instagram mà Facebook mua lại. Riêng trong quý III/2015, ứng dụng này đã có 400 triệu lượt truy cập hàng tháng và ngày càng có nhiều quảng cáo được đăng trên Instagram. Các nhà đầu tư kỳ vọng Facebook sẽ tiếp tục phát triển mạnh Instragram cũng như các ứng dụng khác như Messenger hay WhatsApp.

Ngoài ra, xu thế đăng quảng cáo bằng video trên Facebook cũng đang ngày càng thịnh hành tại Mỹ và có khả năng đe dọa vị thế của ngành truyền hình cũng như các ứng dụng quảng cáo khác. Một thống kê của hãng IAB cho thấy ngành quảng cáo trực tuyến tại Mỹ trong quý II/2015 tăng trưởng 23% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng mạnh nhất kể từ quý II/2011.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VjmM8W6fdFp
Chuyên gia phân tích Ronald V. Josey của công ty JMP cho biết có hơn 4 tỷ lượt xem video trên Facebook mỗi ngày và đây là một lợi thế vô cùng lớn cho trang mạng xã hội này trong ngành quảng cáo. Ông Josey cũng dự đoán báo cáo kết quả kinh doanh của Facebook sẽ vượt dự kiến và cổ phiếu của công ty này có thể đạt 150USD/cổ. 
Hoàng Nam
Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2015

Real-time content Marketing: Chiêu hái ra tiền tận dụng những khoảnh khắc bất ngờ

Sự kết hợp hoàn hảo của những kế hoạch được tính toán kỹ lưỡng và những ý tưởng xuất thần được đánh giá là những yếu tố chủ chốt dẫn đến sự thành công của mọi chiến lược content marketing của mọi thương hiệu.


Nhắc đến những câu chuyện thành công với real-time content marketing (marketing qua nội dung những thông điệp được truyền tải dựa trên một khoảnh khắc vừa diễn ra), không thể không nhớ đến sự kiện tại Superbowl 2014.

Tại sự kiện này, Oreo đã tận dụng được khoảnh khắc cúp điện để nhanh trí đưa ra một thông điệp rất phù hợp với hoàn cảnh và quảng bá được thương hiệu của mình “Chúng ta vẫn có thể ăn bánh trong bóng tối, hãy chấm bánh với sữa cùng Oreo.”

Một ví dụ khác cũng rất hay được đưa ra để phân tích là việc Adidas đã làm như thế nào để chiến thắng Nike trong cuộc đua tài trợ cho giải bóng đá lớn nhất thế giới FIFA World Cup cũng vào năm 2014.
Mạng xã hội của Adidas trong mùa World Cup
Mạng xã hội của Adidas trong mùa World Cup

Sự tranh cãi trên mạng xã hội giờ đây lại được coi là một phương thức giúp quảng bá một cách vô tình cho một sự kiện hay một thông điệp từ thương hiệu nào đó, thể hiện tốc độ của thời đại công nghệ và khả năng chớp thời điểm chính xác của các chuyên gia marketing.

Hầu hết những bậc thầy về marketing sẽ tận dụng chúng như một đòn bẩy hiệu quả để đưa những chiến dịch giới thiệu sản phẩm của mình đến gần hơn với người tiêu dùng và những khách hàng tiềm năng.

Trong bất cứ kế hoạch nào, các thương hiệu cũng có những bí quyết riêng để thành công, đặc biệt với việc sử dụng sự tranh luận trên mạng xã hội hay các chiến lược content marketing khác. Sau đây là 5 lời khuyên giúp các nhãn hàng non trẻ có thể sử dụng real-time content marketing thành công:

Nắm rõ điều cần phải làm

Biết được những gì bạn mong muốn sẽ giúp thiết lập các kế hoạch chi tiết về nội dung cũng như các phương tiện truyền thông mà bạn dùng để đăng tải những bức ảnh hay video đó.

Đội ngũ chịu trách nhiệm về mạng xã hội cần phải xác định được thời điểm chính xác để thu hút cư dân mạng cũng như dung lượng dữ liệu phù hợp với các kênh thông tin cụ thể. Các kế hoạch này cần phải được xây dựng, bàn bạc ngay từ đầu để có được sự thống nhất và hiệu quả cao nhất.

Đừng chỉ quan tâm đến các xu hướng phổ biến

Nếu chỉ chú ý và thực hiện theo những xu thế đã được sử dụng quá nhiều, thương hiệu của bạn sẽ trở nên nhạt nhòa và chìm nghỉm trong hàng loạt các nhãn hàng mạnh hơn.

Trong trường hợp real-time content marketing, một chiến lược mạnh mẽ và hiệu quả phụ thuộc vào được khả năng sáng tạo ra ý tưởng, danh tiếng và mức độ lan tỏa thông điệp của thương hiệu – điều mà công chúng đang bàn tán, chứ không phải chỉ cần áp dụng các xu hướng mới.

Tính thời điểm thậm chí còn quan trọng hơn vì nó có thể giúp tối ưu hóa nội dung và gây được sức ảnh hưởng nếu vấn đề đó đang thực sự nóng hổi. Các chuyên gia marketing nên biết cách chọn lọc những thông tin phù hợp, nâng tầm chúng lên để quảng bá cho thương hiệu của mình.

Lên kế hoạch cho một sự lan tỏa tự nhiên

Để một thông điệp có thể lôi kéo sự tham gia và đi vào nhận thức của mọi người không phải là chuyện đơn giản, đặc biệt là khiến điều đó diễn ra một cách tự nhiên.

Thu hút và hấp dẫn được các khán giả trực tuyến đòi hỏi những hành động thuyết phục tạo nên hiệu ứng mạnh mẽ. Điều này sẽ âm thầm thúc đẩy độ tương tác giữa khách hàng và thương hiệu trên phương tiện truyền thông xã hội. Các nhà marketing thường phân tích thói quen hay hành vi của nhiều nhóm người sử dụng các mạng xã hội khác nhau để tạo ra được những nội dung phù hợp cho đừng đối tượng khách hàng.

Luôn có tính thống nhất trong các thông điệp

Làm cho danh tiếng thương hiệu trở nên phổ biến và được ưa thích rộng rãi luôn là mục tiêu của các nhà marketing, do đó họ sẽ cố gắng đưa ra rất nhiều thông điệp liên tiếp để gây được sự chú ý. Tuy nhiên, nếu không có sự thống nhất và liên kết thậm chí sẽ gây ra những hiệu ứng ngược lại. Những đối tượng mà thương hiệu muốn nhắm tới rất dễ bị hỗn loạn và không nhớ được hàng loạt các thông điệp không liên quan đến nhau.

Hơn nữa, các thông điệp cần có một sự tinh tế nhất định và đặc biệt không nên khiến mọi người sợ hãi. Ví dụ điển hình là GrabTaxi với chiến dịch cảnh báo người dùng về căn bệnh ung thư vú, tuy vậy họ lại sử dụng những từ ngữ quá mức nhằm tạo nên sự chú ý, kết quả là những người đọc được nội dung này cảm thấy rất khó chịu.
Thông điệp vô duyên của GrabTaxi
Thông điệp "vô duyên" của GrabTaxi

Chú trọng đầu tư vào những vấn đề gây nên sự tranh luận

Càng tranh cãi, càng thu hút và nhãn hàng của bạn càng nổi tiếng. Đây là xu hướng mới của các thương hiệu hiện nay nhằm khai thác tối đa độ lan tỏa của mạng xã hội.

Để cho ra đời những nội dung gây nên sự tranh cãi, các nhà phân tích phải theo dõi các cuộc trò chuyện trực tuyến, và giám sát các trang xã hội tương ứng trước và sau khi đưa ra nội dung cho các kênh khác nhau. Sự tranh luận luôn tạo ra hiệu ứng lan tỏa một cách tự nhiên nhất, mang đến những thông điệp được lồng ghép khéo léo và là cách giúp các chuyên gia marketing đạt được mục đích của mình.

Tuy nhiên, để tạo nên một sự vụ thu hút được dư luận không phải chuyện dễ dàng, nhiều khi còn phải dựa vào sự may mắn và tính thời điểm. Vì vậy, muốn có được những nội dung như vậy, các thương hiệu thường phải tạo ra ý tưởng của riêng mình biến nó trở thành trung tâm của những lời bàn tán.
Thư Anh
Theo Trí Thức Trẻ/Tham khảo Marketing-Interactive


Share:

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2015

Cổ phiếu Facebook phá ngưỡng 100 USD

Vượt ngưỡng 100 USD, cổ phiếu Facebook đã tăng tổng cộng 476% kể từ khi IPO, trở thành công ty lớn thứ 7 thế giới.


http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.ViuOOm6fdFq

Facebook lại đạt được một thành tựu mới: thêm một số 0 vào giá cổ phiếu.

Từng là công ty có giá trị vốn hóa chạm mốc 250 tỷ USD nhanh nhất từ trước đến nay, giờ đây cổ phiếu của mạng xã hội lớn nhất thế giới lại vừa chinh phục thành công cột mốc 100 USD/cổ phiếu. Như vậy cổ phiếu này đã tăng tổng cộng 476% kể từ khi IPO hồi tháng 9/2012. Facebook trở thành cổ phiếu có diễn biến tốt thứ 3 trong chỉ số S&P 500.

Đóng cửa phiên hôm qua (23/10), cổ phiếu Facebook tăng 2,5%, đóng cửa đạt 102,19 USD/cổ phiếu. Facebook phá vỡ mốc 100 USD vào ngày mà các cổ phiếu công nghệ trong chỉ số S&P 500 tăng mạnh nhất kể từ 26/8. Tổng cộng giá trị vốn hóa của 3 ông lớn là Microsoft, Alphabet (công ty mẹ của Google) và Amazon đã tăng thêm 80 tỷ USD sau khi công bố lợi nhuận vượt dự báo.

Đây không phải là lần đầu tiên cổ phiếu Facebook xoay quanh mốc 100 USD. Hôm 21/7, Facebook chỉ cần tăng 1,7% nữa để phá ngưỡng 100 USD. Tuy nhiên cơn bán tháo của tháng 8 khiến cổ phiếu này giảm tới 14% trong 3 ngày, chạm đáy thấp nhất 2 tháng. Cuối cùng Facebook đã phục hồi mạnh mẽ với mức tăng 24%.
Diễn biến cổ phiếu Facebook trong 1 năm qua
Diễn biến cổ phiếu Facebook trong 1 năm qua
Theo Tim Ghriskey, người đang quản lý 1,5 tỷ USD tại quỹ đầu tư Solaris, lợi thế lớn nhất của Facebook là triển vọng sẽ kiếm được rất nhiều tiền từ quảng cáo và được vận hành tốt.

Đến nay trong S&P 500 có tổng cộng 109 cổ phiếu có giá hơn 100 USD.

Cùng với đà tăng của cổ phiếu Facebook, giá trị tài sản ròng của Mark Zuckerberg cũng tăng mạnh. Kể từ đầu năm đến nay, tài sản của Mark tăng 9,1 tỷ USD, lên 43,6 tỷ USD, giúp anh trở thành người giàu thứ 8 trong bảng xếp hạng những tỷ phú giàu nhất thế giới của Bloomberg.

Xét theo giá trị vốn hóa, Facebook trở thành công ty lớn thứ 7 thế giới, vượt qua những cái tên đại diện cho những ngành truyền thống như ngân hàng JPMorgan Chase và công ty hoạt động trong mảng tiêu dùng Johnson & Johnson.

Cùng với Apple, Microsoft, Amazon và Google, Facebook nằm trong nhóm các ông lớn công nghệ chiếm tỷ trọng 10% trong chỉ số S&P 500 và hơn 30% trong chỉ số Nasdaq.
Theo Thanh Thanh
Trí thức trẻ/CafeF/Bloomberg

Share:

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2015

Chìa khóa kiếm tiền của người giàu thứ hai thế giới

Business Insider cho biết, chìa khóa then chốt giúp Zara - thương hiệu của tỷ phú Amancio Ortega - vượt mặt GAP là nhờ phương tiện truyền thông xã hội, đặc biệt là Instagram.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vid0J26fdFq
Amancio Ortega - cha đẻ của thương hiệu Zara - là tỷ phú giàu thứ hai thế giới. 
Amancio Ortega - Giám đốc điều hành Zara - đã gặt hái được nhiều thành công. Ortega mới đây đã vượt qua Warren Buffet trở thành tỷ phú giàu thứ hai thế giới.

Bí quyết kiếm tiền của tỷ phú này với Zara là tạo cho khách hàng niềm hứng khởi mỗi khi công ty sắp tung ra sản phẩm mới.

Mới đây, Inditex - Công ty mẹ của thương hiệu thời trang nhanh nổi tiếng Zaza cũng tung ra báo cáo các chỉ tiêu kinh doanh trong nửa đầu năm nay. Trong đó, doanh thu thuần tăng 17% và doanh số tại các cửa hàng cũng tăng.

Các nhà bán lẻ truyền thống, và ngay cả đối thủ cạnh tranh H&M dần theo sau “gã khổng lồ" Zara, một phần vì các phương tiện truyền thông xã hội như Instagram.

Trên mạng xã hội này, Zara hiện có 6,2 triệu người theo dõi, vượt 989.000 người so với GAP. Thậm chí, Adidas với 5,2 triệu người theo dõi cũng chẳng “xứng tầm” so với thương hiệu của tỷ phú Amancio Ortega.

"Quay trở lại những năm 80 và 90, khách hàng không có cơ hội tiếp cận thời trang cao cấp thông qua mạng xã hội. Nhưng bây giờ, mọi người đều có thể vào các trang mạng xã hội, các blog để cập nhật sản phẩm mới. Và nếu muốn, khách hàng có thể đặt hàng ngay sau trên mạng Internet. Các thương hiệu khác, trong đó có GAP, mất dần vị trí", Kate Hudson Davidson, người đồng sáng lập và giám đốc điều hành tạp chí bán hàng online Editorialist nói với tờ The New York Times hồi đầu năm nay.
Mô hình kinh doanh độc đáo và rất thành công của Zara cũng biết cách giữ chân những khách hàng chạy theo thời trang.

"Không giống như những nhà bán lẻ thời trang nhanh tìm mua nguồn cung ứng xu hướng thời trang hiện nay từ các nhà cung cấp bên thứ ba, các nhà bán lẻ truyền thống chuyên doanh có những đội ngũ thiết kế và tạo ra sản phẩm trở thành xu hướng thời trang," nhà nghiên cứu của Goldman Sachs cho biết.
Zara biết cách biến khách hàng thành những người mẫu trên Instagram.
Zara biết cách biến khách hàng thành những người mẫu trên Instagram.
Ngoài ra, bí kíp khác là công ty này giữ rất ít hàng tồn kho và thường xuyên bổ sung thêm thiết kế mới, Suzy Hansen giải thích trên tờ The New York Times.

Kết quả, thương hiệu của người giàu thứ hai thế giới đã làm thay đổi cách mọi người mua sắm. Công ty đặc biệt chú trọng đến nhu cầu người tiêu dùng là muốn trông giống như những người mẫu trên Instagram. Trong khi đó, các nhà bán lẻ truyền thống đang vật lộn để bắt kịp cách làm này.

Theo Zing 
>> Những tỷ phú bí ẩn đứng sau các thương hiệu lừng danh
>> 9 tỷ phú tự thân nổi tiếng thế giới

Share:

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Startup Ipsy của Michelle Phan đang ở vị trí nào trong thung lũng Silicon?

Michelle dùng kênh YouTube của mình như một đà phóng để từ đó thành lập nên công ty nhanh chóng đạt doanh thu hằng năm 120 triệu USD.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vh8PJ25mqsW

Trên kênh YouTube thành công vang dội của mình, Michelle Phan đã khai thác sức mạnh của lĩnh vực trang điểm để hóa thân thành Bạch Tuyết, công chúa Jasmine, Mộc Lan và nhiều nhân vật khác. Nhưng những biến đổi này trở nên mờ nhạt khi đem ra so sánh với câu chuyện của nàng Lọ Lem đời thực 27 tuổi.

Ngày xửa ngày xưa, vào thời năm nhất của trường cao đẳng thiết kế, Michelle nộp đơn xin việc cho một buổi biểu diễn tại quầy hàng Lancôme địa phương (Lancôme: thương hiệu nước hoa và mỹ phẩm của Pháp). Là một họa sĩ minh họa tài năng, Michelle đã bước qua vòng thi thử nghiệm kĩ năng trang điểm vô cùng dễ dàng, nhưng cuối cùng lại bị đánh giá không phù hợp với vị trí ứng tuyển vì thiếu kinh nghiệm.

Cô chia sẻ: “Tôi tin lời từ chối đó là một lời chúc phúc vì đó là cách vũ trụ mách bảo bạn rằng ở đó không có gì tốt đẹp cả. Và chiếc laptop cùng máy quay phim của tôi mới chính là những thứ tốt hơn.”

Hai năm sau, khi những đoạn video của cô bắt đầu được chia sẻ trên YouTube với tốc độ lan truyền như lửa, một giám đốc của Lancôme đã vô tình xem một đoạn hướng dẫn trang điểm của Michelle.
Với nỗ lực để đưa một thương hiệu nổi tiếng đến với thế giới mạng, vị giám đốc đã tìm gặp Michelle và cuối cùng bà ký hợp đồng công nhận Michelle là nghệ sỹ đầu tiên hướng dẫn trang điểm qua video của Lancôme.

Michelle vui vẻ chia sẻ: “Kiểm soát mong muốn (nguyên văn: “Delayed Gratification” cũng là tên một tờ tạp chí cho phái đẹp). Đó chính là thông điệp của vũ trụ, ‘Thấy chưa, ta đã bảo ngươi mà.’”
Nếu xem việc thông qua xếp hạng của YouTube để lập nên một trong những diễn đàn có kênh video thành công nhất không giống một công việc, thì đúng là một thành công hiếm có khi dùng sự nổi tiếng trên YouTube như một đà phóng để lập nên một công ty có tốc độ doanh thu hằng năm đạt 120 triệu USD.

Tuy nhiên, thành tựu hiếm có thực sự là những gì Michelle đã làm với Ipsy, một dịch vụ dùng thử sản phẩm làm đẹp với 100 nhân viên và đánh dấu đây là dự án kinh doanh sinh lợi nhất của Michelle.

Ipsy là dịch vụ yêu cầu người dùng trả 10 USD mỗi tháng cho một “túi Glam” gồm mẫu thử của 5 loại mỹ phẩm. CEO Marcelo Camberos cho biết dịch vụ của họ đã cán mốc 1 triệu người dùng. Ông là cựu giám đốc của Funny or Die, người đã cùng Michelle sáng lập nên công ty vào năm 2011.
Và khác với đối thủ Birchbox - dịch vụ đã gây quỹ được 72 triệu USD và thâm nhập vào hình thức quảng cáo của chương trình TV truyền thống như một công ty bán lẻ - Ipsy có thể tuyên bố rằng khách hàng Ipsy có được là do sự nổi tiếng rộng rãi trên mạng xã hội của Michelle.

Camberos cho biết: “Hằng tháng, chúng tôi có hơn 100.000 khách hàng mới đăng ký dùng “túi Glam”, và sự tăng trưởng này hoàn toàn là sự tăng trưởng tự nhiên mà không có bất kì sự can thiệp từ marketing hay PR.” Ông cũng nói thêm rằng trong năm nay, Ipsy sẽ trở thành công ty lớn nhất của lĩnh vực dùng thử.

Birchbox từ chối bình luận chuyện này. Nhưng tháng Tư vừa qua, công ty Birchbox đã chốt rằng có 800.000 người đăng ký sử dụng dịch vụ của họ. Tuy nhiên, không như Ipsy, Birchbox còn kinh doanh mỹ phẩm nguyên mẫu (không phải mẫu thử) trên cửa hàng trực tuyến, mà tại thời điểm đó nắm giữ 30% doanh thu hằng năm tức 125 triệu USD.

Trong khi phần lớn sự tăng trưởng bước đầu của Birchbox đến từ sự chăm chút của phương tiện truyền thông đại chúng, bao gồm cả sự gia tăng của những đoạn video “khui hộp” trên YouTube giữa giai đoạn Birchbox thành lập vào năm 2010, Ipsy đã lấy những người theo dõi trực tuyến của họ làm người mẫu quảng bá thương hiệu.

Hiện tay, công ty làm việc với hơn 500 người dùng YouTube và người chơi Instagram trong thế giới làm đẹp – bao gồm cả những người có tên tuổi nổi tiếng như Bethany Mota – vài người trong số họ được trả tiền để bàn luận về những thương hiệu trên kênh truyền thông của họ.

Michelle cho biết: “Những đoạn video được thu theo một cách chân thực, và không mang lại cảm giác của một đoạn quảng cáo. Nhiều người sắp trở thành người dùng nổi tiếng trên YouTube. Đây là một cách tuyệt vời để “ấp” thương hiệu của bạn.

Và các hãng mỹ phẩm sẽ không bỏ qua cơ hội này. Jennifer Goldfard, chủ tịch Ipsy giải thích rằng có 700.000 mỹ phẩm được gửi đến Ipsy chờ đợi được chấp thuận mỗi tháng, những nhãn hàng không thể chi trả cho những đoạn video “khui hộp” của Birchbox. Hơn thế, họ nâng cấp kho hàng để đổi lại giá trị marketing – chỉ khi những nhà tạo mẫu lựa chọn quảng bá cho sản phẩm của họ.

Goldfarb nói thêm rằng những nhà tạo mẫu Ipsy là những người có lợi từ việc này. Bởi vì công ty đầu tư rất nhiều vào chính sự nổi tiếng chủ nhân kênh YouTube, nên những nhà tạo mẫu thường thấy lượng theo dõi của mình tăng mạnh sau khi họ bắt đầu quảng bá cho Ipsy.

Điển hình là, khi từ chối đầu tư cho một cửa hàng bán lẻ hoặc tiêu rất nhiều tiền cho việc marketing, năm ngoái Ipsy công bố xây xong một cơ sở rộng 232 mét vuông tại Los Angeles để làm phòng quay phim và biên tập.

Thêm nữa, công ty còn chủ trì một buổi hội nghị thường niên mang tên Sắc Đẹp của Thế Hệ tại Los Angeles, nơi người tham dự chen chúc để được gặp những thần tượng làm đẹp trên mạng của mình, và chạm tay vào những nhà tạo mẫu nổi tiếng từ nền công nghệ làm đẹp và truyền thông số hóa.

Dù Ipsy là cỗ máy in tiền lớn nhất của Michelle tính đến hiện tại, cô vẫn quyết định mở rộng phạm vi kinh doanh. Mùa hè này, Michelle sẽ cho ra mắt một ứng dụng di động kèm với phần mềm chỉnh sửa hình ảnh và video – gắn kết với một trong những khát vọng lớn nhất của cô: trang bị cho những người theo dõi trẻ tuổi những kĩ năng công nghệ và marketing.

Michelle chia sẻ: “Có rất nhiều trong số những người theo dõi của tôi chỉ vừa mới tốt nghiệp và không thể kiếm được việc làm, họ vướng vào món nợ hàng trăm ngàn USD và họ không biết phải làm gì. Mơ ước của tôi là được thấy một thế hệ mới gồm những doanh nhân, những người nắm giữ và tạo ra nhiều công việc ý nghĩa hơn với công việc nhàm chán ngày qua ngày.”

Ngoài ra, Michelle cũng rất tích cực tham dự các hoạt động xã hội khác như đi cùng Michelle Obama đến Nhật Bản để quảng bá cho chương trình giáo dục của chiến dịch Let Girls Learn của Nhà trắng.
Những khoản đầu tư mạo hiểm khác đã thành công của cô còn có một cuốn sách dạy trang điểm mang tên “Trang Điểm: Cách thức khiến bạn đẹp, phong cách và thành công – Trên mạng và ngoài đời”, và một hãng thu âm, truyền thông xã hội với tên gọi “Shift Music Group.”

Và trong lĩnh vực video, nơi Michelle tạo dụng tên tuổi đầu tiên, cô tiếp tục tạo ra thành công mới. Hiện tai, Michelle đang cho ra mắt một mạng lưới video trực tuyến toàn cầu mang tên ICON hợp tác với Endemol, nhà sản xuất nổi tiếng của Hà Lan.

Mạng lưới sẽ tạo ra nội dung gốc với sự tham giả của nhiều tên tuổi nổi tiếng trong lĩnh vực trang điểm, thời trang, thể dục thẫm mỹ, đồ tự làm (DIY – Do It Yourself), thực phẩm, sở thích cá nhân và du lịch. Và chúng được phân phối trên hàng loạt các kênh mạng xã hội như YouTube, Dailymotion, Roku, Pluto TV, Facebook, Twitter, Instagram, Snapchat, Pinterest và Tumblr.

Khi đang có nhiều hoài nghi về tương lai của YouTube, Michelle nói rằng nội dung của mạng lưới video của cô ấy có thể tồn tại ở bất cứ đâu. Michelle chia sẻ: “Những nền tảng sẽ xuất hiện và mất đi, nhưng nội dung sẽ tồn tại mãi. Vào cuối ngày, tôi là một người theo thuyết bất khả tri đối với nền tảng, tức tôi sẽ đi bất cứ đâu có người theo dõi của mình.”
Theo Trí Thức Trẻ/Fortune 
>> Hành trình tạo dựng được công ty trị giá 500 triệu USD của Michelle Phan
Share:

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Elon Musk khuyên CEO Twitter không nên quản lý 2 công ty cùng lúc

Trong khi Elon Musk đang là CEO của Tesla, SpaceX và là người sáng lập nhà máy năng lượng Mặt Trời SolarCity.


Vào hồi đầu tuần, mạng xã hội Twitter đã chính thức bổ nhiệm nhà đồng sáng lập Jack Dorsey vào vị trí giám đốc điều hành chính thức của công ty. Trước đây, Dorsey chỉ đảm nhận chức vụ này tạm thời trong khi hội đồng quản trị tìm kiếm CEO mới.

Tuy nhiên, tỷ phú trẻ tuổi này đồng thời cũng là nhà sáng lập và CEO của Square, do đó Dorsey sẽ phải quản lý cả hai công ty cùng lúc.
Steve Jobs đã từng có khoảng thời gian tồi tệ khi phải điều hành hai công ty cùng lúc là Pixar và Apple.

Và việc đảm nhiệm vị trí CEO của hai công ty cùng lúc không phải điều đơn giản chút nào, ngay cả CEO huyền thoại Steve Jobs cũng cho rằng đó thực sự là điều rất tồi tệ. Trong cuốn Tiểu sử CEO Apple có đoạn trích lời của Steve Jobs:

“Đó thực sự là quãng thời gian tồi tệ nhất trong cuộc đời của tôi khi phải điều hành hai công ty cùng lúc là Pixar và Apple. Tôi đi làm từ lúc 7h sáng và về nhà vào lúc 9h tối, tôi thậm chí không có thời gian để gặp mặt các con và nói chuyện với vợ của mình. Đó là cuộc sống vô vị và nó gần như đã giết chết tôi”.
Jack Dorsey vừa trở thành CEO chính thức của Twitter và anh sẽ phải điều hành hai công ty.

Và đối với tỷ phú Elon Musk cũng vậy, ngay cả khi ông đang là CEO của hai công ty Tesla và SpaceX. Trong cuốn sách “Elon Musk: Tesla, SpaceX, and the Quest for a Fantastic Future” có đoạn:
“Đối với Musk, việc điều hành hai công ty là quá mệt mỏi. Ông thực sự tham gia vào từng hoạt động của cả hai công ty, mà do đó việc di chuyển qua lại giữa Los Angeles và Thung lũng Silicon là rất thường xuyên. Đó là điều mà rất ít người có thể duy trì năm này qua năm khác”.
Elon Musk, thiên tài lập dị.

Và chính Elon Musk cũng khuyên CEO Twitter không nên quản lý 2 công ty cùng một lúc: “Tôi sẽ không khuyên bạn nên tham gia vào việc điều hành cả 2 công ty cùng lúc. Nó thực sự sẽ chiếm hết khoảng thời gian tự do của bạn”.

Ông cũng cho biết quỹ thời gian của mình có 70% dành cho các công việc liên quan đến kỹ thuật và thiết kế ở cả hai công ty, 2-3% thời gian dành cho việc truyền thông như các cuộc họp báo hay trên sân khấu của một hội nghị nào đó.

Cuối cùng, Musk chỉ có 10% trong quỹ thời gian để dành cho cá nhân và gia đình. Tuy nhiên ông cũng cho biết: “Tôi sẽ làm giảm nó hơn nữa, để chỉ còn 1% trong quỹ thời gian dành cho cá nhân”. Qua đó, chúng ta có thể thấy Elon Musk thực sự là một con người kỳ lạ, một thiên tài lập dị.

Theo Trí Thức Trẻ/GenK


Share:

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

Steve Jobs từng khuyên gì Mark Zuckerberg từ thủa Facebook còn sơ khai?

Chuyến đi tạo động lực mạnh mẽ với Mark Zuckerberg về tầm quan trọng về những gì họ đang làm và đó là điều anh luôn luôn ghi nhớ trong 10 năm qua như cách xây dựng Facebook.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VhdUlW5mqsW

Mark Zuckerberg từng dành một tháng đi du lịch quanh Ấn Độ theo lời Steve Jobs đề xuất khi anh gặp ông để xin lời khuyên những ngày đầu khó khăn của Facebook. Theo Jobs, điều này sẽ giúp anh kết nối lại với sứ mệnh của Facebook.

Mới đây Zuckerberg lần đầu tiên chia sẻ công khai chuyến hành trình tới Ấn Độ trong cuộc hỏi đáp với thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tại “Town Hall”.

Người sáng lập Facebook kiêm giám đốc điều hành Facebook mô tả những ngày đầu của Facebook đầy khó khăn trắc trở khi vài người nghĩ rằng anh nên bán công ty cho một trong những nhà đầu tư đang rất hứng thú với mạng xã hội non trẻ này. Vì vậy, Zuckerberg đã đến gặp Jobs, người mà anh mô tả là một trong những cố vấn của mình. Jobs đã nói với Zuckerberg hãy đến thăm ngôi đền có tên Kainchi Dham Ashram, tại Nainital, thuộc bang Uttarakhand, Ấn Độ mà ông từng đến.

"... ông ấy nói với tôi rằng để kết nối lại với những gì tôi tin tưởng là sứ mệnh của công ty tôi nên viếng thăm ngôi đền này như việc ông cũng từng tới ở Ấn Độ hồi trẻ tuổi và hành trình này đã khai mở những suy nghĩ về những điều ông muốn ở Apple, tầm nhìn của ông về tương lai", Zuckerberg chia sẻ.

"Do đó tôi đã đi và dành gần một tháng du lịch Ấn Độ, quan sát mọi người, quan sát cách họ kết nối và có cơ hội để cảm thấy thế giới sẽ tốt hơn ra sao nếu tất cả mọi người có khả năng kết nối mạnh mẽ hơn. Điều này tạo động lực mạnh mẽ với tôi về tầm quan trọng về những gì chúng tôi đang làm và đó là điều tôi luôn luôn ghi nhớ trong 10 năm qua như cách chúng ta xây dựng Facebook.”
Zuckerberg, tất nhiên đã không bán Facebook và thay vào đó lựa chọn con đường trở thành một công ty đại chúng. Bây giờ, gần 1,5 tỷ người sử dụng Facebook mỗi tháng và hiện công ty có giá trị vốn hóa thị trường trên 254 tỷ USD.

"Bạn đã đi đến một ngôi đền với rất nhiều hy vọng và hãy nhìn xem bạn đã đạt được rất nhiều kể từ lúc đó”, thủ tướng Ấn Độ đáp lại câu chuyện kể của Mark Zuckerberg.

Theo Trí Thức Trẻ/Business Insider
Share:

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

6 cách quan tâm nhân viên ngắn hạn

Những nhân viên làm việc ngắn hạn, hay làm công nhật, thường mang tâm lý rằng tương lai công việc của họ không có gì là chắc chắn, thu nhập gắn liền với giờ làm việc. Họ có cần được tạo động lực không, cũng như mức độ gắn bó và cam kết của họ như thế nào?

Susan Milligan - một cây viết thường xuyên của cộng đồng nhân sự SHRM, đã đặt ra vấn đề này và đi tìm câu trả lời.

Đầu tiên, bà trích dẫn nhận định của Louie Shapiro - Giám đốc nhân sự của một khách sạn có 350 nhân viên: “Nhiều nhà quản lý khó tạo lập quan hệ với nhân viên dạng này so với nhân viên làm việc toàn thời gian, do hai nhóm nhân viên này có sự khác biệt cả trong đời sống lẫn nơi làm việc. Bởi vậy, cách nhìn nhận về sự đóng góp trong công việc của hai nhóm nhân viên này cũng khác nhau”.

Như vậy, vấn đề là làm sao để các nhân viên ngắn hạn thấy rằng họ vẫn thuộc về một tập thể, một mái nhà nào đó. Tâm lý của nhân viên dù ở dạng nào cũng là đi tìm sự ổn định. Như Joshua Ostrega - Giám đốc một công ty ở Montreal nhận định: “Nhân viên miệt mài đi tìm công việc mới, còn người sử dụng lao động miệt mài đi tuyển dụng mới”.

Một câu chuyện khác từ Marc Husain - Phó chủ tịch một công ty nhân sự được Milligan dẫn chứng, đó là làm cho nhân viên ngắn hạn thấy rằng họ thuộc về công ty. Qua các phương tiện email, LinkedIn và các môi trường mạng xã hội khác, Marc Husain giữ liên lạc với nhân viên ngắn hạn, chờ họ quay lại khi cần thiết.

Sàng lọc lại, Milligan chú ý đến 6 ý kiến được các chuyên gia gợi ý như sau:

1. Bắt đầu từ một văn hóa của sự đón nhận

Như Jim Link - người phụ trách nhân sự của Randstad ở Atlanta (Mỹ) nhận định, văn hóa đó không có nghĩa là đối xử với mọi người đều như nhau, mà là nhân viên ngắn hạn cần được đối xử công bằng.

Cần phải hiểu công việc và những đóng góp của những nhân viên đó vào thành công của công ty, không nên đối xử với nhân viên theo cách mà họ được trả lương. Đó là văn hóa cần có.

2. Làm cho nhân viên ngắn hạn thấy đóng góp của họ là đáng kể và được ghi nhận

Ví dụ như Jayson Saba - Phó chủ tịch một công ty nhân sự khác tại Minnesota, dùng các phiếu tặng quà loại 20 USD dành cho các nhân viên chăm sóc khách hàng chỉ làm việc trong một quý. Tác dụng được mô tả là bất ngờ và đem đến lợi ích cho cả công ty lẫn nhân viên.

3. Tìm hiểu tâm tư của nhân viên ngắn hạn

Tìm hiểu những gì họ thích và không thích, gia đình của họ ra sao và về những mục tiêu nghề nghiệp của họ. Những yếu tố này rất quan trọng, giúp người quản lý có thêm thông tin về nhân viên để có thể thay đổi mối quan hệ công việc tích cực hơn.

4. Cần có lịch làm việc linh hoạt

Một số công ty đã chuyển sang mô hình lịch làm việc “khi cần người thì có ngay”. Theo đó, người lao động chỉ được liên hệ vào giờ phút cuối khi cần thiết với lịch công việc có lợi cho cả hai.

5. Giữ liên lạc với người lao động

Giữ địa chỉ email, cập nhật trên mạng xã hội để nhân viên ngắn hạn thấy họ luôn được chú ý và có giá trị.

6. Làm cho nhân viên ngắn hạn thấy tương lai của họ có thể gắn bó với công ty

Nhân viên ngắn hạn làm việc tốt sẽ được chuyển sang diện hưởng lương dài hạn, và họ biết rằng mình được công ty giúp đỡ để đạt được điều này. Khi cho họ thấy có con đường thăng tiến trong công ty, công ty sẽ nhận được nhiều hơn từ họ. Việc tưởng thưởng nhân viên ngắn hạn bằng cách giới thiệu công việc mới cho họ cũng là một biện pháp hay.

Có một câu chuyện được truyền miệng về mối quan hệ bền vững của nhân viên ngắn hạn với cấp quản lý: Vào năm trước, những người lao động ở chuỗi siêu thị Market Basket ở Massachusetts đòi được trả lại người quản lý của họ đã bị công ty sa thải, đó là Arthur T. Demoulas. Lý do được họ nêu ra là ông luôn đặt nhân viên và khách hàng lên hàng đầu. Kết của câu chuyện này là Demoulas “của họ” đã quay lại làm việc.
DNSGCT 
>> Cách quản lý người giỏi hơn mình
Share:

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

Quên storytelling marketing đi, giờ là thời đại của storydoing

“Storydoing marketing” – vẫn là những câu chuyện dẫn dắt người đọc đến gần hơn với thương hiệu, nhưng sống động và mang tính chất thực tế, đánh thẳng vào sản phẩm và doanh số, chứ không chỉ xoay quanh cái tên của công ty như trước.
Storytelling marketing – marketing bằng cách kể chuyện giờ đây vô cùng phổ biến với các thương hiệu trên thế giới. Đây là hình thức marketing dựa trên việc xây dựng, phát triển và lan tỏa những câu chuyện thú vị, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới thương hiệu sản phẩm hay hình ảnh của hãng. Đã từ rất lâu, storytelling marketing trở thành một chiến lược không thể thiếu với các nhãn hàng.

Tuy nhiên, thực tế phương thức marketing này đang dần trở nên cũ kĩ và không còn tính đột phá, vì được sử dụng quá nhiều. Một khái niệm mới vừa được đưa ra “Storydoing marketing” – vẫn là những câu chuyện dẫn dắt người đọc đến gần hơn với thương hiệu, nhưng sống động và mang tính chất thực tế, đánh thẳng vào sản phẩm và doanh số, chứ không chỉ xoay quanh cái tên của công ty như trước.

Doanh nhân, nhà đầu tư và kĩ sư phần mềm nổi tiếng Marc Andreessen từng phát biểu: “Một công ty không có câu chuyện của riêng mình thì coi như không có chiến lược gì hết”. Chúng ta hoàn toàn nhất trí với nhận định này, chỉ có điều, mang một câu chuyện đến công chúng liệu có đủ? Hay phải tạo cho nó một sức sống để hối thức hành động mua sản phẩm của khách hàng?

Chúng ta đang sống trong thời đại hoàn toàn khác với trước đây, khi mà các thông tin không còn “hiếm có khó tìm” mà đầy rẫy trên internet, các trang mạng xã hội và phương tiện truyền thông.
Trong một thập kỉ trở lại đây, số lượng các thương hiệu cũng như những câu chuyện đi kèm tăng lên một cách chóng mặt. Các công ty này nên gửi lời cảm ơn đến những Youtube, Twitter, Tumblr,… khi mà 10 năm trước chúng không hề tồn tại, hay Facebook - thời gian đó mới chỉ lóe lên trong tâm trí Mark Zuckerberg.

Tuy vậy, khi có quá nhiều trang thông tin để marketing cũng có những bất lợi. Các thương hiệu đua nhau đăng tải những câu chuyện, thông điệp tới khách hàng đã vô tình tạo nên một sự rối rắm, chồng chéo và khiến người tiêu dùng trở nên chai lì với những thông tin trên. Hơn nữa, chi phí dành cho quảng bá trên internet hay mạng xã hội không hề nhỏ, nếu không muốn nói là tốn kém khi hình ảnh cần xuất hiện ở vị trí nổi bật trong một thời gian dài.

Thực tế chứng minh phương thức này không còn hiệu quả như trước nữa. Theo thống kê của trang Brand Asset Valuator, hiện nay các tỷ lệ phản ánh chất lượng, sự trung thành và tin tưởng vào thương hiệu của khách hàng đang giảm mạnh, lần lượt là 24%, 31% và 50%. Độ hiện diện giảm xuống do tất cả đều áp dụng chung một công thức quảng bá khiến không nhãn hàng nào có thể nổi bật hơn hẳn, dẫn đến sự xuống dốc của giá trị thương hiệu.

Các số liệu thống kế đang ở mức báo động, nhưng điều đáng lo ngại hơn là các CEO dường như không quan tâm mấy đến thực tế. Khi các nhà lãnh đạo này được đặt câu hỏi liệu sản phẩm của họ có tạo ra sự khác biệt, đến 80% trả lời là “có”, trong khi chỉ 10% người tiêu dùng đồng ý với nhân định trên.

Từ Storytelling đến Storydoing

Rõ ràng, nếu chỉ marketing bằng cách kể chuyện là chưa đủ, làm thế nào để đưa câu chuyện ấy vào sản phẩm một cách thực dụng và hiệu quả hơn?

Câu trả lời là hãy “lợi dụng” chính những khách hàng. Vậy "lợi dụng" như thế nào?

Con người ta tin đến 90% gợi ý của bạn thân, 75% những ý kiến đánh giá trên mạng và chỉ 50% quảng cáo. Tất nhiên, tất cả đều phải bắt đầu từ việc họ có được những trải nghiệm tuyệt vời khi các thương hiệu phải cung cấp một cách thực tế. Sau đó, những người này sẽ giới thiệu cho bạn bè mình hoặc để lại những lời đánh gia tốt đẹp, tỷ lệ này chiếm 70% nếu so với mức 2% khi họ chỉ xem quảng cáo.

Hiện nay, có một số công ty đã áp dụng hình thức “storydoing marketing” thay cho “storytelling” như trước. Mục đích chính của họ không còn là tạo nên sức hút truyền thông mà cung cấp cho những khách hàng cơ hội được trải nghiệm thực tế tốt nhất. Nhờ đó có thể thông qua chính người dùng để quảng bá cho sản phẩm của mình. Hành động thì thường giá trị hơn lời nói.

Điều gì tạo nên một công ty “storydoing” thành công?

Quy trình thực hiện phương thức hoàn toàn khác. Không giống như trước đây, chỉ đơn giản là chia sẻ câu chuyện về thương hiệu đến với những khách hàng tiềm năng và làm cho càng nhiều người biết tới càng tốt, các nhà marketing hiện nay ngoài việc xây dựng thông điệp còn phải tìm cách đưa chúng vào sản phẩm sao cho khi sử dụng, khách hàng có thể cảm nhận được và có tâm lý sở hữu ngay.

Trở thành một công ty thành công trong “storydoing marketing” giống như tham gia một cuộc chinh phục. Đầu tiên phải xác định tham vọng, mục đích thương mại. Tài chính không đóng vai trò quá nhiều cho cách thức quảng bá này, vấn đề cốt yếu là tạo được cảm hứng cho người dùng.

Do đó, đối thủ lớn nhất của những công ty này là chất lượng dịch vụ kém, họ cần nhìn nhận rõ “kém” là như thế nào để phòng tránh hoặc cải thiện.

Đơn cử như JetBlue đã cố gắng làm thay đổi định kiến của khách hàng về những hãng hàng không quốc gia khi tuyên bố “mang tính nhân văn trở lại ngành hàng không”, hay những slogan được đưa ra như “bay trên những bầu trời thân thiện”. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là chất lượng phục vụ. Hãng này có ghế da, ti vi vệ tinh cho tất cả mọi người, thâm chí có cả đồ ăn nhẹ miễn phí.

Trong thế giới mà mọi người được kết nối chặt chẽ như hiện nay, chuyển đổi từ “storying marketing” sang “storydoing marketing” không chỉ giúp các công ty kinh doanh hiệu quả hơn mà còn mang đến cho khách hàng những trải nghiệm và dịch vụ tốt nhất.
Theo Trí Thức Trẻ/Inc. 

>> 4 cách tương tác với khách hàng trong marketing
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?