Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn hệ thống tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hệ thống tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 12, 2017

Thanh toán điện tử đang định hình lại thế giới như thế nào?(P.1)

Cách thức chi tiêu và tiết kiệm chưa từng thay đổi một cách nhanh chóng như thời điểm hiện tại. Ở một vài nơi trên thế giới, bạn có thể mua sắm bằng cách cười vào một chiếc máy. Cùng lúc đó, các công ty công nghệ mới nổi trở thành mối đe dọa, có thể lật đổ 2 trụ cột khổng lồ của hệ thống tài chính: hệ thống ngân hàng và tiền mặt. 

Bước chân vào nhà hàng KPro của KFC ở phía đông thành phố Hàng Châu của Trung Quốc, bạn sẽ thấy khách hàng cười để mua bữa ăn tối của họ. Cách thức hoạt động của hệ thống “cười để thanh toán” là một máy ảnh ở quầy thanh toán quét khuôn mặt của khách hàng, xác minh danh tính của họ dựa trên hồ sơ trên ứng dụng Alipay và nhận thanh toán.

Điện thoại thông minh cho phép thanh toán thông qua việc quét dấu vân tay, tròng đen của mắt và nhận diện giọng nói. Thậm chí ở khu vực công nghệ chưa thực sự phát triển như châu Phi, gửi tin nhắn trên di dộng để bắt xe buýt hay chuyển tiền về nhà là các cách thức thường gặp.

Bryan Zhang, đồng sáng lập của Trung tâm tài chính thay thế Cambridge ở Anh, cho biết: “Nhờ thanh toán di động, chúng ta hoàn toàn có thể chứng kiến một quốc gia rộng lớn như Trung Quốc trở thành một xã hội phi tiền mặt trong vòng 5 năm tới, nếu không, có thể sớm hơn.”

Ông Zhang cũng nói thêm rằng tốc độ thay đổi đột ngột trong lĩnh vực này khiến cho mọi dự đoán về điều gì sẽ xảy ra trong một hoặc hai thập kỷ tới trở nên vô ích. Trong tình hình tương lai khó đoán như vậy, có một điều chắc chắn là hàng triệu người đang sử dụng điện thoại thông minh của họ không chỉ để thanh toán mà còn để quản lý tiền của mình bằng cách xin vay vốn, tiềm kiếm hợp đồng bảo hiểm tốt nhất hay quyên góp cho các quỹ từ thiện.

Ở một thị trường lớn như Trung Quốc, thanh toán không dùng tiền mặt đã tăng 63% trong giai đoạn 2014 – 2015. Trong khi đó ở Anh, thanh toán phi tiền mặt đang vượt qua hình thức thanh toán sử dụng tiền mặt hay tiền xu. Do đó, hiện tiền mặt đang phải đối mặt với các thách thức trên khắp thế giới.

Thực tế, công nghệ đã rất nhiều lần tái cấu trúc hệ thống tài chính của chúng ta, không chỉ giới hạn trong thời điểm hiện tại. Vào thế kỷ 16 trước Công nguyên, con người đã trao đổi hàng hóa bằng tiền vỏ ốc. 9 thế kỷ sau, tiền xu xuất hiện ở Lydia (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Sau đó nhiều năm, tiền giấy được ra mắt ở Trung Quốc và được ủng hộ bởi chính quyền Trung ương do sự tiện lợi và ‘nhẹ nhàng’ của nó.

Theo Ben Alsop, người quản đốc của bảo tàng British Museum ở London, sự ra đời của tiền giấy đã giới thiệu một khái niệm quan trọng – sự tin tưởng. Niềm tin vào những nhà chức trách, niềm tin rằng mảnh giấy này thực sự có giá trị. Do đó, trong nhiều năm, các loại tiền tệ thường được chính phủ ban hành thông qua các ngân hàng trung ương.

Tuy nhiên, hiện tại tiền ảo đang được tạo ra và lưu trữ điện tử trên một hệ thống hoàn toàn phân cấp. Hơn 1000 loại tiền ảo đang tồn tại trên toàn cầu, nổi tiếng nhất là Bitcoin.

Tất cả những điều này dấy lên vấn đề về quyền kiểm soát dữ liệu thanh toán của người tiêu dùng và sự ảnh hưởng của người nắm giữ những thông tin này. Ai đang kiểm soát tiền tệ - chính phủ hay mạng lưới máy tính? Ai kiểm soát thanh toán của chúng ta – các công ty công nghệ, nhà cung cấp thẻ thanh toán hay ngân hàng? Quan trọng nhất là ai kiểm soát tất cả dữ liệu về các giao dịch tài chính của chúng ta – bạn hay họ?

Cleo AI, một startup về trí tuệ nhân tạo ở London, vận hành một trợ lý kỹ thuật số kết nối với các tài khoản ngân hàng của người dùng và giúp họ quản lý tiền bạc. Người dùng đặt những câu hỏi về chi tiêu của họ thông qua Facebook Messenger, và Cleo – trợ lý AI – sẽ trả lời.

Barney Hussey-Yeo
Barney Hussey-Yeo

Trợ lý AI này được ra mắt ở Anh và hiện đang tiếp cận 100.000 người sử dụng, nhưng anh Hussey-Yeo muốn con số này đạt tới 1 tỷ người dùng trên toàn cầu và muốn thách thức những ngân hàng. Hussey-Yeo làm điều này bằng cách nào?

Anh nói các trợ lý kỹ thuật số có thể thay thế các ứng dụng ngân hàng, tìm kiếm các đãi ngộ tốt hơn bằng cách phân tích dữ liệu giao dịch trong 12 tháng trước đó.

Hussey-Yeo cho biết: “Trong tương lai, chúng tôi sẽ cung cấp các sản phẩm rẻ hơn, tốt hơn và nhanh hơn các dịch vụ mà ngân hàng đang cung cấp. Cleo sẽ không bao giờ trở thành một ngân hàng bán lẻ, nhưng ‘cô ấy’ sẽ thực hiện một số chức năng của ngân hàng bán lẻ như trả tiền cho bạn bè và vay tiền.”

Một yếu tố làm thay đổi cuộc chơi trên khắp châu Âu, đem lại lợi ích cho các công ty công nghệ tài chính mới như Cleo cũng như tăng cạnh tranh giữa họ: Dịch vụ thanh toán thứ hai của EU.

Chỉ thị này hướng dẫn các ngân hàng mở cơ sở hạ tầng thanh toán và dữ liệu khách hàng của họ cho những bên thứ 3 như các công ty công nghệ tài chính. Trong thực tế, điều này có nghĩa là lịch sử chi tiêu của một khách hàng có thể được chia sẻ với các dịch vụ khác. Thông tin đó rất có giá trị.


Do đó, cơ sở của các quy tắc này là người tiêu dùng phải chấp thuận với việc thông tin cá nhân của họ đang được chia sẻ. Nó cho phép người tiêu dùng lấy lại quyền kiểm soát dữ liệu và thanh toán của họ.

Theo anh Hussey-Yeo, tương lai của ngành ngân hàng nằm trong tay các công ty phần mềm, chứ không phải các ngân hàng truyền thống. Đó chính là những người sở hữu dữ liệu và trải nghiệm của người dùng. Đó cũng là những người sở hữu các sản phẩm tài chính mà khách hàng tin tưởng.

Trái với CEO của Cleo AI, Mick McAteer của Financial Inclusion Centre tại Anh lại tỏ ra không mấy lạc quan. Ông cho rằng người tiêu dùng sẽ bị ‘tấn công dồn dập’ bởi những chiêu thức marketing gây rối, sau đó, họ sẽ nhanh chóng tiết lộ và mất kiểm soát thông tin cá nhân của mình, và chỉ có những người am hiểu công nghệ mới được hưởng lợi.

Ông McAteer cũng nói thêm rằng Hệ thống ngân hàng mở là một “ý tưởng ngớ ngẩn” sẽ khiến nhiều người thu nhập thấp khó tiếp cận tài chính hơn. Thêm vào đó, những người tiêu dùng có thể bị lợi dụng thông qua một hình thức cho vay nặng lãi mới hoặc các dữ liệu thanh toán và thông tin cá nhân khác của họ bị tiết lộ hoặc bán chúng trên các trang mạng xã hội bởi các cá nhân muốn trục lợi.
 

Thời Đại
Share:

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

Tại sao sau nhiều thập kỷ Mỹ vẫn giàu hơn phần còn lại của thế giới?

Có 10 đặc điểm giúp phân biệt Mỹ với các nền kinh tế công nghiệp khác. 


Mỗi năm, GDP/đầu người của Mỹ lại cao hơn hầu hết các nền kinh tế tiên tiến khác. Vào năm 2015, GDP thực/người sau khi điều chỉnh theo sức mua của quốc gia này là 56.000 USD, trong khi đó, con số này của Đức, Pháp, Anh và Ý là 47.000 USD, 41.000 USD, 41.000 USD và 36.000 USD.

Nói gọn lại, Mỹ vẫn giàu hơn các quốc gia khác. Nhưng tại sao lại như vậy?

Một nền văn hóa doanh nghiệp

Những cá nhân ở Mỹ thể hiện mong muốn mở doanh nghiệp và phát triển chúng cũng như sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Trong văn hóa Mỹ ít phải trả giá cho những thất bại và bắt đầu lại từ đầu. Kể cả những sinh viên đã học đại học hoặc một trường kinh doanh cũng thể hiện khát vọng kinh doanh. Những thành công ở Thung lũng Silicon như Facebook càng truyền thêm cảm hứng cho khát vọng này.

Một hệ thống tài chính hỗ trợ hoạt động kinh doanh

Mỹ có một hệ thống tài chính công bằng phát triển hơn các quốc gia châu Âu, bao gồm cả các nhà đầu tư thiên thần sẵn sàng đầu tư các công ty startups và một thị trường vốn đầu tư mạo hiểm giúp tài trợ sự phát triển của các công ty đó. Mỹ cũng có một hệ thống ngân hàng phân cấp, bao gồm hơn 7.000 ngân hàng nhỏ cung cấp các khoản vay cho các doanh nhân.



Các trường đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới

Các trường đại học của Mỹ sản xuất ra nhiều nghiên cứu cơ bản thúc đẩy kinh doanh công nghệ cao. Những giảng viên và người có bằng tiến sĩ thường dành thời gian cho những startups gần trường đại học nơi họ công tác. Văn hóa của cả trường đại học và doanh nghiệp cho phép sự hợp tác này xảy ra. Các trường đại học nghiên cứu hàng đầu thu hút những sinh viên tài năng đến từ khắp nơi trên thế giới, nhiều người trong số họ quyết định ở lại Mỹ sau khi tốt nghiệp.

Các thị trường lao động liên kết người và việc không bị cản trở bởi các tổ chức công đoàn lớn, các doanh nghiệp nhà nước hay các quy định lao động quá hạn chế

Ít hơn 7% lực lượng lao động trong khu vực tư nhân của Mỹ tham gia các tổ chức công đoàn và gần như không có doanh nghiệp nhà nước. Trong khi Mỹ có điều chỉnh điều kiện làm việc và thuê mướn, các quy tắc này ít phiền hà hơn ở châu Âu. Do đó, người lao động có cơ hội tốt hơn để tìm được công việc phù hợp, các công ty dễ dàng hơn để đối mới, và các công ty mới dễ dàng hơn để bắt đầu.

Dân số ngày càng gia tăng, bao gồm cả người nhập cư

Dân số đang ngày càng tăng lên của Mỹ có nghĩa là lực lượng lao động trẻ hơn và nhờ đó linh hoạt và dễ đào tạo hơn. Mặc dù có những hạn chế về nhập cư đến Mỹ, nhưng cũng có các quy tắc đặc biệt cung cấp quyền tiếp cận nền kinh tế Mỹ và con đường trở thành công dân (những thẻ xanh) dựa vào tài năng cá nhân và bảo trợ công nghiệp. Khả năng thu hút người nhập cư của Mỹ là một lý do quan trọng cho sự thịnh vượng của nó.


Một nền văn hóa (và một hệ thống thuế) khuyến khích làm việc chăm chỉ và nhiều giờ

Một nhân viên trung bình ở Mỹ làm việc 1.800 giờ/năm, đáng kể hơn rất nhiều sao với 1.500 giờ ở Pháp và 1.400 giờ ở Đức (mặc dù không nhiều như hơn 2.200 giờ ở Hồng Kông, Singapore và Hàn Quốc). Nói chung, làm việc lâu hơn nghĩa là sản xuất nhiều hơn và cũng đồng nghĩa với thu nhập thực tế cao hơn.

Độc lập về năng lượng

Cụ thể, khí tự nhiên đã cung cấp cho các doanh nghiệp Mỹ một nguồn năng lượng dồi dào và tương đối rẻ.

Môi trường pháp lý thuận lợi

Mặc dù, luật pháp của Mỹ không hoàn hảo, nhưng nó ít gây áp lực lên doanh nghiệp hơn các quy định của các nước châu Âu và EU.
Quy mô chính phủ nhỏ hơn so với các nước công nghiệp khác

Theo OECD, chi tiêu của chính phủ Mỹ ở các cấp liên bang, tiểu bang và địa phương chiếm 38% GDP, trong khi đó con số này ở Đức là 44%, Ý là 51%, và Pháp là 57%. Mức chi tiêu cao hơn của chính phủ các nước khác không chỉ hàm ý tỷ lệ thu nhập cao hơn phải nộp vào thuế mà còn cả các khoản thanh toán chuyển khoản cao hơn. Điều này làm giảm động cơ làm việc. Không có gì ngạc nhiên khi người Mỹ làm việc nhiều hơn khi họ có thêm động lực để làm như vậy.

Hệ thống chính trị phân cấp nơi các tiểu bang cạnh tranh nhau

Các tiểu bang “tranh giành” doanh nghiệp, các cư dân thông qua các quy tắc pháp luật và chế độ thuế. Cạnh tranh giữa các tiểu bang khuyến khích kinh doanh và làm việc. Một số tiểu bang không có thuế thu nhập và có luật lao động giới hạn việc thành lập công đoàn.

Những tiểu bang cung cấp các trường đại học chất lượng với học phí thấp cho các sinh viên sống trong tiểu bang đó. Họ cạnh tranh cả về quy định trách nhiệm pháp lý. Những hệ thống pháp lý thuận lợi sẽ thu hút cả những công ty mới và cả những tập đoàn lớn. Phân cấp chính trị ở Mỹ là một nét đặc trưng của quốc gia này trong những đất nước có thu nhập cao.
Trí thức trẻ

Share:

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

Dân Do Thái thường rất giỏi rồi, nhưng người đàn ông này còn được xếp vào nhóm người giỏi nhất trong số những người giỏi nhất

Thống lĩnh nền kinh tế của cường quốc số 1 thế giới tới 2 thập kỷ, trải qua bao nhiêu đời tổng thống Mỹ vẫn được tín nhiệm, đó là Alan Greenspan.

Nhắc đến nền kinh tế Mỹ, chắc chắn mọi người phải nói đến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) khi tổ chức này có vị thế chủ chốt trong hệ thống tài chính của đất nước cũng như có ảnh hưởng trên toàn cầu. Tuy nhiên, nhắc đến FED thì không thể không nói đến cựu Chủ tịch Alan Greenspan, người giữ vai trò lãnh đạo tổ chức này trong khoảng 1987-2006.

Lịch sử của một anh hùng

Ông Alan Greenspan sinh ra tại thành phố New York- Mỹ vào năm 1926 trong một gia đình Do Thái với người cha là một giao dịch viên chứng khoán và là một nhà môi giới.

Ban đầu, ông Greenspan theo học âm nhạc tại trường Julliard vào năm 1943 trước khi chuyển sang học tài chính tại đại học New York vào năm 1948.

Trong suốt thời kỳ sau tốt nghiệp, từ năm 1977-1987, ông Greenspan đã tham gia thị trường chứng khoán và tài chính Mỹ cũng như làm cố vấn cho các chiến dịch tranh cử của một số chính trị gia. Đặc biệt, ông Greenspan đã góp phần không nhỏ làm nên thành công của Richard Nixon trong chiến dịch tranh cử năm 1968.

Sau chiến thắng của Tổng thống Nixon, ông bắt đầu sự nghiệp chính trị của mình với tư cách chủ tịch hội đồng cố vấn kinh tế của Nhà Trắng.
Đến năm 1987, Tổng thống Ronald Reagan chỉ định ông Greespan là người lãnh đạo FED mới thay thế cho Paul Volcker và ông giữ cương vị này cho đến tận năm 2006.

Trong thời kỳ này, hàng loạt những vị tổng thống đã đến và đi, như Reagan, George H.Bush (cha), Bill Clinton, George W.Bush (con) nhưng ông Greenspan vẫn giữ được chiếc ghế lãnh đạo FED nhờ những quyết định bình ổn thị trường mạnh tay dựa trên chính sách tiền tệ.

Ngay khi lên nắm quyền 2 tháng tại FED, ông Greenspan đã ban hành một loạt các chính sách nhằm đảm bảo tính thanh khoản của thị trường tài chính khi Phố Wall chao đảo do những tác động từ khủng hoảng kinh tế cũng như bất ổn địa chính trị.

Năm 1997, khi nền kinh tế Châu Á lâm và khủng hoảng tài chính và tác động đến toàn thế giới, ông Greenspan là người đã quyết định hạ lãi suất cơ bản tại Mỹ xuống mức thấp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trở lại.

Đến năm 1999, khi tình hình tế toàn cầu đã ổn định hơn, ông Greenspan quyết định tăng mạnh lãi suất trở lại nhằm đối phó với rủi ro lạm phát cũng như khủng hoảng kinh tế đã từng xảy ra trước đó.
Tuy nhiên vụ khủng bố 11/9/2001 cũng như cuộc sụp đổ của thị trường bóng bóng dotcom đã buộc nhà lãnh đạo FED này phải hạ lãi suất cũng như tung tiền ra thị trường nhằm đảm bảo ổn định của hệ thống tài chính Mỹ.

Trong khoảng 1995-2001, thị trường chứng khoán Mỹ chứng kiến sự tăng giá mạnh mẽ của những công ty công nghệ do nhà đầu tư kỳ vọng những tiến bộ của Internet sẽ tạo nên nhiều giá trị hơn nữa trong tương lai. Tuy nhiên, sự tăng giá thái quá vượt lên khả năng thực tế khiến hàng loạt cổ phiếu của các công ty mất giá trị trong khoảng 1999-2001 do nhà đầu tư bắt đầu bán tháo. Nhà đầu tư Mỹ gọi sự kiện này là vụ bong bóng dotcom.
Tiếp những năm sau đó, FED đã thực hiện chính sách lãi suất thấp nhằm kích thích đầu tư và tiêu dùng trên thị trường Mỹ. Cho đến năm 2004, mức lãi suất này thậm chí đã giảm xuống 1%.

Theo nhận định của nhiều chuyên gia, ông Greenspan đóng vai trò vô cùng quan trọng trong giai đoạn biến động 1991-2000 của nền kinh tế Mỹ cũng như toàn cầu. Ảnh hưởng của ông đến nền kinh tế thế giới cũng được ghi nhận khi tạp chí Sunday Times của Anh đã bình chọn ông là 1 trong 3 nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất tại quốc gia này.
Năm 2000, Pháp trao tặng ông Greenspan Huân chương Danh dự, còn Nữ hoàng Anh phong cho ông danh hiệu kỵ sỹ vào năm 2002.

Đến năm 2005, đích thân tổng thống George W.Bush trao tặng Huân chương Tự do cho ông Greenspan nhờ những cống hiến to lớn đối với nền kinh tế Mỹ.

Với những thành tựu và đóng góp to lớn đó, tiếng nói của Alen Greenspan trong ngành tài chính luôn được nhiều chuyên gia tôn trọng. Dẫu vậy, ông cũng trở thành tâm điểm cho những chỉ trích vì đã góp phần gây ra cuộc khủng hoảng năm 2008.

Kể từ khi thôi chức vụ chủ tịch FED, ông Greenspan thành lập công ty tư vấn tài chính và tiếp tục có tầm ảnh hưởng trong giới chuyên gia.

Ông Greenspan được Tổng thống Bush trao huân chương năm 2005
Ông Greenspan được Tổng thống Bush trao huân chương năm 2005

Từ anh hùng trở thành kẻ tội đồ

Sau vụ khủng bố 11/9 và ảnh hưởng của sự xì hơi thị trường bong bóng dotcom, Chủ tịch Greenspan và FED bắt đầu chính sách kích thích kinh tế với nhiều đợt hạ lãi suất. Những động thái này đã kích thích đầu tư cũng như tiêu dùng của người Mỹ.

Tuy nhiên, chính những yếu tố này cũng đã thổi phồng thị trường bất động sản trong khoảng 2002-2006. Chi tiêu cho xây dựng nhà ở tại Mỹ vào năm 2005 đã đạt đỉnh 6,5% nhưng FED vẫn chưa nhận ra mối hiểm họa mà họ gây ra.

Theo giáo sư John Taylor của trường đại học Stanford, đáng lẽ ra FED phải nâng lãi suất từ cuối năm 2001 và đạt mức 5% vào năm 2005. Tuy nhiên, ông Greenspan lại để lãi suất tiếp tục hạ đến mức 1% vào năm 2004 sau đó mới dần tăng lên 5% vào năm 2006.

Hậu quả là người dân Mỹ ồ ạt rút tiền khỏi hệ thống ngân hàng để đổ vào bất động sản, nhất là khi thị trường chứng khoán mới thoat khỏi vụ dotcom và chưa hồi phục trở lại.

Số liệu của giáo sư Taylor cho thấy số nhà xây mới tại Mỹ đã vượt qua quá nhiều so với mức cân bằng thực tế giả thuyết, tạo nên cơn đổ vỡ bong bóng bất động sản năm 2006-2007, qua đó gây nên vụ khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008.

Lãi suất cơ bản của FED và lãi suất theo khuyến nghị của giáo sư Taylor
Lãi suất cơ bản của FED và lãi suất theo khuyến nghị của giáo sư Taylor


Số nhà xây mới tại Mỹ trong thời kỳ bong bóng và số nhà cân bằng thực tế theo lý thuyết của giáo sư Taylor (triệu nhà)
Số nhà xây mới tại Mỹ trong thời kỳ bong bóng và số nhà cân bằng thực tế theo lý thuyết của giáo sư Taylor (triệu nhà)

Trong cuốn tự truyện sau này phát hành, ông Greenspan thừa nhận mình đã không lường trước được thị trường sẽ đổ vỡ nhanh chóng như vậy và dự đoán sai lầm rằng quy luật bàn tay vô hình sẽ tự động điều chỉnh nền kinh tế cũng như hệ thống tài chính.

Bên cạnh đó, nhà lãnh đạo FED này cũng cho rằng chính sự tăng trưởng nóng của Trung Quốc là nguyên nhân khiến dư thừa tài sản tích lũy trên thị trường toàn cầu, qua đó khiến lãi suất dài hạn giảm sâu. Đây là điều mà ông Greenspan không thể nào kiểm soát khi mà FED chỉ có thể kiểm soát lãi suất ngắn hạn.

Hiện vẫn còn những ý kiến trái chiều về công tội của ông Greenspan, nhưng không thể phủ nhận rằng tài năng của ông đã khiến hệ thống tài chính Mỹ vượt qua nhiều cơn sóng gió trong khoảng 1987-2006. Dù đánh giá của các chuyên gia về vị chủ tịch FED là thế nào đi chăng nữa thì sự thực là ông Greenspan cũng giữ vị trí lãnh đạo tổ chức này lâu thứ 2 trong lịch sử nước Mỹ.
Hoàng Nam
Theo Trí Thức Trẻ

 

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?