Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn john templeton. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn john templeton. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2017

Trở thành triệu phú chứng khoán có thể do gen

Một số nghiên cứu cho thấy môi trường sống, thậm chí cả yếu tố bẩm sinh cũng có thể tác động tới sở thích mua cổ phiếu. 

Theo Wall Street Journal, một số người thích cổ phiếu bị định giá thấp do trải qua nhiều biến cố trong cuộc sống. Benjamin Graham – người thầy của nhà đầu tư nổi tiếng Warren Buffett và là tác giả cuốn "Phân tích chứng khoán" là một ví dụ. Mẹ ông là một nhà đầu cơ nhỏ. Khi bà thất bại vì cuộc khủng hoảng tài chính 1907, Graham mới 13 tuổi.

Vì thế, sau này, Graham thường rót tiền vào các công ty bị nhà đầu tư chê bai, thậm chí có cổ phiếu bị đánh giá "chết còn có giá hơn sống". Ông là người nổi tiếng với chiến lược đi ngược lại đám đông - "mua vào khi hầu hết mọi người, và cả các chuyên gia, đang bi quan, và bán khi họ cực kỳ lạc quan".

Benjamin Graham nổi tiếng thích cổ phiếu bị hắt hủi. Ảnh: Financial Post
Một ví dụ khác là John Templeton, con trai một luật sư tại Winchester, Tenn. Cha Templeton chuyên đầu cơ hợp đồng mua bán bông tương lai. Nhưng đến một ngày, ông về nhà và nói với cả gia đình: "Các con, chúng ta mất hết rồi". Vì thế, Templeton sau này đã phải làm nhiều việc lặt vặt để có tiền vào đại học.

Năm 1939, ở tuổi 27, ông bỏ ra 100 USD mua các cổ phiếu đang niêm yết tại Mỹ có giá 1 USD trở xuống. 4 năm sau, ông đã kiếm được gấp 4 số tiền. "Mọi người thường hỏi tôi liệu triển vọng đầu tư có tốt không. Nhưng đó là câu hỏi sai lầm. Đúng ra phải là: Khi nào triển vọng có vẻ thê thảm nhất?", Templeton nói.

Có thể những trải nghiệm thuở nhỏ đã giúp các nhà đầu tư như Graham hay Templeton có xu hướng chuộng cổ phiếu "bèo bọt" hơn là cổ phiếu "đang tăng giá". Tuy nhiên, sở thích này cũng có thể do gen.

Trong một cuộc nói chuyện tại Đại học Babson (Mỹ) năm 2010, nhà đầu tư nổi tiếng Seth Klarman tiết lộ nghiên cứu trên ruồi giấm cho thấy phần lớn chúng sẽ bay về nơi có ánh sáng. Nhưng một phần nhỏ có vẻ hệ gen đã được lập trình phải tránh xa những nơi đó. Klarman gọi đó là những con ruồi "đi ngược trào lưu", cũng giống như một số nhà đầu tư vậy.

Đa phần mọi người có gen trội là theo đuổi những thứ hào nhoáng và rực rỡ. Nhưng một phần nhỏ lại chỉ thích những thứ méo mó, ít phổ biến.

Ba nhà kinh tế học - Henrik Cronqvist, Frank Yu từ Trường Kinh doanh quốc tế châu Âu – Trung Quốc ở Thượng Hải (Trung Quốc) và Stephan Siegel tại Đại học Washington (Mỹ) đã khảo sát hệ gen và danh mục đầu tư của 35.000 cặp song sinh tại Thụy Điển. Họ phát hiện ra rất nhiều nhà đầu tư có thể có gen thích săn lợi nhuận trên thị trường chứng khoán, dù môi trường sống cũng đóng góp phần lớn vào hình thành tâm lý này.

Các cặp song sinh cùng trứng giống nhau 100% về gen, trong khi sinh đôi khác trứng chỉ có gen giống nhau như anh chị em thông thường. Nghiên cứu đã so sánh sự tương đồng giữa danh mục đầu tư của các cặp sinh đôi cùng trứng và khác trứng. Việc này cho phép các nhà kinh tế học đo lường ảnh hưởng của gen với sở thích đầu tư.

Họ kết luận sự khác biệt về hệ gene có thể giải thích khoảng 24% sự khác biệt về khuynh hướng đầu tư. Kết quả này tương đối chính xác do số người tham gia lớn và luật pháp Thụy Điển yêu cầu các nhà đầu tư cá nhân phải công khai hoàn toàn tài sản.

Dường như việc mua cổ phiếu giá trị thấp hoặc cổ phiếu tăng trưởng nhanh không chỉ là sở thích. "Ít nhất nó cũng có phần do bẩm sinh", ông Siegel nói.

Các yếu tố môi trường cũng có ảnh hưởng đến khuynh hướng đầu tư, nghiên cứu trên cho biết. Ví dụ, nếu nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái mạnh, còn nhà đầu tư ở độ tuổi 18-25, hoặc có gia cảnh nghèo khó, anh ta có xu hướng chọn cổ phiếu giá rẻ.

Ý nghĩa của những phát hiện trên chính là để bạn thăm dò cố vấn tài chính hay giám đốc đầu tư của mình. Hãy hỏi họ các câu như: "Anh đã gặp phải bất hạnh nào trong cuộc đời?" hay "Nghèo khó có ý nghĩa gì với anh?". Vì nếu chưa từng trải qua thời kỳ gian khổ, họ sẽ không giữ lại các cổ phiếu giá rẻ khi chúng mất giá.
Share:

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2016

4 chữ nguy hiểm trong đầu tư chứng khoán và 4 yếu tố chính để chọn mua cổ phiếu

John Templeton – nhà đầu tư vĩ đại của thế kỷ 20 đã rút ra những yếu tố này.

4 chữ nguy hiểm nhất trong đầu tư chứng khoán

Trong hành trình đầu tư chứng khoán, hẳn không có ai dám tự tin rằng mình chưa bao giờ mắc sai lầm. Sai lầm ở cấp độ nhẹ là không đạt được hiệu quả đầu tư như mong muốn. Còn cấp độ nặng, không gì khác là thua lỗ, mất tiền.

Những sai lầm đó thường gắn với những suy nghĩ như sau: “Cổ phiếu đó đã giảm nhiều rồi, không thể giảm sâu thêm nữa”, “Cổ phiếu đó giá vài nghìn đồng, có lỗ cũng chẳng đáng là bao”, “Lỗ cũng nhiều rồi, cắt lỗ thì tiếc, thôi để thành khoản đầu tư … dài hạn” hay “Chưa bán cổ phiếu đi tức là chỉ đang lỗ ảo thôi, bán đi thì sẽ thành lỗ thật”.

Còn vô số những lời “biện minh” khác cho việc nhà đầu tư không dám dừng lại khi thị trường đã chứng minh rằng họ chọn sai cổ phiếu.

Nhưng nguy hiểm hơn cả là sau nhiều lần sai lầm như vậy, nhà đầu tư vẫn lựa chọn mua một cổ phiếu nào đó với quan điểm rằng “lần này sẽ khác”.

Đó chính là 4 chữ nguy hiểm nhất đối với các nhà đầu tư.

John Templeton đã rút ra kết luận như vậy khi chứng kiến những người bước chân vào thị trường chứng khoán với một sự chuẩn bị sơ sài về kiến thức, tâm lý và khả năng đánh giá thông tin, nhưng lại vô cùng tự tin và liều lĩnh. Họ cho rằng mình có thể hình dung ra xu thế diễn biến của cổ phiếu hoặc tin rằng có thể phát hiện ra xu thế trong một mô hình dự báo tương lai.

Thực tế đã cho thấy, biến động của cổ phiếu có phần mang tính ngẫu nhiên. Không có cách nào có thể dự đoán được diễn biến giá cổ phiếu trong tương lai dựa trên biến động trong quá khứ của nó. Bất kỳ xu thế biến động nào của thị trường đã bị phát hiện ra sẽ không thể kéo dài bởi, quá nhiều người muốn tận dụng nó.

John Templeton nhắc nhở: “Hãy đi theo xu hướng thị trường và lịch sử. Đừng suy đoán rằng lần này mọi thứ sẽ khác.”

Xu hướng thị trường được tạo nên bởi dòng tiền của đám đông. Một thông tin nào đó đủ hiệu quả để có thể tạo ra hiệu ứng đám đông, khiến cho “Đám đông” cùng nghĩ như nhau thì giá cũng sẽ chuyển biến theo hướng thông tin đó.

4 yếu tố chính để chọn mua cổ phiếu

Với John Templeton, có thể có hàng trăm yếu tố được xem xét trong quá trình định giá, nhưng phần lớn chúng đều mang tính đặc trưng của ngành với có 4 yếu tố luôn hiện hữu. Đó là:

1. Chỉ số P/E so sánh với những công ty tương tự

2. Lợi nhuận hoạt động biên (operating profit margins) có đang tăng không

3. Giá trị thanh lý, tức là giá bán khi thanh lý

4. Tốc độ tăng trưởng trung bình của lợi nhuận, và tính nhất quán của sự tăng trưởng. Tránh những công ty mà lợi nhuận sụt 2 năm liên tiếp. Và cũng né tránh những công ty mà phát triển quá nhanh.
Kinh nghiệm này đã được áp dụng vô cùng thành công trong phi vụ tại Nhật Bản nổi tiếng lịch sử của Templeton.

Vào cuối thập niên 1960, Templeton bắt đầu đầu tư lớn vào Nhật Bản sau khi ông phát hiện ra rằng vẫn còn khá nhiều món hời ở Sàn Giao dịch chứng khoán Tokyo. Lúc đó, Nhật Bản được cả thế giới biết đến như điểm quy tụ của các loại hàng hóa “thứ phẩm, rẻ tiền”, thế nhưng cổ phiếu Nhật Bản thậm chí còn rẻ hơn, còn những công ty lớn mà các nhà đầu tư không để mắt đến thì đang được bán trung bình ở mức cao gấp 3 lần giá gốc. Trong khi đó, cổ phiếu Mỹ đang giao dịch ở cao gấp 15 lần.

Nhưng Templeton không chỉ muốn giá hời mà ông muốn có những món hời chất lượng cao. Ông liền lùng sục thị trường Nhật Bản để tìm những công ty được quản lý tốt với sản phẩm có tiềm năng tiêu thụ mạnh và mức tăng trưởng dự báo tối thiểu 15% mỗi năm.
Ông đã mua cổ phiếu của các công ty như Hitachi, Nissan, Matsushita và Sumitomo. Ngày nay, đây là những cái tên quen thuộc với cả thế giới nhưng hồi đó hầu như không một ai ở bên ngoài Nhật Bản biết đến. Ông dồn tiền vào thị trường Tokyo nhiều đến nỗi vào thời điểm ông hoàn tất việc mua cổ phiếu, tổng cộng ông đã đầu tư trên 50% các tài sản trong quỹ của mình vào những món hời “Made in Japan”.

Giá các loại cổ phiếu ở thị trường Tokyo lên đến đỉnh điểm vào đêm giao thừa năm 1989. Có những cổ phiếu được bán với mức lãi cao gấp 75 lần. Nhưng Templeton đã rút ra từ trước đó rất lâu. Sau này, ông tự thừa nhận là ông đã bán quá sớm. Ông hoàn toàn rút khỏi thị trường Nhật Bản vào năm 1986 khi cổ phiếu chỉ mới ở mức lãi gấp… 30 lần.

Kim Dung (tổng hợp)
Theo Trí thức trẻ
Share:

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

3 bài học cuộc sống từ nhà đầu tư huyền thoại John Templeton

Là đồng môn với nhà đầu tư Warren Buffett trong lớp học của cha đẻ thuyết đầu tư giá trị Benjamin Graham, John Templeton được mọi người biết đến qua biệt danh người “chuyên săn lùng hàng hạ giá toàn câu.”

John Templeton là một trong những người học trò suất xắc của Graham và ông đã trở thành tỷ phú bằng việc tiên phong mở quỹ đầu tư mua cổ phiếu giá rẻ trên khắp thế giới dựa trên hệ thống cơ bản của người thầy. Ở đâu có thị trường giá xuống thì ở đó có sự xuất hiện của ông.

Điển hình nhất là việc thị trường suy thoái do ảnh hưởng của cuộc Đại khủng hoảng năm 1929. Như những gì người bạn học Buffett đã nói rằng: “Hãy tham lam khi người khác đang sợ hãi”, Templeton đã mua khoảng 100 đô la giá trị mỗi loại cổ phiếu đang giao dịch dưới 1 đô la trên các sàn giao dịch trong khi mọi người thì bán.

Templeton đã mua tổng cộng 104 các loại cổ phiếu rẻ khác nhau. Bốn năm sau, số vốn đã tăng hơn 4 lần và đạt tỷ lệ tăng trưởng đến 41,4% mỗi năm.

Bên cạnh việc mọi người có thể rút ra nhiều bài học từ phương pháp đầu tư kinh điển thì kỹ năng sống và phẩm chất của Templeton cũng rất đáng quý. Chính hoàn cảnh nghèo khó từ bé, lam lũ làm việc để có thể đi học và trang trải ước mơ trở thành sinh viên đã giúp ông trân trọng giá trị của đồng tiền.

Những thói quen xưa kia đã hòa quyện một cách tự nhiên vào sự nghiệp đầu tư của ông. Mặc dù sau này đã trở thành tỷ phú thì ông vẫn bảo tồn những giá trị đã tạo nên con người và nền tảng đầu tư thành công của mình.

Dưới đây là ba bài học cuộc sống quan trọng của John Templeton:

Tiết kiệm

Dù Templeton đã kiếm được khoản tiền đủ để ông sống sung túc về già nhưng bản chất tiết kiệm cố hữu như đặc điểm cơ bản của phướng pháp đầu tư giá trị vẫn ảnh hưởng mạnh mẽ lên ông. Tính tiết kiệm và không hoang phí là một đức tính quan trọng đối với ông.

Templeton thường mặc một chiếc áo jacket biển xanh liên tục trong nhiều năm và chỉ thay đổi khi nó không còn mặc được nữa. Tuy có đủ khả năng tài chính để mua một phi cơ riêng hay đi vé máy bay hạng nhất nhưng ông vẫn thích đi xe máy và khoan hạng thường hơn.

Khi được hỏi thì ông lý giải tính cách này với một người bạn thân rằng: “Tôi phải giữ thói quen tiết kiệm vì nó là phong cách đầu tư của tôi.”

Làm việc chăm chỉ

Khi cha của Templeton phá sản và mất tất cả trong cuộc đại suy thoái 1929-1932 thì gánh nặng tài chính lại nặng thêm trên đôi vai chàng trai học năm nhất trường Yale. Templeton được gia đình gọi về để phụ giúp vào việc kiếm tiền và tồn tại.

Nhưng thay vì trở về, sự khó khăn càng thúc đẩy Templeton quyết tâm chăm chỉ học hành để có thể giành được học bổng và bắt đầu làm ba công việc khác nhau cùng một lúc để có thể trang trải cuộc sống sinh viên cũng như gửi tiền về hỗ trợ gia đình.

Khoản lợi nhuận dễ kiếm nhất là khi ông tăng thu nhập bằng việc chơi trò poker với các sinh viên giàu có trong trường. Templeton thắng đậm vì xét cho cùng thì việc đầu tư trên thị trường chứng khoán cũng như đánh bài poker vậy.

Sau này ông nói về giai đoạn khó khăn này rằng: “Nếu bạn sẵn sàng làm việc chăm chỉ và có ý chí bền bỉ thì bất cứ điều gì đều có thể.”

Lợi thế cạnh tranh

Nếu bạn muốn kiếm tiền với vai trò là một nhà đầu tư, bạn phải biết lợi thế của mình để không phải bắt chước. Vào thập niên 1930, Templeton đã tham dự một khóa học phân tích do Graham đứng lớp. Sau khi tốt nghiệp, ông đã phát triển hệ thống và triết lý đầu tư của riêng mình dựa trên phương pháp cơ bản của Graham.

Là một du khách đi tiên phong vào thế giới cổ phiếu trên thị trường giá hạ khắp thế giới, phương pháp của ông trái ngược với số đông và như ông nói thì: “Dù trong đầu tư hay trong cuộc sống cá nhân thì tôi đều không đi theo số đông.” Thị trường chứng khoán là tập hợp nhiều người đi theo giá cả ở bất kỳ thời điểm nào.

Để chiến thắng trên thị trường, không nhất thiết phải có tầm hiểu biết hay khả năng kinh doanh vượt trội nhưng bạn phải có nguyên tắc để đứng vững mà không bị trôi xuôi theo dòng nước.

(Theo Tri Thức Trẻ)
Share:

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Mua thấp bán cao: Triết lý đầu tư kinh điển của John Templeton

“Nếu bạn là một nhà đầu tư dài hạn đúng nghĩa, thì bạn sẽ xem thị trường đầu cơ giá hạ là một cơ hội để kiếm tiền.”

Nội dung nổi bật:       

- John Templeton được biết đến với biệt danh là người chuyên săn lùng hàng hạ giá toàn cầu.
- Qũy đầu tư do ông điều hành có tên là Qũy Phát triển Templeton. Templeton đạt mức lãi kép hàng năm là 15,5%, trong khi chỉ số công nghiệp Dow Jones (chỉ số trung bình của 30 công ty công nghiệp lớn nhất Hoa Kỳ) chỉ là 5,8%.
- Phương pháp đầu tư của John Templeton là mua đa dạng hóa các cổ phiếu chất lượng giá hời từ thị trường giá xuống.


 
John Templeton được biết đến với biệt danh là người chuyên săn lùng hàng hạ giá toàn cầu. Ông không bao giờ giới hạn quy mô tìm kiếm những cổ phiếu ở thị trường giá xuống. Quan điểm của Templeton là các thị trường đầu tư chứng khoán trên thế giới thường có mối liên hệ nhất định với nhau. Vì thế, khi có thị trường giá xuống xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, Templeton sẽ xem xét và cố gắng kiếm tiền từ nó.

Thế giới biết đến Templeton qua việc ông đầu tư vào cổ phiếu nước Nhật vào năm 1960. Lúc đó, Nhật Bản được cả thế giới biết đến như điểm quy tụ của các loại hàng hóa thứ phẩm rẻ tiền. Thế nhưng, cổ phiếu Nhật Bản thậm chí còn rẻ hơn.

Những công ty lớn đang được giao dịch trên thị trường chỉ bán với mức cao gấp 3 lần lợi nhuận thu được. Ông liền lùng sục thị trường Nhật Bản để tìm những công ty có chất lượng với mức giá hời.

Những cổ phiếu ông đã mua cho Qũy phát triển Templeton của mình bao gồm Hitachi, Nissan, Matsushita và Sumitomo. Ngày nay, đây là những cái tên quen thuộc với cả thế giới, nhưng hồi đó hầu như ít người bên ngoài nước Nhật biết đến. Templeton rút khỏi thị trường Nhật Bản ở mức lãi gấp 30 lần so giá mua ban đầu.

Quy tắc của ông là sẽ bán một cổ phiếu khi tìm thấy một món hời mới để mua. Ví dụ, vào năm 1979 giá cổ phiếu Nissan tăng cao và được bán với mức P/E tới 15 lần. Trong khi cổ phiếu ở thị trường Mỹ là Ford chỉ ở mức P/E bằng 3. Khi đó, theo Templeton thì mua cổ phiếu của Ford sẽ lời hơn.

Trong vòng 20 năm, quỹ đầu tư Phát triển Templeton luôn là một trong năm tổ chức thành công nhất ở các thị trường giảm giá, với mức lãi kép hàng năm là 15,5%, trong khi chỉ số công nghiệp Dow Jones (chỉ số trung bình của 30 công ty công nghiệp lớn nhất Hoa Kỳ) chỉ tăng 5,8%.

Cũng giống Warren Buffett, Templeton khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng. Để có tiền đi học, ông phải vừa học vừa đi làm thêm. Nhờ vậy, mà ông biết trân trọng đồng tiền mình kiếm được. Hoàn cảnh buộc ông phải chi tiêu tiết kiệm. Vì thế, ông luôn kiếm những món đồ rẻ, từ thực phẩm, quần áo cho đến nơi ăn chốn ở.

Và thói quen đó đã theo ông suốt sự nghiệp đầu tư. Chính nền tảng tiết kiệm đã giúp Templeton nắm bắt ngay phương pháp đầu tư giá trị của Benjamin Graham (cũng là thầy của Warren Buffett).

Vào năm 1930, Templeton đã tham dự một khóa học phân tích chứng khoán do Benjamin Graham hướng dẫn. Và tại đây, ông bắt đầu phát triển phương pháp đầu tư một cách độc lập dựa trên hệ thống cơ bản của Graham.

Học theo phương pháp của Benjamin Graham thì bạn sẽ không bao giờ trả giá quá cao cho cổ phần của một doanh nghiệp. Trước tiên bạn phải định lượng giá trị thực của một doanh nghiệp. Sau đó, bạn sẽ cố gắng mua rẻ đến nổi bán với giá vừa cũng thu được lợi nhuận. Và đó cũng là triết lý đầu tư của John Templeton.

Do không phải lúc nào thị trường trong nước cũng rót những cổ phiếu giá hời cho nên Templeton còn quăng lưới ra xa và rộng hơn Graham hay Buffett. Ông tìm kiếm khắp thế giới để mua cổ phiếu của những công ty đang giao dịch với giá bằng một nửa giá trị thực. Templeton sẽ chỉ đầu tư khi ông có được xác suất thành công cao. Mà thời điểm có xác suất thắng cao nhất chính là lúc thị trường giá hạ.

Có thể một số cổ phiếu sẽ khiến Templeton mất tiền, nhưng ông sẽ được đền bù nhiều hơn từ những cổ phiếu tăng giá. Điều này chỉ đến khi đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Share:

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

10 phát ngôn bất hủ trên thị trường chứng khoán


Dưới đây là 10 câu nói ấn tượng với các nhà đầu tư tài chính nhiều thập kỷ qua.

1. “Hiểu được hai từ ‘giá trị’ đồng nghĩa với việc hiểu được ý nghĩa của thị trường” – Charles Dow
 Charles Dow


Năm 1896, nhà báo Charles Dow đã phát minh ra Chỉ số Trung bình Công nghiệp Dow Jones. Những quan điểm của ông về cổ phiếu luôn thu hút sự quan tâm của nhiều người. Charles Dow là nhà đồng sáng lập của Dow Jones and Company. Ông cũng là nhà sáng lập the Wall Street Journal – một trong những tờ báo được đánh giá cao nhất trên thị trường tài chính thế giới. Dow đã phát triển hàng loạt những nguyên lý giúp tìm hiểu và phân tích thị trường tài chính ví dụ như Lý thuyết Dow.

2. "Đôi khi, ngay cả những nhà đầu tư thông minh cũng cần có ý chí mạnh mẽ để tránh đi theo đám đông." – Benjamin Graham
Benjamin Graham
Benjamin Graham


Benjamin Graham là cha đẻ của công cụ "Mr Market” (để ngầm chỉ một sự thật rằng giá cả chứng khoán có sự dao động rất lớn, và chính điều này sẽ mang lại cho những nhà đầu tư khôn ngoan cơ hội để mua khi giá giảm và bán khi giá tăng) – đồng thời cũng là nhà quản lý đầu tư và nhà giảng dạy về tài chính xuất sắc. Ông viết 2 quyển sách kinh điển về đầu tư (“Phân tích đầu tư chứng khoán” và “Nhà đầu tư thông mình”) mà không có tác phẩm nào so sánh được về tầm quan trọng. Ông được toàn thế giới thừa nhận như là cha đẻ của hai phương pháp đầu tư cơ bản – phân tích cổ phiếu và đầu tư giá trị. Ông cũng nổi tiếng vì là thày và là người cố vấn dày dạn kinh nghiệm cho tỷ phú Warren Buffet cũng như nhiều nhà đầu tư nổi tiếng khác. Bản thân Warren Buffet cũng thừa nhận rằng trong ông có đến 85% Ben Graham. 

3. "Thị trường đầu cơ sinh ra trong sự ảm đạm, lớn lên bằng sự hoài nghi, phát triển nhờ sự lạc quan và chết bởi sự thỏa mãn – Sir John Templeton

Sir Templeton
Sir John Templeton

Là người tiên phong trong việc sử dụng quỹ tương hỗ đa dạng hóa toàn cầu, Sir Templeton là nhà đầu tư cổ phiếu người Anh gốc Mỹ, đồng thời cũng là một nhà từ thiện. Tạp chí Money từng mệnh danh Templeton “là người lựa chọn cổ phiếu toàn cầu tài ba nhất trong lịch sử”. 

Templeton lựa chọn quan điểm tránh xa phố Wall bằng cách đầu tư chủ yếu vào thị trường Anh và Nhật Bản. Chính điều này đã giúp ông trở thành một tỷ phú giàu có và đi đầu xu hướng đầu tư toàn cầu. Hiện Templeton làm việc toàn thời gian trong vai trò của một nhà từ thiện, mỗi năm ông tặng khoảng 40 triệu đôla cho các quỹ từ thiện song ông vẫn hết sức tận tụy với năng khiếu thiên bẩm của mình “nghiên cứu về đầu tư chứng khoán”. Cũng nhờ có các nghiên cứu chuyên sâu về thị trường, việc hoạch định tính toán thời gian của Templeton luôn hoàn hảo đến mức tuyệt đối. Ngay từ giai đoạn đầu tiên của thời kỳ cổ phiếu ngành công nghệ và Internet bùng nổ những năm 1990, Templeton đã có được vị trí đáng kể trên thị trường cổ phiếu của lĩnh vực này và kiếm về cho mình cả một gia tài. 

4. “Trừ khi nợ quốc gia là quá lớn, nhìn chung nó không phải là vấn đề đáng ngại” – Alexander Hamilton
Alexander Hamilton
Alexander Hamilton xuất hiện trên tờ bạc 10 USD.


Hamilton là Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của nước Mỹ và quan điểm của ông có ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của Mỹ cả trong quá khứ lẫn trong hiện tại. Hamilton cũng chính là người đề xuất thành lập Ngân hàng Trung ương đầu tiên của Mỹ khi Mỹ đang rơi vào cuộc khủng hoảng nợ nghiêm trọng với lập luận rằng nếu không thành lập ngân hàng trung ương để nhận sự đầu tư của nước ngoài đổ vào thì Chính phủ sẽ sụp đổ rất nhanh. Đề xuất này đã trải qua quá trình hiện thực hoá không được suôn sẻ khi bị rất nhiều chính khách phản đối, nhưng cuối cùng cũng được thông qua bởi Tổng thống Washington và mô hình của nó chính là tiền thân của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) ngày nay.

5. “Mua cổ phiếu mà không hiểu biết về công ty cũng giống như đọc chữ mà không hiểu gì" – Peter Lynch
Peter Lynch
Peter Lynch

Peter Lynch là anh hùng của giới đầu tư chứng khoán với quỹ đầu tư Fidelity trong suốt nửa sau thế kỷ 20. Ông cũng là một huyền thoại phố Wall với nhiều cuốn sách phân tích sắc sảo. Rất nhiều nhà đầu tư coi Peter là bậc thầy tài ba và là tấm gương đầu tư để họ noi theo. Họ luôn nghiên cứu sát sao những tác phẩm của ông như “chiến thắng trên phố Wall” hay “Học cách làm giàu” v.v… Đây được xem là bảo bối cho những chiến lược đầu tư quan trọng của nhiều người, trong đó Peter đã tổng kết 3 nguyên tắc cơ bản nhất đó là: Chỉ mua những cổ phiếu quen thuộc, tự mình nghiên cứu và đầu tư dài hạn.

6. “Trong kinh doanh, đúng hay sai không quan trọng, cái quan trọng là nếu đúng sẽ có được bao nhiêu tiền, và nếu sai sẽ mất bao nhiêu tiền” – George Soros
George Soros
George Soros

Cái tên George Soros đã trở nên hết sức quen thuộc với phố Wall cũng như với toàn thế giới. Người ta biết đến ông như một nhà tỷ phú thành công nhất trong lĩnh vực đầu tư tư bản. Tỷ phủ người gốc Hungary này là chủ tịch của Quỹ đầu tư Soros và là một trong những nhà đầu cơ lỗi lạc nhất trong lịch sử thị trường tài chính thế giới. Năm 2004, George Soros đứng thứ 24 trong danh sách những người giàu nhất thế giới với giá trị tài sản 7,2 tỷ USD. Đứng thứ 24 thế giới nhưng nhà tỷ phú gốc Do Thái này nổi tiếng là nhân vật số một trong giới tài chính. Người ta tin rằng ông có thể một tay che cả bầu trời, làm mất giá bất kỳ đồng tiền mạnh nào trên thế giới hay gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế bởi những cư dân của phố Wall và thị trường tài chính London luôn dõi theo và sẵn sàng dập khuôn theo ông.

Theo các nhà phân tích, George Soros là nhà đầu cơ ngắn hạn, hoạt động kinh doanh của ông mang tính trục lợi rất cao, đầu tư những khoản tiền lớn nhưng mang nhiều tính đánh bạc trên cơ sở những biến động của thị trường tài chính toàn cầu. Do đó, sau sự kiện này, nhất cử nhất động của George Soros đều thu hút sự chú ý đặc biệt của các quan chức Chính phủ và ngân hàng trung ương của tất cả các nước.

7. “Tôi sẽ chỉ cho bạn cách làm giàu. Hãy sợ hãi khi người khác tham lam và hãy tham lam khi người khác sợ hãi” – Warren Buffett
Warren Buffett
Warren Buffett

Warren Buffett là một nhà đầu tư, doanh nhân và nhà từ thiện lỗi lạc người Mỹ. Ông được coi là một trong những nhà đầu tư thành công nhất thế giới, cổ đông lớn nhất kiêm Giám đốc điều hành hãng Berkshire Hathaway. Ông được gọi là "Huyền thoại đến từ Omaha" hay "Hiền tài xứ Omaha".
Ông rất nổi tiếng do sự kiên định trong triết lý đầu tư theo giá trị cũng như lối sống tiết kiệm dù sở hữu khối tài sản khổng lồ. Warren Buffet từng được coi là “thầy phù thuỷ” trên thị trường chứng khoán, mỗi động thái của ông luôn được dõi theo hàng ngày bởi hàng nghìn nhà đầu tư trên thế giới.

8. “Đầu tư vào tri thức sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất” – Benjamin Franklin
Benjamin Franklin
Benjamin Franklin
Benjamin Franklin là một trong những người thành lập nước Mỹ. Ông là một chính trị gia, một nhà khoa học, một tác giả, một thợ in, một triết gia, một nhà phát minh, nhà hoạt động xã hội, một nhà ngoại giao hàng đầu. 

9. “Điều quan trọng không phải là bạn kiếm đựơc bao nhiêu tiền mà là giữ được bao nhiêu tiền và số tiền đó đã sinh sôi nảy nở như thế nào, và bạn giữ được số tiền kiếm được cho bao nhiêu thế hệ” - Robert Kiyosaki
Robert Kiyosaki.
Robert Kiyosaki.

Robert Kiyosaki là một nhà đầu tư, doanh nhân đồng thời là một tác giả. Kiyosaki nổi tiếng bởi cuốn sách "Rich Dad, Poor Dad" (Cha Giàu, Cha Nghèo), từng được xếp vào số 10 cuốn sách bán chạy nhất trên cả The Wall Street Journal, USA TodayNew York Times. Trong cuốn "Rich Kid Smart Kid" của mình, với mục đích giúp cha mẹ dạy con cái quan niệm về tài chính của họ, ông đã sáng chế ra trò chơi "Cashflow" dành cho người lớn và trẻ em. Ông cũng tham gia các bài phát biểu trên khắp thế giới, đồng thời viết một chuyên mục hàng tuần trên trang Yahoo Tài chính. 

10. "Trong chớp mắt thị trường có thể cướp đi mọi thứ của bạn" – Jim Cramer
Jim Cramer.
Jim Cramer.

Jim Cramer là chuyên gia đầu tư chứng khoán, nhà quản lý quỹ, và cũng là người dẫn chương trình "Mad Money" trên đài truyền hình CNBC. Ông cũng là nhà đồng sáng lập của trang web tài chính nổi tiếng TheStreet. 31 năm trong nghề, người dẫn chương trình "Mad Money" thường đưa ra khuyến nghị thành công mua vào, chứ không phải bán ra khi thị trường đang trong những thời điểm đầy rủi ro như thời điểm thị trường chạm đáy năm 1987 hay thị trường tụt dốc chớp nhoáng sau vụ tấn công kinh hoàng 11/9 tại Mỹ. 
Share:

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Những "cây đại thụ" phố Wall mách bạn những gì?



Thị trường chứng khoán đã có lịch sử hàng trăm năm. Tại đây nhiều nhà đầu tư từ hai bàn tay trắng đã trở thành những “huyền thoại”, được cả thế giới kính nể. Giới đầu tư ở Wall Street họ kính trọng ai? Những tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất là Buffett, Bogle, Bernstein, Templeton, Brinson, LeBaron, và Neff, bởi Buffett là nhà đầu tư huyền thoại, Boogle là người thành lập và cổ xuý không mệt mỏi cho Quỹ đầu tư theo chỉ số đầu tiên trên thế giới, Sir John Templeton, người tiên phong thành công nhất trong đầu tư quốc tế và các vị khác nêu trên cũng là những nhà đầu tư, quản lý hay học giả xuất sắc... Tất cả đều nhận được Giải thưởng chuyên môn xuất sắc của Hiệp hội Nghiên cứu và đầu tư AIMR Hoa Kỳ. Lần đầu tiên những “cây đại thụ” này đã ngồi cùng nhau quanh một hội thảo do AIMR tổ chức để chia sẻ hơn... 300 tuổi kinh nghiệm tập thể.

Câu hỏi được đặt ra là “Xin hãy nêu một, hai kinh nghiệm dù xấu hay tốt đã đem lại cho quý vị trong vai trò nhà đầu tư những bài học quý giá nhất?

Templeton: Với tôi nó khởi đầu từ những tháng ngày “cày” cật lực tại Đại học Yale khi tự khám phá ra mình có thể kiếm được tiền từ việc chơi bài khá hơn từ những việc làm khác. Tôi chơi bài với các cậu quý tử con nhà giàu, mà chủ yếu chúng chơi để mua vui trong khi mình chơi để thắng. Tôi lắng nghe và học xem gia đình họ đang đầu tư cái gì và không ai trong số họ đầu tư ngoài biên giới một quốc gia. Điều đó xem như không có tầm nhìn dài hạn. Từ đó, khi đang học năm thứ hai tôi quyết định sẽ dồn tâm huyết trở thành nhà tư vấn cho những ai đầu tư khắp thế giới.

Buffett: Những bài học quý giá nhất tôi học từ Ben Graham khi đọc cuốn The Intelligent Investor lúc 19 tuổi. Ngay từ năm 7 tuổi, tôi đã thích chứng khoán. Tôi đã tự tính những chỉ số trung bình, đã đọc hầu hết mọi cuốn sách về đầu tư trong thư viện. Điều đó thật là thích thú nhưng cũng chưa đi tới đâu cả.

Tôi đã nghiệm ra 3 ý tưởng trong cuốn sách của Ben và đã trở thành hòn đá tảng cho mọi thứ tôi đã làm. Đó là xem chứng khoán như một phần của doanh nghiệp hơn là một thứ tài sản bình thường có giá lên xuống mỗi ngày. Tiếp theo, tôi khắc cốt ghi xương một điều có ý nghĩa sống còn là phải có một quan điểm đúng về sự dao động thường xuyên của thị trường. Ba là, biên độ an toàn về giá khi mua cổ phiếu.

Neff: Khoản đầu tư kém nhất mà tôi thực hiện là vào Công ty U.S Industries. Nó là một tổ hợp công nghiệp lớn, giá thấp, hoạt động phân tán trên 8 đến 10 ngành công nghiệp khác nhau, nhưng lại chưa bao giờ thực sự chiếm vị trí áp đảo trong những ngành đó. Cuối cùng tôi đã lỗ đến 50%. Từ đó tôi luôn để mắt tìm kiếm những công ty chiếm vị trí áp đảo trong từng ngành.

Bernstein: Năm 1958, lợi suất của cổ phiếu thấp hơn cả lợi suất trái phiếu, điều chưa từng xảy ra trước đây. Lúc đó có hai người bạn đứng tuổi đã từng nếm trải đại khủng hoảng năm 1930 đoán chắc rằng, đây là một sự bất thường mà chỉ trong một thời gian ngắn thị trường sẽ phải tự điều chỉnh. Nghĩa là lợi suất từ cổ phiếu luôn luôn phải cao hơn lợi suất trái phiếu.

Phải mất một thời gian chúng tôi mới nghiệm ra rằng, nếu cuộc đại khủng hoảng không xảy ra thì nhất định phải có tình trạng tăng trưởng. Quả thật, từ 1958 từ “tăng trưởng” bắt đầu đi vào từ điển và mọi người lấy lại niềm tin vào chứng khoán. Đó thật là thời khắc tuyệt vời và nó dạy tôi rằng, mọi việc đều có thể xảy ra. Bánh luôn có sẵn trên bàn chờ người biết cách chộp lấy.
Hãy cho một lời khuyên quan trọng nhất, giả sử như quý vị đang tư vấn cho một chuyên viên đầu tư độ 25 hay 30 tuổi làm thế nào để thành công trong nghề nghiệp?

Templeton: Tôi có lời khuyên là hãy khiêm tốn. Có một đầu óc cởi mở và đừng bao giờ tự kiêu.

Neff: Lời khuyên của tôi là phát triển một triết lý đầu tư thật hiệu quả và gắn chặt với nó.

Buffett: Hãy thực tế khi xác định đâu là lĩnh vực mình thông thạo. Cố gắng định ra cái gì ta có thể hiểu biết đến nơi đến chốn, dừng lại ở đó, quên hết mọi thứ khác đi. Ý tôi là phải quyết định ngành nào bạn đủ hiểu biết để đánh giá và ngành nào bạn không biết đủ để lượng định. Các bạn không thể chờ đợi ai đó suy nghĩ giùm mình. Bạn phải thực sự hiểu rõ những doanh nghiệp mình đã mua qua việc sở hữu các cổ phiếu. Ngoài ra, đừng quên là bất cứ cái gì nhân zero cũng thành zero. Dù bạn có thắng nhiều nhưng nếu vay mượn quá mức hoặc làm điều gì đó mà khả năng thắng cuộc là zero thì sẽ mất tất cả.

Bogle: Đầu tiên, thừa nhận trên thực tế có số ít nhà đầu tư có thể đánh bại thị trường trong dài hạn. Thứ hai, xem mình như đại diện của khách hàng, không phải là người bán hàng thuần tuý. Thứ ba, chú trọng đầu tư dài hạn, không phải đầu cơ ngắn hạn – thà tập trung vào giá trị nội tại của một công ty thực vẫn hơn tìm kiếm “giờ tốt” của giá cổ phiếu. Nếu các bạn làm đúng 3 điều trên thì sẽ có cơ hội nổi lên giữa những người thắng cuộc.

Brinson: Lời khuyên tốt nhất tôi có thể trao bất cứ ai là phát triển kỹ năng cần thiết, ứng dụng trong công việc, mài giũa nó và đừng hùa theo đám đông.

Lebaron: Những nhà đầu tư giỏi nhất đầu tư theo suy nghĩ riêng của họ. Bạn sẽ khám phá ra rằng, cách đầu tư của họ là phù hợp chặt chẽ với tính cách, tri thức và phong cách làm việc riêng. Nó không thể là kiểu đầu tư của người khác, nó của chính họ và bắt rễ sâu trong họ. 

>> Lời khuyên của 10 nhà đầu tư vĩ đại
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?