Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh nghiệm đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh nghiệm đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 1, 2018

Warren Buffett chỉ sống trong ngôi nhà có giá trị bằng 0,001% tài sản của ông và đây là lý do

Buffett đã không quên rằng ngôi nhà là không gian để sống, thay vì là một khoản đầu cơ chờ giá lên. Nếu trộn lẫn hai quan điểm này, điều không tốt có thể xảy ra. 


Theo xếp hạng của Forbes, nhà đầu tư 87 tuổi Warren Buffett đứng thứ ba trong danh sách các tỷ phú giàu nhất thế giới năm 2017 (sau Jeff Bezos và Bill Gates). Mới đây nhất, Jeff Bezos đã vượt mốc tài sản 100 triệu USD và trở thành tỉ phú giàu có nhất trong lịch sử.

Đa số những người giàu có thường sống trong những biệt thự xa hoa, đủ tiện nghi và hay thay đổi nơi ở. Tuy nhiên, Buffett không như vậy. Hơn 60 năm qua, người đàn ông này sống trong một ngôi nhà ở ngoại ô thành phố Omaha (bang Nebraska, Mỹ), thứ được ông khẳng định là món đầu tư hiệu quả thứ ba sau hai chiếc nhẫn cưới dành cho những người vợ Astrid và Menk.

Ngôi nhà rộng 610 mét vuông mà gia đình nhà Buffett sống suốt 60 năm qua nằm tại một vùng ngoại ô Omaha, Nebraska yên tĩnh. Vị tỉ phú mua ngôi nhà này với giá 31.500 USD vào năm 1958 (tương đương 250.000 USD thời nay), hiện giờ đã đáng giá 625.619 USD trên thị trường. Đây là một ngôi nhà vừa phải với nhiều người dân Mỹ nhưng lại quá khiêm tốn, chiếm chưa đầy 1/100.000 tổng tài sản của Buffett.

Ông hiểu rất rõ: "Khi bắt đầu quyết định tầm quan trọng của việc mua một ngôi nhà, đó có thể là quyết định quan trọng nhất mà nhiều hộ gia đình sẽ thực hiện trong cả cuộc đời." Ông cũng nói các hộ gia đình nên mua một ngôi nhà, không phải là một ngôi nhà mơ ước mà là một ngôi nhà mà họ có đủ khả năng tài chính có thể để chi trả. Vì ngôi nhà là công cụ hữu hiệu chống lại sự giảm giá của đồng tiền, và bạn nên đặc biệt mua nó khi giá nhà rẻ, và lãi suất cho vay cũng rẻ.

Căn nhà này có 2 tầng, 5 phòng ngủ và 2,5 phòng tắm. Bên ngoài ngôi nhà gồm có cổng rào và gắn camera theo dõi. Buffett chia sẻ ông cảm thấy hạnh phúc khi sống ở ngôi nhà này: ấm áp vào mùa đông, mát mẻ vào ngày hè - điều này là quá tiện ích cho tôi. "Tôi sẽ chuyển nếu tôi nghĩ mình thấy hạnh phúc hơn ở nơi khác", Buffett nói.


Buffett đã không quên rằng ngôi nhà là không gian để sống, thay vì là một khoản đầu cơ chờ giá lên. Nếu trộn lẫn hai quan điểm này, điều không tốt có thể xảy ra.

Căn nhà được Warren Buffett giữ nguyên trạng bởi đây không phải là một vụ đầu tư tài chính, giá trị vật chất của ngôi nhà không phải là mục đích của ông. Warren chỉ cần một ngôi nhà ông có đủ khả năng chi trả , và điều này được ông cho là một trong số những vụ đầu tư tuyệt vời nhất ông từng làm đơn giản bởi vì " Tôi và gia đình mình đã sống 52 năm ở đây với những kỷ niệm tuyệt vời và vẫn sẽ tiếp tục như thế".


Đầu tư cũng giống như chơi bóng chày

Nhà đầu tư 87 tuổi Warren Buffett đã thực hiện phép so sánh vui phép đầu tư mang lại thành công cho ông cũng giống như chơi môn thể thao bóng chày, một thú vui phổ biến.

"Nếu bạn đợi cho đường bóng bay đến vị trí tuyệt vời mà mình đang đứng, vung chày ra và trúng bóng. Bạn đạt được 400 điểm. Nếu đường bóng bay đến ở góc thấp hơn nhưng bạn vẫn chọn đánh, số điểm là 235", Buffett giải thích.

Bài học rút ra cho các nhà đầu tư ở đây là họ không cần phải đánh trúng mọi đường bóng bay qua mình."Mẹo để đạt được hiệu quả trong đầu tư là hãy ngồi nguyên một chỗ và nhìn từng đường bóng, từng đường bóng bay qua và chờ đợi cho đến khi một trong số đó bay đến vị trí tuyệt vời của mình. Và nếu mọi người kêu ầm lên, "Đánh đi! Đánh bung nó đi!", hãy mặc kệ họ."

Cũng như một cầu thủ tuyệt vời chỉ đạt điểm tối đa ở vị trí tốt nhất của họ, Buffett cũng quyết định chỉ đầu tư vào các công ty nằm trong "vòng tròn năng lực" của ông. (Vòng tròn năng lực là khái niệm được Buffett đưa ra trong thư gửi cổ đông năm 1996, chỉ nhóm công ty mà bạn hiểu biết cặn kẽ về: nền tảng của công ty, và ngành nghề kinh doanh mà công ty đang thực hiện).

"Bạn không cần phải là chuyên gia về mọi công ty, hoặc thậm chí là nhiều công ty." Ông nói. "Bạn chỉ cần đánh giá được những công ty nằm trong vòng tròn năng lực của bạn. Quy mô vòng tròn đó không quan trọng gì cả, ít nhiều đều được, bạn chỉ cần biết về giới hạn của nó. Điều đó mới là quan trọng."

Sau khi làm điều đó rồi, hãy mua và giữ.

>>  4 triết lý sống rút ra từ căn nhà 'đơn sơ' của tỷ phú Warren Buffett

Theo Trí thức trẻ/Business Insider
Share:

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

Tại sao bạn cần đa dạng hóa trong đầu tư?

Bạn muốn đầu tư nhưng ngại rủi ro, hãy tuân theo quy tắc đa dạng hóa rủi ro "không để trứng vào một giỏ" của quỹ mở để giải quyết điều này. 

Đa dạng hoá trong đầu tư là giải pháp mà nhà đầu tư phân bổ tiền vốn vào nhiều khoản đầu tư khác nhau. Khi một lĩnh vực đầu tư bị sụt giảm và lĩnh vực khác tăng trưởng thì việc lựa chọn đa dạng hóa trong đầu tư giúp nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro. Từ xa xưa người ta đã biết đến điều này thông qua câu ngạn ngữ cũ “Đừng để tất cả trứng vào một giỏ”. Tại sao phải phân bổ “trứng” vào nhiều “giỏ” và phân bổ như thế nào cho hợp lý, vào “giỏ” nào thì an toàn và có lợi nhuận cao, bài viết sẽ giải quyết những câu hỏi này.

Những lý do phải đa dạng hóa

Nếu trứng của bạn để trong một giỏ và giỏ rơi xuống đất, bạn sẽ chỉ còn trứng vỡ. Đa dạng hóa gần giống như là một dạng bảo hiểm, phòng khi cả giỏ bị rơi. Chẳng hạn nếu bạn chỉ đầu tư vào cổ phiếu của một công ty, nếu công ty đó hoạt động không hiệu quả và cổ phiếu bị hủy niêm yết thì bạn sẽ bị thua lỗ hết.

Đa dạng hóa giúp bạn giảm thiểu rủi ro trong đầu tư. Khi bạn đầu tư nhiều khoản như là quỹ mở, cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt, bất động sản,… nếu một khoản đầu tư có kết quả kém mà các khoản đầu tư khác có kết quả tốt trong cùng khoảng thời gian thì thiệt hại tổng thể đã được giảm và bạn vẫn có lợi nhuận.

Đa dạng hóa đầu tư không chỉ giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra mà đồng thời còn tăng cơ hội có thêm lợi nhuận ở các nguồn đầu tư khác.


Đa dạng hóa đầu tư để có lợi nhuận từ nhiều kênh đầu tư khác nhau

Làm thế nào để đa dạng hóa hiệu quả? 
Đa dạng hóa đầu tư có nhiều cách và việc cần làm trước khi quyết định phân bổ các khoản tiền vốn, bạn cần tìm hiểu loại hình phù hợp với khả năng tài chính và cơ hội có lợi nhuận cao.
  • Đa dạng hóa với một loại tài sản: Ví dụ cùng là trái phiếu nhưng bạn có thể mua nhiều loại trái phiếu bao gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu kho bạc với các kỳ hạn khác nhau.
  • Đa dạng hóa với nhiều loại tài sản: Bạn có thể đầu tư vào nhiều loại tài sản bao gồm quỹ mở, cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt, hàng hóa...


 
Chọn phương thức phù hợp với nguồn vốn sẵn có để đa dạng hóa đầu tư 
  • Đa dạng hóa ngành nghề: Cùng là đầu tư cổ phiếu hay trái phiếu nhưng nếu bạn đầu tư vào các ngành nghề khác nhau cũng giúp hạn chế rủi ro.
  • Đa dạng hóa theo vốn hóa thị trường: Phân bổ danh mục đầu tư vào các cổ phiếu của công ty có quy mô khác nhau sẽ giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư.
  • Quỹ mở: Cách dễ nhất để đa dạng hóa
Nhiều người không có đủ mạnh về tài chính để đầu tư vào nhiều cổ phiếu, trái phiếu và các tài sản khác cùng một lúc. Hơn nữa, họ cũng không có nhiều thời gian và kiến thức tài chính chuyên sâu để phân tích và theo dõi thị trường thường xuyên. Đối với những nhà đầu tư này, đầu tư với các quỹ mở là lựa chọn tối ưu nhất. Đầu tư vào quỹ mở là hình thức đầu tư chứng khoán gián tiếp. Thay vì bạn tự đầu tư chứng khoán trực tiếp thì bạn bỏ tiền vào quỹ mở. Quỹ mở có các chuyên gia đầu tư kinh nghiệm sẽ đầu tư tiền của quỹ vào cổ phiếu, trái phiếu. Nếu đầu tư vào các công ty thì bạn sẽ nhận được cổ phiếu, còn đầu tư vào quỹ mở thì sẽ nhận được chứng chỉ quỹ. Nếu quỹ đầu tư thành công thì giá trị tài sản của quỹ tăng lên tức là giá trị chứng chỉ quỹ tăng lên và đem lại lợi nhuận cho bạn.

Một quỹ mở có thể nắm giữ các cổ phiếu của hàng trăm công ty và nhiều loại trái phiếu. Ví dụ nếu bạn đầu tư chỉ 5 triệu vào quỹ mở của công ty VCBF bạn vẫn có thể đa dạng hóa tài sản của bạn vào nhiều cổ phiếu của nhiều ngành nghề khác nhau.  VCBF là liên doanh giữa Vietcombank và tập đoàn đầu tư tài chính danh tiếng toàn cầu Franklin Templeton Investments, một tập đoàn đã có trên 65 năm kinh nghiệm trong việc quản lý quỹ. Với đội ngũ chuyên gia đầu tư có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm và am hiểu thị trường chứng khoán, các quỹ mở của VCBF luôn đem lại cơ hội lợi nhuận cao cho bạn trong dài hạn.

>> Liên hệ Mua bán cổ phiếu - Tư vấn đầu tư - Ủy thác đầu tư
NCĐT
Share:

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

3 chiến lược đầu tư thành công của Alphabet trên thị trường tài chính

Với khoản lợi nhuận khổng lồ hàng năm, công ty mẹ của Google - Alphabet cũng ném ra hàng đống tiền vào những khoản đầu tư khác nhau. Nhưng đó đều là những khoản đầu tư sinh lời và có tính chiến lược.


Công ty mẹ của Google hiện đang sở hữu một khoản tiền kếch xù, vậy công ty này làm gì với quỹ đầu tư trị giá lên tới 550 tỷ USD này.

1.Thông qua quỹ đầu tư Goolge Venture (GV)

Google Venture hiện đang quản lý 2,4 tỷ USD tài sản, chủ yếu dưới dạng cổ phần trong hơn 300 doanh nghiệp bao gồm có Nest, Uber, Slack và Flatiron Health.

Sứ mệnh của GV là đầu tư vào các công ty startup ở giai đoạn chớm nở và hoạt động như một công ty đầu tư mạo hiểm bình thường. Bên ngoài, GV hoạt động hoạt toàn độc lập với Alphabet và không nhằm mục đích đem lại lợi ích chiến lược cho Alphabet. Đôi khi GV đầu tư vào cả những công ty cạnh tranh trực diện với Alphabet. Ví dụ điển hình là Uber. GV mua cổ phần của Uber năm 2013. Giống như Google, Uber cũng hoạt động trong mảng xe tự lái này.

Bill Maris – sáng lập viên GV trong tuần này đã từ chức, nhượng lại chiếc ghế lãnh đạo cho David Krane – giám đốc điều hành – người đầu tiên đặt chân vào Google năm 2000.

2.Thông qua quỹ đầu tư Google Capital (GC)

Khác với người anh em Google Venture, Google Capital ra đời vào năm 2013 với sự dẫn dắt của David Lawee, GC đầu tư vào các công ty startup đang tăng trưởng như Glassdoor, Thumbtack, Gusto và gần đây là công ty quốc doanh Care.com.

Tương tự với GV, mô hình đầu tư của GC không liên kết trực tiếp với mục tiêu phát triển của Google. Sứ mệnh của GC đơn thuần là lợi ích tài chính. Tuy nhiên, GC tập trung nhiều hơn vào các công ty đối tác của Google và các công ty công nghệ ở giai đoạn đang tăng trưởng, tức đã tồn tại và có tiềm năng lớn trên thị trường.

3.Thông qua M&A

Nhóm M&A đầu tư chiến lược vào các công ty có liên quan đến hoạt động của Google và Alphabet. Ví dụ, Google rót tiền vào công ty startup Magic Leap – công ty startup về thực tế ảo kín tiếng nhất trong làng công nghệ trong khi Google cũng đang nỗ lực đẩy mạnh công nghệ thực tế ảo (VR).

Nhóm này cũng đầu tư vào SpaceX – tập đoàn công nghệ đang phát triển các vệ tinh, phục vụ kế hoạch cung cấp Internet giá rẻ toàn cầu của Google.

Một số công ty Google đầu tư vào đã trở thành đối tác của Alphabet như Calico và Sidewalk Labs.
Trong khi đó, Larry Page – CEO Alphabet đang thực hiện các khoảng đầu tư cá nhân vào 2 startup với dự án xây dựng ô tô bay, Google đang xúc tiến hoạt động kinh doanh nước ngoài thông qua Area 120 – bộ phận nuôi dưỡng những startup mới do chính các nhân viên của Google sáng lập với hy vọng giữ chân người tài năng, những nhân viên muốn rời bỏ Google để theo đuổi ước mơ của mình.

Sau đây là biểu đồ thống kê số các thương vụ mới được thực hiện tại GV, GC và team M&A của Google/Alphabet.

 GV hoạt động mạnh hơn cả so với hai nhóm còn lại.
(Theo Trí thức trẻ/BI) 
Share:

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2016

Ngay trước khi Brexit xảy ra, Druckenmiller đã dự báo năm 2016 sẽ là năm của vàng. Do đó, ông đã đầu tư 30% trong tổng số tài sản ước tính 4,4 tỷ USD của mình vào vàng.

Đầu năm nay, khi giá vàng vẫn lình xình quanh đáy và thậm chí có lúc đã ghi nhận mức giảm 45% so với mức đỉnh 5 năm trước, giới đầu tư truyền tai nhau giai điệu “bán đi, bán đi” để cắt lỗ thì đâu đó vẫn còn một số nhà đầu tư đi ngược xu hướng.

Trong số đó, có Stan Druckenmiller, người sáng lập quỹ Duquesne Capital.

Trước khi Brexit xảy ra, Druckenmiller đã đặt cược lớn vào vàng thông qua các hình thức khác nhau. Druckenmiller đầu tư bằng tiền riêng của mình và 30% tài sản của ông là dành cho kênh vàng. Ông đứng trong top 10 cổ đông lớn nhất tại quỹ SPDR Gold Trust (quỹ ETF vàng lớn nhất thế giới) với 2,9 triệu cổ phiếu.

Tại sao Druckenmiller chọn vàng?

Những nhận định của ông về vàng dựa trên triển vọng giảm giá của chứng khoán Mỹ và quan điểm cho rằng vàng giống như một loại tiền tệ cũng như một kênh đầu tư giá trị trong một thế giới mà đa phần đang thử nghiệm với chính sách lãi suất âm. Điều đó, giúp cho vàng sánh ngang với các tài sản an toàn khác

Quay trở lại thời điểm hơn 30 năm về trước, lãi suất phi rủi ro của trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 5 năm là 15% (quỹ đã đầu tư vốn vào đây do lãi suất cao), cổ phiếu được định giá gấp 7 lần lợi nhuận, thị trường tín dụng Mỹ nợ khoảng 165% GDP (so với mức khoảng 360% hiện nay), và NHTW có khá nhiều “đạn” để cắt giảm lãi suất nhằm kích thích tăng trưởng.

Còn ở thời điểm hiện tại, Druckenmiller cho rằng nếu Hoa Kỳ mượn nhiều tiền từ tương lai hơn bất kỳ lúc nào và mức giá cổ phiếu là sự định giá cho tương lai, các cổ phiếu nên được giao dịch ở mức giá chiết khấu (tức là thấp hơn chứ không phải cao hơn so với mức giá trong lịch sử).

Ông cũng quan ngại rằng khoản nợ tích lũy của Hoa Kỳ đã được sử dụng không hiệu quả. Dẫn chứng là dòng tiền hoạt động - vốn đạt đỉnh 5 năm trước (cùng với nợ ròng) - đã liên tục giảm mặc dù nợ ròng tiếp tục tăng với tốc độ đáng kinh ngạc. Trong lịch sử, việc dòng tiền hoạt động giảm trong khi nợ đạt đỉnh như 5 năm qua là điều chưa từng có trong lịch sử tài chính.

Tại sao nợ đã không được sử dụng hiệu quả? Theo Druckenmiller, nó đã được sử dụng chủ yếu cho các kỹ thuật tài chính, như phục vụ M&A (mua bán, sáp nhập).

Trong những năm 1990 nợ được sử dụng chủ yếu cho chi phí vốn sản xuất và tài trợ cho việc xây dựng mạng Internet; tương đối ít được sử dụng cho phần mua lại và sáp nhập.

Nhưng đến năm 2015, 2 nghìn tỷ USD đã được chi cho việc thâu tóm và M&A so với 1,8 nghìn tỷ USD cho R&D (nghiên cứu và phát triển) và chi phí vốn. Từ năm 2012, dòng tiền cho M&A và thâu tóm tăng 750 triệu USD so với 250 triệu cho R&D và chi phí vốn.

Như vậy, với việc nợ ròng liên tục tăng trong khi lợi nhuận giảm, vốn được sử dụng không hiệu quả, Druckenmiller không nhìn thấy giá trị sinh lợi của chứng khoán. Do đó, ông đã mua vàng.

Nếu như trước kia, nhà đầu tư xem vàng như là tài sản cuối cùng nên sở hữu cho triển vọng sáng lạng với giá cả được định giá phù hợp, thì hôm nay, tình hình đã bị đảo ngược hoàn toàn. Vàng được xem là kênh đầu tư hàng đầu được nhiều người lựa chọn, đặc biệt với hiện trạng tiêu cực trên toàn cầu sau Brexit khiến vàng càng được săn đón.
Và với Druckenmiller, người luôn đặt niềm tin vào vàng khi giá của kim loại quý này còn thấp và trước sự kiện Anh bỏ phiếu rời EU, Brexit đã mang lại những khoản lợi nhuận béo bở cho ông.

Từ năm 1986 đến năm 2010 (thời điểm ông đóng quỹ), Stan Druckenmiller đã đem về cho các cổ đông lợi nhuận trung bình hàng năm 30% (so với 29,5% của Buffett) và không có một năm nào thua lỗ cho dù gặp thị trường con “gấu”.

Thành tích của Druckenmiller còn vượt qua cả một trong những nhà đầu tư vĩ đại nhất trong lịch sử là Warren Buffett trong quãng thời gian nhà tiên tri xứ Omaha còn điều hành quỹ Buffett Ltd.

Stanley Druckenmiller còn từng là tham mưu chiến lược cho tỷ phú Geogre Soros trong hơn một thập niên. Họ đã cùng nhau làm nên những giao dịch nổi tiếng trong mọi thời đại mà đáng chú ý nhất là vụ “đánh sập ngân hàng Anh” bằng cách bán khống đồng bảng Anh vào năm 1992, kiếm về hơn 1 tỷ USD lợi nhuận, và buộc Anh phải rút khỏi Cơ chế tỷ giá của Châu Âu (European Exchange Rate Mechanism).

Chính Druckenmiller là người nhận thấy cơ hội. Ông tính toán được Ngân hàng Anh đã không có đủ dự trữ ngoại tệ để mua đồng bảng Anh, điều đó có nghĩa là họ sẽ không thể tăng lãi suất mà không gặp rắc rối.
Đinh Lộc
Theo Trí thức trẻ/Motley Fool
Share:

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2016

4 bài học đầu tư từ những người giàu nhất nước Mỹ

Theo một báo cáo nghiên cứu sự mất cân đối thu nhập giữa 1% người giàu nhất và những người khác từ năm 1917 đến năm 2012 do Viện chính sách Kinh tế Mỹ tiến hành, phần thu nhập của top 1% người giàu nhất đã tăng từ mức 9% từ năm 1973 - 1978 lên mức 22% vào năm 2012.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VtAe1kCAZFp

Sự mất cân bằng thu nhập như vậy chắc chắn không được những người lao động bình thường ủng hộ, tuy nhiên họ không thể thay đổi được thực tế này. "Không có âm mưu gì ẩn sau thực tế đáng thất vọng này. Người nghèo chắc chắn không nghèo vì người giàu giàu”, Warren Buffett - nhà đầu tư thành công nhất còn sống hiện nay, CEO của Berkshire Hathaway - giải thích trong một bài viết trên tờ The Wall Street Journal.

Ngoài CEO Facebook Mark Zuckerburg cam kết ủng hộ 99% cổ phiếu cá nhân (tương đương 45 tỷ USD) cho mục đích từ thiện trong suốt cuộc đời, CEO Lenovo Yang Yuanqing 2 lần chia sẻ tiền thưởng trị giá hàng triệu USD cho nhân viên, hay người sáng lập Microsoft Bill Gates và huyền thoại đầu tư Warren Buffett cam kết cho đi phần lớn tài sản sau khi chết, vẫn còn hàng ngàn CEO khác trên khắp nước Mỹ cung cấp các khoản thưởng cho nhân viên để trao lại cho những người đang cần giúp đỡ ở cộng đồng địa phương.

Dưới đây là 4 bài học đầu tư và quản lý tiền bạc của top 1% người giàu nhất nước Mỹ được ghi lại trên trang Foxbusiness:

1. Suy nghĩ khác biệt về các khoản chi tiêu

Một trong những khác biệt lớn nhất giữa 1% người giàu và 99% người thường là cách quản lý chi tiêu.

Không phải tất cả mọi người đều phải lập ngân sách cho cuộc sống của họ, nhưng bạn có thể ngạc nhiên khi biết rằng nhiều người giàu nhất thế giới sống tốt với số tiền chi tiêu dưới mức thu nhập của họ, một số người còn lập danh sách các khoản chi tiêu hàng năm của họ.

Ví dụ, Warren Buffett vẫn sống trong ngôi nhà mà ông mua từ năm 1958 với giá 31.500 USD, trong khi giá trị tài sản của người giàu thứ hai thế giới đã vượt quá con số 70 tỷ USD nhưng ông không thấy cần thiết phải phô trương sự giàu có bằng một ngôi nhà lớn.

Tác giả kiêm lãnh đạo doanh nghiệp David Wood cho rằng, ngoài việc lập ngân sách các khoản chi tiêu, mọi người cần xem số dư ngân sách là một khoản chi phí chứ không phải là một tài sản.

Hầu hết mọi người nhìn con số 200 USD dư ra vào cuối tháng là lý do để tiến hành một kỳ nghỉ hoặc tổ chức tiệc tối kỷ niệm với người đặc biệt. Tuy nhiên, người giàu lại có số tiền này là một khoản chi phí, và vì thế họ có xu hướng trả cho chính họ trước tiên thông qua các khoản đầu tư, tiết kiệm, tặng từ thiện…

Đầu tư vào chính họ là việc bắt buộc phải thực hiện thường xuyên với người giàu, nhưng lại không phải là điều nhất thiết phải làm đối với 99% còn lại.

2. Tiết kiệm hiệu quả

Một khác biệt lớn khác giữa 1% người giàu và 99% còn lại là họ tiết kiệm được nhiều tiền. Những người giàu có nhất có thu nhập cao hơn người bình thường nên chúng ta thường nghĩ họ có thể tiết kiệm được nhiều hơn. Nhưng điểm khiến người giàu nổi bật hơn là khả năng tiết kiệm được số phần trăm thu nhập hằng năm cao hơn những người khác.

Theo ghi nhận của Emmanuel Saez và Gabriel Zucman - 2 tác giả của cuốn The Distribution of Wealth, Capital Income, and Returns since 1913, những người thuộc nhóm 90% còn lại tiết kiệm trung bình 4% thu nhập hằng năm của họ. Những người Mỹ thuộc từ top 10% cho tới 1% có xu hướng tiết kiệm 12% thu nhập hằng năm. Trong khi đó, những người Mỹ thuộc top 1% tiết kiệm tới 38% thu nhập hằng năm.

Họ làm điều này bằng cách nào? Nói một cách đơn giản, hầu hết những người giàu có xu hướng sống tốt trong phạm vi thu nhập của họ, họ hiểu tầm quan trọng của việc quản lý cẩn thận tiền bạc, và họ chỉ chi tiền cho những thứ khiến họ trở nên tốt đẹp hơn.

Họ đầu tư vào các cổ phiếu và trái phiếu, họ bỏ tiền tham dự các buổi hội thảo có thể mở rộng kiến thức của họ vì nó có liên quan tới các khoản đầu tư hoặc công việc của họ, và họ mua những quyển sách có thể giúp mở rộng kiến thức và khả năng sáng tạo.

Họ dùng khả năng lập ngân sách và tiết kiệm của mình như một bàn đạp để giúp bản thân trở nên tốt đẹp hơn và luôn đi đúng lộ trình đã vạch ra.

3. Thiết lập những mục tiêu dài hạn

Trong khi 99% người bình thường làm mọi thứ để để có thể giàu có, từ việc mua xổ số cho tới chơi các game thể thao hằng ngày thì người giàu lại không làm như vậy bởi họ hiểu giá trị của thời gian và sử dụng nó tốt hơn những người khác.

Warren Buffett từng nói về việc sở hữu cổ phiếu như sau: "Nếu bạn không cảm thấy thoải mái với việc sở hữu thứ gì đó trong vòng 10 năm, vậy thì đừng sở hữu nó trong vòng 10 phút”.

Công ty Berkshire Hathaway của Warren Buffett bắt đầu mua cổ phần của hãng đồ uống Coca-Cola từ năm 1988 và giờ đây đang sở hữu khoảng 400 triệu cổ phiếu trong danh mục đầu tư. Trong lĩnh vực thời trang, Buffett bắt đầu mua cổ phiếu của công ty Wells Fargo từ năm 1989.

Hiện giờ Berkshire sở hữu gần 471 triệu cổ phiếu tương đương 9,2% tất cả các loại cổ phiếu nổi tiếng nhất. Đây là những thương hiệu nổi tiếng trả cổ tức đều đặn mà Buffett sẽ còn nắm giữ trong nhiều thập kỷ nữa. Bài học mà Buffett dành cho giới đầu tư rất đơn giản: mua cổ phiếu những công ty chất lượng, hiểu và gắn bó với họ. Đơn giản chỉ có vậy.

4. Đa dạng hóa thu nhập 

Những người Mỹ giàu có nhất thường không chỉ dựa vào một nguồn thu nhập duy nhất. Bạn sẽ thấy hiếm khi người Mỹ giàu có đặt toàn bộ số trứng của họ vào một giỏ. Thay vào đó, họ tìm cách đa dạng hóa nguồn thu nhập để khối tài sản của họ ngày càng cao hơn và không mạo hiểm đặt cược tất cả vào chỉ một nguồn thu.

Ví dụ, người lao động bình thường chỉ dựa vào lương từ công việc của họ và đó là phần lớn thu nhập của họ. Trong khi đó, với những người giàu có nhất, ngoài lương, họ còn có nguồn thu rất đa dạng từ việc cho thuê, cổ tức, tiền bản quyền, các khoản cho vay và lãi suất trái phiếu... Rõ ràng, ai cũng biết người giàu là những người luôn nghĩ ra được những cái mới và thường có con đường riêng trong giới kinh doanh.

Mọi người cho rằng bổ sung thêm những nguồn thu nhập mới là việc bất khả thi với những người thu nhập thấp hoặc thậm chí cả giới trung lưu, nhưng thực tế việc đó dễ hơn họ tưởng. Ví dụ, khá dễ để biến một thú vui trở thành một cuộc phiêu lưu kiếm tiền. Bạn có thể mua những món đồ giảm giá ở các kho hàng và bán lại chúng trên trang eBay có thể đem lại mức lợi nhuận trung bình 462%, theo trang Signs.com. Nếu bạn thích chơi guitar, vậy sao không cung cấp các bài dạy guitar?

Con đường để đa dạng hóa nguồn thu nhập và cải thiện tình hình tài chính của bạn luôn có sẵn, bạn chỉ cần chủ động nắm bắt cơ hội mà thôi.
KIỀU CHÂU/Bizlive 
>> Bí quyết khiến 'tiền đẻ ra tiền' của 4 huyền thoại kinh tế

Share:

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2016

Tỷ phú đầu cơ George Soros đầu tư những gì?

Có lẽ trong những ngày đầu năm, báo chí tại VN hay viết về tỷ phú đầu cơ George Soros, với đủ thể loại, như dự phóng bể bọt đầu tư toàn cầu và sự suy thoái kinh tế TQ sớm muộn gì cũng xẩy ra. Nhưng ít ai biết rằng tỷ phú George Soros đầu tư vào đâu. Các tờ báo chứng khoán tại VN chỉ viết lại trên báo Mỹ, và họ còn viết về phương cách đầu tư George Soros, và kinh nghiệm trước ấy là tỷ phú thiên tài đầu tư dài hạn Warren Buffett. Thực tế họ chả biết gì về các tỷ phú Mỹ này họ đầu tư như thế nào mà chỉ đi chép lại báo Mỹ viết. Nhiều nhà đầu tư VN lao đầu vào học kinh nghiệm của George Soros là sạch vốn mà tôi đã hay phân tích nhiều lần rồi.

Tất nhiên, sẽ không bao giờ có gì nhàm chán khi nói về là tỷ phú đầu cơ George Soros, tỷ phú đầu tư Warren Buffett ít nhất có hàng triệu fan hâm mộ George Soros và cũng có lắm người ghét ông ta, nhất là những nước có thị trường tài chính và thị trường chứng khoán bất ổn.

Trong số đó, có tôi, và tôi xin khẳng định chắc chắn rằng tôi không phải là một fan hâm mộ của tỷ phú đầu cơ George Soros, nhưng tôi luôn dành cho ông ấy với sự kính trọng lớn lao về thiên tài đầu cơ của George Soros, mặc dù tôi theo trường phái đầu cơ của George Soros.

Tỷ phú đầu cơ George Soros được xếp hạng 29 trong danh sách các tỷ phú giàu nhất thế giới của Forbes. Trong nhiều năm tỷ phú đầu cơ George Soros đã tích lũy một lượng tài sản lớn lao tính đến thời điểm nay đã lên đến 20,5 tỷ USD bằng nhiều hình thức như trái phiếu, cổ phiếu, vàng, bất động sản, và luôn có trong tay 5 tỷ USD tiền mặt để sẵn bất cứ khi nào George Soros cần cho mục đích đầu tư và đầu cơ kể cả "mục đích chính trị".

Hiện nay, tính thời điểm đầu năm 2016, các quỹ tại Soros Fund Management, do George Soros lãnh đạo có khoảng 6 tỷ USD, giảm đi 100 triệu USD so vói quý thứ 4 của năm 2015. Trong đầu cơ, như tôi hay nói, đó là câu thần chú kinh điển là "không đặt tất cả trứng vào một giỏ" (don't put all your eggs in one basket). Đơn giản, không cần giải thích dài dòng, nếu bạn bỏ hết tài sản vào cái bóp đựng tiền, chẳng may bạn đánh rơi nó, chắc chắn bạn sẽ mất hết toàn bộ số tiền. Cho nên các quỹ Soros Fund Management đầu tư vào tổng số 222 cổ phiếu đủ loại để hạn chế rủi ro. Thực tế, nó vẫn không thay đổi nào so với quý thứ 4 của năm 2015. Nhưng các quỹ tại Soros Fund Management đã hoán đổi vị trí đến 40 nhóm cổ phiếu, trong đó một mình George Soros đã hoán đổi 12 vị trí các mã cổ phiếu và rất kịp lúc khi các nhóm cổ phiếu đó đảo chiều giảm giá.

Trong quá khứ, năm 2008 George Soros nổi tiếng với sự chế giễu đối phương như: "hãy nhìn cái mớ lý thuyết vô dụng của Paul Krugman kìa, nó chứa đầy những lỗ hổng", làm thế nào mà Paul Krugman lại đang lo ngại rằng thế giới sẽ bị rơi vào “một thập kỷ bị đánh mất” giống như Nhật Bản trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước (Paul Krugman, khôi nguyên giải Nobel kinh tế năm 2008). Hay câu nói nổi tiếng trong năm 2011, khi George Soros cho rằng: "vàng là mớ bong bóng cuối cùng",...

Vào thập kỷ 1990, mà tâm điểm năm 1992, đặc biệt ngày thứ Tư đen tối khi giới tài chính giật mình và được biết đến rộng rãi như là ngày mà nhà tỷ phú đầu cơ George Soros và là nhà kinh doanh tiền tệ đã phá sập các ngân hàng Anh với bề dày thành tích lâu đời và George Soros đã kiếm lời hơn 1 tỷ USD, tỷ phú George Soros thu được một món lợi lớn từ sự sụt giá của đồng bảng Anh, khi Anh gia nhập ERM, tỷ lệ được thiết lập để 2,95 German Mark (DEM) đổi ra được một Pound Sterling (GBP), gọi là Anh kim hay Bảng Anh, bằng cách khai thác kẽ hở cơ chế tỷ giá hối đoái châu Âu (ERM) đã được thiết lập vào tháng 03/1979 khi Anh gia nhập cơ chế tỷ giá hối đoái ERM để làm giảm biến đổi tỷ giá và ổn định chính sách tiền tệ trên khắp châu Âu trước khi giới thiệu một đồng tiền chung được gọi là đồng EUR vào ngày 01/01/2002. Trong khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, Soros thu lợi hàng tỷ USD,...

Giống như các tỷ phú đầu tư và đầu cơ khác, như tỷ phú Warren Buffett, Carl Icahn, John Paulson,...thực tế dưới bóng ông ta hay kể các các tỷ phú như tôi hay đề cập ở trên, họ có đến hàng tá chiến lược gia phân tích tài chính và chứng khoán siêu giỏi, phụ trách từng mảng của các thị trường các công ty, các nước, họ có các chiến lược gia làm cố vấn, thí dụ chiến lược gia phân tích về kinh tế TQ, chiến lược gia phân tích về kinh tế Âu châu, và nhiều mảng phân tích các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, thị trường chứng khoán các nước,...

Thêm vào đó họ có quỹ đầu tư và dòng tiền lớn rất dồi dào, và do đó, họ có thể hạn chế rủi ro khi đầu tư bằng cách tung tiền mua vào chính nhóm cổ phiếu của họ đang rơi nhằm thu hút sự bắt đáy của giới đầu tư để chặn đà bán tháo khi giá rớt, khi chỉ cần cổ phiếu tăng lại một chút là họ hoàn toàn có thể kiểm soát được giá chứng khoán của họ không bị sụt giảm nữa,...vấn đề này tôi đã phân tích rất nhiều lần và chỉ lập lại. Vì chỉ có người trong cuộc mới hiểu họ đầu tư, vì các tỷ phú này cũng mua vào bán ra các cổ phiếu mà họ đầu tư vào Morgan Stanley (NYSE: MS).

Như tôi đã phân tích rất lâu, có lẽ ít ai biết, đó là trong đầu tư sai lầm nhất là vào mùa Thu năm 2012, tỷ phú đầu cơ tài chính George Soros đã bán được tất cả các cổ phần các ngân hàng mà ông đầu tư, có lẽ chỉ có người làm trong các ngân hàng đầu tư mới biết, và tôi sẽ tiết lộ đó là khoảng 1 triệu cổ phiếu của các công ty tài chính và ngân hàng mà George Soros bán đi, bao gồm Citigroup Inc (NYSE: C) với 420.000 cổ phiếu, JPMorgan Chase (Dow Jones: JPM) với 701.400 cổ phiếu, và Goldman Sachs (Dow Jones: GS) với 120.000 cổ phiếu.

Nói chung, tổng giá trị của các cổ phiếu bán ra lên tới gần 50 triệu USD cũng không là nhiều, trước đó George Soros dự tính rót thêm số tiền lên đến 700 triệu USD để "stock upgrades" (nâng cấp cổ phiếu) các ngân hàng này thay vì triệt thoái hết, với lo ngại nền kinh tế Mỹ, EU sẽ sụp đổ vì nợ nần. Tỷ phú George Soros đã "bán dưới giá trị thật của nó- selling below its true value" rất nhiều mã chứng khoán ngân hàng. Nhưng đến đầu năm 2014, George Soros lại ồ ạt mua vào các mã cổ phiếu Citigroup, JPMorgan Chase, và Goldman Sachs với khối lượng rất lượng rất lớn cả gần 1 tỷ USD, nhưng lại đổi ý phân tích tiêu cực nền kinh tế Mỹ, và George Soros đã nhanh chóng bán sạch các nhóm cổ phiếu ngân hàng này. Nếu George Soros giữ lại ý định đầu tư có lẽ ông ta đã kiếm ra bộn tiền.

Tuy nhiên, khi kéo tiền ra ở các lĩnh vực tài chính ngân hàng, George Soros lại rất thành công khi đầu tư vào các cổ phiếu "bong bóng công nghệ" và lĩnh vực truyền thông giải trí. Cụ thể như Amazon.com Inc. (NASDAQ: AMZN), Netflix Inc (NASDAQ: NFLX), Facebook (NASDAQ: FB), Time Warner Cable Inc (TWC: NYSE),...Đây là các mã cổ phiếu mà George Soros đã hoán đổi cuối năm 2015, và chốt lời kịp lúc, qua đầu năm thì sụt giá tồi tệ đã tránh cho ông ta thua lỗ nặng nề.

Trong đầu cơ, thì rất khó ai có có thể vượt mặt tỷ phú George Soros, danh mục đầu tư của George Soros luôn thay đổi tùng quý và đầu tư ngắn hạn theo thời vụ, ưa đầu tư những nhóm cổ phiếu "bong bóng" mà ít ai dám đụng vào. Vì cần nhớ rằng năm 1992, tỷ phú George Soros đạt danh hiệu "The Man Who Broke the Bank of England".

Những cú đánh kinh điển của tỷ phú George Soros khiến ai cũng nể trọng và kiếm được món lời trong năm 2015 vừa qua. Cụ thể, trong tháng 09/2015, ông mua vào 2,8 triệu cổ phiếu CIT Group (NYSE: CIT), một doanh nghiệp chuyên hoạt động như công ty cổ phần cho ngân hàng để cung cấp các sản phẩm tài chính và cho thuê thương mại với giá 39,61 USD, tổng cộng số tiền mua đến 113 triệu USD trừ đi các chi phí khác thì chỉ đến ngày 22/10/2015, giá cổ phiếu của CIT vọt lên 46,15 USD, mức tăng khá mạnh khi bán ra ở giá cao.

Các mã cổ phiếu khác như công ty Dịch vụ mỏ dầu Công ty Schlumberger Limited, chuyên cung cấp công nghệ, quản lý dự án tích hợp, và các giải pháp thông tin cho các ngành công nghiệp khai thác sản xuất dầu khí trên toàn thế giới giá cổ phiếu không ai dám rớ vào bì quá rủi ro do giá dầu lửa hạ giảm, vậy mà khi mua vào với mức giá 68 USD thì đến ngày 03/11/2015 nó tăng lên 82 USD. George Soros mua vào 982.116 cổ phiếu, dù bây giờ không bán đi vì giá dầu hạ giảm, nhưng cổ phiếu công ty Schlumberger Limited vẫn tăng ở mức 72,80 USD.

Amazon.com Inc. (NASDAQ: AMZN) mua vào 77.877 cổ phiếu, mua vào lúc giá chỉ có 512 USD, nay đã ở mức 670 USD, cổ phiếu Netflix Inc (NASDAQ: NFLX) mua vào 317.534 cổ phiếu ở mức 103 USD trong cuối tháng 30/09/2015 thì nay các cổ phiếu này tăng lên 125,36 USD, dù ngày 07/12/2015 nó sụt đi 5,57 USD, các cổ phiếu khác như Baxter International (NYSE: BAX), Facebook (NASDAQ: FB),...đều tăng mạnh mẽ, trái với những cổ phiếu an toàn đều bị sụt giá nặng.

Hãy thận trọng, như tôi hay nhắc, kinh nghiêm cho thấy, giống như tỷ phú Warren Buffett, George Soros cũng vậy, dưới bóng của các tỷ phú này, họ có đến hàng tá chiến lược gia phân tích tài chính và chứng khoán siêu giỏi, họ có quỹ đầu tư và dòng tiền lớn, và do đó, họ có thể hạn chế rủi ro bằng cách tung tiền mua vào chính nhóm cổ phiếu của họ đang rơi nhằm thu hút sự bắt đáy của giới đầu tư để chặn đà bán tháo khi giá rớt, khi chỉ cần cổ phiếu tăng lại một chút là họ hoàn toàn có thể kiểm soát được giá chứng khoán của họ không bị sụt giảm nữa.

Ở VN nhiều chuyên gia phân tích chứng khoán, phân tích trên các tờ báo kinh tế hay nói về cách đầu tư của tỷ phú Warren Buffett, George Soros để dạy đời thiên hạ, thực chất họ chả biết gì về cách đầu tư của các tỷ phú Mỹ, vì họ có đầu tư ở thị trường Mỹ đâu mà biết, và viết bài sai trái.

Danh mục đầu tư các mã cổ phiếu khác của George Soros hoán đổi và co cẳng chạy trước khi giá nó sụt giảm đã tránh cho ông ta không bị lỗ lã nặng nề, nó bao gồm: Gap Inc (NYSE: GPS) giảm 14,32%; Kohls Corp (NYSE: KSS) giảm 5,86%; Seagate Technology PLC (NASDAQ: STX) giảm 5,79%, Facebook (NASDAQ: FB) giảm 0,60%,...

Một số danh mục đầu tư "dài hạn" của George Soros, nó bao gồm: Southwest Airlines Co (LUV: NYSE), Churchill Downs Inc (CHDN: NASDAQ), The Kraft Heinz Co (KHC: NASDAQ), Delta Air Lines Inc (DAL: NYSE), Allergan PLC (AGN: NYSE), Dow Chemical Co (DOW: NYSE), PayPal Holdings Inc (PYPL: NASDAQ), eBay Inc (EBAY: NASDAQ), American Airlines Group Inc (AAL: NASDAQ), DISH Network Corp (DISH: NASDAQ), NextEra Energy Inc (NEE: NYSE),...

Kinh điển nhất là cú co giò chạy nhanh và thoát ra kịp lúc của tỷ phú đầu cơ George Soros khi trong trong ngày 25/08/2015, George Soros mua vào 750 triệu USD cổ phiếu của Cisco Systems Inc (Dow Jones, NASDAQ: CSCO), ở mức giá đáy là 24,60 USD, và bán ra ở mức 29 USD trong tháng 10/2015, và mua lại mức 26,25 USD trong ngày 18/12/2015 và bán sạch sẽ vào ngày 29/12/2015 khi giá ở mức 27,77 USD. Thật quyết đoán, giá cổ phiếu của Cisco nay đã rơi về mức 24,78 USD, đã tránh cho George Soros lỗ nặng mà trái lại còn lời lãi lớn.

Cần nhắc lại là, Cisco là là doanh nghiệp về thông tin điện tử được thành lập năm 1984 tại vùng Thung lũng điện tử ở miền Bắc California đã thay thế tập đoàn xe hơi lừng danh thế giới General Motors (NYSE: GM) trên sàn Dow Jones trong năm 2009. GM từng làm bá chủ công nghiệp xe hơi thế giới gần 1 thế kỷ, trước khi bị Toyota, Volkswagen qua mặt, khi GM bị tống cổ khỏi sàn Dow Jones, lúc ấy General Motors vỡ nợ khi tài sản chỉ còn hơn 82 tỷ USD mà nợ nần tới gần 173 tỷ USD và không thể thanh toán cho giới đầu tư khi đó.

Mặc dù Cisco Systems Inc (Dow Jones, NASDAQ: CSCO), vẫn có triển vọng tốt và có mức điểm tốt là A-. Thế mạnh của công ty trong nhiều lĩnh vực thực tế, như viễn thông, tin học bám sát các úng dụng công nghệ cuộc sống. Cụ thể, Cisco chuyên thiết kế, sản xuất, và bán các sản phẩm mạng Internet Protocol (IP) cốt lõi dựa vào dịch vụ liên quan đến truyền thông và công nghệ thông tin ngành công nghiệp ứng dụng trên toàn cầu.

Thế mạnh của công ty có thể được là vốn chủ sở hữu và mức định giá hợp lý, vốn nhiều nợ ít, chi phí cho mỗi cổ phiếu là thấp. Tốc độ tăng trưởng doanh thu của nó với thành tích ấn tượng của thu nhập trên mỗi cổ phiếu, tăng trưởng của nó luôn hấp dẫn trong thu nhập ròng, yếu điểm nhìn thấy là khá ít.

Tuy nhiên, trong đầu cơ thì ta không cần quan tâm nó trong dài hạn, mà chủ yếu quan tâm nó là "mua thấp bán cao". Xem hình trong trong cuối tháng 12/2015, khi George Soros đã bán cổ phiếu của Cisco ở mức giá 27,77 USD gây ngạc nhiên cho nhiều nhà phân tích chứng khoán tại các quỹ đầu tư và đầu cơ ở Phố Wall.

Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)
https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1516707525296475&id=100008717255238


Share:

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2016

8 nguyên tắc đầu tư chứng khoán từ bài học “qua đường”

Đối với nhiều du khách ghé thăm Việt Nam, một trong những câu chuyện được kể lại nhiều chính là kinh nghiệm băng qua đường, đặc biệt là ở những phố xá đông dân như Hà Nội và TPHCM. Thật thú vị, những kinh nghiệm này hoàn toàn có thể là những quy tắc được vận dụng trong đầu tư chứng khoán. 

http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html

Sự dũng cảm

Giờ tan tầm, dòng xe cộ trên đường dường như trôi đi vô tận. Trừ khi bạn băng qua đường ở giao lộ nơi đèn giao thông nhấp nháy, còn không, dòng xe hiếm khi dừng lại để mở một lối đi an toàn nếu bạn không thực sự dám đối diện với rủi ro.

Chứng khoán cũng vậy, trừ phi bạn có lợi thế giao dịch nhờ thông tin nội gián, bằng không hiếm có một cơ hội nào xuất hiện rõ rệt nếu không thực sự dũng cảm. Để nhận được phần thưởng xứng đáng đôi khi nhà đầu tư phải biết chấp nhận rủi ro.

Nguyên tắc này có thể áp dụng lúc bắt đáy cổ phiếu đã rơi mạnh trước đó. Thường đối với những cổ phiếu cơ bản thì mức giảm khoảng 15% còn hàng đầu cơ tầm 30-50% thì có thể tham gia.

Nhưng nếu quá lạm dụng bạn nên học hỏi kỹ năng săn bắn và hái lượm trước phòng thân: câu chuyện cổ phiếu DVD của công ty Dược Viễn Đông giảm giá mạnh và trở thành tờ giấy vụn đúng nghĩa, đẩy các nhà đầu tư đánh cược 100% vào cổ phiếu này vào cảnh bần hàn vẫn còn đó.

Sự nhờ vả 

Nếu đây là lần đầu bạn “chơi” chứng khoán, đừng ngại hỏi tất cả những gì bạn chưa biết về thị trường qua bạn bè có kinh nghiệm, các nhà đầu tư xung quanh và những nhân viên môi giới.

Điều này cũng như du khách nước ngoài lần đầu mục sở thị và bối rối trước tình trạng giao thông hỗn độn. Trừ khi có thể tự tin phản ứng mau lẹ như James Bond hay Tom Cruise… trên phim, thì lần đầu băng qua đường, đa phần du khách cần đến sự trợ giúp của người bản địa: hướng dẫn viên, thanh niên xung phong và người qua đường tốt bụng.

Tập trung vào mục tiêu 

Một kỹ năng người nước ngoài học được sau vài lần băng qua đường chính là sự tập trung và chỉ tập trung vào những chiếc xe đi đầu, gần nhất trong dòng xe cộ đông đúc. Nếu những chiếc xe này giảm tốc mở đường cho bạn qua thì những chiếc xe đi sau cũng sẽ tự động đi chậm lại.

Còn trong đầu tư, bạn cần hiểu rõ mục tiêu của mình. Nếu bạn đứng tuổi, chuẩn bị nghỉ hưu, đầu tư chủ yếu để tạo ra thu nhập thì nhóm cổ phiếu có tính ổn định cao và trả cổ tức hấp dẫn là một hướng đầu tư lý tưởng.

Ngược lại, nếu bạn trẻ, xây dựng mục tiêu mua nhà để sau đó cưới được cô bạn xinh đẹp học cùng lớp và hưởng tuần trăng mật ngọt ngào ở Rome thì danh mục tập trung vào các cổ phiếu tăng trưởng.

Thuận theo dòng 

Một trong những cách băng qua đường dễ nhất người nước ngoài vẫn thường áp dụng là theo đuôi người dân địa phương hoặc đi ngay bên cạnh họ.

Trong đầu tư chứng khoán hãy để ý các cổ phiếu đang được cả thị trường đang bàn tán rôm rả. Có thể các công ty hoàn toàn không xuất sắc như bản phân tích của các công ty chứng khoán nhưng sự cuồng nhiệt của đám đông có thể đẩy giá cổ phiếu đi xa hơn tất cả những dự liệu ban đầu.

Hẳn nhiều nhà đầu tư chứng khoán đã tiếc nuối bỏ lỡ các buổi tiệc tùng mang tên chứng khoán như VSP (năm 2009), PVA (năm 2010). Trừ phi bạn bẩm sinh mang gen “thỏ đế” còn không có thể nhắm mắt thuận theo dòng, nhảy vào mua theo đám đông nhưng nhớ phải rút chân ra sớm: bán ngay khi có lãi.

Mọi nguyên tắc có thể phá vỡ 

Vỉa hè đi bộ bị hàng quán lấn chiếm hay giao lộ đông đúc không có bóng cảnh sát nên chẳng ai tuân theo tín hiệu giao thông là cảnh thường thấy. Nếu theo đúng luật, bạn sẽ dậm chân tại chỗ hàng tiếng đồng hồ. Trong trường hợp bất khả kháng, vi phạm “chút nho nhỏ” luật giao thông giúp khách bộ hành tới đích nhanh hơn.

Trong đầu tư, nếu đợi thị trường chính thức xác nhận một xu hướng mới tham gia thì phần tưởng thưởng đã trở thành khiêm tốn. Một nguyên tắc bất biến: “high risk, high return”.
http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html
Biết thời điểm theo luật

Nhưng không nên bẻ cong mọi quy tắc. Điều này giống chờ tín hiệu đèn giao thông chuyển màu. Hãy kiên nhẫn chờ đợi. Điều đó sẽ giúp bạn tránh xa các rắc rối.

Các nhà đầu tư phải hoàn toàn tuân thủ quy tắc cơ bản nếu không muốn sống cảnh bần hàn. Chẳng hạn, bạn nhảy vào cổ phiếu “nóng” như PVA, VSP, SHN thuần túy vì lý do dòng tiền thì bạn phải bán ngay trước khi dòng tiền đảo chiều. Hay khi thị trường không phù hợp với quyết định mua hay bán, hãy chờ tới khi điều kiện tốt hơn. Nếu nhà đầu tư thiếu tự tin về xu hướng thị trường thì chỉ có một từ thôi: “Chờ”.

Liều ăn nhiều 

Việc đứng mãi ở một bên đường có thể khiến bạn cảm thấy an toàn, nhưng nếu cứ đứng mãi, đứng mãi chắc hẳn bạn không biết thế giới phía trước thú vị như thế nào. Đừng sợ thất bại và rủi ro nếu không muốn bỏ lỡ cơ hội.

Nhà đầu tư chứng khoán thành công phải có khẩu vị rủi ro nhất định. Việc tăng sử dụng margin, đánh theo sóng hay cầm hàng nóng đúng thời điểm sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn kỳ vọng thông thường. Tuy nhiên bạn phải ghi nhớ các giới hạn, kỷ luật đặt ra ban đầu. Nó sẽ bảo hộ giảm thiệt hại cho bạn trước các diễn biến bất ngờ khi thị trường không như ý.

Tận hưởng niềm vui

Khi đường vắng mà phía trước là một cô gái đẹp với tà áo dài thướt tha hay đỏ rực trong chiếc váy ngắn bó sát, nếu không vội bạn hoàn toàn có thể chạy xe chậm, thong thả và thưởng thức hết vẻ đẹp đó. Thậm chí nếu bạo dạn bạn có thể tiến tới làm quen và nếu may mắn biết đâu có số điện thoại để mở ra một chương hẹn hò?

Trong đầu tư cũng vậy bạn cần những giây phút thư giãn. Sau định kỳ, mỗi tháng, quý hoặc năm, nếu danh mục đầu tư của bạn có lời thì hãy tận hưởng niềm vui đó vì phía trước chắc chắn còn rất nhiều khó khăn. 
Theo Vietstock
Share:

5 Sai Lầm Tâm Lý Ảnh Hưởng Đến Nhà Phân Tích Chứng Khoán

Khi bàn về chi tiết của việc phân tích chứng khoán, hầu hết mọi người sẽ thừa nhận rằng các nhà phân tích chứng khoán thường có chuyên môn tốt hơn so với nhà đầu tư thông thường. Tuy nhiên, các nhà phân tích cũng là con người và vì thế cũng bị ảnh hưởng bởi những định kiến ​​tâm lý như chúng ta.


Năm 2010, một nhà phân tích chứng khoán trở thành tâm điểm trên khắp các mặt báo khi người này giảm giá cả mục tiêu của mình đối với Palm (nhà sản xuất điện thoại di động vốn đang điêu đứng) từ 4 USD xuống 0 USD trên mỗi cổ phiếu. Thông tin này đã khiến các nhà đầu tư vào cổ phiếu này hoang mang tột độ và hậu quả là giá cổ phiểu của Palm đã rớt giá tới hơn 30%. Tuy nhiên, chỉ một tháng sau, các nhà đầu tư này lại vô cùng thất vọng khi Hewlett-Packard đã đề nghị mua lại Palm với giá 1,2 tỷ USD, tức là 5,7 USD/cổ phiếu. Những nhà đầu tư chót nghe theo khuyến nghị của nhà phân tích chứng khoán trên đã phải hối tiếc trong sự dằn vặt và tự vấn rằng rốt cục tại sao lại như vậy.

Khi bàn về chi tiết của việc phân tích chứng khoán, hầu hết mọi người sẽ thừa nhận rằng các nhà phân tích chứng khoán thường có chuyên môn tốt hơn so với nhà đầu tư thông thường. Tuy nhiên, các nhà phân tích cũng là con người và vì thế cũng bị ảnh hưởng bởi những định kiến ​​tâm lý như chúng ta. Bài viết này sẽ bàn về một số các thành kiến phổ biến tiêu biểu gây ảnh hưởng tới các nhà phân tích, qua đó giúp chúng ta đánh giá đươc mức độ tin cậy của các nhà phân tích chứng khoán trong quá trình đầu tư.

Thiên kiến xác nhận (Confirmation Bias)

Thiên kiến xác nhận còn được gọi là thiên kiến xác nhận bằng chứng. Thực tế là dù bạn có nhận ra hay không thì tất cả mọi người đều bị ảnh hưởng bởi thiên kiến xác nhận ở một mức độ nhất định. Khi ai đó tin điều gì là đúng thì họ sẽ thường có xu hướng coi trọng những bằng chứng hoặc nghiên cứu hỗ trợ quan điểm này. Nói cách khác, họ chỉ nhìn thấy những gì họ muốn.

Ví dụ trong ngữ cảnh đầu tư, các nhà đầu tư hoặc chuyên gia phân tích lạc quan, tin tưởng giá chứng khoán tăng sẽ thường coi trọng những bằng chứng hoặc số liệu ủng hộ quan điểm đầu tư của họ. Các nhà đầu tư hoặc các nhà phân tích bi quan, tin rằng chứng khoán sa sút sẽ có xu hướng ngược lại. Cách đầu tiên để chứng minh các nhà phân tích bị ảnh hưởng bởi thiên kiến xác nhận này là kiểm tra tính nhất quán của các bằng chứng mà nhà phân tích đưa ra. Giả sử, một nhà phân tích lạc quan sử dụng các chỉ số như GDP tăng, tỉ lệ thất nghiệp giảm và chỉ số niềm tin người tiêu dùng tăng lên để hỗ trợ quan điểm của mình. Nếu một năm sau đó, khi các chỉ số đã kém đi và nhà phân tích vẫn tin rằng giá chứng khoán sẽ tăng trên thị trường thì bạn nên kiểm tra xem liệu các bằng chứng mới người này đưa ra có còn là GPD, tỷ lệ thất nghiệp và chỉ số niềm tin tiêu dùng hay không. Nếu nhà phân tích không dùng đến những chỉ số này nữa trong khi vẫn giữ nguyên quan điểm thì đó có thể là dấu hiệu của sự thiên kiến.

Ảo tưởng của con bạc (Gambler's Fallacy)

Yếu tố được xem xét tiếp theo là “ảo tưởng của con bạc”, đó là khi thiên kiến ảnh hưởng đến khả năng đánh giá đúng xác suất trong một tình huống .Ví dụ, nếu bạn tung đồng xu 10 lần và tất cả 10 lần đều là mặt sấp, thì trong tâm trí bạn sẽ có ý nghĩ rằng cái tiếp theo hẳn sẽ là mặt ngửa. Thiên kiến “ảo tưởng của con bạc” khiến bạn tin rằng lượt tung tiếp theo khả năng cao sẽ là mặt ngửa, do đó khiến bạn đặt cược mạo hiểm hơn. Tuy nhiên, xác suất được mặt ngửa trong lượt tung tiếp theo vẫn chỉ là 50/50. Trong thị trường chứng khoán, tình huống sẽ không được như rõ ràng như vậy, nhưng nhận thức được sự tồn tại của thiên kiến này có thể giúp bạn phát hiện nó dễ dàng hơn nhiều.

Ví dụ, năm 2011, CNBC có một bài báo với tiêu đề: "Giá dầu sẽ được hiệu chỉnh?" (Oil due for a correction). Bài viết có ghi "[...] giá dầu đã tăng tới mức chưa từng thấy kể từ năm 2008", đây là thực tế, nhưng ngôn từ trong bài viết và dẫn chứng đưa ra dường như ngụ ý với người đọc rằng giá dầu sắp được hiệu chỉnh đơn giản vì đã đạt một mức cao đến vậy. Tương tự như việc tung đồng xu trình bày ở trên, tác giả bài báo đã thể hiện thiên kiến theo lối “ảo tưởng con bạc” qua chính suy nghĩ rằng giá dầu tăng cao như thế thì nó phải “sắp” được hiệu chỉnh. Ngoài ra, thiên kiến xác nhận cũng được thể hiện trong bài báo thông qua một loạt các dẫn chứng được sử dụng để chứng minh cho lập luận về sự hiệu chỉnh.

Neo đậu (Anchoring)

Thành kiến “neo đậu” chỉ việc một người hay một nhà phân tích quá gắn bó vào mục tiêu giá trước đó, dẫn đến hậu quả không tính đến những thông tin cập nhật khi ước tính giá trị. Ví dụ, nếu một nhà phân tích đang khá lạc quan và có mục tiêu giá tương đối cao cho một cổ phiếu rồi sau đó một vài thông tin tiêu cực về cố phiếu này xuất hiện, nhà phân tích trên sẽ không hoàn toàn điều chỉnh chỉ tiêu giá xuống thấp bởi tâm trí anh ta đã bám quá chắc vào mục tiêu trước đó. Ngược lại, tin tốt cũng có thể thường không được phản ánh đầy đủ trong con số ước tính.

Để hiểu rõ hơn, hãy nhìn vào lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) ước tính và EPS thực tế của Apple trong bốn quý kết thúc vào tháng 3 năm 2011:
Lịch sự thu nhập
Q2 2010
Q3 2010
Q4 2010
Q1 2011
EPS ước tính
3.12
4.08
5.40
5.37
EPS thực tế
3.51
4.64
6.43
6.40
Giá trị sai lệch
0.39
0.56
1.03
1.03
Độ chênh
12.50%
13.70%
19.10%
19.20%
Nguồn: Yahoo! Finance
Bạn có nhìn thấy vấn đề “neo đậu” ở đây không? EPS ước tính của Apple luôn thấp hơn EPS thực tế, dẫn đến độ chênh thu nhập cổ phiếu liên tiếp trong 4 quý. Trong trường hợp này, các nhà phân tích mãi không chịu cân những những tin tốt (độ chênh thu nhập cổ phiếu) để đưa ra ước tính cho đợt tiếp theo. Điều này có thể bởi vì họ bị cố hữu gắn với những ước tính trước đó của mình.

Tâm lý bầy đàn (Prudence/Status Quo/Herd Effect) 

Được biết đến với nhiều tên gọi, tâm lý bầy đàn phản ánh áp lực phải đi theo những người giống mình. Tương tự như việc áp lực ở trường trung học khiến bạn phải cư xử giống bạn bè trang lứa và tránh chơi trội, áp lực này cũng diễn ra trên phố Wall. Tâm lý bầy đàn là xu hướng các nhà phân tích đưa ra những ước tính giống như những nhà phân tích khác để không bị “lạc loài”. Đây là một trong những lý do lý giải tại sao bạn thường thấy một số lượng áp đảo của các khuyến nghị mua so với khuyến nghị bán .Các nhà phân tích nhìn chung có động cơ của riêng họ để chạy theo đám động, đó có thể là được tiếp tục làm việc hay không muốn đi ngược xu thế chung. Sau cùng, nếu sai, họ sẽ luôn chỉ ra rằng rất nhiều người khác cũng sai như vậy

Tự tin thái quá

Tự tin thái quá, cái tên đã nói lên tất cả, đó là khi các nhà phân tích quá tự tin vào khả năng của mình khi dự báo lợi nhuận, mục tiêu giá hoặc các chỉ số kinh tế khác. Biểu hiệu điển hình đầu tiên của việc quá tự tin là đưa ra những ước tính quá cụ thể. Ví dụ, nếu một người nào đó dự đoán GDP sẽ tăng trưởng 3,57% trong quý tiếp theo thì hẳn nhà đầu tư nên cảnh giác. Rõ ràng chẳng dễ dàng chút nào để có được một dự đoán đúng và do đó, một nhà phân tích giỏi sẽ thường muốn đưa ra dự báo của mình trong khoảng hơn là một con số chính xác.

Tự tin thái quá nguy hiểm ở chỗ nó có thể khiến những người khác phản ứng nhiều hơn họ muốn. Ngay trong đoạn mở đầu tôi đã kể về một ví dụ về dự đoán quá tự tin của nhà phân tích mà sau này đã khiến những nhà đầu tư nghe theo thấy hối hận. Đây là một trường hợp mà con số dự đoán được đưa ra ​​là quá cụ thể, chính xác là 0 USD.

Lời kết

Nếu tìm hiểu sự nghiệp của một số nhà đầu tư xuất chúng nhất trong thời đại của chúng ta, bạn sẽ thấy có một điểm chung ở họ là sự nhận thức về những thiên kiến tâm lý đề cập trên đây và khả năng tiết chế chúng khi giao dịch. Vì vậy, nếu lần tới bạn có ý định giao dịch, hãy xem xem chính bạn hay những chuyên gia phân tích tư vấn cho bạn có bị ảnh hưởng bởi những thiên kiến này không nhé​​. Bạn hẳn sẽ ngạc nhiên khi biết mức độ len lỏi của những thiên kiến kiểu này trong hoạt động giao dịch của tất cả mọi người đấy.
(Saga)

Share:

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

Chỉ số P/E: Chuyện nhiều nhà đầu tư Mỹ chưa biết

Một trong những ý tưởng lớn về cách thức phân tích giá chứng khoán gần như đã bị lãng quên hoàn toàn...

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.ViOTBG5mqsW
Hơn 70 năm trước đây, hai giáo sư của Đại học Columbia là Benjamin Graham và David Dodd đã nghĩ ra một ý tưởng đầu tư đơn giản mà cho đến ngày nay, có lẽ, vẫn còn có sức ảnh hưởng lớn hơn bất kỳ một ý tưởng nào khác.

Sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929, hai giáo sư này kêu gọi các nhà đầu tư nên tập trung vào những thực tế rõ ràng như thu nhập trong quá khứ của một công ty và giá trị tài sản của công ty đó, thay vì cố gắng dự đoán xem điều gì sẽ xảy ra trong tương lai. Theo Graham và Dodd, một công ty với mức lợi nhuận cao và giá cổ phiếu rẻ tương đối cũng có thể bị đánh giá thấp.

Cuốn sách giáo khoa kinh điển của hai giáo sư này xuất bản năm 1934 mang tựa đề “Phân tích chứng khoán” đã trở thành cuốn kinh thánh cho trường phái đầu tư mà ngày nay, người ta gọi là đầu tư giá trị. Warren Buffett, người hiện giờ là một trong những tỷ phú giàu nhất thế giới, đã tham gia vào khóa học của Graham tại Trường Kinh doanh Columbia vào thập niên 1950. Sau một thời gian ngắn làm việc trong công ty đầu tư của Graham, Buffet đã mở công ty riêng của ông để đạt được những thành công trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tế.

Tuy nhiên, vì một lý do nào đó, một trong những ý tưởng lớn của họ về cách thức phân tích giá chứng khoán gần như đã bị lãng quên hoàn toàn. Ý tưởng đó nhấn mạnh việc các nhà đầu tư nên tập trung vào những xu hướng dài hạn và không nên bị cuốn vào những gì đang diễn ra trong thời gian ngắn.

Dĩ nhiên, trong những ngày đen tối của thị trường chứng khoán Mỹ vừa qua, các nhà phân tích phố Wall đều nói rằng, không có điều gì phải lo lắng, ít nhất không phải ở trên một thị trường chứng khoán rộng lớn hơn. Trong nỗ lực để làm các nhà đầu tư bình tĩnh, giới phân tích đã lập luận rằng, giá cổ phiếu lúc này không phải là đắt. Cơ sở cho lập luận này chính là thước đo tiêu chuẩn của thị trường: Chỉ số P/E (giá/thu nhập).

Có vẻ như đây chính là điều mà Graham và Dodd yêu thích. Theo cách hiểu thông thường, chỉ số P/E bằng với giá của cổ phiếu một công ty chia cho thu nhập tính trên mỗi cổ phiếu (EPS) trong vòng 12 tháng qua. Các bạn có thể bỏ qua việc tính toán và ghi nhớ đơn giản rằng, chỉ số PE cho bạn biết, mối tương quan giữa giá cổ phiếu và mức độ hiệu quả hoạt động của công ty đó. Chỉ số này càng cao, giá cổ phiếu càng đắt, và càng làm mạnh thêm lập luận rằng những gì diễn ra phía trước sẽ không mấy tốt đẹp.

Hiện nay, các cổ phiếu của chỉ số Standard & Poor’s 500 đã có mức P/E trung bình vào khoảng 16,8, mức bình thường so với tiêu chuẩn lịch sử. Từ Chiến tranh Thế giới II, chỉ số P/E trung bình trên thị trường chứng khoán Mỹ là 16,1. Trong những giai đoạn phát triển bong bóng của thị trường chứng khoán Mỹ vào thập niên 11920 và 1990, chỉ số P/E là 30.

Phần cốt lõi trong thông điệp trấn an các nhà đầu tư của Wall Street là thậm chí trong trường hợp tình trạng hiện nay của thị trường thế chấp Mỹ dẫn tới một cuộc khủng hoảng tín dụng toàn diện, sức tàn phá của cuộc khủng hoảng đó sẽ không kéo dài vì giá chứng khoán sẽ không có một biên độ rộng để giảm. Graham và Dodd tin tưởng nhiều vào chỉ số P/E, tuy nhiên, có lẽ, họ sẽ không đồng ý với cách mà các nhà đầu tư hiện nay sử dụng chỉ số này.

Bên cạnh việc khuyên các nhà đầu tư nên tập trung vào những gì đã xảy ra trong doanh nghiệp, hai chuyên gia này cũng khuyến cáo không nên tập trung qua nhiều vào những gì vừa mới diễn ra trong khoảng thời gian ngắn. Theo quan điểm của họ, những thông tin của một vài tháng, hoặc thậm chí là một năm có thể dẫn tới những hiểu lầm sâu sắc. Những thông tin như vậy sẽ chỉ có ý nghĩa nói về những gì đang diễn ra tại một thời điểm ngắn ngủi nào đó, hơn là những triển vọng dài hạn của một công ty.

Do vậy, Graham và Dodd lập luận rằng, chỉ số P/E nên so sánh giá cổ phiếu với lợi nhuận của thời gian “không ít hơn 5 năm, tốt nhất là 7 hoặc 10 năm.”

Lời khuyên này hầu như đã bị lãng quên trong lịch sử. Vì một lý do nào đó, việc thu thập các dữ liệu về thu nhập của công ty trong một thập kỷ có thể sẽ là một việc làm mất nhiều thời gian. Mặt khác, dường như hơi kỳ lạ khi lục tìm những thông tin đã quá lâu trong quá khứ, khi mà mục tiêu của các nhà đầu tư là đoán trước những gì sẽ xảy ra trong tương lai.

Tuy nhiên, có ít nhất một nhà kinh tế đã nhớ đến lời khuyên này. Trong vòng nhiều năm, Robert Shiller, một giáo sư của Đại học Yale, đã tính toán chỉ số P/E dài hạn. Và khi được mời để thuyết trình trước Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), vào năm 1996, Shiller đã sử dụng chỉ số này để lập luận rằng các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mỹ đã được định giá quá cao. Một vài ngày sau đó, Greenspan đã gây ra một đợt bán tháo cổ phiếu lớn trên phạm vi toàn cầu trong thời gian ngắn khi ông đặt câu hỏi liệu “sự tăng trưởng phi lý” đang ảnh hưởng tiêu cực tới các thị trường.

Ngày nay, phương pháp tiếp cận của Graham và Dodd tạo ra một bức tranh rất khác so với bức tranh mà các nhà phân tích phố Wall đưa ra. Nếu dựa trên lợi nhuận trung bình trong vòng 10 năm qua, chỉ số P/E trong thời gần đây dao động xung quanh con số 27. Con số này cao hơn mức P/E ở bất kỳ thời điểm nào trong vòng 130 năm qua, trừ những thời kỳ thị trường chứng khoán Mỹ phát triển bong bóng vào thập niên 1920 và 1990. Giá cổ phiếu đã tăng đột biến ở mức quá cao trong những năm 1990, nói cách khác, đến nỗi thị trường có thể vẫn chưa hoàn toàn trở lại trạng thái bình thường kể từ sau đợt tăng đó.

Chỉ số P/E được tính như vậy không có nghĩa là thị trường chứng khoán Mỹ tất yếu sẽ lâm vào khủng hoảng. Tuy nhiên, cách tính này đem đến cho các nhà đầu tư một hướng suy nghĩ tốt hơn khi đầu tư.

Trong một vài năm trở lại đây, lợi nhuận các công ty tăng mạnh. Các nền kinh tế trên thế giới đang lớn mạnh, các công nghệ mới đã giúp các công ty hoạt động hiệu quả hơn, và vì nhiều lý do, bao gồm toàn cầu hóa và tự động hóa, các công nhân không thể yêu cầu được trả lương cao hơn. Thống kê của Bộ Thương mại Mỹ cho thấy, chỉ trong vòng 3 năm từ 2003 đến 2006, lợi nhuận có tính tới yếu tố lạm phát của các công ty Mỹ đã tăng hơn 30%. Sự bùng nổ này đã cho phép chỉ số P/E chuẩn trên thị trường chứng khoán Mỹ duy trì ở mức khá thấp.

Trong tương lai, có hai khả năng xảy ra đối với thị trường chứng khoán Mỹ.

Khả năng thứ nhất là lợi nhuận công ty tiếp tục tăng mạnh. Trong trường hợp này, chỉ số P/E theo cách tính của Graham và Dodd sẽ không có ý nghĩa quan trọng. Chỉ số P/E đó sẽ chỉ chứng minh cho một thực tế đã không còn tồn tại thêm nữa, và giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mỹ sẽ diễn biến với chiều hướng rất tích cực trong vài năm tới.

Khả năng thứ hai là sự bùng nổ lợi nhuận doanh nghiệp sẽ nhanh chóng kết thúc. Có lẽ sự tăng trưởng về năng suất trong thời gian gần đây sẽ mất dần đi, như một số thống kê cho thấy đã xảy ra tình trạng này. Hoặc, những nền kinh tế lớn trên thế giới suy giảm trong một vài năm tới. Trong trường hợp một trong những tình huống như vậy xảy ra, giá cổ phiếu có thể sẽ đột nhiên bị coi là rất cao.

Trong dài hạn, thị trường chứng khoán Mỹ gần như chắc chắn vẫn là một nơi tốt để đầu tư. Tuy nhiên, việc đầu tư trong vòng vài năm tới có vẻ như được đặt trên một nền móng thiếu vững chắc hơn so với những lời khuyến nghị êm tai từ các chuyên gia phố Wall.

Các nhà đầu tư chứng khoán Mỹ hiện nay đang có xu hướng trông mong vào ý tưởng rằng cho nền kinh tế đã đi vào một kỷ nguyên mới của sự tăng trưởng lợi nhuận nhanh chóng. Thông thường thì, việc đầu tư phụ thuộc vào cụm từ “kỷ nguyên mới” thường không mấy khi diễn ra tốt đẹp. Và đây lại là một rủi ro nữa trên thị trường chứng khoán Mỹ.

(Theo NYT - Thứ Sáu, 17/8/2007)
Share:

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

“Nhà giàu” châu Á đầu tư như thế nào?

Các công ty quản lý tài sản gia đình tại châu Á đang đầu tư nhiều hơn vào các tài sản ít thanh khoản như cổ phiếu cá nhân, bất động sản hay các quỹ đầu cơ thanh khoản.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.ViB6tm5mqsW

Không phủ nhận những nhà đầu tư giàu có tại Trung Quốc đại lục và Hồng Kông vẫn ưa thích đầu tư vào TTCK trong nước, song nhiều người đang hạn chế tối đa các rủi ro bằng cách đặt gần một nửa tài sản của mình vào các khoản đầu tư ít biến động hơn như cổ phiếu cá nhân và bất động sản.

Trong báo cáo về chiến lược đầu tư của các công ty quản lý tài sản gia đình mới được Trung tâm nghiên cứu đầu tư Campden Wealth Research và Ngân hàng UBS công bố, sự trồi sụt gần đây trên các TTCK Trung Quốc, song hành cùng sự suy giảm tăng trưởng của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này, đã khiến những người siêu giàu tìm tới các khoản đầu tư có mức độ điều chỉnh tương quan thấp hơn so với các TTCK trong nước, bao gồm danh mục ít thanh khoản như quỹ đầu cơ thanh khoản.

Trung bình, các công ty quản lý tài sản gia đình tại châu Á phân bổ chỉ 5% tài sản vào các quỹ đầu tư thanh khoản trong năm 2014 so với mức tương ứng 9% của toàn cầu. Tuy nhiên, kể từ sau những biến động trên các thị trường trong giai đoạn 9 tháng đầu năm nay, các nhà đầu tư giàu có tại châu Á đang hướng tới những chiến lược khác, có thể tạo thêm các “bộ đệm” cho danh mục đầu tư của mình.

Các công ty quản lý tài sản gia đình được hình thành bởi các gia đình sở hữu hàng trăm triệu USD, số tiền cần được chuyển giao và tái đầu tư từ thế hệ này sang thế hệ khác. Năm ngoái, các gia đình châu Á phân bổ tổng cộng 45% tài sản của họ vào những công cụ đầu tư thay thế ít thanh khoản: cổ phiếu cá nhân (28%), đầu tư bất động sản (12%) và quỹ đầu cơ thanh khoản (5%), theo báo cáo của Campden Wealth Research và UBS.

Trong khi “nhà giàu” châu Á phân bổ lượng đầu tư đáng kể vào cổ phiếu cá nhân, các công cụ đầu tư khác của họ cũng không khác biệt nhiều so với các đối tác toàn cầu. Theo báo cáo, trong năm 2014, tỷ lệ trung bình của toàn cầu là 22% cho cổ phiếu cá nhân, 13% cho đầu tư bất động sản và 9% cho quỹ đầu cơ thanh khoản.

Đây là năm thứ hai liên tiếp UBS cộng tác với Campden Wealth để nghiên cứu về đầu tư của các công ty quản lý tài sản gia đình, trong đó tập trung vào cấu trúc, mục đích và chi phí các khoản đầu tư của họ. Năm nay, có 224 công ty quản lý tài sản gia đình tham gia, trong đó có 35 tại châu Á với khối tài sản trung bình 431 triệu USD. Tại châu Á, khái niệm công ty quản lý tài sản gia đình vẫn tương đối mới, và phần lớn hoạt động không chính thức hoặc như một bộ phận kinh doanh của gia đình.

Trong khi đó, các công ty quản lý tài sản gia đình trên thế giới hiện vẫn chủ yếu sử dụng tiền đầu tư vào thị trường cổ phiếu. Nhìn chung, các công ty quản lý tài sản châu Á theo đuổi xu hướng đa dạng hóa đầu tư theo kiểu “không để trứng vào một giỏ”, phản ánh những lo ngại của họ trong việc duy trì tài sản bền vững cho các thế hệ tương lai. 

Điều này đã tỏ ra có hiệu quả, khi theo khảo sát, họ thu được 6,3% lợi nhuận trên phương diện đồng USD trong năm ngoái, chỉ đứng sau khu vực châu Âu với lợi nhuận trung bình 6,4%. 

Sự biến động của TTCK đã tác động tới lợi nhuận các gia đình trên toàn cầu. Tuy nhiên, nếu nhìn vào các TTCK phát triển theo đánh giá của MSCI World Index, khu vực này chỉ chứng kiến mức sụt giảm trung bình 2,9% năm 2014, so với mức tụt dốc 24% của năm 2013.

Việt Khoa (Theo báo chí nước ngoài) - ĐTCK
Share:

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

Bảy "điểm mù" nhà đầu tư chứng khoán cần chú ý

Trong đầu tư, “điểm mù” khiến nhà đầu tư không thu được kết quả tốt. Điểm mù là những hành vi bất lợi mà ta không biết nhưng người khác lại thấy rõ. Liz Davidson - giám đốc điều hành của Financial Finesse - đã chỉ ra 7 “điểm mù” mà nhà đầu tư thường mắc phải.

1. Quá tự tin vào khả năng đầu tư của mình
 
Tự tin là đức tính tốt nhưng tự tin thái quá sẽ dẫn đến những sai lầm lớn. Trong những năm qua, chúng tôi đã nghe các nhà đầu tư thú nhận họ không nhận lời khuyên của bất kỳ nhà kế hoạch tài chính, một chuyên gia hay tổ chức chuyên nghiệp nào, mọi quyết định đầu tư đều dựa vào nhận xét của riêng họ.

Tuy nhiên, ngay cả những người tự tin nhất cũng tìm ý kiến tham khảo và quan điểm từ một người khác. Thậm chí nhà đầu tư vĩ đại Warren Buffett cũng có cánh tay đắc lực của mình là Charlie Munger.

Do đó, nhà đầu tư nên tìm kiếm một chuyên gia hay tổ chức để vạch ra cho bạn một chiến lược đầu tư, tránh những sai lầm đáng tiếc trong tương lai.

2. Không chú tâm vào đầu tư

Một sai lầm phổ biến nữa mà chúng tôi thường thấy là nhiều nhà đầu tư lập ra chiến lược và phân phối vốn nhưng sau đó bỏ mặc danh mục đầu tư, không xem xét và quản lý nó. Khi thị trường biến động thì tài khoản của bạn cũng thay đổi. 

Nếu thị trường tăng thì danh mục đầu tư sẽ mang về cho bạn khoản kha khá nhưng sự điều chỉnh có thể nhanh chóng lấy đi khoản lợi nhuận này. Vì thế, nếu bạn bỏ bê danh mục đầu tư thì không nắm bắt được cơ hội từ thị trường. Nếu như quá bận hay vì lý do nào khác, hãy giao phó cho nhà môi giới hay tìm công cụ quản lý danh mục đầu tư.

3. “Đóng băng” phân tích

Nhiều nhà đầu tư chia sẻ điểm yếu của mình đó là họ tiến hành phân tích thị trường nhưng quyết định đầu tư không theo chiến lược đã đề ra. Bản thân tôi cũng như thế vì tôi rất thích phân tích. Tuy nhiên, sự thật là chúng ta đã lãng phí thời gian cho việc phân tích khi chiến lược đầu tư không thực hiện.
Trong trường hợp này, nên tìm gặp những người có khả năng và được hỗ trợ tốt bởi các chuyên gia phân tích như các chuyên gia tư vấn, nhà lập định kế hoạch…

4. Thiếu kiên nhẫn để chờ đợi danh mục “đâm chồi - nảy lộc”

Thật đáng tiếc cho những nhà đầu tư thường thoát ra khỏi thị trường nhanh chóng, họ không chỉ bù lỗ cho các cổ phiếu họ bán ra, mà còn tốn phí giao dịch và thuế.

Các nhà đầu tư thiếu kiên nhẫn có thể xem xét viết ra một văn bản về chiến lược đầu tư cụ thể để nhắc nhở ý định ban đầu cho mục đích đầu tư của mình (chẳng hạn chấp nhận bao nhiêu % sẽ chốt lời, bao nhiêu % sẽ cắt lỗ…). Điều này có thể giúp kìm giảm động lực bán ra mà không có lý do cụ thể.

5. Để cảm xúc chi phối hoạt động đầu tư

Đây là một trong những điểm yếu phổ biến nhất và khó khăn nhất để vượt qua khi hoạt động đầu tư đang diễn ra khá tốt.

Trường hợp này thường gặp ở các tài khoản chứng khoán của nhân viên một công ty nào đó do họ có sở hữu cổ phần nhưng quên mất nguyên tắc là không có hơn 15% tài sản trong một công ty cổ phần. Chúng tôi cũng thường thấy điều này ở các khoản đầu tư mà được thừa kế hay nắm giữ đã nhiều năm.
Để khắc phục điều này, có hai chiến lược cần phải cân nhắc: một là tìm kiếm nguồn thông tin về các cổ phiếu khác bên ngoài và thường xuyên xem xét nó; hai là viết ra một văn bản về chiến lược đầu tư cụ thể và cũng đừng quên để mắt tới chúng.

6. Đầu tư theo người khác

Một “điểm mù” nữa mà các nhà đầu tư còn “non” kinh nghiệm hay có là đầu tư theo người khác - những người đã quen chịu đựng rủi ro và đầu tư theo tình hình tài chính của họ thay vì của bạn. Trong nhiều trường hợp, họ khuyên người khác thiết lập danh mục theo họ hoặc phô diễn kiến thức đầu tư thay vì giúp đỡ thật sự.

Vì thế, nếu bạn muốn nhận được lời khuyên đúng đắn trong đầu tư thì hãy đi tìm gặp các nhà hoạch định tài chính chuyên nghiệp - họ sẽ “thiết kế” riêng một chiến lược phù hợp với khả năng chấp nhận rủi ro và mục tiêu tài chính của bạn. Nếu bạn muốn có những hướng dẫn xung quanh các khoản đầu tư thì hãy tham gia một chương trình đào tạo tài chính nào đó.

7. Không buộc lựa chọn đầu tư vào các mục tiêu đầu tư

Hãy tự hỏi đầu tư vì mục đích gì. Điều này nghe có vẻ đơn giản nhưng đóng khung mục tiêu để quyết định phân bổ đầu tư.

Nhiều người cảm nhận được một số điểm yếu của mình khá tốt mà không cần người khác chỉ ra. Nếu được như thế thì bạn cũng cố gắng đưa ra các chiến lược để giảm thiểu chúng. Đó là một điều khá hữu ích.
PHẠM THU HÀ - Tuổi Trẻ (Theo Forbes)

>> Lời khuyên của 10 nhà đầu tư vĩ đại

Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?