Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn đầu tư cổ phiếu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đầu tư cổ phiếu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2017

Những nghề có thể giúp bạn nhanh thành triệu phú

Viết ứng dụng điện thoại, viết sách, kinh doanh, chơi cổ phiếu là những công việc có thu nhập khá hậu hĩnh.

1. Chơi chứng khoán


Chơi chứng khoán có thể giúp bạn thành triệu phú, bởi khi ấy tiền đang làm việc cho bạn. Để thành công trên thị trường cổ phiếu, có hai yếu tố quan trọng. Đầu tiên bạn phải dám chấp nhận rủi ro, thứ hai là phải đủ nhạy bén để nắm bắt và dự đoán chuyển động của thị trường. Để thành triệu phú, bạn sẽ phải mất kha khá thời gian để học hỏi và tích lũy kinh nghiệm, nhưng thành quả thu về sẽ rất tuyệt vời.

2. Viết ứng dụng điện thoại

nhung-nghe-co-the-giup-ban-nhanh-thanh-trieu-phu-1
Gần như ai cũng biết tới trò chơi Flappy Bird ra mắt năm 2014. Đây là một trò rất dễ gây nghiện. Điều đáng nói là tác giả Flappy Bird - Nguyễn Hà Đông chỉ mất 3 ngày để viết xong nó. Game này thành công đến nỗi nó nhanh chóng đứng đầu bảng xếp hạng của cả App Store và Google Play, mang về cho anh 50.000 USD mỗi ngày trước khi bị dỡ xuống.

3. Viết sách

nhung-nghe-co-the-giup-ban-nhanh-thanh-trieu-phu-2
Đầu tiên bạn sẽ phải bỏ công viết một cuốn tiểu thuyết tầm 80.000 chữ, tìm một nhà xuất bản nhìn thấy được tài năng của mình và cho phát hành sách. Việc này khá vất vả. Nhưng một khi cuốn sách đó bán chạy, bạn sẽ kiếm được hợp đồng hàng triệu USD, thậm chí còn có thể bán bản quyền để chuyển thể thành phim.

4. Kinh doanh

nhung-nghe-co-the-giup-ban-nhanh-thanh-trieu-phu-3
Nhìn chung, làm công ăn lương thì khó mà giàu được, bởi lương của bạn có hạn. Nhưng với doanh nhân thì không. Tất cả các tỷ phú trên thế giới, từ Bill Gates cho tới Warren Buffet, đều là doanh nhân.

Bạn không nhất thiết phải có cả một đế chế, mà có thể bắt đầu bằng việc kinh doanh nhỏ lẻ. Nhưng hãy chắc chắn bạn làm việc đó vì niềm yêu thích, chứ không phải vì tiền.

5. Làm đa nghề

nhung-nghe-co-the-giup-ban-nhanh-thanh-trieu-phu-4
Đừng chỉ dựa vào một nguồn thu nhập. Một nghiên cứu cho thấy nếu có từ 3 nguồn thu nhập trở lên, bạn sẽ có nhiều khả năng trở thành triệu phú. Chẳng hạn như vừa buôn bất động sản, vừa chơi cổ phiếu và kinh doanh riêng.

6. Làm video trên YouTube

nhung-nghe-co-the-giup-ban-nhanh-thanh-trieu-phu-5
Không cần bằng cấp, có thể làm việc tại bất cứ đâu và dụng cụ đôi khi chỉ là một chiếc smartphone, bạn vẫn sẽ kiếm bộn nếu tạo được một lượng fan trung thành cùng các hợp đồng tài trợ. PewDiePie, tài khoản chuyên đăng tải các video chơi game với gần 50 triệu người theo dõi, đã kiếm được tổng cộng 15 triệu USD trong năm 2016.

7. Nhân viên ngân hàng đầu tư

nhung-nghe-co-the-giup-ban-nhanh-thanh-trieu-phu-6
Làm việc trong lĩnh vực ngân hàng chưa bao giờ là một ý tưởng tồi, dù điều đó đồng nghĩa với việc bạn sẽ vất vả. Bạn thường sẽ phải làm việc 80-120 giờ mỗi tuần. Nhưng bù lại, tiền thưởng thu về thậm chí còn nhiều gấp mấy lần tiền lương. Theo Forbes, ngay cả một thực tập sinh hè cũng có thể kiếm được 9.400 USD tiền thưởng. Nếu lên vị trí giám đốc, giấc mơ triệu phú sẽ thành chỉ trong nháy mắt.

8. Bác sĩ phẫu thuật

nhung-nghe-co-the-giup-ban-nhanh-thanh-trieu-phu-7
Theo Forbes, một bác sĩ phẫu thuật tại Mỹ có thể kiếm được trung bình gần 360.000 USD mỗi năm. Tất nhiên nghề này sẽ không thể ngay lập tức biến bạn thành triệu phú. Nhưng nếu biết tích lũy, chỉ sau 10 năm bạn sẽ có một tài khoản kếch xù.

9. Thiết kế phần mềm

nhung-nghe-co-the-giup-ban-nhanh-thanh-trieu-phu-8
Nghề này được xem là mang lại mức lương cao nhất trong ngành công nghệ, với khoảng 170.000 USD một năm. Ngoài ra, các kiến trúc sư phần mềm cũng ít khi phải chịu áp lực và luôn được làm việc trong điều kiện rất tốt.

>> Liên hệ Mua bán cổ phiếu - Tư vấn đầu tư - Ủy thác đầu tư
(Theo Vnexpress/ CNBC)

 

Share:

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2016

Học theo Einstein bạn sẽ có một chiến thuật đầu tư chứng khoán siêu đẳng

Nếu như bạn mở tài khoản đầu tư chứng khoán và ngay lập tức mua bán loạn xạ để "học tập", rồi sau đó mới ngồi lại để tìm ra nguyên nhân khiến mình cháy mất tài khoản thì hãy dừng lại đã. Xem Albert Einstein có thể giúp gì không.


 >> 3 bài học thành công từ Einstein, Leonardo Da Vinci và Benjamin Franklin

Albert Einstein có câu nói nổi tiếng: "Nếu tôi có một giờ để cứu thế giới, tôi sẽ dành 55 phút xác định vấn đề và 5 phút thực hiện các giải pháp."

Einstein nói rằng ông muốn dành thời gian của mình một cách khôn ngoan, đặt câu hỏi để hiểu được tường tận vấn đề. Khi làm xong điều đó, ông chỉ cần 5 phút để đưa ra các phương pháp giải quyết vấn đề.

Nhiều nhà đầu tư chứng khoán thường đi ngược lại phương pháp của Einstein. Họ có khuynh hướng mở tài khoản, trading loạn xạ các thể loại, chiêu thức trước. Họ sẽ giao dịch đã đời trong 55 phút đầu tiên và sau đó dùng 5 phút cuối cùng cố gắng tìm ra mình đã sai ở đâu mà cháy mất tài khoản. Nhắm mắt lại và tưởng tượng thiên tài Einstein đang ở bên cạnh khuyên bạn cách đầu tư cổ phiếu, ông sẽ khuyên bạn cách dùng 55 phút đầu tiên như sau:

1/ Bạn phải tích luỹ tài sản trước. Einstein sẽ khuyên bạn khi chơi chứng khoán, giữ tiền quan trọng hơn là kiếm được tiền. Trước khi trade phải nghĩ đầu tiên đến việc mình sẽ mất bao nhiêu tiền nếu trade, chứ không phải mình sẽ lời bao nhiêu tiền.

2/ Tiếp theo, Einstein sẽ hỏi bạn 1 loạt câu hỏi về cách quản lí tiền bạc & bắt bạn phải cam kết làm theo kế hoạch trading mà bạn viết ra giấy trước khi giao dịch. Rất tiếc là ít người có thể lên kế hoạch cụ thể trước khi trade. Mục tiêu của Einstein là muốn bạn hiểu tường tận trade của mình, tại sao mua, thị trường rủi ro như thế nào? Có đáng để mạo hiểm không?

3/ Einstein sẽ hỏi về kĩ năng quản lý của bạn, liệu bạn có ghi lại kĩ càng mỗi lần trade, bao nhiêu tiền, lãi lỗ ra sao và có rút ra bài học gì không.

4/ Câu hỏi tiếp theo Einstein sẽ hỏi bạn là về kiến thức chuyên môn của bạn, kĩ năng ra quyết định. Bạn có đủ kiến thức kinh nghiệm để kiếm tiền từ thị trường chưa?

5/ Bạn sẽ được hỏi về cách trading, cách phân tích thị trường và kết quả backtest của bạn. Liệu bạn có trade ảo cho thật nhuần nhuyễn vũ khí của mình trước khi trade bằng tiền tươi thóc thật không?

6/ Tiếp theo, ông ấy sẽ giám sát các lần trading của bạn để xem bạn có tuân thủ kỉ luật và phương pháp đề ra không.

7/ Cuối cùng, ông ấy muốn biết ý tưởng đầu tư, cổ phiếu bạn chọn đến từ đâu và tư duy như thế nào để chọn nó, tự đánh giá khách quan từ thị trường, chạy theo đám đông hay nghe lời tư vấn.

>> 10 điều nên học từ Albert Einstein
Flowmoney
Theo Trí thức trẻ

Share:

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2016

Vàng đổ gục, chứng khoán 'tiền như lũ'

Bóng đen nặng trĩu kéo dài gần một thập kỷ qua dường như đã được giải tỏa, giúp chứng khoán Việt Nam thăng hoa lên đỉnh cao nhất kể từ cuối quý I/2008. Trong khi đầu cơ vàng đang trải qua một đợt đau thương thì chứng khoán liên tục lập kỷ lục khiến nguồn tiền đầu cơ có thể chuyển hướng.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html

Thăng hoa

Đã rất lâu rồi, TTCK Việt Nam mới có một phiên giao dịch tăng điểm thăng hoa và đầy cảm xúc như hôm 13/7.

Thị trường lạc quan tăng điểm mạnh ngay từ đầu giờ sáng sau khi đón nhận những diễn biến tích cực trên TTCK thế giới và sự suy giảm của giá vàng. Tuy nhiên, mấu chốt của sự hứng khởi trong phiên giao dịch có lẽ không hẳn đến từ đó.

TTCK thực sự bùng nổ sau giờ nghỉ trưa. Từ mức tăng gần 10 điểm, VN-Index liên tục mở rộng đà tăng điểm: 12, 13, 14... rồi 16 điểm. Tới giữa giờ chiều, VN-Index đã tăng gần 17 điểm lên 675,77 điểm, trước khi chốt phiên tăng 16,22 điểm đứng trên 675 điểm.

Đây là một ngưỡng điểm đáng mơ ước với nhiều người bởi trong gần một thập kỷ trước đó, phần lớn thời gian VN-Index loanh quanh trong phạm vi 400-500 điểm, có lúc còn xuống tới 235 điểm (đầu 2009). Có một số thời điểm, VN-Index vượt lên trên 600 điểm nhưng rất thời gian trụ lại rất ngắn ngủi cho dù trước đó 2007 có thời điểm đã lên tới gần 1.200 điểm.
Lần đầu tiên trong gần 9 năm qua, VN-Index vượt lên trên ngưỡng 670 điểm.
Lần đầu tiên trong gần 9 năm qua, VN-Index vượt lên trên ngưỡng 670 điểm.

Dòng tiền đổ vào thị trường dồn dập cho dù rất nhiều cổ phiếu có giá vượt đỉnh mọi thời đại như VIC, VCB, VNM... Một số cổ phiếu thậm chí tăng tới hàng chục lần như cổ phiếu DRH, SHN, TNT, TLT… trong khoảng 2 năm qua. Hàng loạt các cổ phiếu đã lên mức “10 chấm” (hơn 100 ngàn đồng) như: CTD, VCF, BMP, VNM, TRA, NCT, BTP, WCS, VCS, SLS, MAS… VN-Index liên tục vượt đỉnh 8 năm, rồi 8 năm rưỡi.

“Tiền như lũ. Sập thế nào được. Con chị đi con dì lớn, vui quanh năm suốt tháng”, một NĐT chia sẻ.
Thị trường thực sự sôi động đến bất ngờ và tình trạng này mới chỉ diễn ra trong khoảng 2 tuần qua. Trong 5-7 năm trước đó, NĐT hiếm khi nào gặp một phiên tăng mạnh như vậy. Những gì mà họ nghe thấy thường chỉ là: “Bốc hơi vài tỷ USD”, “đỏ rực trước tin dữ”, “thị trường hoảng loạn”, “mất hết thành quả 2015”, “ẩn số Trung Quốc”, “đáy ở đâu”, “ngày đen tối”, “mất điểm kỷ lục”, “chứng khoán vỡ trận”, “cú sốc rơi tự do”, “bão giá dầu”…

Không ít người tỏ ra sốt ruột khi còn cầm tiền trong bối cảnh tiền dân gửi tiết kiệm quá nhiều và nhiều NĐT đã nghĩ tới những kịch bản khó tưởng như giá nhiều cổ phiếu lên tới hàng trăm ngàn đồng như trước kia hay hàng loạt cổ phiếu trụ cột cũng sẽ lên “10 chấm”.

“Biết đâu VCB lên 100 (ngàn đồng), GAS lấy lại mốc 120, 140 bất chấp giá dầu thô xuống 45. CTD có thể lên 300 không chừng”, một NĐT chia sẻ.

Qua rồi thập kỷ đen tối?

Không ít NĐT đã nghĩ tới triển vọng sáng sủa của TTCK sau gần một thập kỷ đen tối. “Giờ khác rồi, không còn như sự cố biển Đông năm nào khiến VNI đi vài chục điểm. Nhân dân tệ hay chứng Trung Quốc sập sàn cũng không hề hấn gì, chứ nói chi tới Brexit, hay cả EU rạn nứt”, ông Nguyễn Văn Tần, một NĐT trên sàn chứng khoán SSI hào hứng.

Trên thực tế, TTCK Việt Nam cũng đã trải qua một số giai đoạn như vậy. Thị trường có thể tăng điểm bất chấp tin vĩ mô không hẳn sáng sủa, tin vi mỗ tình hình hoạt động của DN không phải nổi bật. Nhưng dòng tiền đến, niềm tin đến… thì VN-Index có thể liên tục chinh phục những đỉnh cao mới.

Một tín hiệu đồng thuận với thị trường là nhiều CTCK đưa ra những nhận định khá tích cực về triển vọng tăng điểm của VN-Index.

Trong một báo cáo nghiên cứu vừa đưa ra, CTCK Sài Gòn SSI của ông Nguyễn Duy Hưng cho rằng, trong bối cảnh chung của thế giới, Việt Nam hoàn toàn có thể nới lỏng tiền tệ và đẩy nhanh giải ngân vốn tài khóa để thúc đẩy tăng trưởng trong nửa cuối năm. Nếu vậy, luồng tiền sẽ dồi dào và tạo ra sự tích cực cho TTCK.

Theo SSI, VN-Index không phải ngẫu nhiên diễn biến tích cực trong thời gian vừa qua. Theo đó, dù kinh tế tăng trưởng chậm lại nhưng chính phủ mới đang chứng tỏ quyết tâm hỗ trợ DN. Bên cạnh đó, SSI cho rằng, nhu cầu thị trường ổn định cũng có thể giúp nhiều cổ phiếu, nhiều nhóm ngành tăng trưởng tiếp trong nửa cuối năm như trong lĩnh vực: thủy sản, BDDS, đá xây dựng, thép, cảng, logistics, thủy điện.

Trước đó, trước con sóng lớn ngày 13/7, đại diện một số CTCK thậm chí còn cho rằng, câu chuyện tăng mạnh của TTCK Việt Nam mới chỉ bắt đầu. Nhận định được đưa ra dựa trên cơ sở: quy mô thị trường lớn hơn, chất lượng tốt hơn, sự quan tâm và tham gia sâu hơn của khối ngoại.

Ông Nguyễn Trung Hưng, một NĐT có 10 năm kinh nghiệm trên sàn chứng khoán Vietcombank cho rằng, TTCK tăng điểm là do dòng tiền đang dồn vào đây.

“Dòng tiền thời gian qua vào BĐS nhưng chủ yếu theo nhu cầu thật, tiền không còn dồn vào ngoại tệ như trước đây và cũng chỉ lướt nhanh qua vàng và giờ có lẽ đang chọn chứng khoán như một kênh đầu tư hấp dẫn nhất”, NĐT chia sẻ.

Diễn biến trên thị trường trong 6 tháng đầu năm cho thấy, thanh khoản đang tăng lên, niềm tin của NĐT trong và ngoài nước đã được cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó, tình thế hiện tại cũng đã thay đổi. Nỗi lo sợ về những tác động tiêu cực trong khu vực không còn như trước. Bên cạnh đó, niềm tin vào một chu kỳ phát triển cũng là yếu tố để chứng khoán đóng vai trò không chỉ là hàn thử biểu mà còn là chỉ số dự báo cho tương lai.

Mặc dù vậy, đặc tính bất định của thế giới trong thời buổi hiện nay là yếu tố khiến nhiều NĐT thận trọng.
(Vietnamnet)
>> Thị trường Uptrend, bạn đã biết "Chiến lược đầu tư cổ phiếu cơ bản khi giá vượt đỉnh quá khứ" chưa?

 

Share:

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016

Lỗ hổng margin

Theo luật, các công ty chứng khoán được phép cấp margin tỷ lệ 5:5 cho nhà đầu tư đối với những cổ phiếu đủ tiêu chuẩn. Tức, nhà đầu tư có một đồng tài sản sẽ được công ty chứng khoán cho vay thêm một đồng để mua cổ phiếu đủ chuẩn.

Với chính sách hiện thời về margin, nhà đầu tư có một đồng tài sản có thể được công ty chứng khoán cho vay thêm một đồng để mua cổ phiếu đủ chuẩn. Ảnh TL
 
Với số lượng cổ phiếu đủ chuẩn đang cao ngất ngưởng, cùng với quy định lỏng lẻo về cổ phiếu được phép margin, các đội đánh chuyên nghiệp đang khai thác tối đa lỗ hổng này để sinh lãi, và khuếch trương thanh thế.


Mẹo nhận diện cổ phiếu bị đội lái sử dụng

Có một số mẹo để nhận biết những cổ phiếu được các đội đánh, đội lái sử dụng để thu hút dòng tiền, tạo ra những trò chơi vô tiền khoán hậu và tìm cách hè đổ vỏ lên đầu những công ty chứng khoán, nhà đầu tư cá nhân tay mơ khác.

Thứ nhất, các cổ phiếu có vòng quay cổ phần (share turnover) cao ngất ngưởng. Tiêu chí này được tính bằng cách lấy khối lượng giao dịch một thời gian đem chia cho khối lượng cổ phiếu lưu hành. Người ta thường sử dụng tiêu chí này để đo mức độ thanh khoản của một cổ phiếu. Theo đó, vòng quay cổ phần càng cao cho thấy thanh khoản cổ phiếu đó tốt và ngược lại. Trên thị trường Việt Nam thời gian qua xuất hiện những cổ phiếu có vòng quay vốn cổ phần lên đến gần 3,5 lần trong một tháng, nghĩa là chỉ trong vòng một tháng, tổng khối lượng cổ phiếu giao dịch gấp 3,5 lần so với tổng khối lượng cổ phiếu lưu hành. Một doanh nghiệp, mà lượng cổ phiếu trao tay khủng khiếp như vậy sẽ đặt dấu chấm hỏi lớn về độ ổn định quản trị.

Thứ hai, các cổ phiếu có mức độ pha loãng kinh hoàng. Trong nghiên cứu của chúng tôi, có một sợi dây liên hệ rất mật thiết giữa những cổ phiếu có vòng quay cổ phần cao và mức độ tăng vốn lớn. Theo đó, những cổ phiếu có vòng quay cổ phần cao thường có lịch sử phát hành phi mã, cổ phiếu pha loãng không tưởng. Có những cổ phiếu chỉ có quy mô vài chục tỉ đồng vốn góp vào năm 2013 nhưng đến nay, con số đó đã lên vài trăm tỉ đồng, cá biệt có doanh nghiệp chỉ vỏn vẹn 1 tỉ đồng vào năm 2013 nhưng nay đã là 200 tỉ đồng.

Thứ ba, lịch sử tăng vốn khủng khiếp lại không đi kèm với sự cải thiện các chỉ số hiệu quả hoạt động. Hầu hết những doanh nghiệp này thường có tỷ suất sinh lãi trên vốn cổ phần rất thấp, chỉ vài phần trăm. Điều đó, phần nào cho thấy hiệu quả sử dụng đồng vốn không theo kịp tốc độ tăng của vốn.

Thứ tư, rất nhiều cổ phiếu trong danh sách này luôn nằm sẵn trong tay các môi giới, họ cố gắng đẩy các cổ phiếu đó từ công ty chứng khoán này sang công ty chứng khoán khác, ẩn dưới mỹ từ “deals vài chục tỉ, deals vài trăm tỉ”. Nếu đã là một thành viên có liên quan đến các bộ phận môi giới các công ty chứng khoán, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên về mức độ xuất hiện những “deals” được chào từ các cổ phiếu nằm trong danh sách bên trên.


Cách thức hoạt động

Một nhóm nhà đầu tư mua và sở hữu một lượng lớn cổ phiếu của một công ty không có gì đặc sắc. Vì là công ty không đặc sắc nên giá sẽ rất rẻ (nhiều người gọi vui là “cổ phiếu rau muống”). Sau khi mua đủ số lượng, nhóm nhà đầu tư này sẽ cố gắng đẩy giá cổ phiếu và tạo thanh khoản nhằm thu hút nhà đầu tư mới, cũng như dư luận. Có một điều kỳ lạ trên thị trường chứng khoán, đó là, khi một cổ phiếu tăng giá mạnh, nhà đầu tư sẽ nhìn vào đó, cổ phiếu đó luôn có mặt trong danh sách tăng giá mà các công ty chứng khoán tổng kết năm. Và nó như một luồng thông tin cộng hưởng tự phát, cứ lan tỏa một cách miễn phí.

Khi giá cổ phiếu lên một vị thế mới, thường phải gấp đôi, gấp ba giá ban đầu, thì những dự án vĩ cuồng bắt đầu được tung ra dưới dạng thông tin ở thì tương lai. Các nhà môi giới hiểu rõ lòng tham của những nhà đầu tư tay mơ, lấy các cổ phiếu đó làm ví dụ cho việc kiếm tiền dễ dãi. Câu chuyện đi bán đã có sẵn trong tay, và nó chính là câu chuyện mà nhóm nhà đầu tư ban đầu thêu dệt. Các bạn môi giới bỗng trở thành những đại sứ thông tin tốt bụng và cực dễ dãi.

Một lớp nhà đầu tư mới mua vào cổ phiếu, và giá cổ phiếu giờ đây có thể đã tăng lên gấp năm, gấp bảy lần so với ban đầu. Nhóm nhà đầu tư cũ sẽ toan tính một con đường mới, vừa giúp tiếp tục tận dụng lỗ hổng để sinh lãi và vừa khuếch trương thanh thế trên thị trường chứng khoán. Khi đó, M&A một doanh nghiệp khác là một ý không tồi.


Lỗ hổng margin ở đâu?

Nếu không nhờ margin từ các công ty chứng khoán, quá trình tạo thanh khoản và nâng giá sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Nếu nhóm nhà đầu tư này chỉ bỏ ra 20 tỉ ban đầu thì theo luật, công ty chứng khoán cho vay tiếp 20 tỉ để nhóm nhà đầu tư này mua cổ phiếu. Họ có thể cố tình mua đẩy giá cổ phiếu lên, vì như vậy, họ sẽ được lợi, vì khi giá cổ phiếu tăng, thì tài sản đảm bảo của họ lên giá, và theo nguyên tắc 5:5, công ty chứng khoán tiếp tục cấp thêm sức mua cho nhà đầu tư này mua thêm cổ phiếu.

Và cứ thế, khi giá cổ phiếu tăng gấp đôi, nhà đầu tư từ chỗ ban đầu chỉ bỏ ra 20 tỉ đồng đã sở hữu tài sản lên đến 80 tỉ đồng; trong đó, 20 tỉ đồng là nợ vay cũ, tài sản có của nhà đầu tư nâng lên 60 tỉ đồng.

Không dừng lại ở đó, nhà đầu tư tiếp tục sử dụng margin để nâng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu lên. Giờ đây với vốn tự có 60 tỉ đồng, công ty chứng khoán sẽ cấp khoản vay tương ứng 60 tỉ đồng để nhà đầu tư đi mua cổ phiếu. Như vậy, thương vụ trót lọt, nhà đầu tư đã một bước nâng tài sản từ 20 tỉ đồng lên 120 tỉ đồng chỉ sau một thời gian.

Tôi giả định, 20 tỉ đồng đầu tư ban đầu của nhà đầu tư thực chất cũng chỉ là tiền đi vay mượn. Giờ đây, nhà đầu tư có thể dễ dàng bán ra cổ phiếu đang được thị trường tay mơ săn đón, thu về 20 tỉ đồng trả nợ (giả sử lãi suất = 0 cho đỡ rắc rối). Vậy, nhà đầu tư vẫn đang còn 40 tỉ tài sản tự có, và vẫn vay được 40 tỉ từ công ty chứng khoán để sở hữu 80 tỉ giá trị cổ phiếu công ty, mà bản chất họ đã rút hết vốn đầu tư ban đầu ra rồi.

Tới bước này, nhà đầu tư sẽ có hai cách để thoái vốn và chốt lãi. Cách thứ nhất những nhà đầu cơ tay mơ hay làm, là đi tìm các công ty chứng khoán cũng tay mơ nốt, ký với họ hợp đồng hợp tác tạo thanh khoản (đối với cổ phiếu không nằm trong danh sách margin), hoặc repo cổ phiếu cho công ty chứng khoán để rút tiền ra, mà bản chất là ôm tiền bỏ đi, phần cổ phiếu kia công ty chứng khoán muốn làm gì làm.

Cách thứ hai, cho người chuyên nghiệp và tham lam hơn. Họ sẽ tìm cách để công ty của họ (bản chất cũng là một công ty bị rút ruột như công ty tôi đề cập ở trên) mua lại công ty này với mức giá trên trời. Thông qua thương vụ này, họ thoái vốn hoặc chốt lãi.

Chứng khoán tăng giá, doanh nghiệp được M&A, nhà đầu tư khôn lõi ban đầu rút vốn êm đẹp và lãi khủng. Khi họ đang tận hưởng mùa hè ở Hawaii nhờ tiền margin của các công ty chứng khoán thì ở trong nước, các công ty chứng khoán kia phải bạc tóc nhìn giá cổ phiếu rớt sàn liên tiếp mà không sao bán giải chấp được.
(TBKTSG) 
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán
Share:

Thị trường Uptrend, bạn đã biết "Chiến lược đầu tư cổ phiếu cơ bản khi giá vượt đỉnh quá khứ" chưa?

Chiến lược mua cổ phiếu khi giá cổ phiếu vượt đỉnh trong quá khứ, thoạt nghe có vẻ rủi ro, nhưng trong giai đoạn từ năm 2015 nhiều nhà đầu tư kiếm bộn tiền từ việc đầu tư theo chiến lược này với những mã cổ phiếu có yếu tố cơ bản tốt.
Với chiến lược này, nhà đầu tư chọn ra các cổ phiếu cơ bản tốt, tăng trưởng đều hoặc đột biến về doanh thu và lợi nhuận, lãi cơ bản trên cổ phiếu cao, với mức cổ tức đều đặn hàng năm cao và điều quan trọng là thông tin doanh nghiệp phải minh bạch, đội ngũ lãnh đạo thực sự có tâm với doanh nghiệp.

Sau khi lựa chọn ra các cổ phiếu với các tiêu chí trên, nhà đầu tư bắt đầu quan sát giao dịch, khi có tín hiệu kỹ thuật khối lượng giao dịch lớn giá tăng mạnh vượt đỉnh quá khứ thì bắt đầu mua vào bằng vốn ban đầu của mình. Khi giá cổ phiếu đã tăng vượt quá mức giá mua ban đầu những phiên điều chỉnh lại tiếp tục sử dụng margin tiếp tục mua vào.

Thông thường lựa chọn ra các cổ phiếu có các chỉ số cơ bản tốt không khó, việc khó nhất là thời điểm chốt lời. Để không bị bán hớ những nhà nhà đầu tư theo chiến lược này không quan tâm đến giá cổ phiếu đã tăng bao nhiêu trong quá khứ và không bao giờ đoán đỉnh. Họ chỉ bán cổ phiếu khi doanh nghiệp không còn tăng trưởng, thể hiện ở kế hoạch và kết quả kinh doanh năm thấp hơn năm trước, ngành nghề kinh doanh không còn tăng trưởng.

Đây là chiến lược giúp nhà đầu tư có thể giữ được cổ phiếu tránh những biến động giá hàng ngày trên thị trường. Tuy nhiên, điều này thuận lợi hơn khi thị trường chung đang trạng thái tăng dài hạn (Uptrend).

Chiến lược mua cổ phiếu khi giá cổ phiếu vượt đỉnh trong quá khứ, thoạt nghe có vẻ rủi ro, nhưng trong giai đoạn từ năm 2015 nhiều nhà đầu tư kiếm bộn tiền từ việc đầu tư theo chiến lược này với những mã cổ phiếu có yếu tố cơ bản tốt.

Cổ phiếu của Công ty Cổ phần Xây dựng Cotec (CTD) là một ví dụ điển hình cho sự thành công khi nhà đầu tư áp dụng chiến lược giao dịch này, trong giai đoạn từ năm 2014 đến nay cổ phiếu này liên tục tăng và dường như chưa tìm thấy đỉnh. Doanh nghiệp này có kết quả kinh doanh cực kỳ ấn tượng.

Năm 2015, CTD ghi nhận doanh thu đạt 13.669 tỷ đồng tăng 79,1% so với cùng kỳ và tăng 148% so với kế hoạch. Lợi nhuận sau thuế đạt 666 tỷ đồng ( tăng103% so với cùng kỳ) nhờ vào sự hồi phục mạnh mẽ của thị trường bất động sản phân khúc nhà ở cao cấp.Lãi cơ bản trên cổ phiếu CTD đạt năm 2015 đạt 14.700 đồng, cổ tức hàng năm đều ở mức 30%.


Diễn biến giá CTD trong 1 năm qua
Diễn biến giá CTD trong 1 năm qua
Trong vòng 1 năm nay, giá cổ phiếu CTD đã tăng từ 70.000 đồng lên đến hơn 200.000 đồng một cổ phiếu (tăng hơn 185%)ngoài ra cổ đông còn nhận được một khoản cổ tức 5.500 đồng/ cổ phiếu được thanh toán vào ngày 20/05/2016. Như vậy, nếu nhà đầu tư áp dụng chiến lược giao dịch mua và giữ sẽ thu một khoản lợi nhuận rất lớn với cổ phiếu này.

Một ví dụ khác là cổ phiếu VCS của CTCP Vicostone.


Diễn biến giá VCS trong 1 năm qua
Diễn biến giá VCS trong 1 năm qua
 
Năm 2015, Vicostone đạt 404,6 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế - tăng 90,87% so với năm 2014. Hàng năm, công ty này trả cổ tức bằng tiền với tỷ lệ từ 20% trở lên. Quý 1 năm 2016 công ty công bố kết quả kinh doanh với doanh thu thuần đạt hơn 713,9 tỷ đồng, tăng 35% so với cùng kỳ, lợi nhuận sau thuế quý I/2016 đạt hơn 143 tỷ đồng, gấp 2,2 lần so với cùng kỳ năm trước, lãi cơ bản trên cổ phiếu đạt 8.930 đồng.

Trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm ngoái trở lại đây, giá cổ phiếu VCS tăng từ 20.000 đồng/ cổ phiếu lên 105.000 đồng/ cổ phiếu, tức tăng gấp 5 lần. Như vậy, chiến lược hợp lý là nhà đầu tư sử dụng chiến lược mua và nắm giữ khi giá cổ phiếu VCS vượt đỉnh và sử dụng margin mua thêm khi giá cổ phiếu điều chỉnh trong chu kỳ tăng dài hạn.

Ngoài hai thí dụ điển hình trên, trong khoảng thời gian 1 năm trở lại đây nếu nhà đầu tư áp dụng chiến lược mua các cổ phiếu có kết quả kinh doanh tốt và nắm giữ trong thời gian dài như cổ phiếu CAV, PTB, KSB, HSG, HPG, VNM … sẽ mang lại khoản lợi nhuận tương đối.
(Theo Trí thức trẻ) 
Share:

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

Giới siêu giàu đầu tư vào đâu trong năm 2016?

Bất động sản là kênh đầu tư ưa thích...

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VoqQpU-fesV
Chắc hẳn nhiều nhà đầu tư sẽ nhớ đến năm 2015 với quá nhiều điều bất ổn gây sửng sốt: sự chao đảo của thị trường tài chính, những ngày tháng dài chờ đợi Fed nâng lãi suất, cú lao dốc của giá hàng hóa, nỗi sợ hãi về kinh tế Trung Quốc và cuộc khủng hoảng nợ lại bùng lên ở Hy Lạp.

Các chuyên gia tư vấn và giám đốc đầu tư làm việc cho những nhà đầu tư siêu giàu dự đoán rằng biến động sẽ tiếp tục là xu hướng chủ đạo của năm 2016. CNBC đưa ra những dự đoán của các khách hàng siêu giàu (có tài sản có thể đầu tư từ 25 – 30 triệu USD) về năm sắp tới cũng như kế hoạch đầu tư của những nhà đầu tư siêu giàu.

Sự lệch pha của các NHTW

Năm 2015, chính sách của các NHTW lớn trên thế giới đã trái chiều nhau và điều này sẽ tiếp tục diễn ra trong năm 2016, theo dự đoán của Steven Wieting – chuyên gia đến từ Citi Private Bank. Do đó ông khuyến cáo nhà đầu tư nên tập trung nhiều hơn vào rủi ro trong năm tới. “Năm 2015, mọi thứ mới chỉ bắt đầu và do đó sẽ chưa kết thúc”.

Trong khi Mỹ nâng lãi suất, ECB vẫn tiếp tục nới lỏng tiền tệ khi giảm lãi suất tiền gửi xuống -0,3% và mở rộng chương trình mua tài sản đến ít nhất là tháng 3/2017. NHTW Anh vẫn chưa nâng lãi suất dù đã rục rịch và Nhật Bản lại đang tiếp tục chương trình mua tài sản khổng lồ.

“Chào đón” Trái phiếu Kho bạc

Citi Private Bank đã giảm tỷ trọng cổ phiếu trong danh mục từ mức 5,5% xuống 3,5%, đồng thời tăng lượng tiền mặt và tài sản mang lại thu nhập cố định. Động thái giảm thiểu rủi ro này phản ánh quan điểm cho rằng đà phục hồi của kinh tế Mỹ đang đi trước thời đại.

Đặc biệt, Citi ngày càng có thái độ tích cực hơn đối với trái phiếu kho bạc Mỹ, với dự đoán Fed sẽ tăng lãi suất theo cách rất chậm chạp trong những tháng tới.

Wieting cũng lưu ý rằng nhóm khách hàng siêu giàu có xu hướng đầu tư dài hạn hơn so với những người khác, mặc dù điều này không đồng nghĩa với việc họ sẽ miễn nhiễm với các cú sốc khiến thị trường chao đảo.

Phòng vệ

Mức độ biến động quá mạnh của thị trường trong năm 2015 có nghĩa là các khách hàng sẽ cởi mở hơn với các công cụ phòng vệ bất thường, theo chuyên gia Simon Smiles đến từ ngân hàng UBS.
Mặc dù vẫn chưa phải là một phần đáng kể trong danh mục của nhà đầu tư, các giải pháp phức tạp hơn như sử dụng hợp đồng phái sinh hoặc chỉ số VIX (đo mức biến động của thị trường) trở nên phổ biến hơn.

“Cách đây 3,4 năm, không nhiều người quan tâm đến những chiến lược phòng vệ phức tạp. Bây giờ mọi thứ đã khác”, Smiles nói.

Bất động sản là kênh đầu tư ưa thích

Bất động sản tiếp tục là loại tài sản mà nhà đầu tư tìm kiếm nhiều nhất. Smiles cho biết cách phổ biến mà các khách hàng siêu giàu đầu tư vào bất động sản là những thương vụ mà trong đó một nhóm nhà đầu tư sẽ cùng rót tiền để thực hiện một vụ thâu tóm. Trong khi đó, những khách hàng nhỏ hơn có xu hướng tiếp cận thông qua các công ty vốn cổ phần tư nhân.

“Các khách hàng lớn nhất ở châu Á đang hỏi về đất đai, nhà cửa và các chuỗi khách sạn ở châu Âu. Một phần là bởi họ muốn đem thương hiệu về Trung Quốc”.

Công ty tư vấn bất động sản Colliers International ước tính rằng khoảng 400 tỷ USD có thể chảy vào bất động sản trong 3-5 năm tới, trong bối cảnh nhà đầu tư tìm kiếm loại tài sản mang lại thu nhập ổn định và muốn đa dạng hóa danh mục.

Các tài sản thay thế

Theo Wieting, các khách hàng siêu giàu cũng cởi mở hơn đối với các tài sản thay thế, bao gồm các quỹ đầu cơ, vốn cổ phần tư nhân và nợ tư nhân.

“Với thị trường tài chính đã bước sang giai đoạn sau của chu kỳ, giá trị của nhiều loại tài sản đang ở gần mức kỷ lục trong khi mức độ biến động ngày càng tăng. Điều này khiến một số tài sản thay thế tăng tính hấp dẫn”.

Nói không với dầu hoặc vàng

Giá dầu đã giảm khoảng 30 – 35% trong năm 2015, trong khi “hầm trú ẩn an toàn” truyền thống là vàng cũng đã giảm 17% so với mức đỉnh hồi tháng 1.

UBS đã giảm tỷ trọng đầu tư cho hàng hóa xuống còn 0% từ 2 năm trước. Smiles cho biết rất nhiều nhà đầu tư đã tháo chạy khỏi vàng.
Thu Thu
Theo Trí thức trẻ/CNBC 
Share:

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

John Paulson: Biết mình, biết thời thế


http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VhoiIm5mqsW

Nước lặng là nước sâu

Trước khi có được phi vụ đầu cơ để đời của mình, John Paulson cũng đã hành nghề đầu cơ được hơn chục năm. Sinh năm 1956 tại New York, Paulson theo học tại Trường Đại học Tổng hợp New York và sau đó tốt nghiệp Trường Đại học Haward. Những kiến thức lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn cần có để sau này tự khẳng định mình trong thế giới đầu cơ được Paulson tích lũy ở trường học và qua quá trình giúp việc cho những nhân vật gội cạo của thế giới tài chính như Leon Levy trong công ty Odyssey Partners, cho ngân hàng Bear Stearns và tập đoàn đầu tư tài chính Gruss Partners.

Giống như rất nhiều cư dân của thế giới đầu cơ khi khởi nghiệp, Paulson nhanh chóng nhận ra rằng, nếu chỉ làm công ăn lương thôi hoặc nếu chỉ trông cậy vào khoản tiền thưởng hay hoa hồng sau mỗi phi vụ kinh doanh thành công thì không thể nhanh chóng trở nên giàu có. Muốn kiếm tiền nhanh thì phải có gan liều và chấp nhận rủi ro.

Trong quan niệm của Paulson, khái niệm “đầu tư“ chỉ là mỹ từ đánh lừa nhận thức bởi thực chất của đầu tư là đầu cơ, là bỏ tiền ra nhằm vào cái gì đó hiện chưa chắc có thành hiện thực trong tương lai hay không. Bài học đó Paulson học được khi còn đang làm thuê cho ngân hàng Bear Stearns và gặp nhà đầu tư tài chính Marty Gruss, chủ tập đoàn Gruss Partners. Paulson chuyển sang làm việc cho Gruss để rồi năm 1994 thành lập công ty đầu tư riêng với tên gọi Paulson & Co, với vài nhân viên và 2 triệu USD huy động được. Paulson gõ cửa bước vào thế giới đầu cơ năm đó và có thể nói Marty Gruss là người đã quyến rũ Paulson đến với thế giới đầu cơ.

Paulson cũng học được luôn từ Marty Gruss triết lý đầu cơ: “Hãy để ý đến xu thế giảm, còn xu thế tăng thì tự nó sẽ đến". Có nghĩa là: Hãy đi tìm, hãy phát hiện và thậm chí hãy gây dựng xu thế giảm giá trên thị trường, còn tăng trở lại chỉ là vấn đề thời gian. Vì sử dụng tiền của kẻ khác nên Paulson ở thời kỳ đầu không dám mạo hiểm, không đầu cơ vào bất cứ cái gì liên quan đến bất động sản mà thuần túy chỉ đầu cơ vào thành công hay thất bại của các vụ hợp nhất công ty. Đầu cơ như vậy gặp ít rủi ro, không phải chờ đợi lâu mới có được kết quả.

Công ty của Paulson cứ tà tà như thế và trong vòng gần 10 năm biến Paulson thành triệu phú. Nước lặng là nước sâu, đứng trong bóng tối quan sát sự việc xảy ra ở khu sáng, low profile – hight profit là những phương châm chi phối toàn bộ công chuyện kinh doanh của Paulson. Paulson luôn ý thức được mình là ai và muốn gì. Cũng vì thế mà Paulson như thể chìm nghỉm trong thế giới đầu cơ. Cho tới năm 2005.

Trường kỳ mai phục

Sau 11 năm khám phá thế giới đầu cơ từ bên trong và khi vững vàng về tài chính rồi, Paulson mới mon men đầu cơ mạo hiểm hơn. Giữa năm 2005, Paulson cho rằng kinh tế Mỹ tăng trưởng không năng động và bền vững như thiên hạ tưởng và vì thế tập trung đầu cơ vào sự giảm giá của cổ phần các doanh nghiệp.

Nhưng tỷ giá chứng khoán ở Mỹ vẫn cứ tiếp tục tăng cho tới cuối năm 2005. Paulson bị mất rất nhiều tiền, nhưng đổi lại được bài học kinh nghiệm quý giá là không thể tin cậy được vào thông tin của kẻ khác, vào đánh giá, nhận định và dự báo của kẻ bên ngoài cũng như lại phải trở lại với bài học sơ đẳng nhất trong nghiệp vụ đầu cơ là “điều chắc chắn nhất là chẳng có gì chắc chắn cả“, “quy luật quan trọng nhất là chẳng có quy luật nào cả“ và “nguyên tắc tối thượng là cái gì cũng có thể xảy ra“

Paulson lập ra bộ máy nghiên cứu phân tích riêng. Paulson yêu cầu cộng sự trả lời câu hỏi: “có thể đầu cơ vào đâu?“.  Và Paulson mai phục từ giữa năm 2005.

Chiến lược đầu cơ của Paulson rất phức tạp về kỹ thuật, nhưng lại rất đơn giản về ý tưởng. Paulson cho rằng diễn biến trên thị trường bất động sản ở Mỹ rất không bình thường và sự gia tăng trên thị trường này không thể cứ kéo dài được mãi. Các ngân hàng thương mại cho vay tín dụng với lãi suất ưu đãi để khách hàng mua hoặc xây nhà, bảo lãnh bằng chính bất động sản đó. Paulson nhận thấy ở đấy chính là rủi ro không trả lại được tín dụng hay nói đúng hơn là cấp phát tín dụng không được bảo lãnh tốt. Một khi giá bất động sản sa sút thì sẽ tạo phản ứng dây chuyền khiến rất nhiều ngân hàng liên quan bị ảnh hưởng. Các ngân hàng đầu tư mua lại những chứng chỉ cho vay tín dụng không được bảo lãnh chắc chắn nói trên, gộp chúng lại thành những loại chứng khoán khác nhau và kinh doanh chúng như những hàng hóa bình thường khác trên thị trường chứng khoán. Chúng được gọi chung dưới cái tên “Collateralized Debt Obligations – CDO“.

Những ai mua CDO thường phải sử dụng cái gọi là Credit Default Swaps (CDS) giống như một hình thức bảo hiểm cho trường hợp không thể thanh toán được CDO. CDS nhờ thế chiếm vị trí then chốt trong chiến lược đầu cơ của Paulson. Khi mọi chuyện xuôn sẻ thì giá của CDS rất rẻ, nhưng khi rủi ro không thanh toán được tín dụng tăng thì giá của CDS rất đắt. Paulson mua những CDS ấy với giá rẻ và chờ chúng tăng giá vì tin rằng sớm muộn thì thị trường bất động sản ở Mỹ cũng sẽ sụp đổ.

Trong lúc mọi người dồn của nhằm vào tăng giá bất động sản thì Paulson lại đầu cơ ngược lại. Chừng nào giá bất động sản còn tăng thì chừng đó Paulson còn thua lỗ. Nhưng Paulson vẫn kiên trì mai phục. Từng loại chứng khoán và tín dụng được mổ xẻ và phân tích, theo dõi và dự báo kỹ càng. Kết luận của Paulson là rủi ro không thanh toán được tín dụng lớn hơn và thực tế hơn nhiều so với những đánh giá và dự báo của các hãng đánh giá và dự báo lừng danh nhất. Paulson coi đó là “cơ hội mà tôi đã chờ đợi cả cuộc đời”.

Tín hiệu báo động đầu tiên xuất hiện vào tháng 1/2006. Ngân hàng Ameriquest phải trả cho 49 bang ở Mỹ 325 triệu USD để tránh bị lôi ra tòa về tội gian dối trong cấp phát tín dụng. Paulson coi đó là sự khẳng định dự báo của mình. Với tất cả tài sản có được và số 150 triệu USD vốn huy động được thêm từ các nhà đầu tư, Paulson lập Paulson Credit Opportunities Fund để đầu cơ vào sự sụp đổ của thị trường bất động sản ở Mỹ. Cho tới giữa tháng 6/2006, Paulson vẫn còn bị mất tiền.

Nhưng những gì xảy ra sau đó thì đúng hệt như suy tính của Paulson. Bear Stearns sụp đổ. Khủng hoảng tài chính bung ra và Paulson thu về 3,7 tỷ USD trong năm 2007, vượt xa kỷ lục do George Soros lập với 2,9 tỷ USD thu nhập trong năm hay James Simons trước đó với 2,8 tỷ USD. Và thế giới đầu cơ lộ diện thêm một ngôi sao mới. Về sau, có lần Paulson khái quát hóa bí quyết thành công của mình là kiên trì, biết mình và biết thời thế. Nghe đơn giản vậy thôi mà đã có mấy kẻ thực hiện thành công như Paulson đâu.
 Vef
>> John Paulson: Từ dân buôn cò con thành siêu tỷ phú

Share:

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Chứng khoán Mỹ tăng nhẹ, ghi nhận tuần tăng mạnh nhất trong năm

Phiên 9/10, chứng khoán Mỹ tăng nhẹ với S&P chốt tuần tốt nhất từ đầu năm khi giới đầu tư chờ báo cáo lợi nhuận quý III của các công ty Mỹ.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VgSxDn2fdFp

Cả tuần chỉ số S&P 500 tăng 3,3%, ghi nhận tuần tăng tốt nhất kể từ tháng 12/2015 khi giới đầu tư lấy lại niềm lạc quan sau thời gian biến động mạnh từ cuối tháng 8 do lo ngại về tăng trưởng kinh tế toàn cầu và bất ổn về việc nâng lãi suất của Mỹ.

Giới đầu tư cũng đang đánh giá mức độ ảnh hưởng của USD mạnh và lo ngại về tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đến các công ty Mỹ.

Kết thúc phiên giao dịch, chỉ số Dow Jones tăng 33,74 điểm, tương ứng 0,2%, lên 17.084,49 điểm, chỉ số S&P 500 tăng 1,46 điểm, hay tăng 0,07%, lên 2.014,89 điểm và chỉ số Nasdaq Composite tăng 19,68 điểm, tương đương 0,41%, lên 4.830,47 điểm.

Cả tuần, Dow Jones tăng 3,7% trong khi Nasdaq tăng 2,6%.

Khối lượng giao dịch phiên cuối  tuần khá thấp với 6,77 tỷ cổ phiếu được trao tay trên các sàn chứng khoán Mỹ, thấp hơn so với 7,52 tỷ cổ phiếu bình quân trong 20 phiên vừa qua, theo số liệu của Thomson Reuters.

5 trong 10 lĩnh vực chính S&P 500 theo dõi giảm điểm trong phiên 9/10, dẫn đầu là lĩnh vực năng lượng với mức giảm 0,7% khi giá dầu tăng không đáng kể. Cổ phiếu tài chính giảm 0,6%.

Cổ phiếu tài chính ghi nhận hoạt động tồi tệ nhất trong phiên cuối tuần khi giới đầu tư tiếp nhận thêm những dấu hiệu “chủ hòa” trong biên bản họp chính sách tháng 9 của Fed, công bố hôm thứ Năm 8/10. Các nhà hoạch định chính sách Fed đã quyết định giữ nguyên lãi suất trong tháng phiên họp tháng 9 và biên bản cuộc họp cho thấy, họ muốn có thêm bằn chứng cho thấy kinh tế toàn cầu giảm tốc không ảnh hưởng đến quá trình hồi phục của kinh tế Mỹ.

Cổ phiếu tài chính sẽ là tâm điểm trong tuần tới khi Goldman Sachs, Bank of America và các ngân hàng lớn khác công bố kết quả lợi nhuận quý III.
Phan Nguyễn
Nguồn Reuters

Share:

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

Nhóm cổ đông lớn tại MBB gồm những ai?

Với việc phát hành riêng lẻ thành công nâng vốn lên 16,000 tỷ đồng, cơ cấu cổ đông tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội (HOSE: MBB) đã có sự biến đổi khá lớn.

Cụ thể, nhằm mục đích đầu tư, Tập đoàn Viễn thông Quân đội đã mua thành công 60,873,667 cp MBB từ đợt phát hành riêng lẻ, nâng tổng sở hữu lên 240 triệu cp, ứng với 15% vốn. Công ty con của tổ chức đầu tư này là Công ty TNHH Nhà nước MTV Thương mại và xuất nhập khẩu Viettel hiện cũng đang sở hữu 4.64% vốn MBB. Như vậy, tổng sở hữu của nhóm Viettel là 19.64% vốn điều lệ MBB.

Tiếp theo, Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam - Công ty TNHH đã mua 71,428,571 cp, nâng tỷ lệ sở hữu lên 7.97%. Các công ty con và người có liên quan đến Tổng công ty Trực thăng Việt Nam đang nắm giữ với số lượng gần 30 triệu cp tức 1.83% vốn. Tổng cộng nhóm này đang sở hữu 9.8% vốn, ứng với hơn 156 triệu cp.

Nhân tố mới, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) cũng đã mua 160 triệu cp Ngân hàng TMCP Quân Đội (HOSE: MBB) trong đợt phát hành riêng lẻ, chiếm tỷ lệ 10% vốn.

Nhóm MaritimeBank sở hữu 8.96% vốn MBB gồm MaritimeBank sở hữu trực tiếp 140,796,838 cp MBB (tỷ lệ 8.8%) và gián tiếp qua CTCP Quản lý quỹ Tín Phát 2,611,980 cp (tỷ lệ 0.16%).

Cũng trong đợt phát hành riêng lẻ, Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn đã mua 71,428,571 cp MBB, ứng với 7.65%.

Cuối cùng, Vietcombank nắm giữ 114.5 triệu cp MBB, ứng với tỷ lệ 7.16% vốn.
Tổng kết lại, riêng 5 nhóm cổ đông lớn trên đã sở hữu 63.21% vốn MBB.

 
Phương Thảo - Vietstock 
>> Khối ngoại mua thỏa thuận hơn 40 triệu cổ phiếu MBB ngay khi hở room
>> MB 9 tháng lãi 2.400 tỷ đồng, bán xong nợ cho VAMC

Share:

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Nhà đầu tư 14 năm kinh nghiệm: “Chơi chứng khoán không có tí liều thì khó giàu!”


Chị Đ.H.L là một trong số ít nhà đầu thích ngồi sàn “dòm” bảng điện hơn là lướt mạng bằng thiết bị di động đã trở thành trào lưu. Gặp chị sau 15h, thời điểm kết thúc phiên giao dịch chứng khoán, chị bảo có gì đâu mà chia sẻ bởi những điều chị áp dụng hầu như ai cũng biết, có điều mình có thực hiện được hay không thôi.

Dưới đây là những chia sẻ của chị với phóng viên BizLIVE về những kinh nghiệm đầu tư trên thị trường chứng khoán.

Nguyên tắc là không để mất vốn

Chào chị! Chị bắt đầu tham gia thị trường cụ thể từ thời điểm nào?

Tôi chơi chứng khoán từ khi thị trường thành lập những năm 2000.

Vậy là chị đã giao dịch trên TTCK đã 14 năm. Lý do để chị gắn bó với nó?

Từ năm 2000 tôi thấy kênh chứng khoán thứ nhất là sinh lời nhiều. Thời điểm đó chỉ cần mua được cổ phiếu là có lãi, mà những cổ phiếu thời kỳ đầu lên sàn là những cổ phiếu tốt, chỉ có mười mấy mã, thậm chí người ta không cần biết mã gì chỉ cần mua là có lãi. Thì đầu tiên mình thấy lãi thì ham.

Thời gian thị trường giảm từ khoảng năm 2010 đến 2012 chị có còn tham gia?

Nói là thị trường giảm thì cũng không đúng. Giảm hay không giảm nếu nhà đầu tư biết mua bán thì vẫn kiếm lời được. Làm được đồng tiền ra khó giữ được đồng tiền càng khó hơn. Nguyên tắc là phải giữ được vốn và vào các năm này năm nào tôi cũng vẫn có lãi.

Chị có thể chia sẻ chiến lược đầu tư của chị được không?

Có thể tôi có thuận lợi là bước chân vào thị trường từ những ngày đầu mới hoạt động. Giai đoạn từ 2005 đến giữa năm 2007 tôi kiếm được “khá” và từ đó tới giờ vẫn chưa để mất vốn. Việc đầu tư tùy vào mỗi người, nếu đầu tư vào hết và mất hết thì khó dám tự tin để mua vào tiếp. Mình may mắn là không bị mất vì thời điểm 2007 mình bán ra thì là họ bắt đầu nhảy vào mua.

Chị có tìm tòi, phân tích hay nhờ bộ phận phân tích, môi giới ở CTCK?

Tôi tự phân tích, nghiên cứu, đọc sách, kết hợp. Thường lớp người như tôi thì ít nghe theo môi giới bởi môi giới thường là những người trẻ, ít trải qua thăng trầm nên khó mà đưa ra được những nhận định đúng, nhưng quan trọng là may rủi nữa!

Đầu tư chứng khoán bây giờ đã khác trước nhiều?

Mỗi một thời kỳ mỗi khác nhau. Chẳng hạn năm 2006 lúc đó cổ phiếu còn ít, cũng có những đợt xuống rất mạnh nhưng lên thì lên hết mà mình không mua nổi. Còn giờ cung quá nhiều, nên nhà đầu tư phải lựa chọn, đồng tiền đi theo người này người  kia mua đẩy giá cổ phiếu lên. Nhà đầu tư giờ cũng khác, họ trưởng thành hơn, trải qua thời kỳ khủng hoảng tiền kiếm khó khăn nên họ cũng biết bảo vệ đồng tiền. Có những thời kỳ đầu một ngày kiếm 1 triệu rất khó nhưng cũng có những ngày kiếm 100 triệu rất dễ..

Nguyên tắc đầu tư của chị?

Với chứng khoán, nếu bạn đặt kế hoạch lời, lỗ bao nhiêu phần trăm thì đơn giản. Nhưng thường lại không đơn giản vì khó kiềm chế lòng tham. Với những ngành nghề kinh doanh lãi khoảng 15% là có thể được, thảnh thơi vì công ty đạt kế hoạch. Nhưng chứng khoán lại khác, nhiều khi đạt rồi nhưng thấy lên thì vẫn muốn lên hơn nữa nên nhiều khi chết ở chỗ đấy!
Chị có thói quen ngồi "dòm" bảng điện tại CTCK - Ảnh minh họa. 

Chơi chứng khoán phải có tính liều

Khoảng thời gian chị đầu tư thành công nhất cũng như “te tua” nhất?

Từ tháng 8/2006 đến tháng 3/2007 là khoảng thời gian tôi đầu tư thành công nhất. Tôi ít có khái niệm te tua tại vì trong thời điểm khó khăn tôi luôn để lại một phần và rút sang kênh khác. Bởi nguyên tắc không để mất vốn vì còn vốn là còn có thể làm ăn.

Thời điểm này chị nhận thấy chứng khoán thế nào?

Tôi thấy thời điểm này và 2015 chứng khoán là kênh đầu tư tốt nhất, còn sau đó thị trường có thể ổn định rồi thì khó lên thêm nữa được. Nên ai có tiền thì nên đầu tư nhưng phải chọn lọc cổ phiếu.

Nhưng đâu phải ai cũng biết chơi chứng? 

Chứng khoán là kênh huy động vốn hiệu quả, có điều bản chất thị trường mình vẫn còn sơ khai nên còn chịu tác động của nhiều yếu tố. Nhưng chính lúc này mới là cơ hội để kiếm tiền. Nếu anh có tiền và không biết nhiều về chứng khoán thì có thể lựa chọn những cổ phiếu có cổ tức tốt.

Chị có sử dụng đòn bảy không?

Tôi là người luôn sử dụng margin nhưng nếu thị trường chuyển nóng thì chuyển sang “con” không margin để nếu giảm thì giảm nhẹ hơn thị trường.

Hiện thị trường tỷ lệ sử dụng margin cũng khá cao, rủi ro theo đó cũng lớn?

Mua bán chứng khoán mà có chữ sợ thì không nên đầu tư. Theo tôi sợ hay không sợ cũng tùy từng người. Nếu mình mua giá không cao thì không sợ còn tham mua giá cao….

Chị có lưu ý gì khi sử dụng margin?

Khi nào thị trường tốt thì nên sử dụng nhiều và ngược lại thì không nên nhưng dù gì thì cũng không nên mua hết tiền, trong trường hợp xấu thì phải cắt ngay lập tức. Khi có lợi nhuận bán rất dễ nhưng cắt lỗ mới khó nên muốn thành công thì phải biết cắt lỗ.

Chị có tham gia lướt sóng chứ?

Có chứ. Tôi là người đánh theo sóng. Chơi chứng khoán mà không có tí liều thì khó làm giàu!

Thị trường giảm là lúc được nghỉ ngơi!

Đến giờ chị thấy chứng khoán mang lại cho mình những gì?

Ngoài ngành nghề kinh doanh chính thì chơi chứng khoán chưa biết lợi nhuận mang lại bao nhiêu nhưng tôi thấy đã có thêm được nhiều kiến thức.

Chơi chứng khoán, bạn sẽ tìm hiểu về tình hình chính trị, kinh tế trong và ngoài nước. Kể cả chồng tôi làm nhà nước cũng tìm hiểu về chứng khoán để những dịp đi công tác, tới nhà máy, công ty nào đó có thể nói chuyện. Chẳng hạn bạn sẽ nắm được thông tin về sắt, thép, xi măng… mà có người quen làm về lĩnh vực này thì có thể nói chuyện, trao đổi được, hỗ trợ trong công việc rất nhiều…

Chị nhìn xung quanh mọi người đầu tư ra sao?

Nhiều người mua được nhà cửa. Thường những người mới vào là những người dễ “chết” bởi vì họ chưa trải qua thời kỳ sóng gió nên họ khó hình dung nó chết như thế nào. Nhưng chính sự thất bại là kinh nghiệm đầu tư sau này.

Chị cảm thấy điểm hạn chế lớn trên thị trường hiện nay là gì?

Tôi thấy lớn nhất là sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty chứng khoán. Ví dụ về tỷ lệ margin nên cho đồng đều theo công bố của UBCK bởi mỗi công ty có mối liên hệ khác nhau, có thể đánh giá cổ phiếu khác nhau…

Ngoài ra còn là việc mua mấy ngày sau mới được bán tức là T+, tôi thấy nó không hợp lý; Cổ tức về thì bị thu thuế…

Khi quyết định mua một cổ phiếu chị thường dựa trên các yếu tố nào?

Tôi sẽ dựa trên xu hướng và phân tích. Trên thị trường thường chia theo ngành, theo quý. Qúy nào thì ngành nào tốt. Thường kinh doanh quý 2 và 3 không có biến động mấy mà thường là quý 1, 4. Hay nước mình đang hội nhập như TPP thì ngành nào được hưởng lợi đầu tiên…  hoặc cổ phiếu nào xuống mãi thì cũng phải lên. Tôi thấy đầu tư cũng không khó. Nếu nhà đầu tư biết kiềm chế  không phải là người ăn thua, đừng bao giờ đi mua đua.

Những người mới chơi thì nên đi theo những người đi trước, trên thị trường chứng khoán ai cũng có thể thua.
Suy nghĩ của chị khi thị trường bước vào đợt giảm?
Đó là lúc được nghỉ ngơi!Xin cảm ơn chị!
HUYỀN TRÂM - Bizlive
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán

Share:

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

Người thành công tiêu tháng lương đầu tiên như thế nào?

Nhà đầu tư Warren Buffett sử dụng những đồng tiền đầu tiên kiếm được để mua cổ phiếu còn tỷ phú Mark Cuban lại 'tậu' ngay một đôi giày chơi bóng rổ

Warren Buffett: mua những cổ phiếu đầu tiên

Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett đã bắt đầu xây dựng sự giàu có của mình từ rất sớm. Năm 11 tuổi, ông đã đi giao báo và kiếm được 175 USD/tháng. Sau đó, Buffett sử dụng số tiền này để mua cổ phiếu.

Hiện nay, ông là người giàu thứ 3 thế giới trên bảng xếp hạng của Forbes.

Mark Wahlberg: một chiếc Mercedes

 
Mark Wahlberg đã sử dụng những đồng tiền đầu tiên kiếm được trong lĩnh vực giải trí để mua một chiếc ô tô mới. "Tôi đã dành tất cả tiền để mua chiếc Mercedes-Benz - và sau đó không còn tiền để đăng ký xe, mua bảo hiểm và đổ xăng.

Sau khi đạt được nhiều thành công trong lĩnh vực âm nhạc, điện ảnh và công nghiệp thực phẩm, Wahlberg đang sở hữu khối tài sản trị giá 225 triệu USD. Anh cũng là một trong 10 diễn viên có thu nhập tốt nhất năm 2015 theo thống kê của Forbes.


Mark Cuban: một đôi giày chơi bóng rổ

 
Cuban, ông chủ tỷ phú của Dallas Mavericks bắt đầu kiếm tiền khi mới 12 tuổi bằng cách gõ cửa từng nhà để bán túi đựng rác. Cuban mơ ước có một đôi giày bóng rổ nhưng cha của ông nói rằng nếu Cuban thích nó thì hãy tự kiếm tiền để mua.

Và cậu bé Cuban khi đó đã làm được điều mà cha cậu nói. Hiện nay, Mark Cuban đang sở hữu tài sản trị giá 3 tỷ USD.

Ariel Winter: rất nhiều giày

 
Chia sẻ với tạp chí People vào năm ngoái, nữ diễn viên Winter cho biết cô đã "thổi bay" cả tháng lương đầu tiên vào rất nhiều giày. "Tôi đã mua rất nhiều giày. Tôi yêu chúng.", Winter nói.

Selena Gomez: trả tiền thuê nhà cho gia đình

 
Nữ ca sĩ kiêm diễn viên Selena Gomez đã dùng tháng lương đầu tiên để giúp gia đình cô trang trải tiền thuê một căn hộ tại Los Angeles sau khi họ vừa chuyển tới đây từ Texas.
Tài sản của Gomez hiện nay ước tính khoảng 18 triệu USD.

Kristin Chenoweth: một chú chó xù

 
Ngôi sao Broadway Kristin Chenoweth cho biết cô đã dùng tháng lương đầu tiên của mình để mua một con chó xù Maltese và sau đó đặt tên là Madeline vì cô rất thần tượng Madeline Kahn.

Ngoài ra, Chenoweth cũng hào phóng mua thêm một chiếc ghế ô tô cho chó màu hồng để Madeline có thể an toàn mỗi lần đi chơi cùng cô.


Hiện nay, tài sản của Chenoweth vào khoảng 10 triệu USD.
(Theo NDH) 
>> Vì sao người Pháp làm ít, chơi nhiều, vẫn thành công?


Share:

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Phân tích về 12 nước tham gia Hiệp định TPP

Nền kinh tế Việt Nam có rất ít ảnh hưởng đến những nước tham gia TPP. Điều đó có nghĩa là Việt Nam sẽ là nước được hưởng lợi nhất. Khi các nước thành viên "gỡ bỏ những con đê hàng rào thuế quan" thì hàng xuất khẩu của Việt Nam dễ dàng tiêu thụ hơn.

Có thể nói 2015 sẽ là một năm bận rộn mang tính chất quyết định cho tương lai của nền kinh tế Việt Nam. Đây là năm hình thành những khối tự do mậu dịch với sự tham gia của Việt Nam như Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên hiệp châu Âu (Vietnam – EU AFTA), và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). 

Một trong những công cụ tốt nhất để một quốc gia có thể sử dụng để khuyến khích thêm nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đó là các hiệp định thương mại tự do. Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức khi đàm phán TPP, là một thỏa thuận thương mại tự do đề xuất giữa Hoa Kỳ và 11 đối tác thương mại khác giáp với Thái Bình Dương  gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Đáng chú ý, thỏa thuận này không bao gồm Trung Quốc (tương lai có thể Trung Quốc sẽ tham gia).

Quốc hội Hoa Kỳ đã cho Tổng thống Obama quyền fast-track trong tháng 6/2015, giúp dễ hoàn thành đàm phán TPP vào cuối năm 2015. Thực tế, trong suốt gần hai nhiệm kỳ làm Tổng thống, Barack Obama không có quyền hành này. Trước đó, Tổng thống George W. Bush đã được trao quyền vào năm 2002, nhưng hết hạn vào ngày 30/06/2007. Nếu không có nó thì Tổng thống Barack Obama sẽ gặp không ít khó khăn để thông qua các hiệp định thương mại mới.

TPP sẽ có quy mô nhỏ hơn một chút so với các thỏa thuận thương mại khu vực lớn khác mà Hoa Kỳ đang đàm phán, như Hiệp định Thương mại và Đầu tư Đối tác xuyên Đại Tây Dương (TTIP) giữa Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu. Nhưng TPP sẽ lớn hơn so với các Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), hiện là khu vực mậu dịch tự do lớn nhất thế giới. Điều đó cho thấy sức hấp dẫn của nó đối với Việt Nam khi chính thức là thành viên TPP trong tương lai không xa, việc này sẽ thúc đẩy nhiều dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam. 

Mục đích của TPP là để tăng cường thương mại và đầu tư giữa các nước đối tác, thúc đẩy đổi mới, tăng trưởng kinh tế, phát triển, hỗ trợ việc tạo ra và duy trì việc làm. TPP bao gồm các yêu cầu thương mại mới giải quyết khả năng tương thích của các quy định và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ bước vào hội nhập.

TPP không liên quan đến vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cho là hữu ích hơn cho một quốc gia so với các khoản đầu tư vào cổ phiếu, vì có tiềm năng "tiền nóng" gây vỡ bong bóng, nhưng về lâu dài sẽ thúc đẩy nhiều doanh nghiệp, công ty mới của Việt Nam thực hiện IPO nhằm mở rộng quy mô vốn của thị trường chứng khoán. Trong khi đó, FDI là bền và thường hữu ích cho dù mọi thứ diễn ra tốt đẹp hoặc xấu, nó sẽ là đòn bẩy nâng đỡ và thúc đẩy tiềm năng của thị trường chứng khoán Việt Nam vỗn dĩ có quy mô nhỏ cũng như chưa được mở rộng đúng mức với tiềm năng dân số hơn 90 triệu người.

Đi vào phân tích từng nước về lãi suất, cán cân thương mại, xuất khẩu và nhập khẩu,... Đầu tiên, cần hết sức chú ý về đánh giá tín nhiệm các quốc gia. Đối với Việt Nam, Mexico, Peru, các quốc gia này được các cơ quan đánh giá tín dụng như Standard & Poor’s, Moody's, Fitch Ratings xếp hạng từ BB- cho đến BBB+. Tức là các nước này có nhược điểm về các khoản vay quốc tế với lợi suất trái phiếu đắt hơn và do đó lẽ tất nhiên lãi suất trong nước sẽ cao hơn. 

Các nước Mỹ, Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, New Zealand và Singapore đều có mức tín nhiệm xếp hạng từ AAA đi xuống tới A. Điều đó cho thấy, những nước này chiếm ưu thế và các khoản vay trên thị trường tài chính quốc tế có lợi suất thấp nên lãi suất trong nước của họ được tài trợ thấp hơn, nên doanh nghiệp của họ dễ tiếp cận vốn vay. 

1. Hoa Kỳ: Là nước có nền kinh tế và công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới. Các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, bất động sản, chăm sóc sức khỏe, trợ cấp xã hội, nghề nghiệp, kinh doanh và dịch vụ giáo dục chiếm hơn 40% của GDP. Thương mại bán lẻ và bán buôn tạo ra thêm 12% của sự giàu có. Cung cấp nhiên liệu chiếm 13% của GDP. Tiện ích, giao thông vận tải và kho bãi đóng góp 10% của GDP. Sản xuất, khai thác mỏ và xây dựng chiếm 17% của đầu ra. Đáng chú ý, nông nghiệp chỉ chiếm chỉ 1.5% của GDP nhưng do sử dụng công nghệ tiên tiến nên Hoa Kỳ là nước xuất khẩu lương thực ròng rất lớn. 

Về cán cân thương mại, Mỹ đã bị thâm hụt thương mại từ năm 1976 do nhập khẩu cao sản phẩm dầu và tiêu dùng. Trong những năm gần đây, thâm hụt thương mại lớn nhất được ghi nhận với Trung Quốc, Nhật Bản, Đức và Mexico. Tuy nhiên, Mỹ lại đạt thặng dư thương mại với Hồng Kông, Hà Lan, UAE và Australia. 

Về xuất khẩu, Hoa Kỳ là nước xuất khẩu lớn thứ ba của thế giới, nhưng xuất khẩu chỉ chiếm 13% của GDP. Xuất khẩu chính là hàng hóa vốn (chiếm 39% của tổng kim ngạch xuất khẩu); vật tư công nghiệp (28%); hàng tiêu dùng (12%); xe ô tô, phụ tùng và động cơ (10.5%); thực phẩm, thức ăn và đồ uống (7%). Xuất khẩu đối tác chính của Mỹ là Canada (chiếm tỷ trọng cao nhất là 19% của tổng xuất khẩu), Mexico (14%), Trung Quốc (7%), Nhật Bản (4%), Đức (3%) và Vương quốc Anh (3%).
Về nhập khẩu, Hoa Kỳ là nước nhập khẩu lớn thứ hai trên thế giới. Nhập khẩu chính gồm hàng hóa vốn (chiếm 29%); hàng tiêu dùng (26%); thiết bị công nghiệp (24%); xe ô tô, phụ tùng và động cơ (15%); thực phẩm, thức ăn và đồ uống (5%). Hoa Kỳ nhập khẩu chính từ các nước là Trung Quốc (chiếm 19% của tổng số hàng nhập khẩu), tiếp theo là Canada (14.5%), Mexico (12%), Nhật Bản (6%) và Đức (5%). 

2. Nhật Bản: Quốc gia này là nước xuất khẩu lớn thứ ba trên thế giới xếp sau Trung Quốc và Đức. Kim ngạch xuất khẩu chiếm gần một phần ba sản lượng GDP kinh tế. Lĩnh vực xuất khẩu chính bao gồm sản phẩm công nghệ cao - được xem là động cơ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản kể từ năm 1960. Trong những năm 2013 và năm 2014, xuất khẩu chính là thiết bị vận tải (chiếm 23% của tổng xuất khẩu); các phương tiện giao thông vận tải (15%); máy móc (19%); máy móc điện (17%); hóa chất (11%) và hàng hóa sản xuất (13%). Đối tác xuất khẩu chính của Nhật Bản là Hoa Kỳ (chiếm đến 18.5%), Trung Quốc (18%), Hàn Quốc (7%) và Đài Loan (6%). 

Giữa năm 1980 và 2010, Nhật Bản đạt mức thặng dư thương mại hàng năm. Nhưng kể từ sau thảm họa hạt nhân Fukushima vào tháng 3/2011, nhập khẩu của Nhật đã tăng do sự suy yếu của đồng Yên và tăng mua các loại nhiên liệu hóa thạch và khí đốt. Kết quả là trong năm 2014, thâm hụt thương mại đạt mức tồi tệ nhất trong lịch sử nước này. Trong năm 2014, thâm hụt thương mại lớn nhất được ghi nhận với Trung Quốc, Saudi Arabia, Australia, UAE, Nga và Malaysia. Thặng dư thương mại lớn nhất được ghi nhận với Hoa Kỳ, Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore.

Nhật Bản nhập khẩu chính gồm nhiên liệu khoáng sản (chiếm đến 34% của tổng nhập khẩu); xăng dầu (18%), máy móc (21%); thực phẩm (8%); hàng hóa sản xuất (8%); hóa chất (8%) và nguyên liệu (7%). Từ tháng 3/2011, nhập khẩu nhiên liệu của Nhật Bản đã tăng do việc đóng cửa các nhà máy hạt nhân. Đối tác nhập khẩu chính của Nhật Bản là Trung Quốc (chiếm nhiều nhất với 22%), Hoa Kỳ (8%), Saudi Arabia (6%), UAE (5%) và Qatar (4.5%).

3. Canada: Thương mại quốc tế chiếm một phần lớn trong nền kinh tế Canada với xuất khẩu chiếm lên tới hơn 45% GDP của nước này. Canada là một trong số ít các quốc gia phát triển xuất khẩu ròng năng lượng. Canada cũng xuất xe có động cơ và phụ tùng, máy móc công nghiệp, máy bay, thiết bị viễn thông và điện tử. Hoa Kỳ từ nhiều năm nay là đối tác thương mại lớn nhất của họ, chiếm khoảng 79% kim ngạch xuất khẩu. 

Canada nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các bộ phận, thiết bị điện tử, hóa chất, điện và hàng tiêu dùng lâu bền. Đối tác nhập khẩu chính của Canada là Mỹ, Liên minh châu Âu, Trung Quốc và Mexico.

4. Australia:  Nền kinh tế của Australia bị chi phối bởi ngành dịch vụ nhưng sự thành công kinh tế được dựa trên sự phong phú của tài nguyên nông nghiệp và khoáng sản. Lợi thế so sánh của Australia trong việc xuất khẩu chính là sự phản ánh của lợi thế tài nguyên thiên nhiên và thị trường nội địa nhỏ bé của mình. Đất nước này là một trung tâm tài chính lớn trong khu vực và là một thành phần quan trọng của hệ thống tài chính toàn cầu. 

Rất giàu tài nguyên thiên nhiên, Australia là một nước xuất khẩu hàng hóa quan trọng. Kim loại như quặng sắt và vàng chiếm đến 28% của tổng kim ngạch xuất khẩu, than chiếm 18% và dầu khí chiếm 9%. Hàng hóa sản xuất chiếm 33% tổng số xuất khẩu, với các loại thực phẩm và các sản phẩm kim loại, máy móc thiết bị chiếm tỷ trọng lớn nhất. Sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là lúa mì và len chiếm 5% của các luồng thương mại. Thị trường xuất khẩu lớn nhất của Australia là Trung Quốc (chiếm đến 27% tổng xuất khẩu), Nhật Bản (17%), Hàn Quốc (7%), Ấn Độ (%) và các nước Liên minh châu Âu cũng chiếm một tỷ lệ tương tự như Ấn Độ.

Về nhập khẩu, Australia là một nước nhập khẩu lớn máy móc và thiết bị vận tải, máy tính, máy văn phòng và laser viễn thông. Các đối tác nhập khẩu chính là Trung Quốc (chiếm đến 15% của tổng nhập khẩu), Hoa Kỳ (13%), Nhật Bản (8%) và Singapore (7%).

5. Mexico: Đây là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai ở Mỹ Latin. Sau cuộc khủng hoảng đồng Peso vào năm 1994, Mexico trở lại tốc độ tăng trưởng ổn định. Mexico có một nền kinh tế theo định hướng xuất khẩu nhưng các mặt hàng xuất khẩu của Mexico hoàn toàn ít có liên quan đến các lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam, do đó Mexico có thể là thị trường tiềm năng của Việt Nam. 

Bởi lẽ Mexico nhập khẩu chính là sản phẩm kim loại, máy móc và thiết bị (chiếm đến 50% của tổng nhập khẩu), các sản phẩm khai thác mỏ (13%), các sản phẩm hóa chất (6.3%) và đáng chú ý là các sản phẩm nhựa và cao su (6%). Các đối tác nhập khẩu chính là Hoa Kỳ (chiếm 51% của tổng nhập khẩu), Trung Quốc (16%) và Nhật Bản (5%).

6. Chile: Nền kinh tế của Chile phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu quặng đồng (chiếm đến 47% của tổng kim ngạch xuất khẩu) chủ yếu là các công ty nhà nước, trong đó Codelco là công ty sản xuất đồng lớn nhất thế giới. Chile còn xuất khẩu các ngành khác bao gồm dịch vụ (chiếm 13% của tổng xuất khẩu); thực phẩm chế biến (%); hóa chất (7%). Các đối tác xuất khẩu chính là Trung Quốc (chiếm nhiều nhất với 24% của tổng xuất khẩu), Hoa Kỳ (12%), Nhật Bản (11%), Hàn Quốc (6%) và Brazil (5%). Những khách hàng nhập khẩu khác của Chile gồm Italy, Hà Lan và Tây Ban Nha. 

Về nhập khẩu, Chile nhập khẩu chính là dầu thô và tinh chế dầu, than, khí và chất bôi trơn (chiếm 19% của tổng nhập khẩu); máy móc và các bộ phận (9%); xe ô tô, máy tính, điện thoại di động và các thiết bị nhà (8%); xe tải, xe buýt và vận tải khác xe (7%). Các đối tác nhập khẩu chính là Hoa Kỳ (chiếm tỷ trọng cao nhất là 23% của tổng nhập khẩu); Trung Quốc (18%), Brazil (7%); Argentina (6.5%) và Đức (4%). Những đối tác khác gồm Mexico, Colombia và Ecuador. 

7. New Zealand: Nền kinh tế New Zealand phụ thuộc rất lớn vào thương mại quốc tế. Nước này có truyền thống xuất khẩu nhờ hệ thống nông nghiệp rất hiệu quả. Xuất khẩu nông sản hàng đầu của New Zealand bao gồm thịt, sản phẩm từ sữa, lâm sản, trái cây và rau quả, cá và len. Các đối tác xuất khẩu chính là Australia, Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản. Nói chung New Zealand sẽ là nước cạnh tranh rất mạnh đối với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi, chế biến sữa.... 

New Zealand nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, phương tiện và máy bay, dầu khí, điện tử, dệt may, nhựa. Đối tác nhập khẩu chính là: Australia, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản.

8. Malaysia: Quốc gia này có nền kinh tế đang phát triển nhanh ở châu Á. Malaysia, một quốc gia thu nhập trung bình, đã thay đổi từ những năm 1970 từ một nhà sản xuất nguyên liệu thô thành một nền kinh tế đa ngành mới nổi. Chính phủ Malaysia đang tiếp tục nỗ lực để thúc đẩy nhu cầu trong nước để nền kinh tế thoát ra khỏi sự phụ thuộc vào xuất khẩu. Tuy nhiên, xuất khẩu, đặc biệt là các thiết bị điện tử, vẫn là một lực đáng kể của nền kinh tế. 

Đối với Malaysia, xuất khẩu được hỗ trợ bởi dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng GDP trong những năm gần đây. Xuất khẩu chính của nước này là các sản phẩm điện và điện tử (chiếm đến 33%); các sản phẩm dầu khí (9%); khí tự nhiên hóa lỏng (8%), hóa chất (7%) và dầu cọ (6%). Đối tác xuất khẩu chính của Malaysia là Singapore (chiếm 14%), Trung Quốc (13%), Nhật Bản (11%), Hoa Kỳ (8%) và Thái Lan (6%).

Về nhập khẩu, Malaysia nhập khẩu chính là sản phẩm điện và điện tử (chiếm khá cao là 27%); hóa chất (9%); máy móc, thiết bị và phụ tùng (8%). Đối tác nhập khẩu chính của Malaysia là Trung Quốc (chiếm tỷ trọng 16%), Singapore (12%), Nhật Bản (8%) và Hoa Kỳ (8%).

9. Peru: Nền kinh tế Peru dựa vào xuất khẩu hàng hóa chính là đồng, vàng, quặng chì, xăng dầu, dệt may. Đối tác xuất khẩu chính là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Chile và Canada. 

Peru nhập khẩu chính các mặt hàng như dầu thô và dầu tinh chế, xe tải, xe buýt và xe tải nhẹ, máy móc công nghiệp và thiết bị cơ khí. Đối tác nhập khẩu chính gồm Trung Quốc, Hoa Kỳ, Brazil, Mexico và Hàn Quốc. 

10. Brunei: Giống như Arab Saudi, nền kinh tế quốc gia nhỏ bé này phụ thuộc vào dầu hỏa nên Brunei chốt đồng Bruneian Dollar (BND) vào đồng USD như đồng  riyal Saudi của Arab Saudi. Khi giá dầu tăng, đồng USD giảm, hoặc khi giá dầu giảm đồng USD tăng thì Brunei bán dầu thu về đồng USD hay đồng Bruneian Dollar vẫn không thay đổi, nên dầu tăng hay hạ đều không tác động đáng kể đến sự hụt thu ngân sách của quốc gia này. 

Tất nhiên Brunei bán dầu và nhập hàng tiêu dùng, máy móc là rất nhiều nên Việt Nam cũng cần chú ý thị trường này. 

11. Singapore: Nền kinh tế Singapore dựa trên mua bán hàng hóa trung gian và xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Xuất khẩu chính của nước này là máy móc và thiết bị (46% của tổng xuất khẩu), nhiên liệu (26%) và các hóa chất (13%). Nhập khẩu chính là máy móc và thiết bị (chiếm 43% của tổng xuất khẩu), nhiên liệu (32%),... 

Trong những năm gần đây, thâm hụt thương mại lớn nhất của Singapore được ghi nhận với Trung Quốc, Malaysia, Mỹ, Đài Loan, Indonesia và Vương quốc Anh. Singapore ghi lại thặng dư thương mại với Bahrain, Myanmar, Hong Kong, Brazil và Ấn Độ. 

12. Việt Nam: Từ năm 2012, Việt Nam đã đạt được thặng dư thương mại thường xuyên hơn. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thâm hụt thương mại lớn nhất được ghi nhận với Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Thái Lan. Ngoài ra, Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại với Hoa Kỳ, Hồng Kông, Anh, Campuchia và UAE. 

Trong nhiều năm qua, xuất khẩu của Việt Nam đã tăng gấp đôi nhờ mức lương tối thiểu cạnh tranh và chi phí dịch vụ tiện ích thấp, thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài. Xuất khẩu chính Việt Nam bao gồm quần áo và giày dép, máy móc, vận tải và thiết bị. Những mặt hàng khác còn có thực phẩm và động vật sống, hàng hóa sản xuất và nhiên liệu,... Đối tác xuất khẩu chính là Hoa Kỳ (chiếm 18% của tổng xuất khẩu), Nhật Bản (11%) và Trung Quốc (11%). Những đối tác khác gồm Hàn Quốc (5%), Malaysia (4%) và Đức (4%).

Việt Nam nhập khẩu chủ yếu là máy móc, vận tải và thiết bị, hàng hóa sản xuất. Những mặt hàng khác gồm hóa chất, nhiên liệu, thực phẩm và động vật sống và nguyên liệu thô,... Các đối tác nhập khẩu chính là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, và Singapore...

Phân tích trên cho thấy, nền kinh tế Việt Nam có rất ít ảnh hưởng đến những nước tham gia TPP. Điều đó có nghĩa là Việt Nam sẽ là nước được hưởng lợi nhất. Khi các nước thành viên "gỡ bỏ những con đê hàng rào thuế quan" thì hàng xuất khẩu của Việt Nam dễ dàng tiêu thụ hơn.

(*) Tài liệu tham khảo: Cục Thống kê Hoa Kỳ, Brookings Institution, Council of Foreign Relations (Hoa Kỳ) và cơ quan thống kê của các nước tham gia TPP.
Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?