Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn truyền thông xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyền thông xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

Bí quyết dẫn đầu của Nike

Những sản phẩm sáng tạo của Nike, tất nhiên, đóng góp một phần vào sự nổi tiếng của thương hiệu này, nhưng sự sáng tạo đó cũng sẽ không thể đem lại thành công nếu không có sự hỗ trợ đắc lực từ những chiến lược marketing xuất sắc của hãng.

Thời kỳ đầu

Kể từ khi xuất hiện vào năm 1964, Nike (trước đó là Blue Ribbon Sports) đã trở thành một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới với logo “swosh” đặc trưng, được thiết kế bởi sinh viên thiết kế Carolyn Davidson với giá 35USD.

Cách nhìn của Nike với marketing đã thay đổi ít nhiều trong suốt hơn 40 năm lịch sử của hãng. Khi mới bắt đầu, Nike muốn hướng mình trở thành một công ty định hướng sản phẩm, tập trung cải thiện khâu thiết kế và sản xuất, bởi chính sự cải cách trong các khâu đó ngay từ đầu đã là thế mạnh đã giúp Nike trở nên khác biệt với các đối thủ cạnh tranh khác.

Tuy nhiên, vào những năm 1990, sau một đợt rà soát và khắc phục các thiếu xót của công ty, Nike đã có một cách tiếp cận tập trung hơn vào khách hàng và thị trường.

Vào năm 1992, trong một buổi phỏng vấn với bộ phận nghiên cứu kinh doanh của Harvard, CEO Phil Knight đã có bình luận về sự thay đổi này, “Chúng tôi từng nghĩ rằng phòng nghiên cứu là nơi khởi điểm của tất cả. Giờ chúng tôi nhận thấy rằng tất cả mọi thứ đều xoay quanh khách hàng.

"Và trong thời đại công nghệ này, mọi sự sáng tạo đều phải được bắt nguồn từ nhu cầu của khách hàng. Chúng tôi phải có những lý do cụ thể cho mỗi sáng kiến của mình, và những lý do đó thì bắt nguồn từ thị trường. Nếu không như vậy thì cuối cùng những gì chúng tôi làm sẽ chẳng khác gì đồ trưng bày trong bảo tàng”.

Thay đổi các chiến lược marketing

Đã từ lâu, Nike đã rất thành công khi sử dụng những chiến lược quảng cáo qua tivi và các ấn phẩm truyền thông đại chúng để quảng bá cho từng sản phẩm mới hay từng nhà tài trợ của họ. Câu khẩu hiệu “Just Do It” và “Bo Knows” đã trở nên gắn liền với thương hiệu của hãng. Tuy nhiên, hiện nay Nike không còn sử dụng những phương pháp quảng cáo đó nữa.

Từ năm 2009 đến năm 2012, chi phí mà công ty bỏ ra cho marketing truyền thống đã giảm 40% và tiếp tục giảm đến giờ, ngay cả khi ngân sách cho marketing được tăng lên mức kỷ lục 2.4 tỷ đô la. Vậy số tiền đó đã đi đâu?

Câu trả lời nằm tại các phương thức quảng cáo tận dụng các công nghệ mới đã cho phép Nike giao tiếp trực tiếp với khách hàng mục tiêu của họ - những bạn trẻ ở tuổi 17 với mức chi tiêu cho giày dép nhiều hơn phụ huynh của họ 20%.

Emotional branding (Tạo thương hiệu bằng cảm xúc khách hàng)

Emotional branding là một kỹ thuật trong marketing, sử dụng chính nhu cầu, cảm hứng hay trạng thái cảm xúc của khách hàng để xây dựng một thương hiệu cụ thể. Emotional branding đạt được hiệu quả tốt nhất khi khách hàng cảm thấy có sự gắn bó thân thiết với thương hiệu, đó có thể là cảm giác gắn kết, yêu thích hay mong muốn tiếp tục đồng hành trong tương lai. Những cảm giác này có thể tuân theo lý trí, cũng có thể không, nhưng đó không phải điều quá quan trọng.

Khi nhắc đến emotional branding, Nike là một trong những thương hiệu thành công nhất; có lẽ bởi hãng đã dựa vào một câu chuyện có tuổi đời hàng ngàn năm, câu chuyện về một vị anh hùng. Rất ít người có thể cưỡng lại được câu chuyện về các anh hùng – hai thế lực hùng mạnh đối đầu nhau, một cuộc hỗn chiến, và một chiến thắng oanh liệt – đặc biệt khi chính khách hàng là những nhân vật anh hùng trong câu chuyện đó.

Nike sử dụng mô típ xưa như trái đất này một cách mới lạ và sáng tạo bằng việc tập trung vào kẻ thù bên trong mỗi người chứ không phải những đối thủ bên ngoài. Và kẻ thù đó chính là sự lười biếng.
Các quảng cáo của Nike đưa ra nhằm mục đích tạo động lực để khách hàng đứng lên, tiến về phía trước, không ngừng cố gắng, và tóm gọn là “hãy hành động”. Quảng cáo của Nike thường ca ngợi sự chăm chỉ và ăn mừng các chiến thắng, đặc biệt là chiến thắng của khách hàng trước sự lười biếng, và những gì Nike làm chính là đánh vào mong muốn trở nên vĩ đại của khách hàng.

Nike đã rất thành công khi thực hiện điều đó, quảng cáo của họ không chỉ tác động đến các vận động viên, mà tất cả mọi người, bởi khát khao trở nên vĩ đại là một điều mà ai cũng có, giúp cho chiến lược này có một sức hút gần như toàn cầu.

Và mặc dù đã chuyển từ quảng cáo qua in ấn và tivi sang quảng cáo số, Nike vẫn không nhừng việc sử dụng emotional branding. Thông qua việc gửi các thông điệp ý nghĩa trên Twitter, hay vinh danh những vận động viên trên Fanpage và Instagram, Nike vẫn luôn duy trì được kết nối với khách hàng theo cách mà không nhiều đối thủ khác có thể làm được.

Phương tiện truyền thông xã hội

Cũng như phần đông các doanh nghiệp lớn khác, Nike đã nhận thấy được lợi ích to lớn từ sự hiện diện của những phương tiện truyền thông xã hội. Công ty sử dụng tài khoản trên các mạng xã hội của mình để kết nối trực tiếp với khách hàng và Nike chính là một trong những doanh nghiệp hoạt động trực tuyến nhiều nhất.

Twitter

Nike đã tách riêng các tài khoản Twitter cho mỗi thương hiệu nhỏ của mình, và với mỗi kênh đó, Nike tập trung vào việc phản hồi với các @mention. Điều này có nghĩa là một phần lớn các hoạt động của Nike trên Twitter được tạo nên từ các phản hồi truy vấn của khách hàng cá nhân, cho phép khách hàng kết nối trực tiếp với doanh nghiệp theo một cách mà chưa từng được thực hiện trong quá khứ.

Các nhân viên của Nike trả lời các câu hỏi về sản phẩm, thông tin hàng hóa, và các đơn đặt hàng – tất cả đều qua các cuộc trao đổi với từng cá nhân. Đây chính là một công cụ bổ trợ đắc lực cho bộ phận hỗ trợ khách hàng của Nike.

Trên các tài khoản của những thương hiệu nhỏ của Nike (golf, bóng đá, bóng rổ,...) khách hàng có thể tìm được những tư vấn luyện tập, chi tiết sản phẩm, được giải đáp các thắc mắc, và nhận được những thông điệp cổ vũ và động viên đáng quý.

Instagram

Tài khoản trên Instagram của Nike là một trong những tài khoản nổi tiếng nhất, với lượng theo dõi đáng nể lên đến 13.2 triệu người. Bằng việc sử dụng cả video và những tấm hình nghệ thuật, Nike đã trưng bày những tấm ảnh của những sản phẩm được ưa chuộng nhất trên tài khoản chính và các tài khoản con.

Nike hiểu rõ vai trò của Instagram và biết được những gì mà khách hàng muốn xem, vì vậy công ty đã lấp đầy tài khoản Insta của họ với các hình ảnh về người dùng sản phẩm cùng những cảnh quan tuyệt đẹp, được chụp một cách tự nhiên nhất, không giống như những bức ảnh trong catalogue.

Pinterest

Đã từng có thời điểm, trang Pinterst của Nike chỉ được dùng để phục vụ các khách hàng nữ, nhưng giờ thì không như vậy nữa. Hiện nay có 20 bảng với các dòng sản phẩm giày dép, lễ phục, và các trang phụ kiện. Tuy nhiên, thật đáng tiếc khi ở thời điểm hiện tại, dường như Nike mới chỉ có thể liên kết sản phẩm và nội dung của chính sản phẩm đó.

Trong khi Pinterest là một ứng dụng tuyệt vời trong việc giúp công ty quảng bá giá trị cốt lõi và văn hóa của mình, Nike lại chỉ dùng Pinterest như một catalogue giới thiệu sản phẩm mà không phải là một công cụ marketing sáng tạo.

Facebook

Nike đã tách riêng các fanpage trên facebook cho mỗi danh mục sản phẩm của mình. Các trang chuyên về thể thao của Nike thường xuyên cập nhật hình ảnh và video mỗi ngày, thường là hình ảnh của các vận động viên được công ty tài trợ và các sản phẩm của Nike.

Digital Sport (tạm dịch: thiết bị thể thao số)

Digital Sport là một mảng khá mới của Nike, được khởi động từ năm 2010, (cũng là năm mà Nike đã chi 800 triệu đô cho quảng cáo theo kiểu mới), tập trung vào việc phát triển công nghệ và thiết bị để cho phép người dùng theo dõi được các chỉ số sức khỏe. Thiết bị được biết đến nhiều nhất của digital sport là thiết bị cảm biến chạy bộ Nike+, được phát triển cùng với Apple.

Sản phẩm này đã được tin dùng bởi ít nhất là 6 triệu người. Nike+ theo dõi thể trạng của các vận động viên qua một kết nối không dây. Dữ liệu được lưu trữ trên website của Nike và người dùng có thể đăng tải hay chia sẻ thông tin luyện tập của mình qua Twitter và Facebook.

Bộ thiết bị này bao gồm một thiết bị cảm biến Nike+, một đôi giày tương thích của Nike+, và một thiết bị theo dõi Nike+. Mới đây nhât, Nike còn đưa ra sản phẩm FuelBand giúp đo lường lượng năng lượng tiêu hao của người dùng.

Việc Nike áp dụng quảng cáo số đã mang lại những thành công đáng kể cho hãng và nhận được sự ủng hộ từ hàng triệu người dùng. Bằng việc kịp thời nhận thấy sự kém hiệu quả của quảng cáo qua tivi và in ấn, Nike đã có thể chuyển mình, sử dụng các phương tiện mạng xã hội và phát triển công nghệ để vượt xa các đối thủ cạnh tranh khác.
Vinh Lê
Share:

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

American Express sử dụng mạng xã hội để marketing khéo thế nào?

American Express (AmEx) đã lựa chọn Instagram là trang mạng xã hội chủ đạo của hãng giúp truyền tải những chiến lược nội dung của thương hiệu này, đồng thời có những thay đổi nhất định trong tư tưởng của mình.


Instagram được coi là nền tảng xã hội phát triển nhanh nhất của American Express, với mức tăng trưởng lên tới 18% vào quý trước và tăng gấp đôi trong năm nay, đạt mốc 98.000 followers (người theo dõi) trong một thời gian ngắn. Thật bất ngờ khi những bức ảnh về thẻ tín dụng được đăng tải trên mạng xã hội này mang có thể truyền tải một sự nhạy cảm về tài chính và thu hút khách hàng tới như vậy.

Giám đốc thương hiệu của American Express, bà Mona Hamouly, cho biết trên Digiday rằng, mọi người thực sự yêu thích những hình ảnh thẻ AmEx mới được đăng tải trên Instagram. Một số khách hàng thậm chí còn chụp ảnh những chiếc thẻ cũ của mình và yêu cầu American Express phát hành thẻ mới cho họ.

Nhận thấy tiềm năng này, Hamouly đã lên kế hoạch biến Instagram trở thành kênh thông tin chiến lược cho kế hoạch marketing nội dung của American Express khi hiệu suất và độ tương tác giữa khách hàng và hình ảnh ở đó luôn duy trì ở mức cao ổn định. Điều này khiến chính bà cũng phải ngạc nhiên.

Kể từ đó, AmEx tăng cường đăng tải nhiều hình ảnh kèm theo những nội dung xã hội của mình một cách rõ ràng hơn nhằm kết nối hiệu quả hơn với các khách hàng.

Thương hiệu này cũng chú ý hơn đến tính nghệ thuật trong các thiết kế với dòng sản phẩm mang tên “Card Art” để thu hút lượt ưa thích. Các hình ảnh này thường nhận được gấp đôi số retweets trên Twitter và lượt like trên Instagram, trong khi các loại thẻ khác sở hữu trung bình 1.000 like.

Một mẫu thẻ Card Art của American Express được đăng trên Instagram của hãng
Một mẫu thẻ Card Art của American Express được đăng trên Instagram của hãng

American Express tỏ ra không thích Snapchat cho lắm. Đối với thương hiệu này mà nói, khi các dịch vụ tài chính trên thị trường đã trở nên bão hòa, thì việc nhắn tin để quảng cáo không còn có nhiều tác dụng.

Cách duy nhất để quảng bá thương hiệu trong hiện tại là mạng xã hội và các kênh thông tin truyền thông khác, nơi mà những thông điệp muốn truyền tải được đi kèm với những hình ảnh bắt mắt và giúp người dùng dễ hình dung hơn. “Snapchat không phải là một lựa chọn phù hợp với chúng tôi”, bà Hamouly cho biết.

Trong khi American Express luôn tự định vị mình như một thương hiệu độc quyền đối với những người sử dụng thẻ, điều này dễ tạo cảm giác xa cách, thì với phương tiện truyền thông xã hội, hãng này đã mang lại sự gần gũi và tương tác cao hơn với khách hàng của mình.

Đặc biệt khi chiến dịch marketing online của AmEx được liên kết chặt chẽ với các kênh offline, những người sử dụng sẽ cảm nhận sự nhất quán và thống nhất giữa nội dung thông điệp của thương hiệu.

Hiện nay, một số thương hiệu để nắm lấy các cơ hội kinh doanh trực tuyến bằng cách yêu cầu khách hàng để đồng bộ thẻ với Facebook, Twitter để có thể nhận được các ưu đãi về giá cả cho những sản phẩm thuộc thương hiệu mà họ ưa thích.

Tuy nhiên, AmEx vẫn khá dè dặt với ứng dụng Facebook, do mạng xã hội này quá phổ biến và đa dạng người sử dụng, đồng thời tính riêng tư không được đảm bảo. Cho dù hiện nay thương hiệu này đã bắt đầu thay đổi dần dần, bằng việc cho phép đăng tải những video quảng cáo của mình lên nền tảng này, nhưng độ tương tác không thường xuyên như Instagram.

Một mạng xã hội khác được American Express sử dụng là YouTube, khi thương hiệu cho phép những người không sử dụng thẻ của mình cũng có quyền truy cập. Sắp tới, AmEx có ý định hợp tác với Airbnb nhằm mang đến một sự tích hợp công nghệ tiện ích cho người dùng.

Cụ thể, tính năng này sẽ cho phép khách hàng tạo ra một tài khoản Airbnb bằng các thông tin có sẵn trong dữ liệu của AmEx. Tài khoản này sẽ có đầy đủ các chức năng như nhận điểm thưởng, check-out và đạt được sự tin tưởng của các chủ nhà khi có được sự xác minh đúng tiêu chuẩn của American Express. Bên cạnh đó, công ty cung cấp dịch vụ tài chính cũng sẽ có thêm nhiều khách hàng tiềm năng đến từ nhiều tầng lớp trên thế giới.

"Chúng tôi rằng American Express cần phải tiếp cận với những khách hàng thuộc phân khúc khác nhau," dẫn lời bà Hamouly, "Do đó, các thông điệp cũng như cách quảng bá chúng đang dần được thay đổi để trở nên dễ hiểu hơn, đồng thời mở rộng phạm vi tìm kiếm để nhiều người biết đến và sử dụng những sản phẩm của hãng."
Thư Anh
Theo Trí Thức Trẻ/Digiday

Share:

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2015

Real-time content Marketing: Chiêu hái ra tiền tận dụng những khoảnh khắc bất ngờ

Sự kết hợp hoàn hảo của những kế hoạch được tính toán kỹ lưỡng và những ý tưởng xuất thần được đánh giá là những yếu tố chủ chốt dẫn đến sự thành công của mọi chiến lược content marketing của mọi thương hiệu.


Nhắc đến những câu chuyện thành công với real-time content marketing (marketing qua nội dung những thông điệp được truyền tải dựa trên một khoảnh khắc vừa diễn ra), không thể không nhớ đến sự kiện tại Superbowl 2014.

Tại sự kiện này, Oreo đã tận dụng được khoảnh khắc cúp điện để nhanh trí đưa ra một thông điệp rất phù hợp với hoàn cảnh và quảng bá được thương hiệu của mình “Chúng ta vẫn có thể ăn bánh trong bóng tối, hãy chấm bánh với sữa cùng Oreo.”

Một ví dụ khác cũng rất hay được đưa ra để phân tích là việc Adidas đã làm như thế nào để chiến thắng Nike trong cuộc đua tài trợ cho giải bóng đá lớn nhất thế giới FIFA World Cup cũng vào năm 2014.
Mạng xã hội của Adidas trong mùa World Cup
Mạng xã hội của Adidas trong mùa World Cup

Sự tranh cãi trên mạng xã hội giờ đây lại được coi là một phương thức giúp quảng bá một cách vô tình cho một sự kiện hay một thông điệp từ thương hiệu nào đó, thể hiện tốc độ của thời đại công nghệ và khả năng chớp thời điểm chính xác của các chuyên gia marketing.

Hầu hết những bậc thầy về marketing sẽ tận dụng chúng như một đòn bẩy hiệu quả để đưa những chiến dịch giới thiệu sản phẩm của mình đến gần hơn với người tiêu dùng và những khách hàng tiềm năng.

Trong bất cứ kế hoạch nào, các thương hiệu cũng có những bí quyết riêng để thành công, đặc biệt với việc sử dụng sự tranh luận trên mạng xã hội hay các chiến lược content marketing khác. Sau đây là 5 lời khuyên giúp các nhãn hàng non trẻ có thể sử dụng real-time content marketing thành công:

Nắm rõ điều cần phải làm

Biết được những gì bạn mong muốn sẽ giúp thiết lập các kế hoạch chi tiết về nội dung cũng như các phương tiện truyền thông mà bạn dùng để đăng tải những bức ảnh hay video đó.

Đội ngũ chịu trách nhiệm về mạng xã hội cần phải xác định được thời điểm chính xác để thu hút cư dân mạng cũng như dung lượng dữ liệu phù hợp với các kênh thông tin cụ thể. Các kế hoạch này cần phải được xây dựng, bàn bạc ngay từ đầu để có được sự thống nhất và hiệu quả cao nhất.

Đừng chỉ quan tâm đến các xu hướng phổ biến

Nếu chỉ chú ý và thực hiện theo những xu thế đã được sử dụng quá nhiều, thương hiệu của bạn sẽ trở nên nhạt nhòa và chìm nghỉm trong hàng loạt các nhãn hàng mạnh hơn.

Trong trường hợp real-time content marketing, một chiến lược mạnh mẽ và hiệu quả phụ thuộc vào được khả năng sáng tạo ra ý tưởng, danh tiếng và mức độ lan tỏa thông điệp của thương hiệu – điều mà công chúng đang bàn tán, chứ không phải chỉ cần áp dụng các xu hướng mới.

Tính thời điểm thậm chí còn quan trọng hơn vì nó có thể giúp tối ưu hóa nội dung và gây được sức ảnh hưởng nếu vấn đề đó đang thực sự nóng hổi. Các chuyên gia marketing nên biết cách chọn lọc những thông tin phù hợp, nâng tầm chúng lên để quảng bá cho thương hiệu của mình.

Lên kế hoạch cho một sự lan tỏa tự nhiên

Để một thông điệp có thể lôi kéo sự tham gia và đi vào nhận thức của mọi người không phải là chuyện đơn giản, đặc biệt là khiến điều đó diễn ra một cách tự nhiên.

Thu hút và hấp dẫn được các khán giả trực tuyến đòi hỏi những hành động thuyết phục tạo nên hiệu ứng mạnh mẽ. Điều này sẽ âm thầm thúc đẩy độ tương tác giữa khách hàng và thương hiệu trên phương tiện truyền thông xã hội. Các nhà marketing thường phân tích thói quen hay hành vi của nhiều nhóm người sử dụng các mạng xã hội khác nhau để tạo ra được những nội dung phù hợp cho đừng đối tượng khách hàng.

Luôn có tính thống nhất trong các thông điệp

Làm cho danh tiếng thương hiệu trở nên phổ biến và được ưa thích rộng rãi luôn là mục tiêu của các nhà marketing, do đó họ sẽ cố gắng đưa ra rất nhiều thông điệp liên tiếp để gây được sự chú ý. Tuy nhiên, nếu không có sự thống nhất và liên kết thậm chí sẽ gây ra những hiệu ứng ngược lại. Những đối tượng mà thương hiệu muốn nhắm tới rất dễ bị hỗn loạn và không nhớ được hàng loạt các thông điệp không liên quan đến nhau.

Hơn nữa, các thông điệp cần có một sự tinh tế nhất định và đặc biệt không nên khiến mọi người sợ hãi. Ví dụ điển hình là GrabTaxi với chiến dịch cảnh báo người dùng về căn bệnh ung thư vú, tuy vậy họ lại sử dụng những từ ngữ quá mức nhằm tạo nên sự chú ý, kết quả là những người đọc được nội dung này cảm thấy rất khó chịu.
Thông điệp vô duyên của GrabTaxi
Thông điệp "vô duyên" của GrabTaxi

Chú trọng đầu tư vào những vấn đề gây nên sự tranh luận

Càng tranh cãi, càng thu hút và nhãn hàng của bạn càng nổi tiếng. Đây là xu hướng mới của các thương hiệu hiện nay nhằm khai thác tối đa độ lan tỏa của mạng xã hội.

Để cho ra đời những nội dung gây nên sự tranh cãi, các nhà phân tích phải theo dõi các cuộc trò chuyện trực tuyến, và giám sát các trang xã hội tương ứng trước và sau khi đưa ra nội dung cho các kênh khác nhau. Sự tranh luận luôn tạo ra hiệu ứng lan tỏa một cách tự nhiên nhất, mang đến những thông điệp được lồng ghép khéo léo và là cách giúp các chuyên gia marketing đạt được mục đích của mình.

Tuy nhiên, để tạo nên một sự vụ thu hút được dư luận không phải chuyện dễ dàng, nhiều khi còn phải dựa vào sự may mắn và tính thời điểm. Vì vậy, muốn có được những nội dung như vậy, các thương hiệu thường phải tạo ra ý tưởng của riêng mình biến nó trở thành trung tâm của những lời bàn tán.
Thư Anh
Theo Trí Thức Trẻ/Tham khảo Marketing-Interactive


Share:

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2015

Chìa khóa kiếm tiền của người giàu thứ hai thế giới

Business Insider cho biết, chìa khóa then chốt giúp Zara - thương hiệu của tỷ phú Amancio Ortega - vượt mặt GAP là nhờ phương tiện truyền thông xã hội, đặc biệt là Instagram.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vid0J26fdFq
Amancio Ortega - cha đẻ của thương hiệu Zara - là tỷ phú giàu thứ hai thế giới. 
Amancio Ortega - Giám đốc điều hành Zara - đã gặt hái được nhiều thành công. Ortega mới đây đã vượt qua Warren Buffet trở thành tỷ phú giàu thứ hai thế giới.

Bí quyết kiếm tiền của tỷ phú này với Zara là tạo cho khách hàng niềm hứng khởi mỗi khi công ty sắp tung ra sản phẩm mới.

Mới đây, Inditex - Công ty mẹ của thương hiệu thời trang nhanh nổi tiếng Zaza cũng tung ra báo cáo các chỉ tiêu kinh doanh trong nửa đầu năm nay. Trong đó, doanh thu thuần tăng 17% và doanh số tại các cửa hàng cũng tăng.

Các nhà bán lẻ truyền thống, và ngay cả đối thủ cạnh tranh H&M dần theo sau “gã khổng lồ" Zara, một phần vì các phương tiện truyền thông xã hội như Instagram.

Trên mạng xã hội này, Zara hiện có 6,2 triệu người theo dõi, vượt 989.000 người so với GAP. Thậm chí, Adidas với 5,2 triệu người theo dõi cũng chẳng “xứng tầm” so với thương hiệu của tỷ phú Amancio Ortega.

"Quay trở lại những năm 80 và 90, khách hàng không có cơ hội tiếp cận thời trang cao cấp thông qua mạng xã hội. Nhưng bây giờ, mọi người đều có thể vào các trang mạng xã hội, các blog để cập nhật sản phẩm mới. Và nếu muốn, khách hàng có thể đặt hàng ngay sau trên mạng Internet. Các thương hiệu khác, trong đó có GAP, mất dần vị trí", Kate Hudson Davidson, người đồng sáng lập và giám đốc điều hành tạp chí bán hàng online Editorialist nói với tờ The New York Times hồi đầu năm nay.
Mô hình kinh doanh độc đáo và rất thành công của Zara cũng biết cách giữ chân những khách hàng chạy theo thời trang.

"Không giống như những nhà bán lẻ thời trang nhanh tìm mua nguồn cung ứng xu hướng thời trang hiện nay từ các nhà cung cấp bên thứ ba, các nhà bán lẻ truyền thống chuyên doanh có những đội ngũ thiết kế và tạo ra sản phẩm trở thành xu hướng thời trang," nhà nghiên cứu của Goldman Sachs cho biết.
Zara biết cách biến khách hàng thành những người mẫu trên Instagram.
Zara biết cách biến khách hàng thành những người mẫu trên Instagram.
Ngoài ra, bí kíp khác là công ty này giữ rất ít hàng tồn kho và thường xuyên bổ sung thêm thiết kế mới, Suzy Hansen giải thích trên tờ The New York Times.

Kết quả, thương hiệu của người giàu thứ hai thế giới đã làm thay đổi cách mọi người mua sắm. Công ty đặc biệt chú trọng đến nhu cầu người tiêu dùng là muốn trông giống như những người mẫu trên Instagram. Trong khi đó, các nhà bán lẻ truyền thống đang vật lộn để bắt kịp cách làm này.

Theo Zing 
>> Những tỷ phú bí ẩn đứng sau các thương hiệu lừng danh
>> 9 tỷ phú tự thân nổi tiếng thế giới

Share:

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

4 cách tương tác với khách hàng trong marketing

Doanh nghiệp có thể nghĩ rằng mối quan hệ giữa khách hàng và nhãn hiệu của mình khá đơn giản. Đó là khách hàng chỉ có thể ở hai cực: là người mua hàng hoặc không mua hàng, là khách hàng trung thành hoặc không trung thành. 

Thế nhưng, theo Mark Di Somma - một cây bút thường xuyên về đề tài xây dựng nhãn hiệu của tạp chí Branding Strategy Insider, khách hàng có thể ở nhiều vị trí khác nhau trong quá trình tương tác với một nhãn hiệu. Ở một thời điểm nào đó, khách hàng có thể đóng những vai trò khác nhau trong mối quan hệ đối với doanh nghiệp cũng như các đối thủ cạnh tranh, từ đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Theo Somma, khách hàng có thể đóng những vai trò sau đây.

Người ủng hộ

Những khách hàng này là người rất cởi mở và sẵn sàng ủng hộ tất cả những gì doanh nghiệp làm. Họ thể hiện điều ấy với bạn bè, trên các mạng truyền thông xã hội và trên mạng internet.

Dù cho những khách hàng này có mua hàng của doanh nghiệp hay không, họ cũng không thay đổi vị trí của mình là người ủng hộ cho doanh nghiệp thông qua “quảng cáo truyền miệng”.

Họ có thể ủng hộ doanh nghiệp vì những giá trị mà doanh nghiệp đại diện, cách doanh nghiệp đối xử với khách hàng, những hoạt động xã hội mà doanh nghiệp bảo trợ hay vì nhiều lý do khác nữa.

Doanh nghiệp có thể nhìn thấy hoặc không nhìn thấy sự ủng hộ ấy khi quan sát ngoài xã hội. Nhưng Somma khuyên doanh nghiệp nên giữ quan hệ gắn kết với những khách hàng này, công khai cảm ơn họ khi họ ủng hộ những gì doanh nghiệp đã làm hoặc bảo vệ cho một sự thay đổi mà doanh nghiệp đã thực hiện.

Người đối đầu

Đó là những khách hàng hoàn toàn đối lập với người ủng hộ. Dưới mắt họ, bất cứ điều gì doanh nghiệp đang làm cũng đều là sai. Họ có thể bất đồng với lý do tồn tại hay sứ mệnh của doanh nghiệp, không thích những sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp cho thị trường, không tán thành với cách vận hành hay sự ảnh hưởng của doanh nghiệp…

Họ thường rất “to tiếng” và kiên trì trong các cuộc tấn công doanh nghiệp. Somma cho rằng, doanh nghiệp chắc chắn khó có thể thắng được nhóm khách hàng này và nên cân nhắc kỹ những gì họ nói.


Theo Somma, có ba hướng ứng xử với nhóm khách hàng đối đầu. Thứ nhất, ghi nhận những lời chỉ trích hợp lý, từ đó thay đổi những giá trị và phương thức hoạt động của doanh nghiệp. Thứ hai, bỏ qua những lời chỉ trích quá cực đoan và không nên để chúng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Cuối cùng, liệt kê ra tất cả những lời chỉ trích để xác định rõ những gì đúng và không đúng với bản chất, niềm tin của doanh nghiệp.

Người quan sát 

Những khách hàng này chiếm số đông trên thị trường. Họ có thể đọc nhiều tin tức về doanh nghiệp từ các nguồn khác nhau, có thể từng ghé thăm các cửa hàng của doanh nghiệp ở bên ngoài, từng truy cập vào trang web của doanh nghiệp.

Nhưng điều đáng nói là họ chỉ dừng lại ở vị trí của một người quan sát mà chưa có phản ứng gì đặc biệt. Nói cách khác, họ đang ở trong quá trình sàng lọc thông tin trong vô số những thông điệp, hình ảnh mà họ nhận biết được từ thị trường.

Trừ khi những người quan sát thấy hay nghe một điều gì đó có thể tác động mạnh đến nhận thức của họ về doanh nghiệp, họ sẽ xem doanh nghiệp cũng tương tự như bao đối thủ cạnh tranh khác.

Nhiều nhà tiếp thị cho rằng có thể chuyển hóa những khách hàng quan sát thành những khách hàng ủng hộ. Nhưng theo Somma đây là một thách thức rất lớn, đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm ra những cách có giá trị và thú vị để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng cũng như đánh thức mong muốn của họ trong những hoàn cảnh khác nhau.

Người nhận xét

Trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp ngày càng bị ảnh hưởng nhiều bởi những lời nhận xét mang tính cá nhân của những khách hàng từng có những trải nghiệm thực tế khi sử dụng sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp. Nhận xét của những khách hàng này thường được chia sẻ rộng rãi với những khách hàng khác.

Những trang web đánh giá các doanh nghiệp dựa trên nhận xét của khách hàng như TripAdvisor có những ưu điểm cũng như những mặt bất lợi đối với doanh nghiệp.

Tuy nhiên, Somma khuyên các nhà quản lý nhãn hiệu nên nghiêm túc xem xét những nhận xét khách quan của khách hàng, không nên tìm cách che đậy hay “trừng phạt” những khách hàng đưa ra các nhận xét tiêu cực cũng không nên chỉ trích dẫn những lời nhận xét từ những khách hàng đang hài lòng.

Trên thực tế, nhận thức được sức ảnh hưởng lớn từ những lời nhận xét của khách hàng được đăng trên các trang web như TripAdvisor, một số khách sạn đã làm rất tốt việc quan sát và phản hồi những người nhận xét.

Somma cho rằng chỉ cần phản hồi kịp thời, tuân thủ các nguyên tắc gắn kết khách hàng lâu dài, sử dụng văn phong lịch sự, nhẹ nhàng pha một chút tính hài hước là doanh nghiệp đã có thể tạo ấn tượng rất tốt trên những diễn đàn này, ngay cả đối với những khách hàng khó tính đã đưa ra những nhận xét tiêu cực.

NHẤT NGUYÊN (theo BSI)/DNSGCT
Share:

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Học cách kết nối với khách hàng thế hệ Y ở châu Á

Theo một báo cáo gần đây của Deloitte, người tiêu dùng thế hệ Y (hay còn gọi là “millenials”, tức thế hệ sinh ra trong giai đoạn thập niên 1980 và 1990) hiện chiếm hơn 50% lực lượng lao động toàn cầu. Tại châu Á, tỷ lệ này tuy có sự cách biệt khác nhau giữa nhiều nước và lãnh thổ, nhưng đặc điểm chung của nhóm khách hàng này là tiềm năng tiêu dùng của họ rất lớn. 


Chẳng hạn, số người tiêu dùng thế hệ Y ở Hongkong chiếm hơn một phần tư dân số 1,9 triệu người của lãnh thổ này nhưng mỗi người lại có một tài sản có thể đầu tư trị giá trung bình khoảng 100.000 USD, theo số liệu của LinkedIn và IPSOS được công bố trong báo cáo gần đây mang tên Nghiên cứu Người tiêu dùng thế hệ Y thành đạt (Affluent Millenials Research).

Theo Nellie Chan - Giám đốc giải pháp tiếp thị, phụ trách khu vực Đông Nam Á và Bắc Á của LinkedIn, để gắn kết một cách hiệu quả với nhóm khách hàng tiềm năng nói trên, các doanh nghiệp cần phải thay đổi chiến lược tiếp cận họ.

Theo đó, những doanh nghiệp thành công trong những năm tới sẽ là những công ty hiểu rõ suy nghĩ của những khách hàng thuộc thời đại kỹ thuật số này.

Một trong những đặc điểm lớn nhất của khách hàng thế hệ Y tại châu Á là họ thường chủ động tìm kiếm thông tin để ra các quyết định tài chính quan trọng.

Ở Hongkong, 65% khách hàng thế hệ Y giàu có là những người rất độc lập. Họ sẵn sàng tự nghiên cứu, tự đưa ra các quyết định và tự thực hiện các quyết định ấy.

Số người cần xác minh lại thông tin, được hiểu là những người cần phải tìm lời khuyên hay tư vấn từ một chuyên gia tư vấn tài chính trước khi ra quyết định, chỉ chiếm 29%.

Bên cạnh đó, 53% số khách hàng thế hệ Y giàu có thường chủ động tìm nội dung từ các mạng xã hội của các công ty tài chính.


Thực tế cho thấy, truyền thông xã hội đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong các quyết định tài chính của khách hàng thế hệ Y tại châu Á.

Theo nghiên cứu của LinkedIn, hơn 80% khách hàng thế hệ Y sử dụng ít nhất một mạng xã hội nào đó để tìm các thông tin, hướng dẫn về thuế cá nhân, đầu tư tài chính cũng như quan điểm, nhận định của những bạn bè cùng thế hệ về các thị trường tài chính.

Nellie Chan đưa ra những lời khuyên sau đây giúp các doanh nghiệp nắm bắt cơ hội tiếp cận nhóm khách hàng thế hệ Y thông qua truyền thông xã hội.

- Theo phân tích của LinkedIn, khách hàng thế Y là những người rất nhạy bén với kỹ thuật số và chú trọng xây dựng các mối quan hệ xã hội. Theo đó, khoảng một phần tư khách hàng thế hệ Y giàu có thường giao dịch với một công ty mà họ có thể tương tác qua các mạng truyền thông xã hội. Vì vậy, các công ty muốn khai thác phân khúc khách hàng này cần phải xây dựng một chiến lược tiếp thị bằng nội dung bài bản và tăng cường sự có mặt trên truyền thông xã hội.

- Người tiêu dùng thế hệ Y cũng rất cởi mở với các ý tưởng mới và các phương thức kinh doanh mới. Đây cũng là một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp mới thành lập. Chẳng hạn, 54% khách hàng thế Y giàu có sẵn sàng sử dụng dịch vụ của các công ty hay nhãn hiệu vốn không có thế mạnh về dịch vụ tài chính, như Google. Tại Hongkong, nhiều công ty cung cấp dịch vụ tài chính truyền thống hiện vẫn đang thống lĩnh thị trường. Tuy nhiên, Chan cho rằng, trước sự xuất hiện của ngày càng nhiều công ty mới với các phương thức hoạt động mới, các công ty truyền thống cũng cần phải thay đổi cách tiếp cận khách hàng và tăng cường xuất hiện trên các mạng truyền thông xã hội để gắn kết với khách hàng thế hệ Y.

- Khách hàng thế hệ Y cũng thường chủ động dự báo trước các thay đổi, những xu hướng sẽ có thể trở nên lạc hậu trong tương lai để có sự chuẩn bị. Chan khuyên doanh nghiệp nên kết nối với nhóm khách hàng này bằng những nội dung mang tính tư vấn, hướng dẫn như cách quản trị danh mục đầu tư tài chính, để thu hút sự quan tâm của họ. Theo nghiên cứu của LinkedIn, 75% khách hàng thế hệ Y quan tâm đến các nội dung này.

- Nên nhớ rằng, khách hàng thế hệ Y cũng thích chia sẻ những thông tin có giá trị với bạn bè và những người có cùng quan tâm. Do đó, nếu được họ tín nhiệm, doanh nghiệp cũng sẽ có rất nhiều cơ hội để kết nối với những khách hàng thuộc thế hệ Y khác thông qua các mạng truyền thông xã hội.
- Bên cạnh việc cung cấp các nội dung mà khách hàng thế hệ Y quan tâm qua các mạng truyền thông xã hội, Chan khuyên doanh nghiệp cũng cần phải chọn kênh giao tiếp phù hợp với họ. Chẳng hạn, ở Hongkong, hơn 50% khách hàng thế hệ Y thường truy cập vào mạng LinkedIn từ điện thoại di động.

Share:

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

10 ý tưởng truyền thông xã hội hiệu quả

Phương tiện truyền thông xã hội là một phần quan trọng trong tiếp thị trực tuyến. Dưới đây là 10 ý tưởng để duy trì công cụ này một cách hiệu quả.
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?