Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn thế hệ Y. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thế hệ Y. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

5 sai lầm cản đường thăng tiến của thế hệ Y

Thế hệ Y (những người sinh ra trong thập niên 1980 - 1990) hiện đang chiếm trên 50% lực lượng lao động tại nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc điểm chung của nhóm nhân viên này là muốn được thăng tiến càng nhanh càng tốt. 

Tuy nhiên, theo J.T. O’Donnell - Tổng giám đốc của CareerHMO, thực tế lại không như họ mong đợi. O’Donnell cho rằng lý do chính là nhóm nhân viên này thường có nhiều biểu hiện khiến cho các ông chủ và nhà quản lý nghĩ rằng họ không có động cơ, niềm đam mê rõ ràng trong công việc, thiếu sự nhiệt tình và sức phấn đấu cho tiền đồ của doanh nghiệp.

O’Donnell chỉ ra một số sai lầm phổ biến sau đây khiến nhân viên thế hệ Y tự cản đường thăng tiến của mình.

1. Chỉ làm cho hết giờ

Nhân viên thế hệ Y rất quý thời gian rảnh rỗi, vì vậy họ có khuynh hướng “chi li đến từng giây” trong việc tính toán thời gian làm việc mà họ được trả lương. Chẳng hạn, nếu một nhân viên đến văn phòng lúc 8 giờ 29 phút sáng thì nhân viên ấy sẽ rời văn phòng lúc 5 giờ 59 chiều (thời gian nghỉ trưa chính xác của nhân viên này là 30 phút).

Theo O’Donnell, khi tính toán thời gian làm việc quá kỹ như trên, nhân viên sẽ “gửi đi một thông điệp rằng” họ chẳng quan tâm đến điều gì khác ngoài công việc chính của mình.

Dưới mắt các nhà quản lý, những nhân viên như thế chỉ xem việc làm của họ là công việc đơn thuần chứ không phải là một sự nghiệp. Dĩ nhiên, nhà quản lý sẽ không tạo cơ hội thăng tiến cho những nhân viên này.

Lời khuyên của O’Donnell là nên ở lại làm việc thêm ít nhất 15 phút một vài lần trong tuần. Khi ấy, nhân viên cũng có cơ hội trò chuyện thân mật với sếp về những công việc đang diễn ra, giải thích lý do phải làm việc muộn để hoàn thành một công việc nào đó.

Đây cũng là dịp nhân viên xây dựng quan hệ cá nhân tốt hơn với sếp, thể hiện mình là người đam mê và tận tụy với công việc - hai yếu tố quan trọng mà sếp sẽ cân nhắc khi có cơ hội thăng chức cho nhân viên.

2. Không đưa ra các đề xuất

Bất cứ vị sếp nào cũng sẽ nói với nhân viên rằng “chúng ta không có đủ thời gian và công việc thì chẳng khi nào là hoàn tất”. Sẽ luôn phát sinh nhiều vấn đề cần được giải quyết nếu nhân viên chịu khó quan tâm, để ý đến mọi việc.

Những nhân viên chủ động đưa ra đề xuất cải thiện công việc và bước ra khỏi phạm vi trách nhiệm chính của mình thường chứng tỏ rằng họ có thể đảm nhiệm những vai trò lớn hơn, vì thế cũng sẽ được sếp ưu tiên đề bạt hơn khi có các cơ hội thăng tiến.

O’Donnell khuyên các nhân viên nên dự đoán trước những kỳ vọng của sếp và chủ động đưa ra đề xuất làm những việc ấy trước khi được sếp yêu cầu. Nên nhớ rằng, nhà quản lý thích thăng chức cho những nhân viên có thể làm cho cuộc sống của họ dễ dàng hơn.

3. Chỉ nêu ra vấn đề nhưng không đề xuất giải pháp

Nhân viên thế hệ Y thường lớn lên trong môi trường giáo dục đề cao sự bình đẳng và tôn trọng cá nhân, được khuyến khích phát biểu những suy nghĩ, quan điểm của mình. Khi bước vào thế giới công việc, họ thường là những người khá tự tin, sẵn sàng chỉ ra những vấn đề thiếu sót, những quy trình chưa được hoàn thiện, những dự án thất bại của tổ chức hay sự bất mãn của khách hàng.

Tuy nhiên, vì thời gian gắn bó với tổ chức chưa lâu cộng với việc thiếu kinh nghiệm nên họ thường không theo đuổi các vấn đề này đến tận cùng bằng cách đưa ra các ý tưởng hay giải pháp mang tính xây dựng.

Do vậy, những ý kiến vì mục đích tốt ban đầu của các nhân viên thế hệ Y có thể trở thành những lời phê bình, chỉ trích ít được tổ chức đón nhận. Các nhà quản lý có thể vẫn tôn trọng những ý kiến này nhưng chỉ ghi nhận chúng vào “danh sách những vấn đề cần xem xét hay giải quyết”.

Dưới mắt họ, các nhân viên này cũng chỉ là những người chưa có nhiều kinh nghiệm hoặc chưa thật sự đam mê với công việc và yêu mến tổ chức nên chưa phải là ứng viên sáng giá cho các cơ hội thăng tiến.

O’Donnell khuyên, nếu đã chỉ ra một vấn đề nào đó thì nên đưa ra giải pháp. Đây cũng chính là con đường dẫn đến thăng tiến nhanh nhất.
4. Đặt ra các thời hạn hoàn thành công việc quá dài

Doanh nghiệp trả lương cho nhân viên với kỳ vọng nhân viên sẽ làm việc với năng suất cao. Nhân viên làm việc càng hiệu quả thì sẽ càng được đánh giá cao.

Tuy nhiên, trên thực tế các nhân viên thế hệ Y thường không muốn mình là người thất bại, nên thường kéo dài thời gian cần thiết để hoàn tất các công việc, dự án. Điều không may là sếp thường chỉ đề bạt thăng tiến cho những nhân viên thật sự xem thời gian là tiền bạc.

O’Donnell khuyên nhân viên nên tự thúc mình hoàn thành công việc kịp thời và quan trọng nhất là nên chủ động báo cho sếp biết mục tiêu, cam kết về thời gian của mình để sếp không cảm thấy có nhu cầu phải “quản lý vi mô” nhân viên.

Sau đó, cố gắng hoàn thành trước thời hạn vài giờ hoặc vài ngày để sếp có thời gian đánh giá kết quả công việc hoặc đưa ra phản hồi, đề nghị chỉnh sửa nếu cần thiết.

5. Thiếu nhiệt tình với sứ mệnh của doanh nghiệp

Mục đích tồn tại của một doanh nghiệp là để giải quyết một vấn đề nào đó cho khách hàng của mình. Các nhà quản lý có xu hướng tạo cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp cho những nhân viên thật sự có cùng mục đích ấy và quan tâm đến việc giải quyết các vấn đề của khách hàng, giúp khách hàng hài lòng.

Cho dù ở bất cứ vị trí nào, nhân viên cũng nên tìm hiểu những việc mình làm ảnh hưởng ra sao đến việc giúp doanh nghiệp thực hiện sứ mệnh.

O’Donnell khuyên các nhân viên thế hệ Y không nên cảm thấy ngại ngùng khi chia sẻ niềm tự hào về những mục đích cao đẹp của doanh nghiệp mà mình đang gắn bó.

Hãy nói cho sếp biết rằng bạn cảm thấy rất vui khi là một thành viên của công ty và rằng bạn cũng đang chia sẻ niềm vui ấy với gia đình, bạn bè của mình.

Các ông chủ sẽ thích chọn những nhân viên hành xử như những người chủ doanh nghiệp vào các vị trí quản lý cấp cao. Khi thể hiện được sự nhiệt tình và đam mê của mình vì sứ mệnh của doanh nghiệp, các nhân viên thế hệ Y sẽ có nhiều triển vọng thăng tiến hơn.
(Doanh Nhân Sài Gòn)
>> Thế hệ Y - thế hệ bản lề 
>> Học cách kết nối với khách hàng thế hệ Y ở châu Á 
>> Thế hệ Y - thế hệ bản lề
Share:

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2015

Marketing theo địa điểm: kỷ nguyên mới của ngành tiếp thị?

Ngày nay, người sử dụng sẵn sàng chia sẻ thông tin địa điểm của họ với các thương hiệu để đổi lấy những nội dung cá nhân hoặc các chương trình khuyến mại phù hợp.Marketing theo địa điểm: kỷ nguyên mới của ngành tiếp thị?
Các thông tin về địa điểm có ở khắp mọi nơi. Nó được nhúng trong trong những bức ảnh bạn chia sẻ, những ứng dụng có GPS mà bạn sử dụng, những giao dịch trực tuyến bạn thực hiện.

Đó thực sự là ý tưởng của việc marketing theo địa điểm- sử dụng dữ liệu địa điểm để thúc đẩy tham gia, mang đến nhiều trải nghiệm cá nhân hóa và xây dựng được tập khách hàng trung thành.
Đối với những người làm marketing, hiểu biết về địa điểm của người sử dụng cung cấp những cái nhìn sâu sắc có giá trị vào sử dụng. Nếu người sử dụng đang đứng gần địa điểm bán lẻ, họ có thể bày tỏ sự quan tâm đến thương hiệu của bạn. Cơ hội để thu hút người dùng ở thời điểm quan trọng là điều khiến marketing theo địa điểm trở lên thú vị.

Công nghệ này vẫn rất mới, nhưng ngay bây giờ bạn có một số cách để trải nghiệm marketing theo địa điểm để mở rộng các chiến dịch quảng cáo và tăng ROI.

Dưới đây là 5 lĩnh vực mà marketing theo địa điểm có nhiều khoảng trống để thực nghiệm:

1. Cá nhân hóa ý nghĩa hơn

Việc cá nhân hóa rất quan trọng với một chiến lược trên điện thoại di động, vậy bạn nên làm gì để cải thiện nó

Bắt đầu với phân khúc người dùng một cách hiệu quả. Thâm nhập vào tập dữ liệu và tìm hiểu càng nhiều càng tốt những gì bạn có thể về người dùng của bạn: sở thích của họ, những nội dung họ quan tâm nhiều nhất, những kiểu chào hàng hấp dẫn nhất, các tính năng của ứng dụng họ yêu thích,.. Sau đó, sử dụng những dữ liệu đó để xác định các nội dung, chương trình khuyến mại và tần suất chia sẻ qua di động.

Ngay cả những thứ đơn giản nhất như kết hợp tên và danh sách mua sắm đã được chắt lọc là những cách có hiệu quả nhất để cá nhân hóa những trải nghiệm trên di động.

2. Cung cấp các nội dung có liên quan

Nội dung như chất kết dính sự tham gia. Nếu nội dung của bạn hiệu quả, nó sẽ giữ được sự chú ý của người dùng. Nếu nội dung của bạn không phù hợp, mối quan hệ sẽ bị phá vỡ và người dùng sẽ bỏ qua các chương trình truyền thông trong tương lai của bạn. Marketing theo địa điểm đòi hỏi những nội dung hiệu quả.

Các thương hiệu đang thử nghiệm nhiều cách- sử dụng các công cụ sáng tạo như công cụ tương tác thực tế bổ sung, bản đồ vi- vĩ mô, các đèn hiệu để cung cấp thông tin hữu ích. Ví dụ ở một khách sạn, khi có khách check-in, có thể cung cấp một đoạn video về dịch vụ spa đến những khách hàng, người có thể hứng thú với nó thông qua một ứng dụng.

Hoặc lấy ví dụ về lễ hội South by Southwest Festival. Năm nay, lễ hội này sử dụng hơn 1,000 đèn hướng dẫn để kết nối với người tham gia về mạng lưới cơ hội, sự kiện diễn ra gần đó và các thông tin hữu ích khác.

Những nội dung không chỉ là liên quan mà nó còn cung cấp các ưu đãi cho người dùng để ở lại tham gia.

3. Tiền thưởng khuyến mại

Cung cấp các ưu đãi khi sử dụng ứng dụng của bạn tăng cường sự tham gia và lòng trung thành. Ví dụ, bạn có thể cung cấp cho người dùng một chương trình khuyến mại độc quyền hoặc sử dụng hệ thống tích điểm thưởng. Nhiều nhà bán lẻ cung cấp cho người sử dụng những phần thưởng khi hoàn thành công việc, như là đến các điểm tham quan hoặc mở bản đồ trong khi đang ở trong cửa hàng. Tuy vậy, các thương hiệu có thể không chỉ thưởng cho những khách hàng tỏ ra hứng thú với mình mà còn giúp họ có thể có cái nhìn sâu sắc về sở thích của người dùng khi mua sắm.

Một chiến lựơc hiệu quả khác mà các thương hiệu đang sử dụng: huy động các chương trình thẻ khách hàng thân thiết. Nếu những khách hàng thường xuyên của bạn đang ở gần một trong những cửa hàng của bạn thì có thể gửi ngay cho họ những nội dung liên quan. Bạn có thể gửi một thông báo: “Xin chào! Bạn sẽ tiết kiệm được 5% cho đơn hàng tiếp theo!”

Đây là điều thú vị và hấp dẫn về marketing theo địa điểm: khả năng cung cấp các ưu đãi khi có ý nghĩa nhất.

4. Sử dụng dữ liệu địa điểm để tăng cường trải nghiệm khi mua sắm

Hơn một nửa người tiêu dùng nói rằng họ sử dụng một thiết bị di động khi mua sắm. Nếu họ đã sẵn sàng chia sẻ dữ liệu về địa điểm, thực tế này giúp bạn có thể tính toán tốn hơn về lần dừng chân của khách hàng, hiểu về luồng giao thông, và nhận ra nơi khách hàng tương tác với các thiết bị hiển thị và hướng dẫn.

Marketing theo địa điểm khiến việc hoàn thiện các trải nghiệm trong cửa hàng để phục vụ khách hàng tốt trở nên dễ dáng hơn hết. Và không chỉ ở những địa điểm bán lẻ, bản đồ nhiệt có thể sử dụng ở sân vận động, khách sạn, bảo tàng, sân bay và những nơi khác để cải thiện luồng giao thông, bố trí lại theo khu vực hoặc theo mùa và điều chỉnh hoạt động bán hàng.

5. Lợi dụng dịch vụ thanh toán di động

Thanh toán di động không chỉ là một cách thức chi trả. Chỉ nghĩ rằng, thực tế trong ví của chúng ta có những thứ như thẻ thành viên, mã giảm giá và các công thức. Đưa quan niệm này vào chiến lược marketing theo địa điểm, bạn phải chú ý đến cách tận dụng thanh toán di động để tương tác với khách hàng trước, trong và sau khi mua hàng.

Một ví dụ có thể khiến khách hàng dễ dàng lưu lại những mã giảm giá ở trên các thiết bị thông minh của họ. Nếu người dùng lưu một mã, bạn cớ thể gửi một lời nhắc nhở sử dụng chúng khi người dùng ở gần địa điểm bán lẻ của bạn.

Thanh toán di động là một phần quan trọng, nhưng đừng quên chú ý đến toàn bộ ví tiền.

Marketing đến một thế hệ công nghệ đòi hỏi sự sáng tạo và marketing theo địa điểm là tất cả những sáng tạo cùng với công nghệ để mang đến những trải nghiệm thực tế, cá nhân hóa.

Tất nhiên, chúng ta đang phải đối mặt với những gì vẫn còn là công nghệ mới, và có nhiều nút thắt cần làm rõ. Ví như ranh giới giữa một ứng dụng mang đến những nội dung có liên quan, tiết kiệm và cá nhân hóa với một ứng dụng khác không liên quan, gây khó chịu và (tồi tệ hơn cả) đáng sợ.

Nhưng điều quan trọng là việc thử nghiệm tìm kiếm sự cân bằng hiện tại bởi dữ liệu về địa điểm có khả năng sẽ mang đến một kỷ nguyên mới cho ngành marketing.

Theo Trí Thức Trẻ 

Share:

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

Người trẻ Việt mua nhà đất thường theo quy trình nào?

Ngày nay Internet có vai trò không nhỏ với việc mua bán bất động sản. So với các sản phẩm khác, nhận biết của người mua ít bị ảnh hưởng bởi trải nghiệm quá khứ nhưng ảnh hưởng mạnh từ quảng cáo và kết quả từ quá trình nghiên cứu.
“An cư, lạc nghiệp” là tâm lý chung của phần lớn người dân Việt Nam khi muốn mua một căn nhà hay căn hộ. Theo đánh giá của nhiều chủ đầu tư, nhiều chính sách mới, hỗ trợ bất động sản trong thời gian gần đây sẽ hút được người mua quay lại thị trường sau một thời gian dài đóng băng. Tuy nhiên khoảng thời gian từ khi xác định nhu cầu cho tới tìm hiểu về những lựa chọn sẵn có với một người mua căn hộ thường kéo dài từ 15-24 tháng, báo cáo phân tích của công ty giải pháp trực tuyến Moore mới đây cho biết.

Trong thời đại bùng nổ internet hiện nay, để mua được một căn hộ như ý người Việt thường trải qua quy trình gồm 4 bước gồm: Khám phá, tìm kiếm trực tuyến, đánh giá cho tới thực hiện giao dịch.

Khám phá

Đây là bước đầu tiên giúp định hình nhu cầu của người mua và những lựa chọn sẵn có, những lựa chọn phù hợp về căn hộ. Thường nhu cầu mua căn hộ có thể xuất phát từ mong muốn cá nhân như không gian sống yên tĩnh hơn, diện tích rộng hơn hoặc sự kiện trong cuộc sống như thay đổi nơi làm việc, có con hoặc về hưu.

Trong thời gian khám phá nhu cầu, các yếu tố được người mua cân nhắc tới như thời điểm tốt để mua, khu vực địa lý nên xem xét, loại căn hộ phù hợp với nhu cầu, những thông tin và xu hướng nào cần biết. Trước khi Internet phát triển, giai đoạn này rất khó khăn, giới hạn và không hiệu quả do thiếu thông tin nên họ thường liên lạc với các đại lý. Hiện nay, hơn 60% người mua sử dụng công cụ tìm kiếm như Google, website của dự án để xem xét giá, vị trí, hình ảnh căn hộ và cảnh quan xung quanh, họ tự kiếm thông tin thay vì gặp gỡ đại lý.

Tìm kiếm trực tuyến

Sau khi xác định được nhu cầu, người mua thường tìm kiếm thông tin trong khoảng thời gian từ 3-7 tháng. Giai đoạn này người mua bắt đầu giảm số lượng căn hộ tiềm năng và tìm kiếm thông tin chi tiết hơn về môi trường xung quanh căn hộ như giao thông, trường học, đời sống dân cư cũng như đặc tính về diện tích, số lượng phòng.

Để chọn được căn hộ phù hợp, người mua thường suy nghĩ tới các yếu tố như căn hộ nào đủ điều kiện mua trong khu vực mong muốn, có những lựa chọn tài chính nào cho căn hộ này, dân cư, trường học, bệnh viện quanh đây ra sao. Kết thúc giai đoanh này họ thường quyết định xong về khu vực, xác định ra loại căn hộ cùng với danh sách vài dự án. Người mua có nhiều thông tin hơn so với giai đoạn trước và động lực mua sắm mạnh hơn, bắt đầu tiến hành liên hệ với đại lý nhằm giúp họ đánh giá lựa chọn.

Đánh giá

Sau khi đưa ra được tên vài dự án, người mua bắt đầu đánh giá từ 1-3 tháng kể từ khi liên hệ với đại lý cho đến ra quyết định mua. Đến bước này, người mua nhà thường có nhu cầu tham quan căn hộ thực tế, nhận biết rõ các vấn đề liên quan như sở hữu, tài chính, thủ tục, quá trình giao dịch, dịch vụ đi kèm.

Vì đánh giá nhờ vào đại lý nên người mua thường có những suy nghĩ về đối tượng trung gian này như đại lý đã từng bán bao nhiêu căn hộ trước đây, biêt rõ khu vực quanh căn hộ như thế nào, có những mối quan hệ để công việc diễn ra dễ dàng không, có đưa ra lời khuyên dựa trên số tiền và nhu cầu của tôi không. Những yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn đại lý giao dịch gồm ấn tượng, trung thực và đáng tin, hiểu biết về khu vực xung quanh và danh tiếng.

Giao dịch

Đây là bước cuối từ 20-30 ngày và quyết định thành công của việc mua bán căn hộ. Trong giai đoạn này người mua thương lượng, nhận lời khuyên, hướng dẫn và thực hiện giao dịch với đại lý đồng thời vẫn tích cực tìm kiếm thông tin về căn hộ, đặc biệt là xem xét/so sánh giá qua Internet.

Các vấn đề được người mua quan tâm trong bước này như quá trình giao dịch như thế nào, có gì quan trọng, nên trả tất cả bao nhiêu cho căn hộ này, có người nào khác đang muốn mua căn hộ không, có điều gì bất trắc không, có mất tiền đặt cọc không, bao lâu sau khi giao dịch có thể chuyển đến sinh sống.

Ngày nay Internet có vai trò không nhỏ với việc mua bán bất động sản. So với các sản phẩm khác, nhận biết của người mua ít bị ảnh hưởng bởi trải nghiệm quá khứ nhưng ảnh hưởng mạnh từ quảng cáo và kết quả từ quá trình nghiên cứu. Trong giai đoạn đánh giá, đa phần người mua nghiên cứu online trước. Theo khảo sát người dùng dưới 44 tuổi của Google 2015, 76% người mua nghiên cứu online trước khi mua, nguồn phổ biến là trang tìm kiếm (74%), mạng xã hội (36%), website đại lý, môi giới (33%) và 57% giao dịch offline bắt đầu từ Internet.
(Theo Trí Thức Trẻ/Moore)


Share:

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Học cách kết nối với khách hàng thế hệ Y ở châu Á

Theo một báo cáo gần đây của Deloitte, người tiêu dùng thế hệ Y (hay còn gọi là “millenials”, tức thế hệ sinh ra trong giai đoạn thập niên 1980 và 1990) hiện chiếm hơn 50% lực lượng lao động toàn cầu. Tại châu Á, tỷ lệ này tuy có sự cách biệt khác nhau giữa nhiều nước và lãnh thổ, nhưng đặc điểm chung của nhóm khách hàng này là tiềm năng tiêu dùng của họ rất lớn. 


Chẳng hạn, số người tiêu dùng thế hệ Y ở Hongkong chiếm hơn một phần tư dân số 1,9 triệu người của lãnh thổ này nhưng mỗi người lại có một tài sản có thể đầu tư trị giá trung bình khoảng 100.000 USD, theo số liệu của LinkedIn và IPSOS được công bố trong báo cáo gần đây mang tên Nghiên cứu Người tiêu dùng thế hệ Y thành đạt (Affluent Millenials Research).

Theo Nellie Chan - Giám đốc giải pháp tiếp thị, phụ trách khu vực Đông Nam Á và Bắc Á của LinkedIn, để gắn kết một cách hiệu quả với nhóm khách hàng tiềm năng nói trên, các doanh nghiệp cần phải thay đổi chiến lược tiếp cận họ.

Theo đó, những doanh nghiệp thành công trong những năm tới sẽ là những công ty hiểu rõ suy nghĩ của những khách hàng thuộc thời đại kỹ thuật số này.

Một trong những đặc điểm lớn nhất của khách hàng thế hệ Y tại châu Á là họ thường chủ động tìm kiếm thông tin để ra các quyết định tài chính quan trọng.

Ở Hongkong, 65% khách hàng thế hệ Y giàu có là những người rất độc lập. Họ sẵn sàng tự nghiên cứu, tự đưa ra các quyết định và tự thực hiện các quyết định ấy.

Số người cần xác minh lại thông tin, được hiểu là những người cần phải tìm lời khuyên hay tư vấn từ một chuyên gia tư vấn tài chính trước khi ra quyết định, chỉ chiếm 29%.

Bên cạnh đó, 53% số khách hàng thế hệ Y giàu có thường chủ động tìm nội dung từ các mạng xã hội của các công ty tài chính.


Thực tế cho thấy, truyền thông xã hội đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong các quyết định tài chính của khách hàng thế hệ Y tại châu Á.

Theo nghiên cứu của LinkedIn, hơn 80% khách hàng thế hệ Y sử dụng ít nhất một mạng xã hội nào đó để tìm các thông tin, hướng dẫn về thuế cá nhân, đầu tư tài chính cũng như quan điểm, nhận định của những bạn bè cùng thế hệ về các thị trường tài chính.

Nellie Chan đưa ra những lời khuyên sau đây giúp các doanh nghiệp nắm bắt cơ hội tiếp cận nhóm khách hàng thế hệ Y thông qua truyền thông xã hội.

- Theo phân tích của LinkedIn, khách hàng thế Y là những người rất nhạy bén với kỹ thuật số và chú trọng xây dựng các mối quan hệ xã hội. Theo đó, khoảng một phần tư khách hàng thế hệ Y giàu có thường giao dịch với một công ty mà họ có thể tương tác qua các mạng truyền thông xã hội. Vì vậy, các công ty muốn khai thác phân khúc khách hàng này cần phải xây dựng một chiến lược tiếp thị bằng nội dung bài bản và tăng cường sự có mặt trên truyền thông xã hội.

- Người tiêu dùng thế hệ Y cũng rất cởi mở với các ý tưởng mới và các phương thức kinh doanh mới. Đây cũng là một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp mới thành lập. Chẳng hạn, 54% khách hàng thế Y giàu có sẵn sàng sử dụng dịch vụ của các công ty hay nhãn hiệu vốn không có thế mạnh về dịch vụ tài chính, như Google. Tại Hongkong, nhiều công ty cung cấp dịch vụ tài chính truyền thống hiện vẫn đang thống lĩnh thị trường. Tuy nhiên, Chan cho rằng, trước sự xuất hiện của ngày càng nhiều công ty mới với các phương thức hoạt động mới, các công ty truyền thống cũng cần phải thay đổi cách tiếp cận khách hàng và tăng cường xuất hiện trên các mạng truyền thông xã hội để gắn kết với khách hàng thế hệ Y.

- Khách hàng thế hệ Y cũng thường chủ động dự báo trước các thay đổi, những xu hướng sẽ có thể trở nên lạc hậu trong tương lai để có sự chuẩn bị. Chan khuyên doanh nghiệp nên kết nối với nhóm khách hàng này bằng những nội dung mang tính tư vấn, hướng dẫn như cách quản trị danh mục đầu tư tài chính, để thu hút sự quan tâm của họ. Theo nghiên cứu của LinkedIn, 75% khách hàng thế hệ Y quan tâm đến các nội dung này.

- Nên nhớ rằng, khách hàng thế hệ Y cũng thích chia sẻ những thông tin có giá trị với bạn bè và những người có cùng quan tâm. Do đó, nếu được họ tín nhiệm, doanh nghiệp cũng sẽ có rất nhiều cơ hội để kết nối với những khách hàng thuộc thế hệ Y khác thông qua các mạng truyền thông xã hội.
- Bên cạnh việc cung cấp các nội dung mà khách hàng thế hệ Y quan tâm qua các mạng truyền thông xã hội, Chan khuyên doanh nghiệp cũng cần phải chọn kênh giao tiếp phù hợp với họ. Chẳng hạn, ở Hongkong, hơn 50% khách hàng thế hệ Y thường truy cập vào mạng LinkedIn từ điện thoại di động.

Share:

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

Thế hệ Y và kinh tế thế giới 5 năm tới

Nếu nền kinh tế tiếp tục vững mạnh, thế hệ Y sẽ bắt đầu tạo ra các giao dịch thương mại giá trị lớn đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, thế hệ này cũng có thể gây tổn thất cho nền kinh tế bởi các khoản nợ sinh viên đang làm cho thế hệ này giảm chi tiêu và không lựa chọn mua nhà.

- S&P nhận định thế hệ được sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1981 đến 1997 này đã lên đến con số 80 triệu người và hàng năm chi tiêu khoảng 600 tỉ USD. Đến năm 2020, con số có thể lên đến 1,4 nghìn tỉ USD, tương đương 30% tổng doanh số bán lẻ

- Đáng ngạc nhiên là thế hệ này có thói quen chi tiêu dè dặt giống thế hệ "Im lặng" lớn lên trong và sau cuộc Đại suy thoái.

- Nếu nền kinh tế tiếp tục vững mạnh theo như dự đoán, có khả năng cao rằng thế hệ Y sẽ bắt đầu tạo ra các giao dịch thương mại giá trị lớn đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, thế hệ này cũng có thể gây tổn thất cho nền kinh tế bởi các khoản nợ sinh viên đang làm cho thế hệ này giảm chi tiêu và không lựa chọn mua nhà


Năm nay, “Thế hệ Y” hay “Thế hệ thiên niên kỷ” (Millennials) được dự đoán là sẽ vượt qua thế hệ Boomers để trở thành thế hệ đông đảo nhất nước Mỹ và ảnh hưởng của họ đến nền kinh tế sẽ sớm được cảm nhận theo một thang đo thậm chí lớn hơn.

Báo cáo của Beth Ann Bovino, chuyên gia kinh tế trưởng của Hãng xếp hạng tín nhiệm Standard and Poor’s (Mỹ), nhận định thế hệ được sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1981 đến 1997 này đã lên đến con số 80 triệu người và hàng năm chi tiêu khoảng 600 tỉ USD. Đến năm 2020, con số có thể lên đến 1,4 nghìn tỉ USD, tương đương 30% tổng doanh số bán lẻ.

Đáng ngạc nhiên là thế hệ này có thói quen chi tiêu dè dặt giống thế hệ "Im lặng" lớn lên trong và sau cuộc Đại suy thoái. Điểm phân biệt giữa thế hệ Y và các thế hệ khác chính là những khoản vay nợ sinh viên mà thế hệ này phải gánh vác. Điều này dẫn tới việc Gen Y (và một số Gen X) có ít cơ hội tiếp cận với những việc làm toàn thời gian và kém giàu có hơn so với thế hệ trước.

Bovino đã nhìn vào những gì mà thế hệ này có thể làm trong vòng 5 năm tới để xem chúng sẽ ảnh hưởng tới kinh tế Mỹ như thế nào.

Nếu nền kinh tế tiếp tục vững mạnh theo như dự đoán của S&P thì có khả năng cao rằng thế hệ Y sẽ bắt đầu tạo ra các giao dịch thương mại giá trị lớn đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, thế hệ này cũng có thể gây tổn thất cho nền kinh tế bởi các khoản nợ sinh viên đang làm cho thế hệ này giảm chi tiêu và không lựa chọn mua nhà

“Thế hệ trẻ có thể chiếm tới hơn 50% nguồn nhân lực trong vòng 5 năm tới. Họ vốn đã là nhóm người đông nhất trong lực lượng lao động Mỹ”. Kết hôn và sinh con muộn, thuê nhà thay vì mua nhà, thích sống ở thành thị hơn và không sở hữu nhiều xe là những nguyên nhân giải thích tại sao thế hệ Y có thế làm sụp đổ nền kinh tế Mỹ. “Hai phần ba tổng GDP là tiêu dùng nên chúng ta cần những người tiêu tiền", Bovino nói.

Thế hệ Y cũng là "thế hệ Im lặng"?

Thế hệ Y mang một số đặc điểm tương tự như những người thuộc Thế hệ Im lặng, những người được sinh ra từ giữa những năm 1920 đến đầu những năm 1940. Họ lớn lên trong và sau cuộc Đại suy thoái nhưng còn quá trẻ để tham gia chiến đấu trong gia đoạn đầu Thế chiến thứ II.

Cả hai thế hệ này đều lớn lên trong khoảng thời gian phải trải qua cuộc khủng hoảng tài chính lớn. Do đó thế hệ Y đang khá thận trọng về tài chính, nắm giữ hơn một nửa tài sản của họ bằng tiền mặt, khoảng một phần ba vào chứng khoán, và 15% trong tài sản thu nhập cố định.

Tuy nhiên, hai thế hệ khác nhau ở chỗ khi hoàn tất việc học của mình, thế hệ Im lặng có thể gia nhập vào một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ được hỗ trợ bởi chương trình chính sách kinh tế mới New Deal. Ngược lại, S&P chỉ ra rằng tỷ lệ chi tiêu chính phủ vào các dự án cơ sở hạ tầng so với GDP hiện ở mức thấp nhất trong hai thập kỷ qua có thể tác động đáng kể đến khả năng cạnh tranh lâu dài của kinh tế Mỹ.

Tiền sử vay nợ sinh viên

Sự khác biệt lớn nhất giữa hai thế hệ là những khoản nợ vay sinh viên của Thế hệ Y có thể làm suy giảm khả năng chi tiêu của họ. Sau khi điều chỉnh theo lạm phát, những người đi vay hiện nay phải trả lại số tiền cao gấp đôi so với những người đi vay cách đây 20 năm. Năm 1989, trung bình 3/5 người Mỹ nghèo nhất trong độ tuổi 18-34 có tài sản ròng 3.300 USD. Năm 2013, cũng nhóm độ tuổi này phải gánh trên vai khoản nợ ròng 7,700 USD.

Gánh nặng nợ đôi khi có thể buộc các thành viên của thế hệ này phải chấp nhận công việc họ không muốn, trong khi nếu không có nợ họ có thể tìm được những cơ hội tốt hơn. Người lao động bắt đầu sự nghiệp đúng vào thời kỳ kinh tế suy thoái sẽ phải mất ít nhất 15 năm để bù đắp số thu nhập giảm đi so với những người may mắn bước vào thị trường lao động đúng lúc kinh tế thịnh vượng.

Tuy nhiên, do thế hệ Y là thế hệ được giáo dục tốt nhất, Bovino tin rằng thành công trong sự nghiệp của họ đã bị trì hoãn, chứ không phải bị hủy bỏ. Tiền lương được dự kiến sẽ tăng đến 3% trong năm nay, có nghĩa là mức lương trả cho các công nhân trẻ sẽ tăng lên. Bởi vì người lao động có trình độ đại học thường kiếm được gấp đôi so với những người mới chỉ kết thúc trung học phổ thông nên Thế hệ Y có thể có nhiều khả năng kiếm tiền hơn.

Viễn cảnh bất lợi: Nhà đất chính là chìa khóa

Nếu tiền lương không tăng lên trong các thập kỷ tiếp theo, thế hệ Y sẽ phải tiếp tục "nhịn" mua bán những mặt hàng có giá trị lớn như nhà và xe hơi, đồng thời chậm trễ trong việc lập gia đình. Nhà đất theo đó cũng sẽ phát triển chậm. Bovino ước tính rằng viễn cảnh bất lợi này có thể có nghĩa là Mỹ sẽ bỏ lỡ 49 tỉ USD mỗi năm cho đến năm 2019.

Thế hệ Y đang hình thành các hộ gia đình với một tốc độ chậm hơn so với các thế hệ trước. Tỷ lệ thanh niên tuổi từ 25 đến 34 sống cùng bố mẹ đã tăng 17,5% trong giai đoạn 2007 - 2010. Năm 1960, 3/4 nữ giới và 2/3 nam giới trong nhóm này đã độc lập về tài chính, đã kết hôn và có con ở độ tuổi 30. Thậm chí vào năm 2003, số người Mỹ ở độ tuổi 30 tuổi có thể sở hữu nhà riêng nhiều hơn gấp đôi so với những người vẫn sống cùng bố mẹ.

Theo truyền thống, tỷ lệ những người có tiền sử nợ sinh viên sở hữu nhà sẽ cao hơn những người không có. Nhưng đây là lần đầu tiên trong ít nhất 10 năm, những người 30 tuổi không có tiền sử vay nợ sinh viên có khoản thế chấp nhiều hơn so với những người có tiền sử vay nợ.

Một vấn đề khác là việc giải ngân những khoản cho vay sinh viên đang ngày càng xấu đi. Mặc dù S&Pkhông mong việc trì hoãn trả nợ này lan rộng nhưng một số lượng đáng kể các vụ vỡ nợ sẽ làm tổn thương tài chính của đất nước kể từ khi chính phủ liên bang đỡ lưng cho hơn 85% các khoản vay sinh viên.

‘Vận tốc thoát khỏi lực hấp dẫn’

Bất chấp những thách thức này, các tín hiệu gần đây cho thấy vấn đề tạo việc làm và tiền lương đang tăng lên nhanh hơn so với tỉ lệ lạm phát.

Và Thế hệ Y đang bắt đầu mua xe mới nhiều hơn, họ đang vượt qua thế hệ X để trở thành nhóm khách hàng lớn thứ hai. "Chúng tôi đang nhìn thấy Gen Y bắt đầu mua xe hơi nhiều hơn, đó là những mặt hàng đắt tiền, và đó có nghĩa là họ đang cảm thấy một chút lạc quan hơn," Bovino nói.

S&P dự đoán kinh tế sẽ tiếp tục phát triển theo cách mà thế hệ Y có thể "chuyển tiếp vào giai đoạn trưởng thành theo như định nghĩa truyền thống để bắt đầu mua nhà, mua xe, và các mặt hàng lớn khác, điều đó sẽ tiếp tục kích thích tăng trưởng kinh tế ".
Theo Phạm Phương
Trí thức trẻ/Forbes 

 

Share:

Thế hệ Y - thế hệ bản lề

Chúng tôi xin giới thiệu tới bạn đọc chùm bài viết về thế hệ Y, qua đó giới thiệu khái niệm và những đặc tính của thế hệ Y cùng với những ảnh hưởng của thế hệ này tới các ngành kinh tế (bán lẻ, ngân hàng, marketing, intetnet...). Đây là bài viết mở đầu cho series này.

Tuổi tác cùng với môi trường sinh ra và lớn lên, hệ thống giáo dục y tế nhận được ... là những yếu tố tác động rất lớn đến tính cách, các kỹ năng và quan điểm sống của mỗi con người. Theo phân loại về nhân khẩu học được sử dụng rộng rãi trên thế giới, chúng ta có 3 thế hệ chiếm phần lớn dân số thế giới hiện nay.

Đầu tiên thì có thế hệ Boomers là thế hệ được sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số. Tiếp đến là Thế hệ X (Gen X) được biết đến kể từ tác phẩm "Thế hệ X: Những câu chuyện cho nền văn hóa đang phát triển" của Douglas Copeland xuất bản năm 1991. Và bây giờ như một bước logic tiếp theo chúng ta có Thế hệ Y.

Chúng tôi xin giới thiệu tới bạn đọc chùm bài viết về thế hệ Y, qua đó giới thiệu khái niệm và những đặc tính của thế hệ Y cùng với những ảnh hưởng của thế hệ này tới các ngành kinh tế (bán lẻ, ngân hàng, marketing, intetnet...). Đây là bài viết mở đầu cho series này.

Thế hệ Y là gì?

Truyền thông gắn liền triển vọng của thế hệ này với năm 2000 - năm bản lề giữa hai thiên niên kỷ và do đó họ có tên là thế hệ Millenials. Các tác giả William Strauss và Neil Howe đã viết về thế hệ Millennials trong cuốn sách "Generations: The History of America's Future, 1584 to 2069" (Tạm dịch: Các thế hệ: Lịch sử của tương lai nước Mỹ, 1584 đến 2069). Năm 1987, họ là những người đầu tiên đưa ra khái niệm thế hệ Y, dùng để chỉ "những đứa trẻ được sinh ra gần năm 1982, đang bước vào trường học". Strauss và Howe sử dụng năm 1982 là năm đầu tiên thế hệ này được sinh ra là năm 2004 là năm cuối cùng.

Cụm từ (Generation Y) lần đầu tiên xuất hiện vào tháng 8/1993, trong một bài báo của tờ Ad Age. Cụm từ này được dùng để mô tả những đứa trẻ của "thời đại ngày nay" và lấy năm 1982 là mốc bắt đầu có những đứa trẻ thế hệ Y được sinh ra.

Thế hệ Y còn có một vài cái tên khác như Generation We (thế hệ chúng tôi), Global Generation (thế hệ toàn cầu), Generation Next (thế hệ tiếp theo) hay Net Generation (thế hệ Internet). Đôi lúc họ cũng được gọi là thế hệ Echo Boomers, ám chỉ rằng thế hệ này có quy mô đông đảo tương đương với Baby Boomer.

Tháng 5/2013, tạp chí Time có chùm bài viết về thế hệ này, định nghĩa họ là những người sinh ra từ năm 1981 đến 2000.

Còn Viện nghiên cứu Pew của nước Mỹ định nghĩa thế hệ Y được sinh ra trong các năm từ 1981 đến 1997.

Nguyên nhân của sự khác biệt này là bởi vì khi nói đến việc xác định một thế hệ thì ranh giới giữa các thế hệ là không rõ ràng lắm. Nó không giống như kiểu bật một công tắc chuyển thế hệ thì tất cả các em bé mới sinh ra sau đó đột nhiên thay đổi đặc tính của chúng.

Tuy nhiên, khi 80 triệu đứa trẻ lớn lên trong thập niên 80 và 90 và bắt đầu trưởng thành thì những đặc điểm chung cũng dần được thể hiện để phân biệt với Gen X đi trước.

Sự khác biệt lớn nhất giữavà Y là những trẻ em ở thời thế hệ X thường được gọi là thế hệ bị bỏ rơi – được nuôi dưỡng tại một thời điểm khi mà cả bố và mẹ đều phải đi làm và để những đứa bé tự xoay sở ở nhà một mình. Trong khi đó thế hệ Y được coi là thế hệ nhận được sự chăm sóc của bố mẹ đầy đủ nhất trong lịch sử. Họ cũng là thế hệ có nhiều thanh niên nhất trong lịch sử - lớn hơn 3 lần so với Thế hệ X.

Những đặc điểm của Thế hệ Y

Họ có hàng trăm người bạn từ các mạng xã hội mà họ tham gia nhưng họ cũng đánh giá sâu sắc các giá trị gia đình. Họ thường bị đánh giá là tự cao và bộp chộp nhưng họ vẫn luôn khao khát học hỏi và cống hiến. Họ luôn muốn kiếm thật nhiều tiền những họ cũng không quên những hỗ trợ tình nguyện. Họ sẵn sang trả giá cao cho một thương hiệu nào đó nhưng họ cũng đủ nhận thức để biết được giá trị thật của hàng hóa

Có lẽ cũng giống như tất cả những thế hệ đi trước, các thành viên Thế hệ Y là bức khảm chân dung đầy xung khắc. Và có lẽ điểm nội bật trong số đó chính là sự lạc quan không ngừng cho dù họ phải lớn lên ở thời điểm khi mà phải chứng kiến học sinh bắn gục học sinh khác ở trường học và khi mà khủng bố lao máy bay vào những tòa cao ốc. Nhưng dường như thay vì tỏ ra sợ hãi và thu mình lại thì thế hệ này lại luôn tràn ngập sự lạc quan và những suy nghĩ tích cực. Điều này dường như cũng xuất phát từ một triết lý rằng bất cứ điều gì cũng có thế xảy ra nên hãy tận hưởng từng giây phút khi bạn còn có thể.

Chứng kiến bố mẹ li hôn và những người bạn của mình bước ra khỏi phòng thay đồ như một người đồng tính, Thế hệ Y dần đã trở thành một trong những thế hệ cởi mở nhất trước bất cứ những thay đổi nào. Trên thực tế, 93% ủng hộ những mối quan hệ giao lưu giữa các chủng tộc.

Tuy nhiên, mặc dù có khuynh hướng tự do những thành viên của thế hệ Y có xu hướng cầu toàn hơn nhiều so với Thế hệ X đi trước. Họ muốn thay đổi cả thế giới, nhưng họ đang hạnh phúc khi mặc những chiếc quần jeans "sành điệu" và đi giày thể thao như bao người bạn của mình.

Thế hệ Y nơi công sở

Do những phản hồi tích cực và ngợi khen không ngừng mà Thế hệ Y nhận được trong suốt cuộc đời của họ, những người trẻ tuổi của thế hệ này có xu hướng cực kỳ tự tin – nếu không nói là quá tự tin. Họ có xu hướng gia nhập lực lượng lao động với kỳ vọng rất cao về bản thân và cả về người thuê họ, và họ thường có kế hoạch để thay đổi một cách có hiệu quả tại công ty từ ngày đầu tiên đi làm. Họ cũng thường có những kỳ vọng mức lương cao hơn nhiều so với vị trí mới vào, mặc dù điều này đã được trải nghiệm phần nào qua cuộc Đại suy thoái.

Ngoài ra, do nhiều thành viên khác của thế hệ này đã về nhà sau khi tốt nghiệp đại học (mọi người cho họ một biệt danh là Thế hệ Peter Pan bởi vì họ chưa thực sự "trưởng thành" và đi ra ngoài một mình cho đến những năm đầu của tuổi 30) nên họ có nhiều cơ hội nhảy từ công việc sang công việc cho đến khi họ tìm thấy một công việc phù hợp với họ. Sự không sợ hãi này có xu hướng làm cho họ trở nên mạnh dạn và không lo ngại về các ông chủ.

Trong khi sự bảo đảm về nghề nghiệp có thể không được ưu tiên đối với các bạn trẻ Thế hệ Y, nhưng sự bảo đảm tài chính chắc chắn là có. Thường thì khi xem bố mẹ mình mất rất nhiều trên thị trường chứng khoán hoặc sau các vụ thất bại trên thị trường bất động sản, Thế hệ Y có xu hướng học hỏi và hiểu biết về tài chính nhiều hơn.

Tuy nhiên, thế hệ này có xu hướng tích trữ tiền - và công việc - trong vị trí của nó. Thế hệ Y suy nghĩ rằng làm việc để sống chứ không phải sống để làm việc. Họ thích làm một công việc thú vị có thể kiếm được ít tiền nhưng cho phép họ có nhiều thời gian ở ngoài văn phòng (hoặc làm việc tại nhà) hơn là bị gò bó trong một ngày làm việc 12 giờ để có một mức lương 6 con số.

Tóm lại, Thế hệ Y muốn tìm kiếm những công việc mang lại cho họ nhiều cơ hội để thay đổi và phát triển - cả về chuyên môn lẫn con người. Họ mong muốn những phản hồi nhanh trong công việc (giống như khi nhắn sms cho bạn bè và được trả lời trong vòng vài giây hoặc khi bài viết của mình được đăng trên Facebook thì nhanh chóng nhận được rất nhiều “Like”).

Họ không muốn trở thành bánh răng trong một cỗ máy của công ty, và cũng không muốn bị chỉ bảo phải làm gì bởi một ông sếp độc đoán. Họ muốn định hình và được định hình bởi kinh nghiệm làm việc mỗi ngày của họ - và nếu trải nghiệm đó có thể là được làm việc với bạn bè của họ trong một môi trường vui vẻ và thoải mái thì càng tốt hơn rất nhiều.
(Cafef/Tri Thuc Tre)

>> Thung lũng Silicon sẽ "giết chết" các ngân hàng phố Wall như Uber "giết" taxi truyền thống?
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?