Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn nợ xấu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nợ xấu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2016

Quỹ đầu tư của Chính phủ Singapore muốn đầu tư ít nhất 600 triệu USD vào Vietcombank

Quỹ đầu tư GIC Pte Ltd của Chính phủ Singapore đang đàm phán để mua ít nhất 7% cổ phần của Vietcombank.
Hãng tin Reuters trích dẫn nguồn tin thân cận cho biết quỹ đầu tư trực thuộc nhà nước Singapore GIC đang đàm phán để mua lại ít nhất 7% cổ phần của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) thông qua phát hành cổ phiếu mới.

Nếu thành công đây sẽ là thương vụ đầu tư thứ hai của GIC ở Việt Nam kể từ đầu năm đến nay.

Thương vụ bán cổ phần cho đối tác ngoại thành công của ngân hàng lớn nhất cả nước xét theo giá trị vốn hóa sẽ là một lá phiếu chứng tỏ niềm tin vào hệ thống ngân hàng của Việt Nam vốn bị ảnh hưởng tiêu cực bởi nợ xấu.

Vietcombank dự định sẽ phát hành cổ phần mới cho các nhà đầu tư ngoại với khối lượng tương đương 10% số cổ phần hiện tại. Tính theo giá trị thị trường hiện tại, số cổ phần này sẽ tương đương 600 triệu USD.

Nguồn tin cho biết cổ phần được phát hành cho GIC ở mức giá ưu đãi so với giá thị trường.

Thương vụ này cũng phải được NHNN – cổ đông lớn nhất của Vietcombank – thông qua.

Với 7% cổ phần, GIC sẽ là cổ đông lớn thứ 3 của Vietcombank, sau NHNN (đang sở hữu 77%) và ngân hàng Mizuho của Nhật Bản (đang sở hữu 15%).

Hồi tháng 3, GIC đã mua thêm cổ phiếu để sở hữu hơn 5% của tập đoàn Masan.

6 tháng đầu năm 2016, Vietcombank có lợi nhuận ròng tăng trưởng 39% so với 1 năm trước, nhờ tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cao trong khi tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu giảm xuống.

Toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đã đón nhận những tín hiệu tích cực như Vietcombank, nhờ nền kinh tế tăng trưởng tốt và tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh so với mức cao kỷ lục được lập năm 2012. Theo số liệu của NHNN, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống đã giảm từ mức 17,2% của năm 2012 xuống còn 2,55% trong năm ngoái.

Tuy nhiên, công cuộc cải tổ hệ thống ngân hàng Việt Nam đang gặp phải một số lực cản như hiện tượng sở hữu chéo chằng chịt phức tạp và hiện nay các nhà đầu tư nước ngoài vẫn chỉ có thể sở hữu tối đa 30% cổ phần của một ngân hàng Việt.
(Theo Trí thức trẻ)
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán


Share:

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

Khám sức khỏe nhóm “Big 4” ngân hàng Việt Nam

Chi tiết tình hình nợ xấu, các chỉ số tài chính, an toàn, sinh lời của nhóm “Big 4” ngân hàng thương mại nhà nước...

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vhd0tm5mqsX

Quy mô tổng tài sản của nhóm các ngân hàng thương mại nhà nước đã chính thức vượt mốc 3 triệu tỷ đồng, đến tháng 8/2015 là 3.089,8 nghìn tỷ đồng, tăng 56,87% so với 12/2011.

“Sau gần bốn năm triển khai các giải pháp cơ cấu lại, thế và lực của các ngân hàng thương mại nhà nước đã từng bước được củng cố và cải thiện, bảo đảm thực hiện được vai trò trụ cột của hệ thống”, cơ quan thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước vừa đưa ra đánh giá mới nhất.

Cùng với khối ngân hàng thương mại cổ phần, những đánh giá trên được tập hợp trước thềm khép lại quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng giai đoạn 2011-2015, để chuẩn bị bước sang một giai đoạn mới.

Xử lý nhanh nợ xấu
Trong gần bốn năm qua, Ngân hàng Nhà nước đã lần lượt phê duyệt đề án cơ cấu lại của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank).

Theo cơ quan thanh tra giám sát, đến nay các ngân hàng này đang tích cực tiến hành tái cơ cấu theo đúng mục tiêu, định hướng và lộ trình đề ra.

Riêng trường hợp Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), từ năm 2013 đề án tái cơ cấu cũng đã được phê duyệt, song Ngân hàng Nhà nước yêu cầu xây dựng 8 phương án cơ cấu lại cụ thể đối với từng lĩnh vực, hiện đã phê duyệt 5/8 phương án.

Về tổng thể, sau gần bốn năm thực hiện tái cơ cấu, nhóm “Big 4” gồm Agribank, Vietcombank, VietinBank và BIDV đều đã xử lý nhanh nợ xấu, nâng cao năng lực tài chính và mở rộng quy mô hoạt động.

Cụ thể, đến thời điểm 8/2015, tỷ lệ nợ xấu của nhóm này là 2,09%, lần lượt giảm từ 2,28% tại thời điểm 12/2014, 2,75% tại 12/2013, 3,18% tại 12/2012 và 2,83% vào 12/2011.

Trong thời gian từ 2012 đến tháng 7/2015, các ngân hàng thương mại nhà nước đã xử lý được 183,3 nghìn tỷ đồng nợ xấu; trong đó, 7 tháng đầu năm 2015 xử lý được 39,74 nghìn tỷ đồng.

Tỷ lệ an toàn vốn của nhóm ngân hàng này duy trì ổn định ở mức cao hơn quy định: năm 2011 là 9,06%, năm 2012 đạt 10,28%, năm 2013 đạt 10.91%, năm 2014 đạt 9,40% và tháng 7/2015 đạt 9,60%.

Một trong những điểm đáng quan ngại ở khối ngân hàng thương mại nhà nước những năm trước là tỷ lệ cho vay so với huy động (LDR) luôn ở mức cao, tiềm ẩn rủi ro thanh khoản. Như tại tháng 12/2011, LDR của khối lên tới 110,01%.

Tuy nhiên, dữ liệu thống kê cho thấy, đến tháng 8/2015, quan ngại trên đã có phần dịu bớt khi LDR giảm xuống còn 97,32%, và tính đến 21/9/2015 chỉ còn 93,2%. Với diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước dự tính sẽ hạ được LDR của khối xuống không quá 90% vào cuối năm 2015 như mục tiêu đặt ra tại đề án tái cơ cấu mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt.

Về năng lực tài chính, sức mạnh của nhóm “Big 4” cũng liên tục tăng khá nhanh trong gần bốn năm qua.

Tổng quy mô vốn điều lệ đến cuối tháng 8/2015 đã đạt 135 nghìn tỷ đồng, tăng 0,58% so với 12/2014, tăng 5,38% so với 12/2013, tăng 21,0% so với 12/2012 và tăng 54,98% so với 12/2011; chiếm 30,03% tổng vốn điều lệ toàn hệ thống.

Quy mô tổng tài sản nhóm này đã chính thức vượt mốc 3 triệu tỷ đồng, đến tháng 8/2015 là 3.089,8 nghìn tỷ đồng, tăng 7,43% so với 12/2014, tăng 23,35% so với 12/2013, tăng 40,34% so với 12/2012 và 56,87% so với 12/2011.

Thị phần tài sản cũng tăng liên tục từ 39,44% cuối năm 2011 lên 42,9% cuối năm 2012, tiếp tục tăng lên 43,1% vào cuối năm 2013, tháng 12/2014 là 44,15% và tháng 8/2015 là 45,75% toàn hệ thống. Điểm này được cơ quan thanh tra giám sát nhấn mạnh ở việc nâng cao vai trò dẫn dắt và vị trí chi phối thị trường theo định hướng mà Ngân hàng Nhà nước xác định.

Hiệu quả kinh doanh cao hơn mức bình quân
Về kinh doanh, huy động vốn của nhóm “Big 4” tăng khá ổn định trong giai đoạn 2011-2015. Tốc độ tăng từng năm tương ứng là 12,64%, 23,96%, 15,72%, 16,65%, tháng 8/2015 tăng 11,84% so với năm 2014 (tăng 87,16% so với năm 2011). Khối này đang chiếm thị phần huy động vốn lớn nhất trong toàn hệ thống, đến tháng 8/2015 chiếm 45,94% (năm 2011 là 44,47%).

Tăng trưởng tín dụng cũng khá ổn định trong giai đoạn 2011-2015, tương ứng là 18,66%, 12,12%, 13,03%, 13,25%, tháng 8/2015 tăng 9,51% so với năm 2014 (tăng 57,17% so với 2011). Thị phần tín dụng nhóm “Big 4” vẫn tiếp tục chi phối trong hệ thống với tỷ trọng 50,35% tại thời điểm tháng 8/2015.

Trong giai đoạn 2011-2015, số liệu thống kê cho thấy, hiệu quả kinh doanh của khối ngân hàng thương mại nhà nước thường cao hơn so với mức bình quân toàn hệ thống.

Cụ thể, tỷ số sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của nhóm này qua các năm: tháng 12/2011: 0,92% (hệ thống là 1%); tháng 12/2012: 0,76% (hệ thống là 0,48%); tháng 12/2013: 0,65% (hệ thống là 0,50%); tháng 12/2014 : 0,59% (hệ thống là 0,57%) và tháng 6/2015: 0,32% (hệ thống là 0,32%).

Và tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) qua các năm: tháng 12/2011: 12,46% (hệ thống là 10,81%); tháng 12/2012: 11,37% (hệ thống là 3,97%); tháng 12/2013: 8,10% (hệ thống là 5,56%); tháng 12/2014: 8,20% (hệ thống là 6,43%) và tháng 6/2015: 4,53% (hệ thống là 3,54%).
(Vietnamnet)
Share:

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

ADB: Việt Nam 2016 sẽ tăng trưởng cao nhất ASEAN

Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đang nhìn nhận thế nào về kinh tế Việt Nam hiện tại?...

Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2015 của Việt Nam đã đạt 6,3%  - tốc độ cao nhất kể từ năm 2010.

Kết quả này, theo báo cáo do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) công bố mới đây, có được nhờ ngành công nghiệp Việt Nam đã có mức tăng trưởng 9,1% trong 6 tháng đầu năm, đóng góp gần một nửa vào kết quả tăng trưởng.

ADB cũng đánh giá, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dự kiến sẽ tăng tốc trong 6 tháng cuối năm 2015, trên cơ sở tiêu dùng cá nhân, sản xuất định hướng xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng.

Cao nhất Đông Nam Á

Báo cáo của ADB đã nâng mức dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2015 lên mức 6,5% từ mức 6,1% trước đó. Đối với năm 2016, tăng trưởng GDP của Việt Nam theo dự báo mới là 6,6%, cao hơn dự báo trước đó là 6,2%.

Mức tăng trưởng này cũng cao hơn tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Tiêu dùng cá nhân sẽ cải thiện nhờ lạm phát thấp, niềm tin của người tiêu dùng hồi phục và tiền lương trong khu vực phi nông nghiệp tăng lên. Một khảo sát thị trường lao động năm 2014 cho biết mỗi năm có 800.000 lao động rời khỏi ngành nông nghiệp có năng suất thấp để chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp có tiền lương cao hơn hoặc làm việc cho các ngành khác.

Báo cáo của ADB cho biết, sản lượng khu vực sản xuất công nghiệp của Việt Nam đang đặc biệt khởi sắc, tăng 9,9% nhờ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tăng cường sản xuất hàng hóa cho xuất khẩu.

Các dự án đầu tư mới trong ngành khai khoáng đã giúp cho ngành này đạt mức tăng trưởng 8,2%, phục hồi từ tình trạng sụt giảm trong nửa đầu năm 2014. Tốc độ tăng trưởng ngành xây dựng đạt 6,6% nhờ có sự phục hồi nhẹ trên thị trường bất động sản và đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng.

Tăng trưởng khu vực dịch vụ hầu như giữ nguyên ở mức 5,9% trong sáu tháng đầu năm. Khu vực bán buôn và bán lẻ đều tăng trưởng cao hơn, nhưng ngành du lịch lại sụt giảm do số lượng khách du lịch giảm 11,3%.

Tuy vậy, nông, lâm và ngư nghiệp tăng trưởng khiêm tốn ở mức 2,4%, giảm một nửa điểm phần trăm so với năm trước do thời tiết xấu và giá cả hàng hóa giảm.

Sẽ không có giảm phát

Về phía cầu, lạm phát thấp là động cơ thúc đẩy tiêu dùng tư nhân đạt mức tăng trưởng 8,9%. Tốc độ tăng trưởng đầu tư cũng được cải thiện với tổng số vốn hình thành tăng 6,9%, nhờ có sự tăng tốc trong tăng trưởng tín dụng và giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Tuy nhiên, cán cân thương mại ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng GDP do khối lượng hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu gia tăng với tốc độ nhanh hơn xuất khẩu, phản ánh đầu tư và tiêu dùng đều mạnh hơn.

Tỷ lệ lạm phát trong tháng 8 giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức giảm mạnh từ mức kỷ lục 23,0% hồi tháng 8/2011. Trong 8 tháng đầu năm nay, tỉ lệ lạm phát trung bình là 0,8%.

Tuy lạm phát Việt Nam ở mức thấp, nhưng ADB khẳng định yếu tố khiến lạm phát thấp là do giá hàng hóa thế giới giảm mạnh so với cùng kỳ chứ không phải do tiêu dùng nội địa yếu. ADB cũng loại bỏ khả năng Việt Nam sẽ đối đầu với giảm phát.

Lạm phát thấp cho phép Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì chính sách tiền tệ thích ứng. Trong năm nay, cơ quan quản lý chính sách tiền tệ đã duy trì lãi suất tái cấp vốn ở mức 6,5% và lãi suất chiết khấu 4,5%. Lãi suất cho vay trung bình các ngân hàng thương mại đã giảm từ mức rất cao 17% năm 2012 xuống còn 9,5% trong 6tháng đầu năm 2015.

Lãi suất cho vay giảm, niềm tin của người tiêu dùng và nhà đầu tư đều hồi phục đã làm cho tăng trưởng tín dụng ước tính tại thời điểm giữa năm 2015 đạt 17,1% so với cùng kỳ.

Chính sách tài khóa tiếp tục mở rộng. Chi tiêu ngân sách tăng 10,5% trong sáu tháng đầu năm, thâm hụt ngân sách tăng lên 3,7% GDP so với 3.0% của năm trước. Thu ngân sách chính phủ tăng 8,0%. Thu nhập từ thuế tài nguyên giảm mạnh, song được bù đắp tốt hơn nhờ số thu cao hơn từ hoạt động xuất khẩu, thu nhập cá nhân và doanh số bán lẻ.

ADB nhận xét, trước tình trạng giá dầu thế giới xuống thấp hơn so với ước tính, Chính phủ Việt Nam đã tìm cách bù đắp cho phần thu nhập mất đi bằng cách tăng thuế hải quan đối với sản phẩm xăng dầu và tăng cường đốc thu. Mặc dù vậy, nhìn chung nhiệm vụ kiểm soát bội chi ngân sách trong giới hạn 5% GDP trong năm 2015 có thể khó đạt được khi giá dầu thế giới tiếp tục giảm.

Sau nhiều năm có thặng dư đáng kể, cán cân vãng lai năm nay đã chịu áp lực do nhập khẩu tăng mạnh. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong nửa đầu năm nay ước tăng đến 16,7%, trên cơ sở cán cân thanh toán và USD, so với xuất khẩu hàng hóa tăng 9,3%.

Xuất khẩu vẫn tăng trưởng với tốc độ tích cực, chủ yếu là nhờ khối lượng xuất khẩu hàng hóa chế tạo tăng gần 25%, bao gồm các mặt hàng điện tử, may mặc, giầy dép, theo số liệu của hải quan.

Thặng dư thương mại trong 6 tháng đầu năm giảm, làm cho thặng dư cán cân vãng lai ước tính chỉ còn khoảng 0,3% GDP, so với 6,2% nửa đầu năm 2014. Nếu tính cả cán cân vốn thặng dư đáng kể nhờ số vốn giải ngân FDI ròng tăng 15,6%, thì thặng dư cán cân thương mại đạt ước đạt 3,9% GDP.

Lĩnh vực tài chính đã ổn định

Phản ứng trước xu hướng mất giá của các đồng tiền châu Á khác, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh tỷ giá của đồng Việt Nam so với USD ba lần trong 8 tháng đầu năm 2015, mỗi lần điều chỉnh tỷ giá tham chiếu 1%.

Trong tháng 8/2015, Ngân hàng Nhà nước đã tăng biên độ giao dịch ngoại hối từ 1% lên 3% cả hai chiều tỷ giá tham chiếu. Cộng với kỳ vọng đồng tiền tiếp tục giảm giá ở các nền kinh tế châu Á khác, động thái này góp phần làm cho tỷ giá đồng Việt Nam so với USD trên thị trường tự do giảm 3,4% trong tháng 8/2015.

Dự trữ ngoại hối tăng, ước đạt 2,8 tháng nhập khẩu tại thời điểm cuối tháng 6/2015 so với 2,7 tháng nhập khẩu vào cuối năm 2014.

ADB khẳng định sau khoảng thời gian khó khăn vào năm 2011, lĩnh vực tài chính của Việt Nam đã ổn định hơn.

Tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại năm nay đã giảm, nhờ tăng trưởng kinh tế mạnh hơn và thị trường bất động sản đã có sự hồi phục. Tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các ngân hàng giảm từ 8,4% hồi tháng 12/2014 xuống 3,7% trong tháng 6/2015.

Việc triển khai đầy đủ các quy định nâng cao về phân loại tài sản và trích lập dự phòng trong tháng 4/2015 đã thu hẹp khoảng cách giữa con số nợ xấu theo báo cáo và con số ước tính cao hơn theo tiêu chuẩn quốc tế. Những quy định mới này cũng giúp tăng cường công tác thanh tra giám sát an toàn trong hệ thống tài chính.

Công ty Quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) - được Chính phủ thành lập năm 2013 với nhiệm vụ mua, tái cấu trúc và bán nợ xấu - tính đến tháng 8/2015 đã mua khoảng 9 tỷ USD nợ xấu. Kể từ tháng 3/2015, những nỗ lực của VAMC được hỗ trợ bởi các quy định cho phép công ty được tăng vốn, mở rộng việc thu mua nợ xấu và bán các tài sản mua được cho người nước ngoài.  
(Vneconomy)
>> Việt Nam: Điểm sáng thu hút dòng vốn quốc tế
>> ADB: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2015 và 2016 sẽ vượt kỳ vọng
Share:

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Điểm đến nào cho Eximbank?

Vì sao những dự tính quan trọng mà Chủ tịch Eximbank đưa ra đều vênh lớn so với thực tế sau đó?...
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vf_9sX2fdFq
Do đâu mà trong năm 2014 một ngân hàng vừa có quy mô lãi 2.000-3.000 tỷ đồng mỗi năm, bỗng nhiên đứt gãy và rơi rất sâu về mặt con số hạch toán lợi nhuận?

Câu hỏi này đến nay vẫn còn đó, vẫn nóng trong các dòng chảy bình luận gần đây, khi mà những diễn biến mới tại Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) tiếp tục được chú ý.

Bầu trời riêng

Thực ra, lợi nhuận của Eximbank đã được lý giải về mặt số liệu. Trực tiếp nhất và lát cắt sâu nhất là nợ xấu.

Năm 2014, nợ xấu Eximbank tăng đột biến, từ 1,98% cuối 2013 lên cao điểm 3,36% và chốt năm ở 2,46%. Chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng vọt lên 825,299 tỷ đồng, trong khi năm 2013 chỉ 300,269 tỷ đồng.

Những con số nguyên nhân rõ ràng, còn lại là quan điểm và mục đích của việc chọn cách tạo ra những con số đó mà thôi.

Xử lý nợ xấu là một quá trình, nhưng tại Eximbank lại không như vậy, qua những gì đã thể hiện. Họ bất ngờ dồn lại để xử lý chỉ trong thời gian ngắn.

Phải chăng Ngân hàng Nhà nước bất ngờ ép họ phải tuân thủ ngay một cơ chế phân loại nợ ngặt nghèo hơn, vì việc dồn đột ngột nợ xấu lại rất lớn như vậy không thấy ở các thành viên khác trong hệ thống, cả hệ thống cũng không làm được?

Dĩ nhiên là không có cơ chế ép buộc nào riêng cả, chỉ có một bầu trời riêng của sự lựa chọn.

Mức độ dồn nợ xấu là cực lớn, tỷ lệ 2,46% chỉ phản ánh một phần mà thôi. Riêng trong năm 2014, họ đã dồn bán tới hơn 4.000 tỷ đồng nợ xấu cho VAMC. Đây là điểm rất đáng được chú ý.

Cuối năm 2013, nợ xấu của Eximbank chỉ 1.652 tỷ đồng, nếu cộng cả nhóm nợ cần chú ý tổng cũng chưa đến 3.000 tỷ đồng. Vậy, vì sao và bằng cách nào để dồn được một lượng tới 4.000 tỷ đồng để bán cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) ngay một năm sau đó mà vẫn còn dư lại 2.144 tỷ đồng?

Dĩ nhiên không phải bỗng nhiên nhiều khách hàng “hẹn” gặp rủi ro cùng một lúc và không trả được nợ.

Theo các cơ chế phân loại nợ hiện hành, cách duy nhất để dồn một lượng nợ xấu lớn đến như vậy chỉ trong thời gian ngắn là gỡ bỏ cơ chế được phép cơ cấu lại nợ.

Đó là sự chối bỏ cơ hội và cơ chế cho phép cơ cấu lại nợ theo Quyết định 780 của Ngân hàng Nhà nước (năm 2014 chuyển tiếp sang Thông tư 09) - cơ chế mà cả hệ thống ngân hàng và nhiều doanh nghiệp đã dựa vào đó để vượt qua khó khăn ba năm gần đây.

Một khoản nợ có nguy cơ xấu, dùng cơ chế 780 để cơ cấu lại và theo đó chưa xấu, để ngân hàng và doanh nghiệp cùng có cơ hội tốt lên thì mới khó. Còn đưa một khoản có nguy cơ nợ xấu và nhấn mạnh thêm mức độ rủi ro để không áp 780 thì dễ hơn, vì nó tùy thuộc vào đánh giá chủ quan của ngân hàng.

Như trên, xử lý nợ xấu cần một quá trình và thời gian, thậm chí thời gian dài. Hơn nữa, trong hoạt động ngân hàng, tăng khả năng hạch toán lãi bằng thu hồi lãi khê đọng trong nợ xấu là yêu cầu tiên quyết, để bớt hạch toán lỗ. Còn Eximbank nhanh chóng dồn ghi nhận nợ xấu và bán ngay cho VAMC, dĩ nhiên là tăng hạch toán lỗ.

Dồn nợ xấu và gạt bỏ gần hết lợi nhuận như vậy để làm gì? Thông điệp họ đưa ra thời gian qua là để minh bạch và lành mạnh.

Nhưng, có những điểm đến khác đến nay đã và đang định hình ngoài thông điệp đó.

Tự hạ thấp mình?

Sau khi dồn nợ xấu, cắt bán một lượng lớn cho VAMC, trích lập dự phòng tăng vọt và lợi nhuận từ ngàn tỷ xuống còn 57 tỷ đồng, “bồ thóc” tạo lãi của Eximbank cũng đột ngột bé lại.

Trên báo cáo tài chính, khoản mục “Các khoản lãi, phí phải thu” những kỳ báo cáo từ cuối 2014 đến nay của Eximbank sụt giảm rất mạnh. Như trong kỳ có biến động nói trên, tại 31/12/2014 chỉ còn hơn 1.407 tỷ đồng.

Nhìn sang các ngân hàng khác có tương quan tương đối như MB, ACB, Sacombank, Techcombank, hay SHB…, cùng có tổng dư nợ cỡ 80.000 - 110.000 tỷ đồng, chênh lệch nợ xấu cũng không phải quá lớn, nhưng các khoản lãi và phí phải thu của họ cao hơn rất nhiều, từ 3.000 - 5.000 tỷ đồng.

Ở đây, không có chuyện Eximbank cùng cho vay quy mô gần với các ngân hàng trên nhưng do áp lãi suất rẻ hơn nhiều nên lãi dự thu rất thấp; nợ xấu Eximbank sau khi bán lại cho VAMC cũng không phải là quá lớn và cách quá xa để khiến lãi dự thu thấp.

Dĩ nhiên phải so sánh chi tiết hơn nữa về cơ cấu và chất lượng tài sản. Nhưng điểm lạ là trên cùng một cánh đồng, các thửa ruộng khá tương đồng, cùng diện tích trên dưới 10 ha, cùng khí hậu và thời tiết, chung hệ thống thủy lợi…, trong khi các hộ khác dự tính thu hoạch được 10 tấn, còn Eximbank chỉ dự thu khoảng 5 tấn. Và không thể cho rằng hơn 6.000 cán bộ nhân viên bỏ bê việc chăm sóc.

Như vậy có phải tự hạ thấp giá trị của mình hay không? Hay phải chăng Eximbank có khuynh hướng đưa lãi dự thu về sát với lãi thực thu theo ý chí chủ quan của người quản trị điều hành?

Định hình điểm đến

Những biến đổi nhanh chóng nói trên diễn ra trong bối cảnh Hội đồng Quản trị và ban điều hành Eximbank chuẩn bị bước sang một nhiệm kỳ mới.

Và điểm đến đầu tiên ngoài thông điệp tăng cường minh bạch và lành mạnh, mà Eximbank đưa ra lý giải, là ông Lê Hùng Dũng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, đã phải xin thôi nhiệm tại đại hội đồng cổ đông vừa qua.

Nếu để ý thì thấy, vài năm gần đây có những dự tính quan trọng, những con số quan trọng của ông Dũng đưa ra về kế hoạch kinh doanh của Eximbank đều vênh lớn so với thực tế sau đó…

Một điểm đến khác cũng đang định hình. Cùng với việc thanh tra về sở hữu chéo, Ngân hàng Nhà nước dự định sẽ cử người trực tiếp vào tham gia quản trị điều hành Eximbank.

Ngân hàng Nhà nước đã xuất hiện. Khách hàng và cổ đông hẳn đang kỳ vọng cơ quan này sẽ bảo vệ và hỗ trợ đưa Eximbank trở lại vị thế từng có. Vì dù có những diễn biến tạo sự kém đi trong số liệu báo cáo kinh doanh, nhưng Eximbank vẫn là thương hiệu lớn, sở hữu nền tảng khách hàng và sản phẩm dịch vụ tốt, cùng những nguồn lực mà nhiều ngân hàng khác chưa đạt tới.
(Vneconomy)
Share:

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2015

5 chính sách mới có hiệu lực từ tháng 9/2015

Ngân hàng được mua nợ khi có tỷ lệ nợ xấu dưới 3% hay mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng tối đa 5 lần lương tối thiểu... là những chính sách mới sẽ có hiệu lực từ ngày 01/09/2015.


Ngân hàng được mua nợ khi có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%

Với việc ban hành Thông tư số 09/2015/TT-NHNN, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quyết định siết chặt hơn các điều kiện về mua, bán nợ.

Cụ thể, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được mua nợ khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép và có tỷ lệ nợ xấu dưới 03%, trừ trường hợp mua nợ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt.

Đồng thời, tổ chức tín dụng không được bán nợ cho công ty con của mình, trừ trường hợp bán nợ cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của tổ chức tín dụng mẹ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt; và đặc biệt, không được mua lại các khoản nợ đã bán.

Về đồng tiền giao dịch trong mua bán nợ, Thông tư quy định phải là đồng Việt Nam; việc sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền thanh toán chỉ được thực hiện trong trường hợp tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bán khoản nợ bằng ngoại tệ cho bên mua nợ là người không cư trú.Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/09/2015.

Xác định chi phí tiền lương trong giá sản phẩm

Có hiệu lực từ ngày 01/09/2015, Thông tư số 26/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn cụ thể về xác định chi phí tiền lương trong giá sản phẩm, dịch vụ công ích sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.

Theo Thông tư này, tiền lương được xác định căn cứ vào định mức lao động và tiền lương của lao động trực tiếp sản xuất, lao động chuyên môn, nghiệp vụ, thừa hành, phục vụ và lao động quản lý tham gia thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích.

Trong đó, tiền lương của lao động trực tiếp sản xuất và lao động chuyên môn, nghiệp vụ, thừa hành, phục vụ bình quân xác định trên cơ sở hệ số lương cấp bậc, chuyên môn, nghiệp vụ, hệ số phụ cấp lương của lao động nhân với mức lương cơ sở và hệ số điều chỉnh tăng thêm theo từng vùng.

Tiền lương của lao động quản lý được xác định trên cơ sở mức lương cơ bản theo hạng tổng công ty và công ty đòi hỏi để thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích.

Mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng tối đa 5 lần lương tối thiểu

Đây là nội dung nổi bật của Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH. Theo đó, trường hợp người lao động (NLĐ) đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng của NLĐ là tối đa 05 lần lương tối thiểu.

Trường hợp NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì mức hưởng này tối đa không quá 05 lần lương cơ sở.

Ngoài ra, Thông tư này cũng yêu cầu người sử dụng lao động có trách nhiệm lập và nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp của NLĐ cho tổ chức bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động của NLĐ thuộc đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15/09/2015; tuy nhiên các chế độ quy định tại Thông tư được áp dụng từ ngày 01/01/2015.

Khám, chữa bệnh vào ngày nghỉ, ngày lễ vẫn được hưởng BHYT

Thông tư liên tịch số 16/2015/TTLT-BYT-BTC của Liên bộ Y tế và Tài chính có hiệu lực từ ngày 01/09/2015 đã điều chỉnh nội dung về khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) vào ngày nghỉ, ngày lễ.

Nếu như trước đây, chỉ trong trường hợp quá tải, cơ sở y tế phải tổ chức khám, chữa bệnh BHYT vào ngày nghỉ, ngày lễ, người khám, chữa bệnh mới được quỹ BHYT thanh toán trong phạm vi quyền lợi và mức hưởng BHYT; thì kể từ tháng 09/2015, cơ sở y tế tổ chức khám, chữa bệnh BHYT vào ngày nghỉ, ngày lễ mà không phải vì lý do quá tải, người khám, chữa bệnh vẫn hưởng quyền lợi này.

Tuy nhiên, trước khi tổ chức thực hiện khám, chữa bệnh vào ngày nghỉ, ngày lễ, cơ sở y tế phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm xã hội.

Đồng thời, có trách nhiệm bảo đảm về nhân lực, điều kiện chuyên môn và công khai những khoản chi phí mà người bệnh phải chi trả ngoài phạm vi được hưởng của người bệnh tham gia BHYT.

Lao động dôi dư tại Công ty Nhà nước được hưởng 3 tháng lương/năm nghỉ hưu sớm

Khi sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, người lao động dôi dư sẽ không bị trừ tỷ lệ lương hưu do nghỉ hưu sớm; được hưởng trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu sớm và 01 tháng lương cơ sở cho mỗi năm làm việc có đóng bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, để được hưởng những quyền lợi này, người lao động phải đáp ứng các điều kiện như: Được tuyển dụng lần cuối cùng trước ngày 21/04/1998 hoặc trước ngày 26/04/2002; có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội; từ đủ 55 - 59 tuổi đối với nam hoặc từ đủ 50 - 54 tuổi đối với nữ.

Riêng với lao động nam dôi dư trên 59 tuổi - dưới 60 tuổi, lao động nữ trên 54 tuổi - dưới 55 tuổi, có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội cũng sẽ không bị trừ tỷ lệ lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi và được hưởng 0,5 tháng lương cơ sở cho mỗi năm làm việc có đóng bảo hiểm xã hội.

Nội dung trên được nêu rõ tại Nghị định số 63/2015/NĐ-CP; có hiệu lực từ ngày 15/09/2015.

Share:

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Lo bất động sản quá “nóng”

Diễn biến trên thị trường bất động sản trong thời gian gần đây có nhiều nét tương đồng với thời kỳ “sốt nóng” nhiều năm trước đó...
 
Giai đoạn 2011-2013, khi bất động sản bị đặt vào nhóm phi sản xuất, ngân hàng không cho bất động sản vay tiền, lập tức thị trường này “đóng băng” - Ảnh minh họa.
 
Diễn biến trên thị trường bất động sản nhà ở trong thời gian gần đây có nhiều nét tương đồng với thời kỳ “sốt nóng” đã qua khiến nhiều người lo ngại nguy cơ đổ vỡ có thể lại tái diễn.

Theo ông Trần Kim Chung, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, thị trường bất động sản 10 năm qua đã thể hiện đầy đủ cấp độ tiền tệ hóa: bùng phát, phụ thuộc hệ thống ngân hàng, suy giảm khi ngân hàng không cho vay và tái phục hồi ngay khi có những luồng tiền vận hành vào. Hiện tại, đang có nhiều luồng tiền đổ vào bất động sản.

Nhìn lại để tránh tái diễn

Nhìn lại giai đoạn 2011-2013, khi bất động sản bị đặt vào nhóm phi sản xuất, ngân hàng không cho bất động sản vay tiền, lập tức thị trường này “đóng băng”.

Bộ Xây dựng cho biết, bất động sản nhà ở sụt giảm ở tất cả các phân khúc, số lượng giao dịch thành công giảm mạnh, nhiều nơi không có giao dịch; hầu hết các dự án bị đình trệ, lượng hàng tồn kho rất cao. Không ít doanh nghiệp xây dựng, bất động sản rơi vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, phá sản đã ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu ngân sách và phát triển kinh tế.

Các chuyên gia cho rằng, thực trạng trên chính là hệ lụy của sự phát triển quá nóng ở giai đoạn 2004-2007. Thời kỳ này, mọi địa bàn có thể phát triển được bất động sản đều được xem xét phát triển dự án. Mọi doanh nghiệp có hoặc thiếu năng lực, tiềm lực kinh tế đều có chức năng phát triển bất động sản.

Hệ thống ngân hàng giải ngân một lượng tiền lớn cho bất động sản. Nhiều quỹ đầu tư nước ngoài vào thị trường bất động sản Việt Nam hình thành trong giai đoạn này. Số dự án bất động sản tăng vọt, mọi sản phẩm đều được đẩy tối đa quy mô.

Mỗi sản phẩm đều được tối đa hóa về giá trị. Đây là giai đoạn giá bất động sản xác lập những mặt bằng mới một cách liên tục. Đến cuối năm 2007, tại các địa bàn tốt, các dự án tốt, giá bất động sản đã tăng khoảng 300% so với giá năm 2004. Tất cả mọi sản phẩm đều được săn đón, đặt mua.

Khi đó, nhiều người cũng như các doanh nghiệp đều chú trọng đầu tư bất động sản cao cấp. Nguồn cung tăng cao nhưng người mua vẫn đổ xô đi xếp hàng từ nửa đêm để tìm kiếm suất mua căn hộ. Tình trạng này diễn biến đến năm 2010.

Từ 2011-2013, ngân hàng siết chặt cho vay, quy mô thị trường bất động sản suy giảm. Các dự án đình hoãn, các sản phẩm dự án hạ chuẩn. Giá của nhiều dự án, sản phẩm giảm tới 50% so với giai đoạn trước, chủ yếu để cắt lỗ và thoái vốn.

Tuy nhiên, do tác động của khủng hoảng và đóng băng tín dụng nên thị trường không có thanh khoản. Nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng nợ nần, mất vốn và phá sản.

Khởi sắc nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ

Trước tình trạng này, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản nói chung và các doanh nghiệp nói riêng.

Bản thân các chủ đầu tư cũng đã chủ động cơ cấu lại sản phẩm. Nhiều dự án nhà thương mại, đầu tư xây dựng khu đô thị được điều chỉnh diện tích và chuyển đổi sang làm nhà ở xã hội hoặc công trình dịch vụ.

Trong những tháng cuối năm 2014, song song với sự phục hồi của kinh tế, sự mở rộng về luật pháp cho người nước ngoài mua và sở hữu nhà, kiều hối lớn..., thị trường bất động sản đã có dấu hiệu phục hồi.

Nguồn tiền ngân hàng giải ngân cho thị trường bất động sản tăng lên. Số dư tín dụng cho thị trường bất động sản gấp đôi so với mức trung bình của cả nền kinh tế. Những gói khuyến mại, chiết khấu đã giảm đi rõ rệt.

Cùng với những dấu hiệu vĩ mô tốt, giao dịch tốt, từ tháng 9/2014, giá bất động sản đã có xu hướng tốt. Một số sản phẩm của các dự án đã hoàn thành đã lập lại mức giá của những năm 2008-2010.

Theo đà hồi phục từ năm 2014, thị trường bất động sản những tháng đầu năm 2015 tiếp tục khởi sắc, niềm tin của người mua nhà dần được khôi phục.

Điều đáng nói là thị trường lại manh nha tái diễn tình trạng cũ: Trong quý 1/2015, số doanh nghiệp bất động sản thành lập mới tăng khoảng 50%, riêng 2 tháng đầu năm tăng đến 89% so với cùng kỳ. Các chủ đầu tư cũng tập trung nhiều vào phân khúc cao cấp.

Đề phòng “bong bóng“ bùng nổ

Tình trạng này khiến nhiều người liên tưởng tới thời kỳ sốt nóng trước đây và cho rằng vẫn cần đề phòng nguy cơ đổ vỡ.

Theo các chuyên gia, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản có hiệu lực thi hành từ 1/7/2015. Tuy vậy, các chính sách vẫn chưa cho thấy có tư duy đột phá về thị trường bất động sản. Đối tượng có yếu tố nước ngoài chưa có nhiều điểm mới.

Các chính sách về đầu tư, doanh nghiệp, xây dựng chưa thực sự có đột phá về nguồn, về thủ tục hay về chủ thể. Việc chủ trương tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại hình thị trường, trong đó có thị trường bất động sản là một chủ trương đúng đắn nhằm thúc đẩy cơ chế thị trường phát huy tác dụng.

Tuy nhiên, chưa có một quyết sách lớn nào để cụ thể hóa nội dung này. Bên cạnh đó, nợ xấu bất động sản vẫn là vấn đề quan ngại không chỉ của thị trường bất động sản mà còn của cả nền kinh tế. Song, hiện vẫn chưa được xử lý rốt ráo.

Hơn nữa, còn nhiều việc cần phải xử lý liên quan đến các tồn đọng của thị trường bất động sản, nhất là trong mối quan hệ với hệ thống ngân hàng (hay nói khác đi, những khoản nợ xấu của hệ thống ngân hàng có nguồn gốc từ bất động sản).

Các thông tin về thực trạng nợ xấu có nguồn gốc bất động sản và khả năng xử lý cũng như tình hình xử lý là những thông tin khó tiếp cận, không đầy đủ. Các doanh nghiệp lại không làm chủ được thị trường, tham gia ồ ạt nhưng ít dám rút lui khi không phù hợp mà trông chờ vào Nhà nước cứu giúp.

Thời gian gần đây, số doanh nghiệp bất động sản được thành lập mới rất lớn, nhiều dự án được triển khai hoặc tái hoạt động, song năng lực trung bình của các doanh nghiệp đầu tư bất động sản rất khiêm tốn.

Nguồn vốn đầu tư bất động sản vẫn chủ yếu phụ thuộc vào ngân hàng. Do phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay, nên ngành bất động sản đã và đang phải chịu đựng những rủi ro lớn...

“Để tránh rủi ro cho nền kinh tế cần có tác động, điều tiết từ phía Nhà nước và cần xây dựng nhiều kênh tín dụng bất động sản hơn nữa ngoài ngân hàng. Nếu không có sự kiểm soát thận trọng, kịch bản đổ vỡ có thể sẽ lặp lại”, ông Trần Ngọc Quang, Tổng thư ký Hiệp hội bất động sản Việt Nam cảnh báo.

Đồng tình với ý kiến trên, bà Nguyễn Hoài An, Phó giám đốc CBRE nhận định, hiện tại, các ngân hàng đã đẩy mạnh cho vay, lãi suất cũng đang ở mức hợp lý. Điều này thúc đẩy nguồn cầu bất động sản nhà ở. Trên thị trường, hàng loạt dự án đang tăng giá.

Song thị trường bất động sản có tăng trưởng nóng hay không còn phục thuộc vào phương thức quản lý kinh tế của Nhà nước, trong đó có chính sách tín dụng. Nếu có sự điều tiết tốt sẽ hạn chế thị trường bất động sản tăng trưởng nóng và tránh đổ vỡ cho thị trường tài chính, tiền tệ. 
(Vneconomy)
Share:

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

9 sự kiện tài chính – ngân hàng nổi bật năm 2014

2014 được đánh giá là một năm thành công rực rỡ về điều hành chính sách với lãi suất giảm mạnh, tỷ giá và giá vàng ổn định... song cũng để lại nhiều dấu ấn về thay đổi nhân sự cấp cao ở ngân hàng.

Chúng tôi xin điểm lại những sự kiện nổi bật nhất của ngành năm qua.

1. Lãi suất thấp nhất trong gần 1 thập kỷ

Mặt bằng lãi suất năm 2014 giảm 1,5-2 điểm phần trăm so với cuối năm 2013, trong đó mặt bằng lãi suất huy động giảm 1,5-2 điểm phần trăm/năm, lãi suất cho vay giảm khoảng 2 điểm phần trăm/năm, đưa mặt bằng lãi suất thấp hơn mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006. Lãi suất của các khoản vay cũ tiếp tục được các TCTD tích cực điều chỉnh giảm, với các khoản vay có lãi suất trên 13% chỉ còn chiếm chưa đến 15% trên tổng dư nợ.

Đường cong lãi suất hình thành rõ nét, qua đó tạo điều kiện cho các TCTD huy động được nguồn vốn kỳ hạn dài và ổn định hơn, giảm chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ và giúp cho việc phân bổ vốn hiệu quả trong nền kinh tế.

Chênh lệch lãi suất cho vay – huy động (NIM) đã ổn định sau khi giảm mạnh trong giai đoạn 2011-2013. NIM giảm từ 3,5% (năm 2011) xuống 3,2% (năm 2012) và 2,8% (năm 2013) và được duy trì ổn định trong năm 2014.

2. Làn sóng sáp nhập, mua lại công ty tài chính

Xu hướng các Ngân hàng TMCP mua lại các Công ty tài chính được kích hoạt trong năm 2014 khi Nghị đinh 39/2014 của Chính phủ cho phép công ty tài chính được thực hiện các hoạt động ngân hàng về phát hành thẻ tín dụng, huy động vốn của các tổ chức, bảo lãnh, bao thanh toán. Theo đó, các ngân hàng có thể tận dụng kênh này để cung cấp các sản phẩm bán lẻ và tiện ích thanh toán.

Tiếp bước thương vụ HDBank mua 100% vốn Công ty Tài chính Việt Société Générale (SGVF), năm qua có nhiều thương vụ mua lại công ty tài chính thành công hoặc đã được NHNN chấp thuận như: VPBank mua đứt Công ty Tài chính Than - Khoáng sản Việt Nam và tăng tỉ lệ sở hữu ở Công ty tài chính dệt may lên hơn 75%; Techcombank được chấp thuận mua 100% công ty tài chính Hóa chất, SHB được chấp thuận mua lại Tài chính Vinaconex – Viettel; Maritime Bank mua lại công ty Tài chính Dệt may và chủ trương sáp nhập MDBank...

3. Ồ ạt thay lãnh đạo cấp cao ngân hàng

Có đến hơn chục ngân hàng đã thay lãnh đạo trong năm qua. Agribank sau gần 2 năm trống vắng khá nhiều vị trị lãnh đạo chủ chốt đã có dàn lãnh đạo mới hoàn toàn sau quá trình tái cơ cấu. Ông Trịnh Ngọc Khánh được bổ nhiệm làm chủ tịch HĐTV, ông Tiết Văn Thành nắm Quyền TGĐ Agribank kiêm thành viên HĐTV. Ông Phạm Đức Ấn - Phó tổng giám đốc BIDV được điều động về Agribank làm Phó chủ tịch HĐTV. Agribank cũng có thêm 2 phó TGĐ mới và nhiều lành đạo cấp vụ của NHNN về làm thành viên HĐTV.

Ở Vietcombank, sau khi ông Nguyễn Hòa Bình nghỉ hưu từ đầu tháng 12, ông Nghiêm Xuân Thành được bầu làm Chủ tịch HĐQT , Ông Phạm Quang Dũng, thành viên HĐQT được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc. Tại Vietinbank, ông Nguyễn Văn Thắng lên làm chủ tịch HĐQT thay ông Phạm Huy Hùng nghỉ hưu. Ông Lê Đức Thọ, chánh văn phòng NHNN về làm Tổng giám đốc Vietinbank thay ông Nguyễn Văn Thắng.

Tại VietBank, nguyên Phó TGĐ của Eximbank Nguyễn Thanh Nhung về làm TGĐ của VietBank. Ngân hàng NamABank có chủ tịch HĐQT mới là ông Nguyễn Quốc thay cho em gái là bà Nguyễn Thị Xuân Loan. Tại DongABank, nguyên Thống đốc NHNN Cao Sỹ Kiêm làm Chủ tịch HĐQT thay cho ông Phạm Văn Bự về hưu theo chế độ. Ở KienLongBank, ông Võ Văn Châu lên nắm quyền Tổng giám đốc thay cho ông Phạm Khắc Khoan. Ở Ngân hàng Eximbank ông Phạm Hữu Phú làm Tổng giám đốc thay cho ông Nguyễn Quốc Hương.

Ngân hàng Navibank sau đổi tên thành Ngân hàng Quốc Dân (NCB) cũng có lãnh đạo mới là ông Vũ Hồng Nam làm chủ tịch còn bà Trần Hải Anh là Tổng giám đốc. Ngân hàng PvcomBank thì ông Nguyễn Hoàng Linh làm Tổng giám đốc thay ông Nguyễn Thiện Bảo.

Sau khi nguyên chủ tịch Oceanbank ông Hà Văn Thắm bị bắt tạm giam, bà Nguyễn Minh Thu – Tổng giám đốc đã lên thay còn bà Nguyễn Thị Mai Hương lên thay bà Thu. Nhưng sau 2 tháng, những ngày cuối cùng của năm 2014, OceanBank lại thay đổi 2 vị trí chủ chốt. Hiện nay bà Đào Thị Thúy làm Chủ tịch HĐQT trong khi ông Vũ Nhật Lâm lên nắm quyền điều hành.
Ngân hàng TMCP Xây dựng (VNCB) cũng là tâm điểm về thay đổi nhân sự năm qua. Sau khi chủ tịch HĐQT Phạm Công Danh và Tổng giám đốc Phan Thành Mai bị bắt giam, bà Vũ Bạch Yến – thành viên HĐQT lên nắm quyền chủ tịch thay ông Danh còn ông Đàm Minh Đức làm Tổng giám đốc.


4. Thị trường vàng, USD ổn định, dự trữ ngoại hối cao kỷ lục

Tỷ giá năm 2014 chỉ điều chỉnh 1 điểm phần trăm, thấp hơn so với kế hoạch của NHNN (tối đa là 2 điểm phần trăm). Thị trường ngoại hối về cơ bản ổn định, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của tổ chức, cá nhân đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, niềm tin vào tiền đồng được củng cố. Nhờ đó NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ để bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước lên mức kỷ lục.

Tình trạng đô la hóa tiếp tục giảm, thể hiện qua tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán đạt khoảng 11,6%, giảm so với mức khoảng 12,4% của cuối năm 2012-2013.

Thị trường vàng diễn biến ổn định, giá vàng dao động quanh 35 triệu đồng/lượng và chênh lệch với thế giới khoảng 4 triệu đồng – tương đương cuối năm 2013. NHNN không phải tổ chức đấu thầu bán vàng miếng, góp phần hạn chế việc sử dụng ngoại tệ của Quỹ Bình ổn tỷ giá và giá vàng để nhập khẩu vàng trên thị trường quốc tế. Diễn biến ổn định của thị trường vàng đã góp phần duy trì sự ổn định của tỷ giá, thị trường ngoại hối, tăng dự trữ ngoại hối và ổn định kinh tế vĩ mô.

5. Số liệu nợ xấu giảm nhanh, dự phòng rủi ro tăng vọt

Theo cơ quan giám sát NHNN, vào thời điểm tháng 9/2012 tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống là 17%, nhưng sau hơn 2 năm xử lý chủ yếu bằng các giải pháp thu hồi nợ, cơ cấu lại nợ, sử dụng dự phòng rủi ro, bán nợ và tải sản bảo đảm …thì số nợ xấu này đã giải quyết được hơn một nửa. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm 2014 ước còn 3,7-4,2%.

Còn theo báo cáo của các TCTD, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng giảm, cụ thể đến cuối tháng 6 là 4,17%; tháng 7 là 4,11%; tháng 8 là 3,9% và cuối tháng 9 là 3,8%; ước cuối năm 2014 còn khoảng 2,5-2,7%.

Trong khi nợ xấu của các ngân hàng giảm nhanh thì dự phòng rủi ro lại tăng vọt do các ngân hàng áp dụng phân loại nợ theo quy định tại Thông tư 09 và trích lập dự phòng cho phần nợ xấu mà VAMC mua hoán đổi bằng trái phiếu đặc biệt.

Từ khi hoạt động tới nay, Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMCđã mua được 107.000 tỷ đồng nợ xấu từ nhiều ngân hàng, riêng năm 2014 đã mua được 67.000 tỷ đồng. Theo quy định các ngân hàng phải trích lập 20% dự phòng cho khoản nợ bán cho VAMC.

6. Quyết liệt xử lý vi phạm tài chính ngân hàng

2014 có thể nói là một năm ngành ngân hàng đã rất quyết liệt đối với các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực tài chính.

Cụ thể, trong hệ thống ngân hàng, do cố ý làm trái, cả nguyên chủ tịch HĐQT Phạm Công Danh lẫn Tổng giám đốc Phan Thành Mai của Ngân hàng Xây dựng (VNCB) đã bị bắt giam, tiếp đó là nguyên chủ tịch ngân hàng TMCP Đại Dương (OceanBank) Hà Văn Thắm cùng nguyên Phó Tổng giám đốc Nguyễn Văn Hoàn cũng bị bắt giữ.

Trong lĩnh vực tài chính, lãnh đạo nhiều sàn vàng chui cũng bị bắt giam và truy tố như VGX, Khải Thái, 24 Gold…

Ngoài ra, nhiều đại án cũng được đưa ra xét xử như vụ án Huỳnh Thị Huyền Như, đại án “bầu” Kiên, vụ tham ô ở Công ty cho thuê tài chính II (ALC II); đại án chiếm đoạt tài sản ở VDB Đăk Nông…
Đồng thời, hệ thống ngân hàng cũng có quy định chặt chẽ hơn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ tại Nghị định số 96/2014/NĐ-CP, với các mức phạt đều tăng, với mức phạt tối đa đối với tổ chức là 2 tỷ đồng và cá nhân là 1 tỷ đồng. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cũng được tăng lên như Thanh tra viên ngân hàng (500.000 đồng), Chánh thanh tra giám sát ngân hàng (50 triệu đồng), Chánh thanh tra ngân hàng (1 tỷ đồng)...


7. Siết cho vay đầu tư cổ phiếu và sở hữu chéo

Bên cạnh các biện pháp yêu cầu tái cơ cấu quyết liệt, NHNN đã chính thức ban hành Thông tư 36 trong năm qua, với mục đích quan trọng là siết chặt hoạt động cho vay đầu tư cổ phiếu, xử lý nợ xấu và ngăn chặn sở hữu chéo.

Những điểm quan trọng được quy định phải kể đến: Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với 1 khách hàng không được vượt quá 15% và tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với 1 khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có của TCTD; Tổng mức dư nợ cấp tín dụng của NHTM, chi nhánh NH nước ngoài đối với tất cả khách hàng để đầu tư kinh doanh cổ phiếu không được vượt quá 5% vốn điều lệ, vốn được cấp;

NHTM chỉ được mua, nắm giữ cổ phiếu tối đa không quá 2 TCTD khác và chỉ được nắm giữ dưới 5% vốn có quyền biểu quyết của tổ chức tín dụng khác đó. Đồng thời NHTM không được cử người tham gia HĐQT tại TCTD mà NHTM đã mua...

8. Nới “room” ngoại tại ngân hàng

Theo Nghị định số 01/2014/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam, từ 20/2/2014, tỷ lệ sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài không được vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng Việt Nam, tăng 5% so với quy định tại Nghị định 69/2007/NĐ-CP trước đó.

Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại Việt Nam.

Trường hợp đặc biệt, để thực hiện cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém, gặp khó khăn, bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng cổ phần yếu kém được cơ cấu lại vượt quá giới hạn quy định đối với từng trường hợp cụ thể.

9. Uy tín ngân hàng tăng lên

Một điểm nhấn quan trọng nữa của hệ thống ngân hàng năm qua là uy tín tăng lên, đặc biệt là của các nhà lãnh đạo nhờ những biện pháp điều hành chính sách hài hòa.

Uy tín ngân hàng được đặt lên hàng đầu khi người ta lựa chọn nơi gửi gắm tài sản, cung cấp nguồn vốn, nơi đầu tư hay bảo lãnh cho các hợp đồng. Số liệu thống kê cho thấy, tổng phương tiện thanh toán tăng xấp xỉ 16%, tăng trưởng tín dụng đã cán đích từ ngày 22/12 (tăng 12,62%) trong khi huy động vốn tăng hơn 16% bất chấp lãi suất huy động đã giảm mạnh.

NHNN đã điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết tiền tệ phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo thanh khoản của tổ chức tín dụng và nền kinh tế. Thị trường vàng và ngoại hối có một năm bình lặng hiếm thấy.

Tín nhiệm của người đứng đầu ngành ngân hàng là Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã tăng mạnh. Trong đó tại kỳ lấy tín nhiệm ở Quốc hội, ông Bình đứng thứ 10 trong số những đại biểu được nhiều phiếu tín nhiệm cao nhất và chỉ nhận 41 tín nhiệm thấp (năm 2013 là 209 phiếu). Còn tại kỳ lấy phiếu tín nhiệm nội bộ lãnh đạo NHNN thì Thống đốc Nguyễn Văn Bình đạt 100% phiếu tín nhiệm cao.
CafeF
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?