Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn công ty gia đình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn công ty gia đình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2016

Nữ tỷ phú trẻ nhất thế giới: Đam mê cưỡi ngựa, ăn chay trường, chạy xe cũ và chẳng màng tới tài sản "kếch xù"

Ở độ tuổi 19, cô nàng Alexandra Andresen đến từ Na Uy trở thành tỷ phú trẻ nhất thế giới sau khi kế thừa hơn 40% công ty của cha cô. Dù vậy, nữ tỷ phú trẻ chia sẻ, điều cô muốn làm trong suốt cuộc đời này là được cưỡi trên lưng ngựa.



Alexandra Andresen sinh ra và lớn lên tại Oslo, Na Uy. Năm 2007, cha cô - ông Johan Andresen - đã chuyển cho Alexandra 42% số cổ phiếu của Ferd, công ty đầu tư lâu đời qua nhiều thế kỷ của gia đình. Song phải tới năm 2016, Alexandra mới được xác nhận là tỷ phú trẻ nhất thế giới khi chính phủ Na Uy công bố các báo cáo thuế của những người trên 17 tuổi. Tổng tài sản "kếch xù" trị giá 1,2 tỷ USD giúp cô xếp vị trí 1.476 trên tổng số 1.810 người giàu có nhất thế giới.

Chị gái của cô - Katharina Andresen (20 tuổi - 1,2 tỷ USD) cũng được thừa hưởng 42% cổ phần tập đoàn gia đình. 9X hiện là sinh viên ngành Khoa học xã hội, Đại học Amsterdam (Hà Lan). Mặc dù sở hữu khối tài sản khổng lồ, hai cô gái nhà Andresen vẫn sống giản dị, kín đáo khi học ở trường công và chạy xe cũ.

Cha của họ - ông Johan Andresen - khẳng định, cặp chị em sẽ không bị ép buộc phải trợ giúp công ty trong tương lai. Hiện tại, Katharina đã hoàn thành chương trình thực tập tại công ty gia đình và có nhiều khả năng làm việc ở Ferd. Trong khi đó, Alexandra vẫn còn không chắc chắn về tương lai.

Cô cho biết trong một cuộc phỏng vấn: “Tôi cảm thấy mình có một trách nhiệm rất lớn đè nặng trên vai. Một mặt, tôi nghĩ, mình chưa xứng đáng gánh vác trọng trách này, mặt khác tôi muốn hỗ trợ Ferd phát triển. Thực tế, việc gia đình có điều kiện đã tạo nhiều cơ hội cho tôi, đặc biệt là với cưỡi ngựa, bởi nó đòi hỏi bạn phải có một nguồn tài chính. Nhưng chỉ có tiền thôi thì chưa đủ để khiến bạn thành công".


Alexandra Andresen có niềm đam mê đặc biệt với cưỡi ngựa.
 
Alexandra Andresen có niềm đam mê đặc biệt với cưỡi ngựa.

Mặc dù có cuộc sống trong nhung lụa, Alexandra không giống với bất kỳ một cậu ấm cô chiêu nào. Cô là một tay đua ngựa tài năng, đã chiến thắng nhiều cuộc thi lớn. Nhờ các thành tích này mà cô hiện được Kingsman, một công ty thời trang đồ cưỡi ngựa, tài trợ.

Cuộc sống ngoài vòng đua ngựa của cô không hề phô trương. Cha mẹ cũng dạy cô phải khiêm nhường và tiết kiệm. Vì vậy, mặc dù là cô gái tỷ đô nhưng Alexandra tự dành dụm tiền trong suốt quãng thời gian còn nhỏ và chỉ lái xe cũ. Nữ tỷ phú cũng hay đưa bạn bè đến các sự kiện thảm đỏ. Cô thân thiết với mẹ, người có cùng niềm yêu thích cưỡi ngựa.

Alexandra còn có một người bạn trai 24 tuổi, Joachim Tollefsen, một tay đấu võ nghệ thuật phối hợp chuyên nghiệp của Na Uy. Nhưng tình yêu của cuộc đời cô là cưỡi ngưa, thứ mà luôn xuất hiện trên tài khoản Instagram và tất cả các hoạt động truyền thông xã hội của nữ tỷ phú.

Nguyễn Nguyễn
Theo Trí thức trẻ/B.I
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán - Ủy thác đầu tư

Share:

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2016

“Chê” cổ phần hóa DNNN, khối ngoại “chuộng” công ty gia đình Việt

“Những chậm trễ trong quá trình cổ phần hóa đã khiến các nhà đầu tư mất đi hứng thú với cổ phần hóa DNNN.”, báo cáo của Grant Thornton nêu.

Báo cáo khảo sát mới nhất của Grant Thornton cho thấy, nguồn cung các giao dịch đầu tư từ các công ty tư nhân, gia đình đã thay thế cho nguồn từ Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trở thành nguồn giao dịch đầu tư được kỳ vọng nhất, với 33% ý kiến từ người tham gia.

Tỷ lệ ý kiến phản hồi cho rằng cổ phần hóa DNNN là một nguồn cung giao dịch hấp dẫn đã giảm từ 46% trong kỳ khảo sát trước xuống chỉ còn 29% trong kỳ khảo sát lần này.

Đến cuối năm 2015, có khoảng 100 DNNN không thể hoàn thành quá trình tư nhân hóa/cổ phần hóa, chậm tiến độ so với mục tiêu của Chính phủ nhằm cổ phần hóa 285 DNNN.

“Những chậm trễ trong quá trình cổ phần hóa đã khiến các nhà đầu tư mất đi hứng thú với cổ phần hóa DNNN.”, báo cáo của Grant Thornton nêu.

Ngoài ra, có một thực tế là tỷ lệ cổ phần được mở bán qua IPO trong DNNN cổ phần hóa thấp hơn rất nhiều so với kỳ vọng của các nhà đầu tư tư nhân, nhiều trường hợp dưới 5%. Vì thế, Nhà nước vẫn giữ quyền kiểm soát chủ yếu sau IPO, điều này khiến cho các nhà đầu tư lo ngại về vấn đề hiệu quả thấp tiếp diễn trong các công ty này.

“Công ty tư nhân, gia đình với hệ thống quản trị nắm giữ quyền kiểm soát và trực tiếp liên quan tới hiệu quả hoạt động của công ty đã trở thành nguồn cung hấp dẫn các nhà đầu tư hơn DNNN.”, Grant Thornton nhận định.

Quỹ ngoại thâu tóm hoạt động M&A

Quỹ đầu tư nước ngoài đã vượt qua các quỹ đầu tư tư nhân trong nước và nhà đầu tư ngành trong các hoạt động mua bán sáp nhập.

Theo như cuộc khảo sát của Grant Thornton, tỷ lệ người tham gia khảo sát cho rằng mức độ cạnh tranh của các quỹ đầu tư nước ngoài tăng đáng kể từ 27% lên đến 44%, trong khi đó tỷ lệ lựa chọn nhà đầu tư ngành giảm đáng kể từ 25% xuống 11%.

Trong thời gian gần đây, các quỹ đầu tư tư nhân toàn cầu đang quan tâm nhiều hơn tới thị trường Việt Nam. Vào đầu năm 2016, Warburg Pincus đã công bố kế hoạch nhắm tới Việt Nam như là một mục tiêu đầu tư lâu dài ở Đông Nam Á. Một số quỹ cũng đã thực hiện đầu tư vào Việt Nam trong nửa đầu năm 2016, như Standard Chartered đã đầu tư 28 triệu USD vào lĩnh vực tiêu dùng/fintech (ứng dụng Momo) và Navis đã đầu tư vào lĩnh vực y tế (bệnh viện HFH).

Các quỹ đầu tư tư nhân trong nước đã đánh mất vị trí đầu bảng với 24% số người được hỏi, xếp hạng 2 về khả năng cạnh tranh, giảm từ 30% trong 6 tháng cuối năm 2015.

Ngành F&B hút đầu tư nhất

Thực phẩm, đồ uống và bán lẻ tiếp tục là hai ngành hấp dẫn đầu tư nhất, với 50% lựa chọn ngành thực phẩm và đồ uống và 41% lựa chọn ngành bán lẻ.

Những ngành này hưởng lợi từ sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường tiêu dùng Việt Nam, không chỉ nhờ vào sự tăng trưởng dân số mà còn do tăng trưởng về thu nhập bình quân. Sự tăng trưởng ổn định trong thị trường thực phẩm đồ uống và lĩnh vực phục vụ thức ăn nói riêng, được xem là thị trường tiềm năng đối với các nhà đầu tư tư nhân tại Việt Nam.

Gần đây thị trường phục vụ thức ăn có nhiều thương vụ huy động vốn thành công như Wap&Roll (6,9 triệu USD), Kafe Group (5,5 triệu USD), Golden Gate (35 triệu USD)... chứng tỏ sức hấp dẫn của thị trường này.

Doanh thu của lĩnh vực phục vụ thức ăn được dự báo tăng trưởng bình quân 5,9% mỗi năm từ 447 nghìn tỷ đồng (20 tỷ USD) trong năm 2016 lên 562 nghìn tỷ đồng (25 tỷ USD) trong năm 2020.
Tương tự với kết quả khảo sát kỳ trước, ngành bán lẻ tiếp tục là một trong những ngành thu hút đầu tư đối với các nhà đầu tư tư nhân. Thương mại điện tử hiện đang là một xu hướng mới trong lĩnh vực bán lẻ. Mặc dù thương mại điện tử chỉ chiếm tỷ trọng 3% toàn ngành trong năm 2015, khu vực này đã tăng trưởng 37% trong năm trước và được dự báo đạt 10 tỷ USD trong năm 2020.

Xếp hạng thứ 3, ngành y tế và dược phẩm được lựa chọn bởi 37% người tham gia là “rất hấp dẫn”.
Ô nhiễm môi trường và các vấn đề thực phẩm sạch đang ở mức báo động trong thời gian gần đây đã nâng cao mức độ quan tâm của người dân về sức khỏe. Ngoài ra, các kênh phân phối dược phẩm cũng đang bị phân mảnh và dịch vụ y tế vẫn còn thiếu hụt, đang là cơ hội thị trường tốt cho các nhà đầu tư.

Bên cạnh đó, mức khống chế tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với các doanh nghiệp y tế và dịch vụ liên quan đã tăng lên 70% và việc cấp visa nhanh chóng cho các chuyên viên trong lĩnh vực y tế cũng tạo nên nhiều thay đổi quan trọng trong lĩnh vực này để thu hút đầu tư.

Xếp hạng 4, ngành giáo dục được lựa chọn bởi 35% người tham gia là ngành rất hấp dẫn, tăng đáng kể 16% so với báo cáo kỳ trước.

Trong những năm gần đây, chính phủ đã tăng ngân sách, xã hội hóa giáo dục và khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào việc phát triển dịch vụ giáo dục và đào tạo tại Việt Nam.

Với lực lượng dân số trẻ và giá trị truyền thống tập trung vào giáo dục, ngành này được kỳ vọng có thể tăng trưởng mạnh mẽ, đặc biệt trong việc giáo dục ngôn ngữ nước ngoài, giáo dục đại học quốc tế, mẫu giáo và dịch vụ giáo dục trực tuyến.
Theo Huyền Châm
Share:

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

Chân dung doanh nghiệp Việt kín tiếng đưa thực phẩm giá trị cao thâm nhập Walmart

Một công ty gia đình Việt nhiều năm nay đã tranh giành thị phần với ông lớn C.P trong việc cung cấp thực phẩm chế biến sẵn vào các thị trường Mỹ, Úc, Châu Âu qua các chuỗi siêu thị lớn nhất nhì thế giới như Walmart, Sainsbury’s, Woolworths…

http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html
- TrangCorp là một công ty gia đình được lập nên từ năm 2004 với số vốn chỉ vẻn vẹn 20 tỷ đồng, khởi nguồn từ việc cung cấp thực phẩm cho một số cửa tiệm tại Úc

- Sản phẩm của TrangCorp là tôm cuốn khoai tây, hải sản tẩm bột, hải sản xiên, Dimsum…, được bán tại các chuỗi siêu thị lớn nhất nhì thế giới như Walmart, Sainsbury’s, Woolworths

- "Trong khi các tập đoàn nước ngoài mang trí tuệ, tiền bạc nhằm lấn chiếm thị trường nội địa, tại sao chúng ta không chiếm lĩnh thị trường trong nước?"

Không phải là sản phẩm xuất thô, các mặt hàng thực phẩm Việt đang được bán trong các chuỗi siêu thị Walmart (Mỹ), Sainsbury’s (Anh), Woolworths (Australia), Semiwon Food (Hàn Quốc)… là các mặt hàng thực phẩm chế biến sẵn rất đa dạng gồm các loại tôm cuốn khoai tây, hải sản tẩm bột, hải sản xiên, Dimsum…

Đơn vị cung cấp các mặt hàng này là một doanh nghiệp nhỏ của Việt Nam, một công ty gia đình nhiều năm coi Tập đoàn C.P của Thái Lan là đối thủ trên “mặt trận” thức ăn chế biến sẵn ở các thị trường khó tính nước ngoài.

Chúng tôi đã “đụng” C.P khi chào hàng một số đối tác. Nhưng chúng tôi hoàn toàn có thể cạnh tranh với C.P ở thị trường nước ngoài”, ông Võ Thiên Chương – Giám đốc Tài chính của CTCP Trang (TrangCorp) – một công ty gia đình được lập nên từ năm 2004 với số vốn vẻn vẹn 20 tỷ đồng, khởi nguồn từ việc cung cấp thực phẩm cho một số cửa tiệm tại Úc.

Cùng với những cổ đông sáng lập là người thân và bạn bè, ông Hồ Văn Trung (còn gọi là Trang Hồ) đã xây dựng nhà máy sản xuất tại khu công nghiệp Hiệp Phước, TPHCM để sản xuất các mặt hàng thực phẩm đông lạnh từ thủy sản, phục vụ các thị trường xuất khẩu khó tính tại Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc.
Ông Hồ Văn Trung - doanh nhân sáng lập TrangCorp. Ảnh: VietQ.
Ông Hồ Văn Trung - doanh nhân sáng lập TrangCorp. Ảnh: VietQ.

Ông Hồ Văn Trung là doanh nhân gốc Việt có tiếng, từng xuất bản cuốn tự truyện Gian truân chỉ là thử thách với lời tựa đi kèm: Từ chăn trâu đến Chủ tịch Tập đoàn.

“Gia đình tôi được cả 3: Tôi mạnh về chế biến thực phẩm, chồng tôi (ông Trang Hồ) mạnh về chế tạo máy, còn con tôi - David Ho (Chủ tịch HĐQT TrangCorp) giỏi về Marketing. Ngày xưa, chồng tôi vừa làm máy vừa làm Marketing. Khi còn trẻ, chúng tôi làm đủ mọi thứ”, bà Nguyễn Minh Nguyệt – Tổng Giám đốc TrangCorp – tâm sự.

Chiếm lĩnh thị trường nội địa = Dòng bánh sang + Thuê người của Kinh Đô + Dùng kênh HORECA

TrangCorp hiện có 2 công ty con là Công ty Thực phẩm Dary (nắm giữ 65% vốn điều lệ) và Công ty Sản xuất Thương mại và Dịch vụ Thực phẩm Dasumy (nắm giữ 75% vốn điều lệ). Trong đó, Dary chuyên về kho lạnh dự trữ và sơ chế - chế biến thủy hải sản, còn Dasumy chuyên vào sản xuất bánh cung cấp cho thị trường nội địa.

Trong khi các tập đoàn nước ngoài mang trí tuệ, tiền bạc nhằm lấn chiếm thị trường nội địa, tại sao chúng ta không chiếm lĩnh thị trường trong nước? Tôi mãi khắc khoải và rất mong ngày nào đó giải quyết được nỗi trăn trở này”, bà Nguyệt trải lòng.

“Đó là lý do vì sao năm 2015, mặc dù bận rộn với việc sản xuất để xuất khẩu 100%, tôi vẫn quyết tâm tìm tòi cách thức làm sao đưa sản phẩm vào thị trường nội địa”.

Sau một thời gian nghiên cứu và phát triển các sản phẩm bánh mẫu, TrangCorp đã thử nghiệm sản phẩm và đưa vào các quán café nhỏ lẻ tại các huyện, các tỉnh, để tìm ra sản phẩm nào phù hợp với thị trường nội địa.

Bà Nguyệt cho biết, TrangCorp đã tìm ra một kênh phân phối còn trống so với các kênh phân phối vốn đang rất khốc liệt trong thị trường hiện tại – kênh HORECA (viết tắt của từ Hotel, Restaurant, Catering) - kênh phân phối qua các khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng, quán café cao cấp...

“Với kế hoạch phát triển thị trường nội địa, chúng tôi đã đi 3/4 về kế hoạch. Đội ngũ thị trường chuyên nghiệp được mướn từ Kinh đô (công ty bánh kẹo của CTCP Kinh đô giờ đã bán phần lớn cho tập đoàn nước ngoài Mondelèz International– PV) và một số công ty khác - những người có nhiều kinh nghiệm trong mảng bakery về hỗ trợ, nghiên cứu”, bà Nguyệt nói.

Về dòng sản phẩm, bên cạnh các mặt hàng thủy hải sản chế biến phục vụ xuất khẩu, TrangCorp sẽ phát triển dòng bánh sang để tung ra thị trường. Dòng bánh này trong ngành được xếp vào dòng bánh tươi, nhưng sẽ không đi theo đúng dòng bánh tươi – vốn khó thành công khi có quá nhiều người đi trước, mà chuyển sang dòng đông lạnh với các dòng sản phẩm có thể hấp, chiên, nướng...

“Các dòng bánh này ăn vào thời gian nào cũng được, và ai ăn cũng được, từ trẻ em, học sinh, người lớn tuổi, thanh niên bận rộn với công việc. Ăn tại nhà sẽ ngon như ngoài quán café hay khách sạn… Chúng tôi sẽ đi vào các kênh phân phối sâu, xa để các loại bánh này nhà nhà dùng được, nơi nơi dùng được”, bà Nguyệt bày tỏ.

Theo kế hoạch, tháng 9 năm nay, Dasumy sẽ hoàn thành xây dựng nhà máy. Năm 2016, sẽ đưa sản phẩm vào các kênh phân phối khắp cả nước. Sau khi lấp đầy kênh phân phối vào năm thứ 2, Dasumy sẽ chiếm lĩnh thị trường vào năm thứ 3.

Theo tính toán, chỉ riêng TPHCM có 1.700 điểm quán café, và 200 điểm trường học. Chỉ tính khiêm tốn mỗi điểm có doanh thu 80.000 đồng/ngày, thì sau một thời gian ngắn, doanh nghiệp sẽ từng bước chiếm lĩnh thị trường.

Lấy tình yêu làm giá trị cốt lõi

“Tài chính đương nhiên là vấn đề quan trọng. Nếu bỏ qua vấn đề tài chính, điều đáng quan tâm sẽ là công ty sản xuất gì và các dịch vụ của công ty đó. Tuy nhiên, sản phẩm thì rất dễ bị làm nhái và bắt chước, nên nếu tìm một công ty để đầu tư, điều tôi quan tâm là con người và văn hóa của tổ chức – các yếu tố tiềm năng cho sự phát triển của công ty”, ông David Ho – Chủ tịch HĐQT TrangCorp – cho biết.
Một số sản phẩm thủy hải sản chế biến của công ty.
Một số sản phẩm thủy hải sản chế biến của công ty.

Văn hóa của TrangCorp dựa trên 5 trụ cột, trong đó, trụ cột đầu tiên là TÌNH YÊU.

“Chúng tôi yêu sản phẩm, dịch vụ, yêu công ty, yêu khách hàng và yêu cả những con người của chúng tôi. Chính vì có tình yêu như vậy nên chúng tôi làm việc có hệ thống, xây dựng một hệ thống thống nhất cùng điều hành doanh nghiệp”, ông David nói.

“Bằng cách đó, chúng tôi phát triển được đội ngũ nhân sự, qua đó phát triển được kinh doanh. Và cũng từ tình yêu đó mà sản xuất ra được những sản phẩm có chất lượng cao nhất”.

“Tầm nhìn của TrangCorp là trở thành công ty hàng đầu Việt Nam về chế biến thực phẩm và trong 10 năm nữa, sẽ nằm trong Top những công ty hàng đầu thế giới”.

Mang nhiều yếu tố thành công của một doanh nghiệp thực phẩm như công nghệ, con người, chất lượng sản phẩm, nguồn cung…, nhưng TrangCorp lại vướng ở nguồn vốn. Đây là lý do TrangCorp quyết định chấp nhận chuyển từ mô hình công ty gia đình sang mô hình công ty đại chúng.

Theo kế hoạch, TrangCorp sẽ niêm yết trên sàn chứng khoán Hà Nội (HNX) trong tháng 11, sẽ chuyển sang sàn chứng khoán TPHCM (HSX) vào năm tiếp theo, lọt vào rổ VN30 vào năm kế tiếp và dự kiến đến năm 2019, công ty sẽ niêm yết trên sàn chứng khoán nước ngoài, có thể tại sàn chứng khoán Singapore, hoặc sàn chứng khoán London hay New York (những thị trường có tỷ trọng xuất khẩu lớn của TrangCorp).

Báo cáo tài chính các năm 2013 - 2014 cho thấy, sản lượng sản xuất và tiêu thụ của Công ty lần lượt 2.163 tấn và 2.679 tấn, doanh thu 331 tỷ đồng và 423 tỷ đồng. Tính riêng 9 tháng đầu năm 2015, sản lượng tiêu thụ của công ty đạt 1.800 tấn, doanh thu 330 tỷ đồng. Doanh thu cả năm 2015 dự kiến đạt 518 tỷ đồng, lợi nhuận 55,5 tỷ đồng.


Share:

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

Thế hệ mới gia đình Koch: Tập đoàn tư nhân lớn nhất Hoa Kỳ (P.1)

Anh em nhà Koch là điển hình cho câu chuyện thành công của công ty gia đình với câu nói: Thế hệ thứ 1 gầy dựng, thế hệ thứ 2 phát triển. Dưới bàn tay của họ, Koch Industries từ công ty dầu trở thành tập đoàn đa ngành với quy mô lớn hơn cả Google, Goldman Sachs và Kraft Foods gộp lại.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.ViCCnm5mqsW
Charles (bên trái) và David Koch cùng phát triển công ty mà cha họ đã gầy dựng. 
Koch Industries từng được xem là một công ty dầu. Nhưng đế chế kinh doanh được lãnh đạo bởi 2 tỷ phú là Charles và David Koch đã mở rộng, tham gia vào những ngành công nghiệp tối quan trọng như thực phẩm, cung cấp nước sạch và công nghệ cá nhân.

Trụ sở Tập đoàn Koch Industries không phải là một nơi mà bạn hay hình dung về một tập đoàn tiên phong trong công nghệ, nằm cách thung lũng Silicon 1.600 dặm với văn hóa và tư tưởng chính trị hoàn toàn cách biệt. Tọa lạc tại rìa tây bắc của Wichita, một vùng với nhiều đồng cỏ hơn là đường phố, trụ sở của tập đoàn tư nhân lớn nhất Hoa Kỳ này đã phát triển qua nhiều năm để trở thành trung tâm của một đế chế trong ngành dầu khí.

Khác với vẻ ngoài, khi được hỏi về tương lai của nền kinh tế Hoa Kỳ, CFO của Koch là Steve Feilmeier đã tuôn ra một tràng độc thoại về viễn cảnh tươi sáng của các ngành công nghệ cao, trong khi đang cầm trong tay một chiếc điện thoại cũ kỹ từ thế kỷ trước, nổi bật trong văn phòng khá khiêm tốn so với chức vụ của ông. “Có những thứ rất nhỏ bé giống như chiếc điện thoại BlackBerrys này đã không tồn tại khoảng 8 đến 10 năm về trước. Kỹ thuật mới đã nâng cao đáng kể chất lượng cuộc sống của chúng ta. Sự cải tiến này vẫn đang tiếp diễn, một cách nhanh chóng.”

Đầu tháng 12, Koch Industries đã có một vụ đầu tư lớn thể hiện niềm tin vào tương lai của ngành công nghệ cao đó khi bỏ ra 7,2 tỷ USD mua lại Molex, công ty sản xuất linh kiện điện tử toàn cầu có trụ sở chính ở Lisle – Hoa Kỳ. Molex sản xuất linh kiện cho nhiều loại thiết bị, bao gồm iPhones, và có cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch Nasdaq trước khi vụ mua lại diễn ra.

Koch nhìn thấy tiềm năng của Molex để dự phần trong cuộc cách mạng Internet vạn vật – IoT đang diễn ra. Feilmeier, một người đàn ông cường tráng ở độ tuổi 52, có thời gian từng làm huấn luyện viên cho đội bóng bầu dục tại trường đại học.

Ông bình luận về vụ mua lại như sau: “Hãy nhìn xem các thiết bị cảm ứng và kết nối phát triển như thế nào trong thời điểm hiện tại.Chúng tôi mua lại Molex vì họ được vận hành theo phương thức phù hợp với sự phát triển của công nghệ, hướng tới công nghệ ngày càng dễ sử dụng, tạo ra máy móc được kết nối và giữ vai trò chủ động hơn, dù cho đó là người máy hay dây chuyền tự động hóa, hay một thứ xe đa năng, biết nói chuyện và cảnh báo tai nạn. Chúng tôi nghĩ Molex sẽ giữ vị trí quan trọng trong bức tranh phát triển đang được vẽ nên”.

Feilmeier vạch ra tương lai của Molex trong vòng một thập kỷ tới với doanh thu tăng từ 3,6 tỷ USD lên 10 tỷ USD, đồng thời chia sẻ rằng họ sẽ mua lại thêm nhiều công ty công nghệ có quy mô nhỏ hơn khác. “Chúng tôi không chỉ mua lại để sở hữu các công ty hoặc công nghệ của họ để thâm nhập vào thị trường mới, chúng tôi còn mong muốn giúp các công ty này phát triển.”

Ngưởi ta thường nghe tới tên Koch (phát âm là “coke”) bởi vì các hoạt động chính trị của hai cổ đông chính là – hai anh em Charles và David Koch. Nhờ vào sự phát triển to lớn của công ty gia đình mà cha họ, Fred, đã sáng lập ra 70 năm về trước, anh em nhà Koch thuộc vào hàng những người giàu nhất thế giới vào thời điểm hiện tại. Mỗi người sở hữu khối tài sản ròng trị giá 36 tỷ USD hoặc hơn, và khi gia sản tăng, họ dùng tiền của mình để tạo ra ảnh hưởng chính trị tại Hoa Kỳ.

Anh em nhà Koch là những người theo chủ nghĩa tự do nhiệt thành: David là ứng viên Phó Tổng thống của Đảng Tự Do vào năm 1980, với tư tưởng chống cường quyền và theo một số người là chống lại những quy định làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lời trong lĩnh vực kinh doanh của họ. Anh em nhà Koch cũng chi tiền tài trợ một số nhóm sáng lập Đảng Trà (Tea Party).

Một trong những nỗ lực chính của họ là việc thành lập tổ chức American for Properity, tổ chức đã châm ngòi cho một loạt các cuộc tranh luận về chính trị - từ phản đôi chính sách bảo hiểm Obamacare cho đến chỉ trích việc lạm quyền của các tổ chức công đoàn trong lĩnh vực kinh tế công tại Winconsin.

Theo một nghiên cứu mới đây từ Center for Public Integrity, AFP đã chi tổng cộng 122 triệu USD cho các hoạt động của mình trong năm 2012. Nhưng con số này vẫn chưa phải là tất cả chi tiêu cho hoạt động chính trị của nhà Koch. Họ bỏ ra hàng chục triệu USD để tài trợ cho một hệ thống các tổ chức bảo thủ. Với chừng đó bề dày thành tích chính trị, họ đã trở thành những người có máu mặt trong các phong trào ái quốc ở Hoa Kỳ - một dạng ông kẹ đối với những người theo chủ nghĩa thiên tả.

Hoạt động chính trị nổi bật của nhà Koch phần nào làm lu mờ quá trình vươn lên thành một tập đoàn đa ngành khổng lồ của họ. Nếu Koch Industries đủ điều kiện xét duyệt trong danh sach Fortune 500, họ sẽ xếp thứ 17 với doanh thu 115 tỷ USD, lớn hơn cả Google, Goldman Sachs và Kraft Foods gộp lại. Quy mô của công ty đã được nhân lên gấp đôi trong vòng một thập kỷ vừa qua. Koch không chỉ quan trọng vì quy mô của nó.

Theo đà phát triển của mình, công ty này lấn sang những lĩnh vực kinh doanh mới và gắn chặt với nhiều khách hàng. Koch sở hữu nhiều thương hiệu nổi tiếng như thảm Stainmaster và sau khi họ mua lại Geogia – Pacific với giá 22 tỷ USD vào năm 2005, danh sách thương hiệu của họ còn có thêm giấy vệ sinh Quilted Northern, Brawny và cốc Dixie.
(Còn tiếp)
Mai Nguyễn
Theo Trí Thức Trẻ/Fortune
Share:

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

Vưu gia - Những người làm nên thương hiệu giày dép Biti's của người Việt

Là một trong những doanh nghiệp gia đình gốc hoa nổi tiếng bên cạnh những cái tên như Kinh Đô, Thiên Long, Minh Long, Đại Tiến Đồng, Biti’s được gia đình ông Vưu Khải Thành thành lập từ những năm đầu thập niên 80.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.Vhdi925mqsW

Từ năm 1986 đến nay, cùng với biến chuyển của nền kinh tế, hội nhập toàn cầu, những thành phần kinh tế ngoài nhà nước, các công ty gia đình Việt Nam đóng góp lớn vào sự thay đổi bộ mặt kinh tế Việt Nam khi đóng góp cùng những thành phần kinh tế ngoài quốc doanh khác gần 50% GDP cả nước.

Là một trong những doanh nghiệp gia đình gốc hoa nổi tiếng bên cạnh những cái tên như Kinh Đô, Thiên Long, Minh Long, Đại Tiến Đồng, Biti’s được gia đình ông Vưu Khải Thành thành lập từ những năm đầu thập niên 80.

Châu Âu gặp khó, tiến quân sang Trung Quốc

Tiền thân của Biti’s là 2 tổ hợp sản xuất Bình Tiên và Vạn Thành năm 1982 tại đường Bình Tiên, quận 6, Tp.HCM với 20 công nhân chuyên sản xuất các loại dép cao su đơn giản. Đến năm 1986 hai tổ hợp này sáp nhập lại thành hợp tác xã cao su Bình Tiên chuyên sản xuất giày dép chất lượng cao tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang thị trường Đông Âu và Tây Âu. Cái tên Biti’s là viết tắt của cái tên Bình Tiên này.

Tuy nhiên đến cuối những năm 1980s, Liên Xô và Đông Âu sụp đổ khiến Biti’s cũng mất luôn thị trường chính. Trong khi đó tại thị trường nội địa gặp phải cạnh tranh khốc liệt từ giày dép xốp Thái Lan, Trung Quốc làm bằng chất liệu mới, đẹp, nhẹ và tiện lợi hơn dép cao su Việt Nam.

Ông Thành và vợ là bà Lai Khiêm không bỏ cuộc và quyết định sang Đài Loan tìm cơ hội mới. Tại đây, vợ chồng nhà sáng lập Biti’s nhận thấy loại dép xốp làm bằng hạt nhựa EVA có thể cạnh tranh trực tiếp với dép xốp đang thịnh hành trong nước. Vợ chồng ông quyết định tìm hiểu về công nghệ EVA và mua dây chuyền sản xuất mang về Việt Nam.

Tại thời điểm này, Trung Quốc rất chú trọng và khuyến khích xuất khẩu nhưng thị trường giày dép nội địa lại bỏ ngỏ. Việc cạnh tranh trực tiếp với những sản phẩm Trung Quốc, Thái Lan giá rẻ và đang được ưa chuộng là thử thách lớn và hai vợ chồng ông Thành quyết định táo bạo là xuất khẩu sang thị trường Tây Nam Trung Quốc với sản phẩm chất lượng, có giá cả phải chăng.

Đây không phải là quyết định cảm tính bởi ông Thành vốn là người gốc Hoa, khá am hiểu tính cách, sở thích của người Trung Quốc. Bên cạnh đó Tây Nam Trung Quốc khá gần với Việt Nam, có nhiều nét tương đồng về văn hóa đồng thời là thị trường dễ tính bao gồm nhiều tầng lớp dân cư khác nhau, có thu nhập khác nhau nên nhu cầu rất đa dạng. Người Trung Quốc có thói quen thích mua sắm, dễ bị thu hút bởi những sản phẩm mới lạ, khác biệt trong khi Biti’s có thể làm được điều này. Bà Lai Khiêm, hiện là tổng giám đốc Biti’s cũng từng cho biết “Người Trung Quốc đi bộ rất nhiều nên luôn luôn phải giữ cho đôi bàn chân của mình dễ chịu và thoải mái, về điểm này, sản phẩm của Biti’s đáp ứng được.”

Sau khi lựa chọn thị trường xuất khẩu chính giai đoạn này là Trung Quốc, Biti’s tiến hành chiến lược thâm nhập thị trường bắt đầu từ việc đăng ký và bảo hộ thương hiệu. Những bước đi tiếp theo của công ty này bao gồm: Chính sách một giá, phủ rộng phân phối và quảng cáo thương hiệu. Để người tiêu dùng yên tâm không phải lo trả giá, mua hớ, mua nhầm, Biti’s áp dụng chính sách “một giá” và tạo được hiệu ứng tốt. Với thị trường rộng lớn, Bitt’s tổ chức hệ thống phân phối chân rết từ tổng đại lý đến đại lý kinh doanh để phủ dày và hiện diện khắp nới từ Vân Nam, Trùng Khánh, Quảng Tây, Quảng Đông,… đến cả Bắc Kinh, Thượng Hải.

Với tập quán người dân Trung Quốc thích đi lại, tụ họp tại những nơi đông người như triển lãm, hội chợ và quảng cáo, báo chí dù chi phí cao nhưng hiệu quả không bằng nên Biti’s chọn con đường hội chợ để quảng bá sản phẩm đến người tiêu dùng.

Những chiến lược thông minh và quyết liệt của ban lãnh đạo đã đem về quả ngọt cho Biti’s khi có thời điểm doanh thu bình quân hàng năm tại thị trường Trung Quốc của Biti’s đạt khoảng 30%. Riêng khu vực Tây Nam chiếm tới 80% tổng doanh thu toàn thị trường Trung Quốc.

Cuộc lột xác của người khổng lồ

Cùng với việc thắng lớn tại thị trường Trung Quốc, đầu thập niên 1990 Biti’s chuyển hướng tập trung sang thị trường nội địa và ghi dấu ấn bằng thông điệp quảng cáo nổi tiếng “Nâng niu bàn chân Việt”. Theo chia sẻ của bà Lai Khiêm, riêng sản phẩm dép xốp đã có thời kỳ mỗi gia đình Việt Nam có một đôi. Tính tại thời điểm hiện tại, có tới 70% học sinh mẫu giáo, cấp 1 và cấp 2 trên cả nước sử dụng sản phẩm Biti’s.

Hiện Biti’s đang là một trong những doanh nghiệp da giày hàng đầu Việt Nam chiếm 15% thị trường trong nước với doanh thu nội địa 1.000 tỷ đồng năm 2012. Tốc độ tăng trưởng của thị trường nội địa theo Biti’s chia sẻ đạt mức khoảng 20%/năm.

Bên cạnh việc sản xuất giày dép thương hiệu riêng, Biti’s cũng là doanh nghiệp Việt được nhiều thương hiệu nổi tiếng thế giới lựa chọn làm đối tác gia công như Decathlon, Clarks, Speedo, Skechers, Lotto. Trên cơ sở xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Biti’s cũng thực hiện chiến lược đầu tư mở rộng sang lĩnh vực kinh doanh khác với hai dự án nổi bật là: Tàu lửa Sapaly tuyến Hà Nội- Lào Cai và khách sạng 4 sao Sapaly Hotel Lao Cai.

Với 33 năm trên thương trường, hoạt động kinh doanh của Biti’s trong những năm gần đây đã có những bước chuyển để thoát khỏi tư duy già nua.

Trước đây Biti’s hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống phân phối độc lập (nhà bán lẻ). Tuy nhiên điều này gây bất lợi pha loãng khi các nhà bán lẻ nhập nhiều loại giày dép có xuất xứ khác nhau để bán. Vì vậy trong 3 năm qua, Biti’s xây dựng riêng chuỗi cửa hàng tiếp thị một điểm trên cả nước chuyên kinh doanh chuyên biệt các sản phẩm giày dép chỉ mang thương hiệu Biti’s. Với tốc độ giới thiệu ra thị trường khoảng 40 mẫu/tháng, kênh phân phối này được kỳ vọng sẽ giúp Biti’s củng cố sự hiện diện trên thị trường nội địa.

Không chỉ đầu tư hệ thống phân phối mới, Biti’s còn thực hiện hàng loạt cải cách như áp dụng phần mềm ERP, SAP để quản lý đến lập dự án sản xuất, marketing, xây dựng thương hiệu thời trang cao cấp mang tên Gosto và mới đây là thông tin cho biết công ty này sẽ triển khai bán hàng trực tuyến.

Những bước chuyển mình này của Biti’s đến từ những người kế nghiệp của vợ chồng ông Thành. Con gái đầu của ông bà là Vưu Lệ Quyên sau khi du học Canada trở về nước đảm nhiệm chức vụ phó tổng giám đốc Kỹ thuật và kinh doanh, đồng thời phụ trách nhãn hàng cao cấp mới. Cô con gái thứ hai là Vưu Lệ Minh phụ trách về thiết kế mẫu mã phục vụ xuất khẩu. Con trai út hiện đang du học sau khi về nước cũng được bà Lai Khiêm kỳ vọng là người kế nghiệp sáng giá bên cạnh hai chị gái.
Theo Trí Thức Trẻ
>> Những người kế thừa của các ông chủ gốc Hoa
>> 4 doanh nhân gốc Hoa thành đạt ở thị trường Việt

Share:

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Con đường hồi sinh doanh nghiệp gia đình ngoạn mục của một tỷ phú

Chỉ mới 1 thập kỷ trước, công ty gia đình Cox Enterprises đã gần như lâm vào cảnh lụi bại. Giờ đây, tập đoàn có trụ sở tại thành phố Atlanta là một trong những tập đoàn tư nhân lớn nhất nước Mỹ, tất cả đều nhờ công của 1 người con trong gia đình: Jim Kenedy.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VhSTmG5mqsW
 Chủ tịch Cox Enterprises, Jim Kennedy. 
Vài năm trước, Jim Kenedy muốn tôn vinh ông mình là James M. Cox, người sáng lập Cox Enterprises, tập đoàn viễn thông và truyền thông gia đình với doanh số hàng năm lên đến 17 tỷ USD. Kenedy đã cho người làm một bức tượng ông mình bằng đồng với kích cỡ như người thật đặt tại hành lang trụ sở chính công ty, nhưng bị gia đình phản đối dữ dội.

Vấn đề nằm ở chỗ “Nguyên tắc quản trị của gia đình Cox” là: công việc kinh doanh cần được thực hiện vời một thái độ khiêm tốn, bảo vệ quan điểm mềm mỏng và thừa nhận tồn tại giới hạn hiểu biết. “Không nên tự phụ”, dẫn lời Kenedy.

Bức tượng biểu thị cho tính tự kiêu kia đã vị phạm nguyên tắc, thế nên nó phải được dỡ bỏ.
Kennedy, hiện đang giữ chức Chủ tịch, luôn thể hiện tác phong chấp hành nghiêm túc các quy định của gia tộc để làm gương, từ việc nhỏ (ông chỉ sử dụng xe giá rẻ - chiếc Prius) đến việc lớn (hầu như không bao giờ trả lời báo chí, truyền thông, cuộc phỏng vấn duy nhất của ông trong cả một thập kỷ là với tạp chí Forbes).
Chủ tịch Cox Enterprises Jim Kennedy tại trụ sở công ty. Nguồn: Jamel Toppin/Forbes
Chủ tịch Cox Enterprises Jim Kennedy tại trụ sở công ty. Nguồn: Jamel Toppin/Forbes

Hầu hết các hoạt động của Cox Enterprises phản ánh tư duy này. Dưới sự lãnh đạo của Kennedy, tập đoàn có trụ sở tại thành phố Atlanta (Mỹ) đã phát triển ổn định trong suốt một thập kỷ qua: doanh thu tăng gần 50%, lợi nhuận đạt gần 1,4 tỷ USD, gấp đôi so với năm 2005.

Mảng viễn thông có những bước phát triển vững chắc tạo ra gần 2/3 doanh thu (10,4 tỷ USD) và lợi nhuận (980 triệu USD) của toàn bộ tập đoàn.

Tại Hoa Kỳ, Cox là nhà cung cấp dịch vụ truyền hình cáp lớn thứ 3 và là một trong những tay chơi chính trong lĩnh vực dịch vụ Internet. Mảng kinh doanh xe hơi bao gồm các thương hiệu Autotrader.com, công ty đấu giá xe đã qua sử dụng Manheim và Kelley Blue Book có tốc độ tăng trưởng nhanh: doanh thu hơn 4,3 tỷ USD, tăng 35% trong vòng 3 năm. Và mảng truyền thông, một thời từng là mảng kinh doanh chủ chốt của tập đoàn (chủ yếu là phát hành báo, truyền hình, đài phát thanh và dịch vụ giao phiếu mua hàng qua hộp thư Valpak) đạt doanh số 1,8 tỷ USD.

Cùng với sự phát triển của tập đoàn, các thành viên trong gia tộc này càng giàu thêm. Kennedy hiện đang sở hữu 25% cổ phần, trị giá khoảng 9 tỷ USD, xếp thứ 50 trong bảng xếp hạng 400 người giàu nhất thế giới của Forbes.

Chị ông, Blair Parry – Okeden, 64 tuổi, cũng sở hữu 25% cổ phần của công ty và là người giàu nhất nước Úc (Bà Blair không tham gia điều hành Cox Enterprises và từ chối cung cấp thông tin cho bài báo này).

Dì của 2 người, bà Annne Cox Chambers, 95 tuổi, vẫn tham gia hội đồng quản trị, sở hữu phân nửa cổ phần của công ty, trị giá 18 tỷ USD, và hiện là người giàu thứ 25 ở Hoa Kỳ. Bà Anne là một trong số 29 người luôn có tên trong danh sách 400 người giàu nhất thế giới do Forbes bầu chọn kể từ năm 1982. Trong số 29 người này, chỉ có người xếp thứ 2 là Buffet, anh em nhà Koch (xếp thứ 5) và Phil Knight (xếp thứ 17) là những người sở hữu tài sản nhiều hơn bà.

Nhìn vào hiện tại, ít ai biết được chỉ mới 1 thập kỷ trước, Cox Enterprises đã gần như lâm vào cảnh lụi bại.

Khi Kennedy nắm quyền vào năm 1988, Cox vẫn chỉ là một công ty truyền thông sở hữu 17 tờ nhật báo, bao gồm báo Atlanta Journal – Constitution, 8 kênh truyền hình và 9 chương trình phát thanh, vốn là ngành kinh doanh truyền thống của gia đình từ ngày mới thành lập.

Sau đó, Cox Enterprises bị cuốn vào làn sóng đào thải bắt nguồn từ việc Internet lật đổ các công ty truyền thông kiểu cũ và san bằng khoảng cách giữa các công ty lớn và nhỏ trong ngành xuất bản. Vì những biến chuyển này, ta không còn thấy những ông chủ báo như Grahams (Washinton Post), Sulzbergers (New York Times) hay Pulitzers (St. Louis Post – Dispatch) trong danh sách 400 người giàu nhất thế giới của Forbes nữa.

Để cứu vãn gia nghiệp, Kennedy đã phải cúi mình. “Bạn phải khiêm nhường. Tôi không bao giờ nghĩ mình là người đặc biệt và suy nghĩ này giúp ích cho tôi khá nhiều.” dẫn lời Kennedy, trong một cuộc phỏng vấn tại văn phòng của ông ở Atlanta, căn phòng đơn giản chỉ được trang trí với tấm hình chú chó Labrdor màu vàng của ông treo trên tường, một bản sao khẩu súng săn bằng gỗ treo gần cửa ra vào. “Trách nhiệm của chúng tôi là giữ gìn công ty mà ông cha đã tạo dựng cho con cháu”.

Cho tới hôm nay, Kennedy vẫn không cảm thấy thoải mái với gia sản của mình, ông vẫn thích báo chí nêu tên ông như một nhà lãnh đạo hơn là một tỷ phú. Sau khi tốt nghiệp Đại học Denver, ông phải bắt đầu sự nghiệp bằng việc luân chuyển qua nhiều vị trí trong công ty gia đình (công việc ưa thích nhất của ông là làm cho nhà xuất bản báo Daily Sentinel tại Grand Junction, Colo.) để rồi trở thành phó tổng giám đốc vào năm 1986.

Sau đó vào năm 1988, Kennedy, khi đó 40 tuổi, tiếp nhận trách nhiệm bảo tồn gia nghiệp sau khi cha dượng của mình về hưu.

Ban đầu, chiếc vương miệng trở nên quá nặng với ông. Kennedy nhớ lại: “Việc đầu tiên của tôi là cố gắng không phá hoại hết mọi thứ, vì thế trong một thời gian dài, tôi cố duy trì nhịp độ hoạt động vốn có và rèn giũa các khả năng kinh doanh của mình”.

Một trong những quyết định đầu tiên mà Kennedy thực hiện là bán đơn vị kinh doanh truyền hình cáp để tận dụng lợi thế tài sản đang trong đà tăng giá trong những năm 1980, theo lời khuyên từ các chuyên gia. Ông đã tiếp thu lời khuyên này, và khi tài sản giảm giá lại thực hiện mua vào hàng loạt.

Một phi vụ trong số đó là khi đơn vị viễn thông của Cox Enterprises sát nhập với bộ phận kinh doanh dịch vụ cáp của Times Mirror Co., thương vụ này trị giá 2.3 tỷ USD. Sau vụ sát nhập này, một công ty mới ra đời là Cox Communications do Kennedy làm chủ tịch. (Phần còn lại của tập đoàn gia đình vẫn tồn tại với tên Cox Enterprises).

Công ty trở thành nhà cung cấp dịch vụ cáp lớn nhất Hoa Kỳ với 3,1 triệu thuê bao. Tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô và sức mạnh của nhà cung cấp lớn, doanh thu của Cox Communications tăng hơn một phần ba, đạt 1,7 tỷ đô từ năm 1995 đến 1998.

Trong khi đó tại Cox Enterprises, ý tưởng về một hình thức kinh doanh mới để tự bảo vệ trước làn sóng quảng cáo tràn lan trên Internet. Vào năm 1999, Cox cho ra đời trang web Autotrader.com, chào bán trực tuyến những chiếc xe cũ.

Đây là một quyết định thông minh. Thay vì quảng cáo trên các trang báo của chính mình, Cox sử dụng ưu thế đang lên của ngành công nghệ số. Autotrader đã là một thương hiệu có tiếng trên báo, nhưng điểm khác biệt giữa nó và các website khác là nó sử dụng dữ liệu từ các cuộc đấu giá xe của Mayheim.

Với việc điều hành 88 địa điểm đấu giá trên khắp Hoa Kỳ, Manheim có đủ cơ sở dữ liệu dồi dào cung cấp cho Autotrader.com. Manheim ghi lại số VIN, mẫu, năm sản xuất, quãng đường xe đã đi và màu sắc từng chiếc xe họ bán. Khi nhà phân phối đưa ra một danh sách mới, họ không cần phải nhập lại các thông số trên, Autotrader đã làm việc đó.

Đồng thời người mua có thể dựa vào tính chính xác của dữ liệu này để quyết định mua xe. Autotrader.com nhanh chóng thu hút hàng triệu lượt chào giá xe và trong năm đầu tiên đã thu được 5 triệu USD doanh thu. Một thập kỷ sau, doanh thu tăng lên 625 triệu USD.

Tình hình kinh doanh chuyển biến tốt trong những năm đầu thiên niên kỷ mới khiến Kennedy nghĩ tới những dự án mới. Sau khi thực hiện nhiều thương vụ, bao gồm việc mua lại công ty Adelphia đang vướng vào một số vụ rắc rối lúc đó, Kennedy và gia đình mua lại 38% cổ phần Cox Communications vào năm 2004 với giá 8,4 tỷ USD, sau đó biến nó thành một công ty tư nhân thuộc tập đoàn Cox Enterprises.

Đây là một quyết định khôn ngoan vì tiền được đầu tư vào mô hình kinh doanh mà họ hiểu rõ. Kennedy nói về quyết định này như sau: “Mỗi khi bạn mua lại một công ty, luôn phải điều nghiên rất kỹ”. Vào lúc đó, tổng tài sản của gia đình vẫn được tăng ổn định, tăng 25 tỷ USD so với năm 2006, năm mà mẹ Kennedy mất. Lúc đó, mảng kinh doanh cáp chiếm hơn phân nửa giá trị tập đoàn, báo chí chỉ chiếm 10%.
Jim Kenndy nói chuyện với Warren Buffet tại hội nghị đầu từ hàng năm, tháng 07 năm 2004, cùng với cố vấn của Buffet là Byron Trott. Nguồn ảnh: Matthew Staver/ Bloomberg
Jim Kenndy nói chuyện với Warren Buffett tại hội nghị đầu từ hàng năm, tháng 07 năm 2004, cùng với cố vấn của Buffet là Byron Trott. Nguồn ảnh: Matthew Staver/ Bloomberg

Ông nội của Kennedy đã chèo lái công ty qua cuộc đại khủng hoảng, Kennedy cũng làm tương tự. Cuộc Đại khủng hoảng kinh tế mới đây cùng với cách mạng công nghệ số mạnh mẽ đã làm cho mảng kinh doanh truyền thống của Cox Enterprises bước vào hoàn cảnh thập tử nhất sinh.

Để ứng phó, Kennedy bán các tờ báo nhỏ vào năm 2008, tập trung vào những thị trường mà công ty đang có nhiều đầu ra, sa thải nhân viên tại những đơn vị còn lại (khoảng 1/3 nhân viên bị sa thải trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2010); hợp nhất báo chí với truyền hình và đài phát thanh vào một pháp nhân duy nhất, tinh giản đội ngũ kinh doanh. Rồi sóng gió cũng bắt đầu qua đi, doanh thu bắt đầu tăng trở lại vào năm 2011, đạt 14,7 tỷ USD.
Gia đình Cox: từ trái sang Alex Taylor, Anne Cox Chambers, Jim Kennedy and Jamie Kennedy
Gia đình Cox: từ trái sang Alex Taylor, Anne Cox Chambers, Jim Kennedy and Jamie Kennedy

Sau cuộc khủng hoảng, nhà Cox tìm ra một chỗ dựa vững chắc cho mảng kinh doanh truyền thông. Họ chú trọng xây dựng cơ sở tại những thành phố nhỏ (như Phoenix và Tulsa) và những khu vực đặc biệt (như vùng Great Plains, West Coast và New England).

Họ đầu tư một cách khôn ngoan vào việc cải thiện dịch vụ Internet tốc độ cao, khoảng 15 tỷ USD trong suốt một thập kỷ qua để cạnh tranh với các đối thủ mới nổi như Google Fiber, với tham vọng chiếm lĩnh thị trường Internet tốc độ cao. Mảng dịch vụ cáp có thể giúp Cox Enterprises xâm nhập vào thị trường mới: dịch vụ y tế tại nhà.

Nếu nhìn vào những con số liên quan đến thế hệ Baby Boomers (75 triệu người) và số lượng nhà ở Hoa Kỳ có truyền hình cáp (hơn 100 triệu), đây là một thị trường tiềm năng. Ngoài ra, Cox còn đầu tư vào Theranos, công ty chuyên phân tích kết quả xét nghiệm máu được điều hành bởi Elizabth Holmes, nữ doanh nhân tự thân trẻ tuổi nhất trong danh sách 400 người giàu nhất thế giới (với tài sản 4,5 tỷ USD, xếp thứ 121).

Người lãnh đạo có tầm nhìn đó đang cảm thấy mình già đi. Tương lai của Cox Enterprises có thể nằm trong tay cháu họ và con trai Kennedy là Alex và Jamie. Hai người tham gia hội đồng quản trị năm ngoài.

Jamie không muốn vướng nhiều đến việc điều hành thường nhật. Alex là phó tổng giám đốc và được cơ cấu kiêm nhiệm cả chức chủ tịch lẫn CEO. Khi nói về tầm nhìn, thật lạ lùng là cả 2 đều khẳng định lại tư tưởng của Kennedy. “Mục tiêu của chúng tôi là luôn phát triển và đa dạng hóa. Chúng tôi cần phải dấn thân”, James nói.

Tiếp lời, Alex nói “Chúng tôi không nhìn vào thành công trong quá khứ. Đó không phải là mục tiêu. Mục tiêu là làm cho công ty lớn mạnh hơn”.
Mai Trâm
Theo Trí Thức Trẻ/Forbes

Share:

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

10 công ty gia đình lớn nhất thế giới

Trong báo cáo về doanh nghiệp gia đình toàn cầu vừa công bố, Credit Suisse đã đưa ra danh sách 920 công ty gia đình lớn nhất thế giới. Các công ty trong danh sách này đều là công ty đã niêm yết và có giá trị vốn hóa thị trường ít nhất là 1 tỷ USD, trong đó, cổ phần do một gia đình sở hữu ít nhất phải là 20%.

920 công ty này được chọn lọc từ 35 quốc gia, với hơn 64% đến từ các nước châu Á mới nổi.
Trong thời điểm nền kinh tế ngày càng phát triển, tỷ lệ sở hữu cổ phần của các thành viên trong gia đình càng về thế hệ sau sẽ càng giảm. Đồng thời, sự “đấu đá” để tranh giành quyền thừa kế cũng ngày càng rõ rệt hơn.

Trang Buisiness Insider đưa thông tin về 10 công ty gia đình đứng đầu danh sách này:

1. Novartis

Ngành công nghiệp: Chăm sóc sức khỏe
Quốc gia: Thụy Sĩ
Giá trị vốn hoá thị trường: 279 tỷ USD
Gia đình: Sandoz
Pierre Landolt - đương kim Chủ tịch HĐQT Novartis

Novartis là một trong những tập đoàn sản xuất thuốc lớn nhất thế giới được thành lập từ năm 1966 sau khi sáp nhập hai công ty Sandoz và Ciba-Geigy. Hiện nay, các con cháu của Edouard Sandoz (người sáng lập Sandoz năm 1886) đang sở hữu một lượng lớn cổ phiếu Novartis.

Gia đình Sandoz đang là cổ đông lớn nhất của công ty và Pierre Landolt hiện đang là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Novartis.

Novartis là một trong những nhà sản xuất thuốc lớn nhất thế giới, được tạo ra vào năm 1996 sau khi sáp nhập giữa Sandoz và Ciba-Geigy. Hôm nay, các con cháu của Edouard Sandoz (người sáng lập Sandoz năm 1886) sở hữu một số lượng đáng kể cổ phiếu Novartis. Các Sandoz Family Foundation là cổ đông lớn nhất của công ty, và là chủ tịch của nó, Pierre Landolt, ngồi trên Novartis 'Hội đồng quản trị.

2. Roche

Ngành công nghiệp: Chăm sóc sức khỏe
Quốc gia: Thụy Sĩ
Giá trị vốn hoá thị trường: 254 tỷ USD
Gia đình: Hoffmann-Oeri
André Hoffmann - Phó chủ tịch Tập đoàn Roche hiện nay

Fritz Hofmann-La Roche khởi nghiệp bằng việc thành lập nên một công ty xi-rô trị ho và hiện nay, công ty này đã sáng chế ra một số loại thuốc chữa bệnh ung thư tốt nhất trên thế giới. Người thừa kế của ông hiện nay đang kiểm soát ít nhất một nửa cổ phiếu của công ty, theo Bloomberg.

Gia đình ông Hoffmann-Oeri hiện kiểm soát công ty thông qua bỏ phiếu. Gia đình này có ít nhất 8 tỷ phú, trong đó có Tiến sĩ Andreas Oeri và André Hoffmann. Hiện nay cả hai người đều giữ những chức vụ quan trọng trong hội đồng quản trị của hãng dược phẩm này.

3. Walmart

Ngành công nghiệp: Hàng tiêu dùng
Quốc gia: Mỹ
Giá trị vốn hóa thị trường: 241 tỷ USD
Gia đình: Walton
Gia đình Walton sở hữu khoảng một nửa giá trị của Walmart thông qua doanh nghiệp Walton. 50% giá trị cổ phần đã biến 5 người thừa kế trong gia đình Walton trở thành tỷ phú thế giới.
Anh em Rob và Jim Walton hiện đang ngồi trong ban giám đốc của công ty. trong khi cô em gái Alice và em dâu Christy, mỗi người đều nắm trong tay giá trị tài sản ròng khoảng 35 tỷ USD.

Anh em họ Ann Walton Kroenke và Nancy Walton Laurie cũng là những tỷ phú do nắm trong tay cổ phiếu của công ty. Gregory Penner, con rể của Rob Walton vừa kế nhiệm chức Chủ tịch Walmart vào hồi tháng trước.

4. Facebook

Ngành công nghiệp: công nghệ thông tin
Quốc gia: Mỹ
Giá trị vốn hóa thị trường: 225 tỷ USD
Gia đình: Zuckerberg
Randi và Mark Zuckerberg chụp ảnh cùng Katy Perry

Mark Zuckerberg đã đưa gia đình vào đế chế Facebook do ông đồng sáng lập và hiện đang sở hữu 1/3 giá trị tài sản của công ty. Chị gái ông - Randi là một Giám đốc Marketing tại công ty. Zuckerberg cũng đã tặng cha của mình 2 triệu cổ phiếu Facebook như một lời cám ơn ông vì đã giúp đỡ công ty từ những ngày đầu mới thành lập.

5. Anheuser-Busch InBev

Ngành công nghiệp: Hàng tiêu dùng
Quốc gia: Bỉ
Giá trị vốn hóa thị trường: 197 tỷ USD
Gia đình: Lemann, Sicupira, Telles
Jorge Paulo LeMann - người đứng đầu 3G Capital của

Công ty đầu tư toàn cầu 3G Capital chính là đơn vị đứng đằng sau vụ sáp nhập năm 2008 để tạo ra công ty bia Anheuser-Busch InBev. Jorge Paulo LeMann người đứng đầu 3G Capital và là người đàn ông giàu nhất Brazil hiện là cổ đông lớn nhất của công ty này.

Các đối tác của ông, Carlos Sicupira và Marcel Telles Herrmann cũng nắm giữ cổ phần lớn trong công ty. Ba người đàn ông này sở hữu khoảng 26% cổ phẩn của công ty. LeMann và Telles đều đang giữ những chức vụ quan trọng trong hội đồng quản trị.

6. Oracle

Ngành công nghiệp: Công nghệ thông tin
Quốc gia: Mỹ
Giá trị vốn hóa thị trường: 192 tỷ USD
Gia đình: Ellison
Người sáng lập Oracle Larry Ellison và con gái Megan cùng con trai David.

Larry Ellison vẫn là Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Công nghệ của công ty phần mềm Oracle, công ty đã giúp ông trở thành người đàn ông giàu thứ 3 nước Mỹ. Ông đã quyết định từ nhiệm chức CEO của công ty vào hồi tháng 9/2014. Trong khi đó, cả hai con ông đều đang nắm giữ cổ phiếu của Oracle nhưng không chắc sẽ tiếp quản công việc kinh doanh của gia đình vì cả hai đều đang theo đuổi sự nghiệp sản xuất phim.

7. Samsung Electronics

Ngành công nghiệp: Công nghệ thông tin
Quốc gia: Hàn Quốc
Giá trị vốn hóa thị trường: 174 tỷ USD
Gia đình: Lee
Chủ tịch Samsung Electronics Lee Kun-hee cùng hai con gái Lee Boo-jin (phải) và Lee Seo-hyun

Lee Kun-Hee đã phát triển công ty Samsung Group do cha ông sáng lập thành một tập đoàn toàn cầu. Ông hiện là Chủ tịch của doanh nghiệp hàng đầu tại Hàn Quốc, Samsung Electronics, trong khi con trai ông Jay Y. Lee là Phó chủ tịch và là người thừa kế sáng giá của vị trí chủ tịch. Các con gái ông Boo-Jin và Seo-Hyun cũng giữ vai trò điều hành trong một số công ty.

Năm 2014, một thẩm phán đã bác bỏ khiếu kiện đòi chia tài sản từ anh chị của Chủ tịch Lee Kun-Hee. Hai người này cho rằng họ đáng được hưởng một lượng cổ phiếu Samsung từ người cha quá cố để lại.

8. Volkswagen

Ngành công nghiệp: Tiêu dùng
Gia đình: Đức
Giá trị vốn hóa thị trường: 120 tỷ USD
Dòng họ: Piëch-Porsche
Nhiều thành viên trong gia đình Piech-Porsche đã cùng nhau nắm giữ phần lớn cổ phần trong Volkswagen thông qua công ty Porsche Automobile Holding của họ. Piech-Porsche là con cháu của người sáng lập hãng Porsche - Ferdinand Porsche (một thành viên đảng Quốc xã từng thiết kế nên chiếc Volkswagen đầu tiên cho Adolf Hitler.

Hiện nay có ít nhất 5 thành viên trong gia đình này có tên trong Hội đồng quản trị của Volkswagen. Thương hiệu Volkswagen bao gồm Porsche, Audi và Bentley.

9. Kinder Morgan

Ngành công nghiệp: Năng lượng
Quốc gia: Mỹ
Giá trị vốn hóa thị trường:90 tỷ USD
Gia đình: Kinder
Richard và Nancy Kinder

Sau khi rời khỏi Enron, Richard Kinder đồng sáng lập nên Kinder Morgan vào năm 1997. Với một danh mục đầu tư lớn trong lĩnh vực đường ống dẫn dầu và khí đốt, Kinder Morgan là một trong những công ty năng lượng lớn nhất trên thế giới. Kinder và vợ ông Nancy cũng đang tích cực tham gia các hoạt động từ thiện thông qua Kinder Foundation.

10. Nike

Ngành công nghiệp: Tiêu dùng
Quốc gia: Mỹ
Giá trị vốn hóa thị trường: 882 tỷ USD
Gia đình: Knight
Đồng sáng lập Nike Phil Knight và con trai Travis

Phil Knight được coi gương mặt đại diện của thương hiệu Nike kể từ khi ông đồng sáng lập công ty này vào năm 1964. Vừa mới tháng trước, Nike đã thông báo rằng Chủ tịch Phil Knight sẽ từ chức vào năm 2016 và con trai ông, Travis Knight, sẽ là người tiếp quản cơ nghiệp gia đình trong công ty.
Share:

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

Gia tộc Rothschild - Từ người nghèo nhất đến giàu hơn cả những kẻ giàu nhất

1. Gia tộc Rothschild là ai?

Rothschild là một gia tộc Do thái có nguồn gốc từ Frankfurt, Đức. Họ đã tạo nên đế chế tài chính - ngân hàng tại châu Âu bắt đầu từ cuối thế kỷ 18. Đế chế này còn vượt qua những gia tộc làm ngành ngân hàng hùng mạnh nhất mọi thời đại như Baring và Berenberg.

Cơ nghiệp của gia đình Rothschild bắt đầu từ thế kỷ 16 bắt đầu từ một nhân viên ngân hàng - Mayer Amschel Rothschild. Amschel đã đưa gia đình mình từ những nông dân nghèo sống tại khu ô chuột đông đúc trở thành gia tộc giàu có và tiếng tăm lẫy lừng nhất trong lịch sử thế giới.

2. Từ kẻ nghèo nhất đến giàu hơn cả những người giàu nhất, Amschel đã làm thế nào?

Amschel Rothschild bắt đầu sự nghiệp kinh doanh bằng việc trao đổi tiền tệ giữa các nước thuộc châu Âu. Ông chuyên phục vụ tầng lớp giàu có bao gồm cả các hoàng tử và công chúa. Khi doanh nghiệp trở nên lớn mạnh, Amschel tiếp tục mở thêm nhiều chi nhánh trên khắp châu lục và để con cháu điều hành. Trước khi qua đời, ông đã để lại khối tài sản khổng lồ cho 5 người con trai.

Với bất cứ thành viên nào trong gia đình Rothchild, việc gìn giữ và phát triển công ty cũng như gia sản của gia đình là một trong những nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy, Amschel thường cho các cháu của mình kết hôn với nhau (Thời kỳ này việc hôn nhân giữa anh em họ với nhau chưa bị cấm đoán).

3. Giàu có và quyền lực, Rotschild làm ai "ngứa mắt" không?

Các chi nhánh ngân hàng của gia đình trải khắp châu Âu, từ Anh, Pháp, Ý cho tới Áo. Các thành viên trong gia đình cố gắng làm mọi việc có thể, tạo ra khối tài sản khổng lồ và từ đó phát triển quyền lực và tầm ảnh hưởng.

Đến năm 1980, doanh nghiệp của gia đình đã có hàng nghìn nhân viên và một số rắc rối bắt đầu xuất hiện. Thủ tướng Pháp lúc đó Francois Mitterrand đã quyết định cho quốc hữu hóa chi nhánh ngân hàng địa phương Rothschild và thay đổi tên thành Comagmie Europeene de Banque.

Thay vì chấp nhận thay đổi này, Baron David de Rothschild đã chọn làm điều ngược lại và mở ra Rothschild&Cie Banque để cạnh tranh với ngân hàng vừa được quốc hữu hóa.

4. Chẳng ai giàu ba họ, Rotschild cũng vậy?

Không hẳn, nhưng Rotschild cũng đã từng rơi vào cảnh khủng hoảng. Chiến tranh thế giới thứ II là giai đoạn khủng hoảng trầm trọng nhất của gia đình này. Tất cả những cung điện, lâu đài của Rothschild tại Áo đều bị tịch thu bởi Đức Quốc Xã và gia đình buộc phải chạy trốn. Sự hỗn loạn và tình trạng cướp bóc tiếp tục kéo dài, mãi đến năm 1999 chính phủ Áo mới lấy lại được hết những gì đã mất trong chiến tranh.

Gia đoạn này gia đình Rothschild cũng gặp phải những vấn đề đấu đá nội bộ. Họ chia làm 2 phe, một phần ủng hộ Đức Quốc Xã, một phần ủng hộ trực tiếp cho nhà nước Israel. Điều này không chỉ dẫn đến một vài thuyết âm mưu mà Rothschild còn chứng kiến tài sản gia đình giảm sút rất nhiều do những tranh chấp về đất đai và hàng hóa trong khu vực.

5. Ai sẽ là đại diện cho gia đình Rothschilds ngày nay?

Hiện còn rất nhiều thành viên của gia đình Rothschilds còn sống. Bao gồm Hannah Rothschild, Robert Baron Rothschild và Victoria Katherine Rothschild. Mặc dù những cái tên này không được quá nhiều người biết đến nhưng có một điều chắc chắn là: Rothschild là một trong những gia tộc giàu và có tầm ảnh hưởng nhất trong lịch sử thế giới. Nếu không có họ, bộ mặt của nước Anh, châu Âu đã có thể rất khác.

6. Giàu có như vậy gia đình Rothschild có làm từ thiện nhiều không?

Rất nhiều. Hoạt động từ thiện cũng là một phần quan trọng của gia đình Rothschild. Vì yêu thích nghệ thuật, họ đã bỏ ra số tiền không nhỏ để ủng hộ cho các bảo tàng và bộ sưu tập. Ước tính rằng đóng góp của gia đình này lên tới 10 triệu USD. Có hàng loạt bảo tàng tại châu Âu ngày nay vẫn tự hào trưng bày các tác phẩm nghệ thuật được hiến tặng bởi gia đình Rothschilds và nguồn tiền đóng góp hào phóng của họ.


Share:

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Công ty gia đình trị - "Bông hoa nở rộ" của chủ nghĩa tư bản hiện đại

Trong tương lai gần, không những không suy tàn, các doanh nghiệp gia đình vẫn sẽ là một thực thể quan trọng của chủ nghĩa tư bản trên toàn cầu, theo Adrian Wooldridge.


Nội dung nổi bật:
- Bạn có thể đọc tin tức từ New York Times và Wall Street Journal; mua xe của Ford hay Fiat; mua điện thoại thông minh của Samsung hay LG và mua thực phẩm ở Walmart hay Aldi. BCG tính toán có 33% các công ty ở Mỹ là công ty gia đình, trong khi tỷ lệ ở Pháp và Đức là 40%. Tổng doanh thu của các công ty này đạt hơn 1 tỷ USD mỗi năm. ​ .

- Điều tuyệt vời nhất của các công ty gia đình là cấu trúc sở hữu. Cấu trúc này cho phép họ tập trung vào hai vấn đề rắc rối nhất của chủ nghĩa tư bản hiện đại: kết quả trong ngắn hạn và những xung đột tiềm ẩn giữa người sở hữu và người quản lý.


Gia đình luôn nằm ở trung tâm của hoạt động kinh doanh. Trong số các công ty lâu đời nhất thế giới luôn có các công ty gia đình. Khách sạn cổ nhất thế giới Hoshi Ryokan (Nhật Bản) đã có từ năm 718. Tập đoàn xây dựng Kongo Gumi (cũng của Nhật Bản) thậm chí còn ra đời sớm hơn (năm 578) nhưng đã phá sản năm 2006. Gia tộc Antinori đã sản xuất rượu ở Tuscany kể từ năm 1385 và Berettas đã làm ra những khẩu súng suốt từ năm 1526 đến nay.

Các công ty gia đình là những ngôi sao đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản: hãy nghĩ đến nhà Baring và Rothschild trong ngành ngân hàng hay nhà Ford và Benze trong ngành xe hơi.

Các công ty gia đình phù hợp một cách hoàn hảo với những giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản. Trong một thế giới mà ngân hàng và các định chế luật pháp còn nghèo nàn gây nhiều khó khăn trong việc điều hành hoạt động kinh doanh, loại hình này cung cấp hai “nguyên liệu” quan trọng nhất của tăng trưởng là lòng trung thànhsự tin tưởng. Chắc chắn huy động tiền từ những người ruột thịt sẽ dễ dàng hơn so với từ người lạ.

Công ty gia đình cũng giúp ích trong việc kế thừa của cải và vị thế từ thế hệ trước. Đồng thời, giao trọng trách mở rộng thị trường ở nước ngoài cho người thân sẽ an toàn hơn rất nhiều so với việc thuê một người xa lạ. Ngân hàng Rothschild đã giúp toàn cầu hóa ngành tài chính khi người sáng lập Mayer Amschel Rothschild cử 5 người con trai tới 5 nước khác nhau.

Đáng ngạc nhiên là giới chuyên gia dành khá ít sự chú ý cho các công ty gia đình khi nghiên cứu về thời kỳ sơ khai của chủ nghĩa tư bản. Thậm chí các tác phẩm văn học sẽ mô tả đầy đủ hơn so với các nhà kinh tế học. Trong cuốn “Dombey và con trai”, Charles Dickens đã mô tả Domey khao khát chuyển giao cơ nghiệp cho con trai nhưng lại bị cấp dưới làm cho nản chí. Cuốn “Buddenbrooks” của Thomas viết về những người con của nhà sáng lập công ty. Họ đã quay lưng lại với những giá trị đem về tiền bạc cho gia đình.

Các ông trùm kinh doanh cũng không chú ý nhiều đến công ty gia đình. Alfred Chandler, người được coi là lão làng trong giới nghiên cứu về lịch sử kinh doanh, coi các công ty gia đình là những “di tích” của thời kỳ xa xưa, khi rất khó để tập hợp vốn và nhân tài để xây dựng doanh nghiệp.
Cỗ máy thực sự của chủ nghĩa tư bản hiện đại là các công ty đại chúng được sở hữu bởi các cổ đông đa dạng và điều hành bởi những nhà quản lý chuyên nghiệp.

Chandler đã đúng khi cho rằng các công ty đại chúng đã tạo nên những bước tiến lớn trong thời kỳ từ cuối thế kỷ 19 cho tới đầu thế kỷ 20, khi những ngành kinh doanh thâm dụng vốn chuyển sang huy động vốn từ thị trường. Tuy nhiên, ông đã sai khi dự đoán rằng điều này sẽ khiến các công ty gia đình biến mất trong nền kinh tế hiện đại.

Kể cả ở châu Mỹ - nơi các công ty đại chúng phát triển mạnh nhất, các công ty gia đình vẫn thống trị trong một số ngành chủ đạo. Đó là Walmart (hệ thống siêu thị bán lẻ lớn nhất thế giới) hay Ford (một trong những công ty sản xuất xe hơi lớn nhất thế giới). Ở châu Âu, các công ty đại chúng vẫn chưa thể chiếm trọn lòng tin của nhà đầu tư.

38 năm sau khi Chandler công bố cuốn sách “Bàn tay hữu hình” ca ngợi các công ty đại chúng, các công ty gia đình vẫn cung cấp rất nhiều hàng hóa thiết yếu cho cuộc sống. Bạn có thể đọc tin tức từ New York Times và Wall Street Journal; mua xe của Ford hay Fiat; mua điện thoại thông minh của Samsung hay LG và mua thực phẩm ở Walmart hay Aldi. Trong cuốn sách “Dynasties” (tạm dịch: Những triều đại), giáo sư đã quá cố David Landes của ĐH Harvard khẳng định bạn có thể viết lại một phần lịch sử của chủ nghĩa tư bản thông qua lăng kính của các công ty gia đình. Bạn cũng có thể làm được một khảo sát khá tươm tất về chủ nghĩa tư bản hiện đại bằng cách kể lại những câu chuyện của các công ty gia đình.

Công ty gia đình chiếm đến hơn 90% số lượng các công ty trên toàn thế giới. Rất nhiều trong số đó là các cửa hàng nhỏ lẻ. Chùm bài này sẽ tập trung phân tích những tập đoàn lớn đã định hình kinh tế toàn cầu và phát triển những sản phẩm cũng như ý tưởng khiến cả thế giới thay đổi. Kết luận được rút ra là các công ty gia đình có thể bùng nổ ở cả những lĩnh vực phức tạp nhất của nền kinh tế hiện đại.

Thế nào là công ty gia đình?

Cho tới nay vẫn chưa có một định nghĩa rõ ràng về các công ty gia đình. Nếu bạn giới hạn chúng là những công ty được sở hữu và quản lý bởi các thành viên trong gia đình, sẽ chỉ có rất ít công ty đạt đủ tiêu chuẩn này. Nếu mở rộng khái niệm và tính đến cả những công ty vẫn đang được điều hành bởi người sáng lập, những “gã khổng lồ” trong ngành công nghệ như Facebook và Google sẽ lọt vào danh sách dù ít người coi đây là những công ty gia đình,

Công ty tư vấn BCG đã đưa ra một khái niệm khá hợp lý về các công ty gia đình. Theo đó, các công ty thuộc này phải có đủ hai yếu tố: có một lượng cổ phần đáng kể được nắm giữ bởi một gia đình và gia đình đó có thể ảnh hưởng đến những quyết định quan trọng của doanh nghiệp, đặc biệt là khi lựa chọn Chủ tịch hoặc CEO. Thứ hai, phải có sự chuyển giao thế hệ hoặc kế hoạch chuyển giao (trong trường hợp người sáng lập vẫn sở hữu công ty đó).

Dựa trên định nghĩa này, BCG tính toán có 33% các công ty ở Mỹ là công ty gia đình, trong khi tỷ lệ ở Pháp và Đức là 40%. Tổng doanh thu của các công ty này đạt hơn 1 tỷ USD mỗi năm. Các công ty gia đình thậm chí còn phổ biến hơn ở châu Á và Brazil.

Những công ty gia đình hùng mạnh cũng xuất sắc trong việc xây dựng mô hình sở hữu theo dạng kim tự tháp để nắm một lượng cổ phần ở các công ty khác. Randall Morck đến từ ĐH Alberta chỉ ra rằng gia đình Wallenberg đang nắm giữ những công ty chiếm đến một nửa giá trị vốn hóa của TTCK Thụy Điển, trong đó có cái tên nổi tiếng Ericsson. Gia đình Agnelli kiểm soát 10,4% TTCK Italy. Ở Hồng Kông, tài sản của 15 gia đình giàu có nhất chiếm 84% GDP. Tỷ lệ ở Malaysia, Singapore và Philippines lần lượt là 76%, 48% và 47%.

Phần lớn các công ty tầm trung thành công là các công ty gia đình. Hermann Simon, Chủ tịch của hãng tư vấn Simon-Kucher & Partners, tính toán rằng bộ phận này chiếm khoảng 2/3 số lượng Mittelstand ở Đức, bao gồm những công ty đứng đầu thế giới về sản xuất cửa (Dorma), máy cân bằng (Schenck) và máy trộn công nghiệp (Ekato). Ở Italy có Ferrari (xe hơi), Versace (thời trang) hay Ferrero Rocher (socola).

Điều tuyệt vời ở các công ty gia đình

Điều đáng chú ý nhất ở các công ty gia đình không phải là chất lượng mà là nhóm này có nhiều công ty thành công nhưng cũng có không ít kẻ thất bại. Espírito Santo của Bồ Đào Nha là một ví dụ: những khoản nợ khổng lồ đã biến tập đoàn tài chính gia đình trị này trở thành một trong những thất bại lớn nhất trong giới doanh nghiệp châu Âu.

Điều tuyệt vời nhất của các công ty gia đình là cấu trúc sở hữu. Cấu trúc này cho phép họ tập trung vào hai vấn đề rắc rối nhất của chủ nghĩa tư bản hiện đại: kết quả trong ngắn hạn và những xung đột tiềm ẩn giữa người sở hữu và người quản lý.

CEO của các công ty đại chúng khó có thể nghĩ về dài hạn bởi họ phải tập trung vào con số của mỗi quý, và thời gian tại nhiệm của họ cũng ngày càng giảm xuống. Trong khi đó ông chủ của các công ty gia đình coi cổ phần của họ là những khoản đầu tư dài hạn và theo dõi sát sao công việc quản lý kể cả khi họ không tham gia điều hành.

Dẫu vậy, điều tệ nhất ở các công ty gia đình là quá trình kế vị. Đây là điều đặc biệt khó khăn ở mọi tổ chức, nhưng các công ty gia đình còn phải quan tâm đến những vấn đề ngoài lề như dòng máu hay cảm xúc. Theo thống kê chỉ có 30% các doanh nghiệp gia đình trị sống sót được đến đời thứ thứ 2 và 12% duy trì được đến đời thứ ba. 3% có thể duy trì qua 4 thế hệ trở lên.

Sẽ luôn lớn mạnh...

Theo The Economist, chắc chắn trong tương lai gần các công ty gia đình vẫn sẽ là một thực thể quan trọng của chủ nghĩa tư bản vì hai yếu tố. Thứ nhất, nhìn chung thì các công ty gia đình được quản lý tốt hơn nhờ học được cách hạn chế tối đa điểm yếu và củng cố thế mạnh. Thứ hai, trọng tâm của kinh tế thế giới đang dịch chuyển từ Mỹ sang các phần còn lại của thế giới, đặc biệt là châu Á – nơi các công ty gia đình đang thống trị.

Để hiểu sâu hơn về loại hình này, cần chú ý nhiều hơn đến sự bùng nổ trong nội tại các công ty gia đình. Chúng không phải là những công ty đại chúng, cũng không phải là những công ty khởi nghiệp thành công. Nhà đầu tư cũng cần hiểu thêm về những thứ như cha truyền con nối hay mối quan hệ hòa thuận giữa các thành viên trong gia đình.

Vì các công ty gia đình không chỉ tồn tại mà còn nở rộ, nhiều kết luận về kinh tế thế giới thời hiện đại phải được điều chỉnh. Cả các nhà kinh tế học và xã hội học đều dự đoán rằng các công ty gia đình sẽ suy yếu vì xã hội trở nên lý trí hơn và chú trọng thủ tục hơn.  Tuy nhiên viễn cảnh ấy đã sụp đổ với ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy các công ty gia đình trị có thể sống khỏe kể cả trong những xã hội phức tạp nhất.

>>10 gia đình giàu nhất thế giới
Theo Thu Hương
Trí thức trẻ/Economist
Share:

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

Bí mật thành công của gia tộc Mỹ có 14 tỷ phú do làm… nông nghiệp

Trong danh sách những tỷ phú giàu nhất thế giới năm 2015 vừa được Forbes công bố có sự xuất hiện của 14 thành viên trong gia đình Cargill. Nhiều hơn bất kỳ gia tộc nào khác trên thế giới.

Nội dung nổi bật:

- Cargill là công ty tư nhân lớn nhất tại Mỹ hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm nông nghiệp với 75 doanh nghiệp nhỏ, 143.000 nhân viên tại 67 quốc gia trên toàn thế giới. 

- Gần như các thực phẩm tiêu thụ hàng ngày của người Mỹ như hamburgers, sandwiches đều có sử dụng nguyên liệu của Cargill.  

- Bí quyết để kinh doanh thành công và có tới 14 thành viên trong gia đình lọt top tỷ phú Forbes của họ được tóm gọn là: Làm việc hiệu quả, sản lượng cao, lợi nhuận thấp nhưng lại thông minh hơn và nhanh nhạy hơn bất kỳ ai khác.

Là công ty tư nhân lớn nhất tại Mỹ có trụ sở ở Minnesota, Cargill gồm 75 doanh nghiệp nhỏ, sử dụng 143.000 nhân công tại 67 quốc gia trên toàn thế giới. Trong năm 2013, doanh thu toàn công ty đạt gần 134 tỷ USD. Chính nguồn thu này đã giúp gia tộc Cargill trở nên rất, rất giàu có.

Điều đáng lưu tâm đó là, trong danh sách những tỷ phú giàu nhất thế giới năm 2015 vừa được Forbes công bố có sự xuất hiện của 14 thành viên trong gia đình Cargill, nhiều hơn bất kỳ gia tộc nào khác trên thế giới.

Nếu coi gia đình Cargill là một quốc gia, họ sẽ có nhiều tỷ phú ngang với Thụy Điển và Israel. Điều này đồng nghĩa với việc, họ đứng vị trí số 31 trong danh sách những quốc gia nhiều tỷ phú nhất thế giới.

Dù rất giàu có nhưng những thông tin về gia tộc Cargill lại ít được công khai. Bản thân các thành viên trong gia đình cũng sống khá kín tiếng: “Gia đình Cargills có cuộc sống cực kỳ lặng lẽ và không khoa trương, rất nhiều trong số họ sống tại các trang trại rộng lớn ở vùng Montana”.
Sơ đồ gia tộc Cargill.
Lần hiếm nói duy nhất ống kính của nữ hoàng Oprah được trực tiếp ghi hình bên trong một lò mổ của Cargill là đầu năm 2011. CEO lúc đó của công ty là ông Greg Page chia sẻ về động thái tích cực bất thường này với truyền thông là: "Thế giới đang ngày càng trở nên tò mò về nguồn gốc của những thực phẩm mà họ ăn hàng ngày".

Cargill có ảnh hưởng lớn cỡ nào?

Một số thông tin ít ỏi được tạp chí Forbes tiết lộ dưới đây sẽ không khỏi gây “sốc” với nhiều người:
Năm 1865 (giai đoạn cuối của nội chiến Mỹ), W.W. Cargill thành lập công ty đầu tiên trên vùng biên giới Iowa. Trải qua gần 150 năm, hiện con cháu của ông vẫn sở hữu tới 88% cổ phần của đế chế nông nghiệp này. Những nhân vật được thừa kế lớn nhất gồm có James Cargill II, Austen Cargill II và Marianne Liebmann.

- Để làm được món Egg McMuffins, McDonald’s đã phải mua rất nhiều trứng dạng lỏng từ Cargill.

- Đối với hamburger: Các cơ sở giết mổ gia súc của Cargill cho ra sản lượng nhiều hơn bất kỳ nơi nào khác trên nước Mỹ.

- Cuối cùng là sandwiches: Cargill xếp vị trí thứ 8 về lượng cung cấp thịt lợn và số 3 về thịt gà tây tại Mỹ.

Những số liệu trên cho thấy, gần như các thực phẩm tiêu thụ hàng ngày của người Mỹ đều có sử dụng nguyên liệu của Cargill.  

Thậm chí, mỗi thứ người Mỹ ăn hoặc uống hàng ngày như 1 thanh kẹo, bát súp, cái kem, sữa chua, kẹo gum hay bia đều có thể chứa một phần nguyên liệu từ danh sách các sản phẩm phụ gia của Cargill. Hiện doanh nghiệp sản xuất gia vị của gia đình Cargill trị giá tới 50 tỷ USD. Nó sản xuất rất nhiều sản phẩm từ muối, đường, chất bảo quản…

Vì đâu gia đình Cargill lại trở nên giàu có đến vậy?

Cargill đề ra quy định rất ngặt nghèo về việc hạn chế nhân viên sở hữu cổ phần. Theo công bố chính thức, hiện khoảng 100 người con cháu của người sáng lập vẫn đang sở hữu gần 90% cổ phần của công ty, tương đương với khoảng 52 tỷ USD.

Cargil kinh doanh đa dạng. Trên một phương diện nào đó, người ta có thể nhầm lẫn đây là công ty vận tải lớn bậc nhất thế giới. Cụ thể, Cargill vận chuyển đậu nành và đường từ Brazil, dầu cọ từ Indonesia; bông từ châu Á, châu Phi, Australia, và Deep South; thịt bò từ Argentina, Australia, và Great Plains; muối từ khắp Bắc Mỹ, Australia, và Venezuela. Công ty hiện điều hành 1.000 sà lan sông, hợp đồng thuê 350 tàu được gọi bởi khoảng 6.000 cảng biển trên toàn thế giới.

Cargill rất chú trọng đến việc mở rộng thị trường, tung ra sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng, đảm bảo dòng chảy ổn định các mặt hàng nông nghiệp trong một môi trường toàn cầu đang thay đổi.
Wally Falcon, Phó giám đốc Trung tâm an ninh lương thực và môi trường tại Đại học Stanford đã tóm gọn bí quyết thành công của gia đình Cargill trong một câu rằng: "Họ làm việc hiệu quả, sản lượng cao, lợi nhuận thấp nhưng lại thông minh hơn và nhanh nhạy hơn bất kỳ ai khác".
Liệu đế chế Cargill hùng mạnh như vậy có bao giờ gặp khó khăn không?

Thực tế không ai có thể miễn dịch hoàn toàn với thất bại. Ví dụ điển hình là dù doanh thu trong năm tài chính 2012 tăng 34% nhưng tổng lợi nhuận của Cargill giảm tới 66%. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này được cho là bởi công ty phải chi quá nhiều tiền để khắc phục những thảm hoạ thiên nhiên như lũ lụt, dịch bệnh trong năm đó.

Share:

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Hermès: Người Đức xây dựng chuẩn mực quý tộc Pháp

Từ một cửa hàng nhỏ chuyên sản xuất yên cương thời trang cho… ngựa, công ty gia đình Hermès sau 2 thế kỷ đã trở thành một trong những hãng thời trang cao cấp và lâu đời nhất thế giới.
Từ yên ngựa đến thời trang xa xỉ bậc nhất thế giới, gia tộc gốc Đức Hermès xây dựng đế chế kinh doanh tại đất Pháp - Ảnh: Internet

Chất quý tộc thuần Pháp của Hermès làm người ta quên mất gia tộc này thực chất là dân Đức di cư.

Người Đức tiến vào "Kinh đô ánh sáng"

Hermès giành được giải thưởng đầu tiên tại Triển lãm Toàn cầu danh giá (Exposition Universelle) 1855 ở Paris, và đến Exposition 1867, ông Thierry được vinh danh huy chương hạng nhất dành riêng cho cá nhân.

Các tín đồ Tin lành trong nhà Hermès đến Pháp định cư vào năm 1828. Mười năm sau đó, ông Thierry Hermès khởi đầu công ty gia đình với nghề làm yên cương trong khu phố Grands Boulevards, chuyên sản xuất các dây cương thuộc da tốt nhất cho xe ngựa phục vụ giới quý tộc.
Các khách hàng của Thierry đều là những quý ông phong cách và có "máu mặt" ở Pháp, hay người thuộc dòng tộc Hoàng gia châu Âu, như Napoléon III và Hoàng hậu Eugénie.

Không lâu sau triển lãm Exposition 1867, ông Thierry trao quyền điều hành công ty lại cho con trai Charles-Émile.

Vị chủ tịch mới đánh dấu thêm một cột mốc trong lịch sử Hermès khi quyết định chuyển cửa hàng về trung tâm sang trọng nhất kinh đô ánh sáng, tại số 24 Rue Faubourg Saint-Honoré, kế Điện Elysée - nay vẫn tự hào cửa hàng đầu tàu của đế chế Hermès.

Với sự trợ giúp của 2 con trai - Adolphe và Émile-Maurice, ông Charles-Émile trình làng một loạt sản phẩm yên ngựa mới và mở rộng bán lẻ cho tầng lớp thượng lưu khắp thế giới, từ Bắc Mỹ, đến Nga và châu Á.  

Thế hệ thứ III của Hermès - Émile-Maurice gây tiếng vang khi trở thành người được độc quyền sử dụng phát minh "dây kéo" trong các sản phẩm da và quần áo của hãng, và là người đầu tiên đưa công nghệ này vào Pháp.

Bí quyết từ những chiếc khăn choàng

Trong 20 năm điều hành, Émile-Maurice (không có con trai nối dõi) đã "tranh thủ" dạy cho 3 người con rể Robert Dumas, Jean-René Guerrand và Francis Puech trở thành các đối tác kinh doanh của Hermès.

Hermès chỉ thực sự tỏa sáng khi bước sang tuổi 31, với việc giới thiệu mẫu khăn vuông 90 phân tay Jeu des Ombinus et Dames Blanches làm mưa làm gió sau này.

Hãng cẩn thận phụ trách mọi khâu sản xuất, từ mua lụa thô Trung Quốc đến quay sợi, dệt ra chất liệu may khăn dày và nặng gấp đôi các mẫu khăn có sẵn tại thời điểm đó.

Các nhà thiết kế đặc biệt của Hermès khi đó chỉ làm một việc duy nhất là sáng tạo ra các mẫu họa tiết họa tiết mới - là cảnh phụ nữ đua ngựa, đánh golf.

Phải mất nhiều năm sau đó, Hermès mới hoàn thiện được các lưới in trích xuất từ thực vật. Mỗi màu sắc thêm vào khăn đòi hỏi 1 tháng sấy khô trước khi in màu khác.

Do đó, một chiếc khăn 40 màu tinh xảo nhất cần đến 3 năm mới hoàn tất. Đáp lại, sản phẩm này nhanh chóng trở thành phụ kiện không thể thiếu đại diện cho phong cách quý tộc nước Pháp. Đến nay, Hermès đã xây dựng được bảng palette gồm 200 nghìn màu!

Trong lịch sử tồn tại của mình, Hermès cũng có thời gian hợp tác với bộ lạc Tuareg để sản xuất một dòng trang sức bạc, vì thế người ta có thể bắt gặp các họa tiết truyền thống du mục của sa mạc Sahara trên một số sản phẩm của Hermès, đặc biệt là trên các mẫu khăn lụa.

Những tín đồ trung thành có tiếng của Hermès còn có Nữ hoàng Elizabeth II - bà từng chụp ảnh chân dung cùng khăn choàng Hermès in trên tem thư những năm 50, Grace Kelly, Audrey Hepbur, Jackie O hay Sharon Stone từng trưng dụng chiếc khăn Hermès trong bộ phim Basic Instinct.

Ngay cả những tên tuổi mới hơn như Sharon Stone, Sarah Jessica Parker, Hillary Clinton, Mariah Carey, Madonna, Oprah Winfrey cũng đặc biệt yêu thích khăn choàng của hãng.

Sau khi Émile-Maurice qua đời năm 1951, con rể Robert Dumas-Hermès trở thành Chủ tịch đầu tiên không thuộc gia tộc và đặc biệt quan tâm phát triển dòng sản phẩm khăn choàng.

Đến năm 1978, ông trao lại quyền điều hành cho con trai Jean-Louis - người đem lại doanh thu lớn cho hãng trong những năm 1990 nhờ kết hợp với nhà thiết kế Jean-Louis để cho ra đời những sản phẩm lạ, như áo jacket dành cho biker hay quần jeans da đà điểu.

Hermès còn nổi danh với các bộ sưu tập túi xách xa xỉ. Để xứng tầm với tiêu chuẩn sang trọng, hãng không sử dụng một dây chuyền lắp ráp, mà mỗi sản phẩm đều được các nghệ nhân bậc thầy chăm chút toàn bộ.
Bóng hồng nước Anh Jane Birkin - “nàng thơ” của dòng túi Hermès Birkin cùng chiếc túi Birkin có 1 không 2 với chuỗi hạt lo âu và bùa may mắn.
Với phương pháp sản xuất thâm dụng lao động, cùng với việc tận dụng các chất liệu hiếm có, đắt đỏ, một túi da độc đáo đòi hỏi 24 giờ tác tạo thủ công.

Ví dụ như một chiếc túi Kelly cần 18 giờ làm việc liên tục của duy nhất 1 thợ thủ công tay nghề cao. Chất liệu da lạ Hermès trưng dụng gồm da thằn lằn Malaysia, cá sấu Florida, bò Pakistan, cá sấu Úc, hay đà điểu, dê và bò từ khắp nơi trên thế giới.

Ngày nay, dòng sản phẩm đặc trưng nhất của hãng là túi Hermès Kelly (đặt theo tên của Grace Kelly), túi Hermès Birkin (vinh danh Jane Birkin) và túi đeo vai Constance - những sản phẩm luôn có danh sách khách hàng chờ đợi xếp dài.

Victoria Beckham là "fan ruột" của dòng túi Birkin khi sở hữu bộ sưu tập có giá trị đồn đại lên đến 1,5 triệu bảng Anh. Hay "chịu chơi" như Lady Gaga sắm hẳn cho mình chiếc túi Birkin thiết kế riêng với họa tiết chữ Nhật cách điệu.

"Bóng hồng" nước Anh Jane Birkin - chủ nhân tinh thần của dòng túi Birkin huyền thoại - cũng sở hữu một chiếc túi Birkin có 1 không 2 với chuỗi hạt lo âu và bùa may mắn.
CHÂULUÂN/Tuổi Trẻ
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?