Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn nhập khẩu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhập khẩu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

Lịch trả cổ tức của doanh nghiệp niêm yết từ 16-23/10

Tổng hợp ngày trả cổ tức bằng tiền của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX trong tháng 10/2015...

Lịch trả cổ tức của doanh nghiệp niêm yết từ 16-23/10
Biểu đồ giao dịch giá cổ phiếu SHA trong thời gian qua - Nguồn: HNX.
Hà Anh
Tổng hợp ngày trả cổ tức bằng tiền của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX trong tháng 10/2015.
* Ngày 16/10/2015, Công ty Cổ phần vận tải Hà Tiên (mã HTV-HOSE) chi trả cổ tức bằng tiền mặt năm 2014 với tỷ lệ 10%/cổ phiếu (1 cổ phiếu được nhận 1.000 đồng).

* Ngày 20/10/2015, Công ty Cổ phần Thương mại Xuất nhập khẩu Thiên Nam (mã TNA-HOSE) tạm ứng cổ tức bằng tiền mặt đợt 1/2015 với tỷ lệ 10% (1 cổ phiếu được nhận 1.000 đồng).

* Công ty Cổ phần Xi măng Sài Sơn (mã SCJ-HNX) thông báo về việc thay đổi ngày thanh toán cổ tức năm 2014 bằng tiền của cổ phiếu SCJ (ngày đăng ký cuối cùng: 07/09/2015) sang ngày 20/10/2015 thay vì ngàu 13/10/2015 do nguồn thu của Công ty cổ phần xi măng Sài Sơn theo kế hoạch để chi trả cổ tức hiện nay bị chậm so với dự kiến.

* Ngày 21/10/2015, Công ty Cổ phần Sơn Hà Sài Gòn (mã SHA-HNX) chi trả cổ tức năm 2014 và tạm ứng cổ tức đợt 1/2015 bằng tiền với tỷ lệ 8%/cổ phiếu (1 cổ phiếu được nhận 800 đồng) trong đó: chi trả cổ tức năm 2014 là 5% và tạm ứng cổ tức lần 1/2015 là 3%.

* Ngày 21/10/2015, Công ty Cổ phần Dịch vụ Tổng hợp Sài Gòn (mã SVC-HOSE) trả cổ tức năm 2014 bằng tiền với tỷ lệ 12% (1 cổ phiếu được nhận 1.200 đồng).

* Ngày 22/10/2015, Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng (mã PHP-HNX) tạm ứng cổ tức năm 2015 bằng tiền với tỷ lệ 3%/cổ phiếu (1 cổ phiếu được nhận 300 đồng).

* Ngày 22/10/2015, Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng điện 1 (mã TV1-HOSE) chi trả cổ tức năm 2014 bằng tiền với tỷ lệ 15%/cổ phiếu (1 cổ phiếu được nhận 1.500 đồng).

* Ngày 22/10/2015, Công ty Cổ phần Ánh Dương Việt Nam (mã VNS-HOSE) tạm ứng cổ tức bằng tiền đợt 1/2015 với tỷ lệ 10%/cổ phiếu (1 cổ phiếu được nhận 1.000 đồng).

* Ngày 23/10/2015, Tổng công ty khí Việt Nam - Công ty Cổ phần (mã GAS-HOSE) tạm ứng cổ tức đợt 1/2015 bằng tiền với tỷ lệ 10%/cổ phiếu (1 cổ phiếu được nhận 1.000 đồng).

* Ngày 23/10/2015, Công ty Cổ phần Sông Đà 5 (mã SD5-HNX) trả cổ tức năm 2014 bằng tiền với tỷ lệ 18%/cổ phiếu (1 cổ phiếu được nhận 1.800 đồng). 
(Vneconomy)
Share:

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

TPP: Việt Nam sẽ bãi bỏ thuế nhập khẩu đường sau 11 năm

Hiện theo cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO, mức thuế suất ưu đãi dành cho các thành viên WTO là 40% đối với đường trắng.

Theo công bố mới đây của Bộ Nông nghiệp Mỹ, mức thuế của Việt Nam đối với đường nhập khẩu từ Mỹ, vốn có mức tối đa là 40%, sẽ được bãi bỏ trong vòng 11 năm. Tương tự, mức thuế đối với các sản phầm có sử dụng đường, vốn có mức tối đa là 20%, cũng sẽ được bãi bỏ trong vòng 11 năm.

Hiện tại, theo Bộ Công thương, cam kết khi gia nhập WTO, Việt Nam đang cấp hạn ngạch thuế quan khoảng 81.000 tấn đường với mức thuế suất ưu đãi dành cho các thành viên WTO là 25% đối với đường thô và 40% đối với đường trắng.

Còn theo cam kết hội nhập chung của các nước ASEAN, Việt Nam dành mức thuế suất ưu đãi trong hạn ngạch 5% đối với cả đường trắng và đường thô và sẽ tự do hóa nhập khẩu đường của các nước ASEAN vào thời điểm năm 2018.

Với Mỹ, nước này sẽ được cấp hạn ngạch thuế quan khoảng 50.000 tấn đường sang Nhật và sẽ tăng lên 70.000 tấn trong vòng 13 năm. Ngoài ra, các nước khác cũng đã và sẽ tự do hóa nhập đường từ Mỹ ngay lập tức.
Trường Văn - Nhịp Cầu Đầu Tư

Share:

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

CPI tháng 9 giảm kỷ lục và dự báo tiếp tục tăng thấp

Đó là nhận định của Tổng cục Thống kê về chỉ số giá tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2015. Theo đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2015 giảm 0,21% so với tháng trước; bằng 100% so cùng kỳ năm trước; tăng 0,4% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân chín tháng đầu năm 2015 so với cùng kỳ năm trước tăng 0,74%.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VglnOn2fdFq

Theo bà Vũ thị Thu Thủy, Vụ trưởng Vụ Thống kê giá, đây là lần đầu tiên trong vòng 10 năm trở lại đây CPI tháng 9 giảm so với tháng trước; CPI tháng 9 năm 2015 so với tháng 12 cũng tăng thấp nhất và tăng dưới 1%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 7 nhóm tăng. Nhóm giáo dục tăng cao nhất 1,24%; tiếp đến là nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,1%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,21%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,43%; giáo dục tăng 1,24%. Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03% và hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,19%. Có 4 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,13%; Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,68%; giao thông giảm 3,17%; Bưu chính viễn thông giảm 0,07%.

Bà Thủy cho biết, CPI tháng 9 năm 2015 giảm chủ yếu do giá xăng được điều chỉnh giảm vào ngày 19/8/2015 và ngày 03/9/2015; trong đó, giá xăng giảm 1970đ/lít, giá dầu diezel giảm 550đ/lít, giá dầu hỏa giảm 830đ/lít. Giá xăng dầu giảm làm cho nhóm giao thông giảm 3,17% góp phần giảm CPI chung của tháng 9 khoảng 0,28%. 

Từ ngày 1/9/2015 giá gas trong nước điều chỉnh giảm 12.000đ/bình 12 kg. Mức giá phổ biến ở mức 270.000đồng/ bình 12kg (Giá gas trong nước điều chỉnh giảm do giá gas nhập khẩu trong tháng 8 giảm 62,5 USD/tấn chốt giá ở mức 330 USD/tấn). Đây là tháng thứ tư liên tiếp giá gas liên tục giảm nhẹ với tổng mức giảm là 37.500 đồng/bình 12 kg.

Thời tiết chuyển sang mùa Thu nên nhu cầu sử dụng điện giảm làm cho chỉ số giá điện sinh hoạt giảm 0,32%; đồng thời, giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm giảm nhẹ do nguồn cung dồi dào cùng với giá xăng dầu giảm làm chi phí vận chuyển giảm nên chỉ số lương thực, thực phẩm giảm 0,14%.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, có các yếu tố làm tăng CPI, trong đó có việc 25 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng học phí và nhu cầu tiêu dùng sách vở, đồ dùng học tăng cho học sinh vào năm học mới tăng cao làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 1,24% đóng góp vào CPI chung 0,07%; giá dịch vụ y tế một số tỉnh được điều chỉnh tăng (theo lộ trình của Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 29/2/2012) làm cho chỉ số giá dịch vụ y tế cả nước tăng 0,5% so với tháng trước.

Cũng trong tháng 9, giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Với thông tin Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tăng thêm tỷ giá nên ngày 19/8/2015 giá vàng SJC trong nước xác lập mức giá trên 35 triệu đồng mỗi lượng. Bình quân giá vàng tháng 9 tăng 3,54%, giá vàng trong nước ngày 15/9/2015 dao động quanh mức 3.398.000 - 3.406.000 đồng/chỉ vàng SJC.

Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,71% do ngày 19/8/2015 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ từ mức 21.376 VNĐ/USD lên 21.890 VNĐ/USD (tăng 1%), đồng thời điều chỉnh tăng biên độ tỷ giá từ +/-2% lên +/-3% nhằm ổn định thị trường ngoại hối, đón đầu quyết định tăng lãi suất của FED và ứng phó kịp thời với tình hình biến động của thị trường tài chính của các nước có quan hệ thương mại lớn.

Liên quan đến chỉ số lạm phát cơ bản, bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Vụ phó Vụ Thống kê giá cho biết, lạm phát cơ bản sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục tháng 9 năm 2015 tăng 0,06% so với tháng trước, tăng 1,87% so với cùng kỳ; 9 tháng đầu năm 2015 so cùng kỳ tăng 2,15%.

Theo nhận định của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm, hiện nay, lạm phát chung thấp hơn lạm phát cơ bản, điều này không phải do tổng cầu giảm mà hoàn toàn do yếu tố chi phí đẩy giảm đó là giá hàng hóa năng lượng và thực phẩm giảm, biến động của lạm phát chung phụ thuộc vào diễn biến giá các mặt hàng năng lượng, lương thực, thực phẩm, các mặt hàng Nhà nước quản lý chứ không xuất phát từ lạm phát cơ bản. Chính sách tiền tệ được điều hành theo lạm phát cơ bản và lạm phát cơ bản ở mức 2%-3% như hiện này là mức cân bằng, giúp ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế bền vững.

Tổng cục Thống kê dự báo CPI tháng 10 có khả năng tiếp tục giảm nhẹ do một số yếu tố như: nguồn cung lương thực, thực phẩm dồi dào nên giá các mặt hàng này có xu hướng giảm đây là nguyên nhân chính góp phần làm cho chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm 2015 giảm nhẹ. 

Bên cạnh đó, mặc dù giá xăng dầu được điều chỉnh tăng vào ngày 18/9/2015, giá xăng tăng 620đ/lít, giá dầu diezel tăng 570đ/lít, giá dầu hỏa tăng 510/lít nhưng do còn ảnh hưởng của đợt giảm giá xăng dầu của ngày 3/9/2015 và theo chu kỳ tính chỉ số CPI nên giá xăng dầu trong tháng 10 gần như không thay đổi giữ cho CPI chung ổn định. Giá các mặt hàng khác trong tháng 10 khá ổn định.

Dự báo về CPI trong thời gian tới, đại diện Tổng cục Thống kê cho rằng, khả năng CPI tăng thấp vẫn sẽ tiếp diễn, với sự cộng hưởng các yếu tố trong nước và giá xăng dầu trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, tình hình sản xuất và sản lượng lương thực, chăn nuôi, thực phẩm chế biến vẫn trong xu hướng ổn định cung-cầu dẫn đến bão hòa. Đánh giá một cách tổng thể, từ nay đến cuối năm chỉ còn 3 tháng nữa nên khó có thể xuất hiện những yếu tố bất ngờ, đột biến từ nay đến thời điểm hết năm.

“Điều quan trọng nhất là, việc CPI tăng thấp diễn ra lên tục qua các tháng đang trở thành điều kiện thuận lợi cho cộng đồng DN tiết giảm chi phí mua nhiên, vật liệu dầu vào phục vụ hoạt động sản xuất; từ đó giúp DN hạ giá thành và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường”, đại diện Tổng cục Thống kê nói.
Tin Nhanh Chứng Khoán
Share:

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

Đầu tư thế nào sau biến động bất ngờ của tỷ giá?

Việc tăng tỷ giá không gây ra ảnh hưởng lớn đến bức tranh lợi nhuận của toàn thị trường, mà chỉ gây ảnh hưởng đến một số doanh nghiệp đơn lẻ.

Trong bối cảnh Trung Quốc điều chỉnh giảm giá mạnh đồng Nhân dân tệ và khả năng Mỹ sẽ tăng lãi suất đồng USD trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước đã tăng 1% tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và USD, đồng thời nới biên độ dao động tỷ giá lên +/-3%. Bài viết của ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Giám đốc Phân tích, CTCK Sài Gòn (SSI) dưới đây đánh giá tác động của việc tăng tỷ giá tới nền kinh tế cũng như tới các doanh nghiệp niêm yết.

Tăng tỷ giá, những tác động đến nền kinh tế…

Trong khi đồng Nhân dân tệ (NDT) đã ổn định sau 3 lần phá giá, đồng VND vẫn tiếp tục chịu sức ép và kết quả là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều chỉnh tỷ giá chính thức thêm 1% và nới biên độ thêm 1%. 

Như vậy, sau 2 lần điều chỉnh, đồng VND được phép giảm tới 3% so với đồng USD và 5% nếu tính từ đầu năm. Mối lo nhập siêu và giảm năng lực cạnh tranh với hàng Trung Quốc đã được gỡ bỏ. 
  Ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Giám đốc Phân tích, CTCK Sài Gòn (SSI) 

Xét ở khía cạnh phản ứng chính sách với việc Trung Quốc phá giá đồng NDT thì điều chỉnh 3% không phải là điều bất ngờ, điều bất ngờ là quyết định nâng tỷ giá chính thức, thay vì có thể nới rộng biên độ lên 4%, thậm chí 5% và để thị trường tự điều chỉnh. Ở góc độ là người quan sát, chúng tôi đưa ra một số quan điểm như sau:

Thứ nhất, việc điều chỉnh thêm 1% tỷ giá sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến các khoản vay ngoại tệ của Chính phủ và doanh nghiệp. Trong năm 2014, NHNN chỉ điều chỉnh tỷ giá 1 lần vào tháng 6. Sau đó, dù đồng VND lên giá, gây khó khăn cho xuất khẩu, nhưng tỷ giá VND vẫn được giữ nguyên. Tuy nhiên, khi vừa bước sang năm 2015, tỷ giá VND đã ngay lập tức được điều chỉnh tăng 1%. 

Điều này khiến chúng tôi cho rằng, nỗ lực neo giữ tỷ giá trong năm 2014 là nhằm hạn chế tác động tiêu cực đến các khoản vay ngoại tệ, đặc biệt là vay nợ nước ngoài của Chính phủ. Nợ nước ngoài quốc gia (bao gồm nợ của Chính phủ và nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh) cuối năm 2014 là 39,9% GDP, tương đương 75 tỷ USD. 

Với 1% mất giá, khoản nợ này sẽ tăng thêm khoảng 17.000 tỷ đồng và làm tăng thâm hụt ngân sách. Vào cuối quý II/2015, tỷ lệ thâm hụt ngân sách đã tăng lên 5,6% GDP, một trong những nguyên nhân là sự gia tăng rất nhanh của gánh nặng nợ lãi. Với logic đó, chúng tôi thấy rằng, việc cho phép tỷ giá giảm 5% đồng nghĩa tăng thâm hụt và gánh nặng lãi phải được cân đối với một lợi ích hay vấn đề nào đó thực sự cấp bách.

Thứ hai, ổn định tâm lý, tránh đầu cơ USD và bảo vệ dự trữ ngoại hối, theo chúng tôi là một trong những vấn đề cấp bách. Việc điều chỉnh mạnh đồng VND không chỉ làm thay đổi nhanh cán cân cung cầu ngoại tệ, mà còn khiến tâm lý chờ đợi, găm giữ ngoại tệ giảm hẳn. Trong quá khứ, NHNN đã khá thành công khi chủ động điều chỉnh tỷ giá, phá tan tâm lý găm giữ và cách làm lần này cũng có thể mang lại kết quả tương tự. 

Theo thông tin chúng tôi có được, dự trữ ngoại hối đã được sử dụng để bình ổn thị trường và tốc độ sử dụng dự trữ ngoại hối trong 2 tuần qua là rất nhanh so với những tháng đầu năm. Với tốc độ này, cùng với tâm lý găm giữ ngoại tệ, dự trữ ngoại hối có thể sẽ còn hao hụt nhiều hơn nữa nếu không điều chỉnh tỷ giá. 

Cán cân tổng thể của Việt Nam năm 2015 được dự báo tiếp tục dương, hỗ trợ cho việc ổn định tỷ giá. Vì vậy, bước đi này của NHNN sẽ là một bước đi linh hoạt, có nghĩa là có thể tăng trong ngắn hạn và giảm trong dài hạn khi nguồn cung ngoại tệ ổn định. Một thông tin tích cực là trạng thái ngoại tệ của hệ thống ngân hàng hiện ở trạng thái dương (cuối ngày 19/8) và tỷ giá trong ngày hôm qua (20/8) đã ổn định trở lại.

Thứ ba, hạn chế nhập siêu và hỗ trợ xuất khẩu là lợi ích rõ nhất khi điều chỉnh mạnh tỷ giá. Đồ thị 1 và 2 cho thấy, đồng VND dù theo sau nhưng đã khá sát với đồng NDT của Trung Quốc. 

Đồng NDT sau khi mất giá hơn 3% đã ổn định, khoảng cách 2% giữa đồng VND và NDT đã được lấp đầy bằng việc điều chỉnh tỷ giá và biên độ.
Đồ thị 1: So sánh biến động tỷ giá NDT và VND với USD trong 3 tuần  (Nguồn: Bloomberg)
Tuy nhiên, việc điều chỉnh VND không thực sự cấp thiết để tái cân bằng cán cân thương mại Việt - Trung, mặc dù hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc sẽ gây khó khăn cho một số doanh nghiệp trong nước. Việt Nam nhập siêu rất lớn từ Trung Quốc và đang nhập nhiều mặt hàng trong nước trong sản xuất được như máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu công nghiệp. 

Hàng hóa rẻ hơn từ Trung Quốc có nghĩa giá thành đầu vào giảm, làm tăng tính cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu và giảm lạm phát, một mục tiêu quan trọng của ổn định vĩ mô. 

Việc điều chỉnh tỷ giá VND sẽ có ý nghĩa hơn với xuất khẩu sang các thị trường khác, ví dụ Mỹ và EU, nơi hàng hóa Việt Nam phải cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa Trung Quốc. Mỹ và EU là 2 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm tới gần 40% tỷ trọng xuất khẩu, đồng thời là 2 thị trường xuất siêu của Việt Nam.
Đồ thị 2: Tỷ trọng xuất nhập khẩu và thương mại của Việt Nam với các nước (Nguồn: Bloomberg)
 
Thứ tư, cơ chế tỷ giá linh hoạt theo cung cầu thị trường là một điểm cộng cho Việt Nam khi hội nhập sâu hơn vào thương mại toàn cầu. 

Từ đầu năm đến nay, Việt Nam đã ký kết và tham gia đàm phán một loạt hiệp định thương mại với các đối tác lớn, đặc biệt là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Ngoài vấn đề thương mại, các hiệp định với các đối tác phát triển luôn có lồng ghép vấn đề đầu tư, cải cách kinh tế, phát triển kinh tế tư nhân… 

Một cơ chế tỷ giá linh hoạt theo thị trường, giảm bớt kiểm soát dòng vốn sẽ luôn được trông đợi từ các đối tác khi muốn đầu tư vào Việt Nam. Cũng như Trung Quốc đang trong quá trình tự do hóa đồng NDT, Việt Nam hiện đứng trước nhu cầu phải cho đồng VND linh hoạt hơn nhằm đáp ứng tiêu chuẩn của các nước lớn. 

Trước đây, đồng VND luôn được kiểm soát chặt chẽ, biên độ giao dịch của VND thường xuyên ở mức bằng và dưới 1% (trừ thời gian xảy ra khủng hoảng kinh tế năm 2008). Nhân việc Trung Quốc phá giá NDT, Việt Nam thực hiện linh hoạt hóa đồng VND bằng cách nới rộng biên độ giao dịch lên 3% là một bước đi cần thiết ở thời điểm này.
Đồ thị 3: Biên độ giao dịch VND so với USD giai đoạn 1999 - 2015  (Nguồn: SBV)
 
Với những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng, Chính phủ và NHNN có lý do để điều chỉnh tỷ giá và tăng biên độ. Áp lực tỷ giá trong thời gian tới sẽ đến một phần từ dòng vốn đầu tư gián tiếp khi Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) nâng lãi suất đồng USD. Tuy nhiên, chúng ta đã ban hành Nghị định 60/2015/NĐ-CP trong đó có quy định về nới room và sắp tới là tham gia Hiệp định TPP sẽ cân bằng trở lại. Thời điểm sẽ đóng vai trò quan trọng bởi các yếu tố này đều liên quan đến chính sách và quyết định của các cơ quan Chính phủ.

… và các doanh nghiệp niêm yết

Với các doanh nghiệp niêm yết, tác động của việc điều chỉnh tỷ giá sẽ ở 2 hướng: thuận lợi và bất lợi. Các doanh nghiệp xuất khẩu, có nguồn thu ngoại tệ như may mặc, thủy sản sẽ là những doanh nghiệp được hưởng lợi. 

Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp đang vay nợ bằng ngoại tệ như nhóm vận tải biển, năng lượng sẽ chịu tác động tiêu cực. Các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu cũng gặp bất lợi, tuy nhiên tác động cuối cùng đến lợi nhuận còn phụ thuộc vào khả năng chuyển giá đến người tiêu dùng.

5 ngành, lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường là ngân hàng, sản xuất thực phẩm, bất động sản, dầu khí và dịch vụ tài chính, chiếm 67% tổng vốn hóa TTCK.

Tác động của việc điều chỉnh tỷ giá đến ngành ngân hàng, bất động sản và dịch vụ tài chính là không đáng kể. 

Với ngành sản xuất thực phẩm, chủ yếu là VNM, tỷ giá tăng sẽ làm tăng giá nhập khẩu sữa. Tuy nhiên, VNM với vị thế dẫn đầu thị trường có thể sẽ tăng giá bán. Với ngành dầu khí, nguồn thu chính là USD nên việc USD lên giá mang lại lợi ích cho ngành này.

Như vậy, việc tăng tỷ giá không gây ra ảnh hưởng lớn đến bức tranh lợi nhuận của toàn thị trường, mà chỉ gây ảnh hưởng đến một số doanh nghiệp đơn lẻ.

Một điều cần lưu ý là số doanh nghiệp niêm yết hiện tại chưa thực sự đại diện cho nền kinh tế. Việt Nam đang dựa vào xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu của nhóm doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), làm động lực tăng trưởng. Việc điều chỉnh tỷ giá sẽ hỗ trợ tốt hơn cho xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế nói chung.

Từ nay đến cuối năm, nhiều yếu tố thuận lợi và bất lợi sẽ đan xen. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng và công cuộc cải cách đang đi đúng hướng, hứa hẹn nền kinh tế sẽ phục hồi ổn định và bền vững. 

Giá cả hàng hóa giảm, tạo điều kiện cho kiềm chế lạm phát và gia tăng sức cầu. Những biến động từ bên ngoài như việc Trung Quốc phá giá đồng NDT, FED nâng lãi suất cùng với những rủi ro trong nước như thâm hụt ngân sách là các vấn đề cần thường xuyên phải cảnh giác. Chúng tôi cho rằng, trong rủi ro sẽ có cơ hội và ngược lại.
(Nguyễn Đức Hùng Linh - Tin Nhanh Chứng Khoán)
 
Share:

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Kinh tế toàn cầu nhận “cú đấm” mang tên CNY

Trung Quốc đã làm cả thế giới bất ngờ không chỉ việc phá giá Nhân dân tệ (CNY) mà còn phá giá 2 lần liên tiếp trong 2 ngày vừa qua, ở mức độ có thế coi là chưa từng thấy trong nhiều năm (lần lượt là 1,9% và 1,6%).


Việc phá giá đồng tiền của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới ở mức độ lớn trong thời gian ngắn như vậy chắc chắn sẽ gây ra tác động không nhỏ lên toàn cầu, trong đó có Việt Nam.

“Kích thích” Việt Nam nhập siêu

Với Việt Nam, điều đầu tiên phải nhắc đến là quan hệ thương mại khá đặc biệt giữa Việt Nam với Trung Quốc. Trung Quốc không chỉ là bạn hàng thương mại lớn nhất của Việt Nam mà còn là nước gây ra nhập siêu lớn nhất cho Việt Nam, lên đến vài chục tỷ USD trong mấy năm gần đây.

Chỉ riêng nửa đầu năm nay, nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc đã là 16,5 tỷ USD, trong khi nhập siêu của Việt Nam với thế giới là 3,1 tỷ USD.

Khi CNY yếu đi đáng kể như trên thì “nạn nhân” đầu tiên ở Việt Nam sẽ là các doanh nghiệp sản xuất nội địa. Cho dù hàng hóa của họ được tiêu thụ ở thị trường trong nước hay xuất khẩu thì khối lượng hàng hóa tiêu thụ sẽ chịu áp lực suy giảm bởi chúng trở nên đắt hơn so với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Cứ mỗi 1 điểm phần trăm mất giá của CNY sẽ làm cho hàng hóa của Việt Nam đắt hơn 1 điểm phần trăm so với hàng hóa tương ứng của Trung Quốc trên thị trường Việt Nam hay các thị trường quốc tế mà cả Việt Nam và Trung Quốc cùng xuất khẩu sang.

Theo đó, các mặt hàng bị ảnh hưởng trực tiếp là điện thoại di động, dệt may, giày dép, và các mặt hàng công nghiệp lắp ráp, chế tạo khác.

Ngược lại, vì đồng CNY yếu hơn sẽ làm cho hàng Trung Quốc rẻ hơn trên thị trường trong nước. Điều này khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu hàng Trung Quốc về bán lại trên thị trường Việt Nam, thay thế hàng sản xuất nội địa. Các mặt hàng này rất đa dạng, từ những mặt hàng tiêu dùng như bó đũa, que tăm đến những thứ "khủng" hơn như máy móc, ô tô, phụ tùng... và chúng sẽ ngày càng tràn ngập thị trường Việt Nam. Chính những doanh nghiệp nhập khẩu và phân phối hàng Trung Quốc này là người hưởng lợi từ việc phá giá CNY.

Những doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu nguyên vật liệu từ Trung Quốc để sản xuất và tiêu thụ nội địa dường như được lợi vì giá nhập khẩu giảm xuống khi quy đổi từ CNY sang USD. Tuy vậy, vấn đề không dừng lại ở đó. Dù họ có điều kiện hạ giá bán (vì giá thành sản xuất đã giảm so với trước khi CNY bị phá giá), nhưng như đã nói ở trên, sản phẩm của họ cũng trở nên kém cạnh tranh hơn so với sản phẩm hoàn chỉnh nhập khấu từ Trung Quốc, vì hàng sản xuất ở Trung Quốc không chỉ được hưởng lợi từ giá nguyên nhiên liệu đầu vào sụt giảm mà kể cả những chi phí cố định và lưu động khác như lao động, nhà xưởng, điện nước v.v... tính bằng CNY cũng sụt giảm theo sự mất giá của CNY nếu quy những chi phí này ra USD hoặc VND.

Sự sụt giảm của hàng xuất khẩu từ Việt Nam song song với sự xâm lấn của hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ đặt Việt Nam vào tình trạng phải chứng kiến nhập siêu với Trung Quốc tăng nhanh và mạnh hơn nữa.

Dẫn đầu “phong trào” phá giá bản tệ

Ngoài những tác động trực tiếp từ sự mất giá của CNY như nói ở trên, Việt Nam còn chịu thêm tác động gián tiếp thông qua sự mất giá của hàng loạt đồng bản tệ khác trên thế giới. Nhiều quốc gia đã lập tức "hưởng ứng" sự phá giá CNY bằng hành động phá giá bản tệ của mình thêm nữa, xuống đến mức thấp kỷ lục chưa từng thấy trong nhiều năm.

Sự mất giá của đồng bản tệ của các nước khác, trong đó không ít nước là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam trên các thị trường xuất khẩu, hoặc ở những thị trường xuất khẩu/nhập khẩu chính của Việt Nam, sẽ mang đến những tác động tiêu cực tương tự như của CNY lên xuất khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam.

Tóm lại, việc phá giá CNY lần này của Trung Quốc có thể coi là một “cú đấm” không chỉ với Việt Nam mà còn với nhiều nước khác trên thế giới. Nên cũng dễ hiểu tại sao nhiều nước đã phản ứng một cách quyết liệt với động thái này của Trung Quốc. Người ta đang lo ngại rằng “cuộc chiến tiền tệ” này sẽ không sớm có điểm dừng.

Đối mặt với tình hình hiện tại, Việt Nam không thể đứng ngoài “cuộc chơi”. Sáng 12/8, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đưa ra quyết định thay đối chính sách quyết liệt duy trì ổn định tỷ giá VND bằng việc nới lỏng biên độ biến động tỷ giá lên 2%.

Tuy nhiên, trong bối cảnh các nước nói chung, và đặc biệt là Trung Quốc, đã chủ động phá giá bản tệ của họ, và trong chừng mực cuộc chiến này chưa chấm dứt thì thiết nghĩ NHNN cần tiếp tục nới lỏng tỷ giá VND thêm nữa, để đảm bảo Việt Nam không bị thua thiệt quá nhiều trong cuộc đua mới này.

TS. PHAN MINH NGỌC
(DNSG) 
>> Cổ phiếu tháng 8: Quan tâm đến yếu tố nội tại ngành
>> Chứng khoán toàn cầu “đỏ lửa” vì Trung Quốc


Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?