Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn trung quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trung quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 3, 2017

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?

Hiện thế giới có khoảng 200.000 người siêu giàu (tài sản trên 30 triệu USD) với tổng tài sản 27,7 nghìn tỷ USD trong đó 83% tài sản do các tỷ phú Mỹ, Đức và Nhật Bản nắm giữ.

Anh và Trung Quốc cũng là 2 quốc gia có nhiều cá nhân siêu giàu, theo khảo sát của công ty Wealth-X tại Singapore. Với việc ngày càng giàu lên, một ngày nào đó, tổng tài sản của giới siêu giàu tại các nước như Trung Quốc, Ấn Độ có thể vượt Mỹ. 

1. Mỹ

Số người siêu giàu năm 2013: 65.505 Tăng so với năm 2012: 8,7%
Tổng tài sản: 9 nghìn tỷ USD




Nhiều năm qua, Mỹ luôn được coi là quốc gia có số người siêu giàu nhiều nhất thế giới. Số tài sản của giới siêu giàu Mỹ chủ yếu tập trung ở thế hệ thứ nhất và hình thức gia đình kiểm soát, David Friedman, chủ tịch kiêm đồng sáng lập Wealth-X cho biết.

Trong số này có tỷ phú Bill Gates và Warren Buffett – những tỷ phú sáng lập công ty từ hai bàn tay trắng và cũng là những người đạt được nhiều thành quả nhất.

Ông Friedman cho biết, nhìn chung, giới siêu giàu Mỹ chủ yếu hoạt động trong ngành công nghệ, tài chính, đặc biệt là quỹ phòng hộ. Người giàu nhất bang Texas giàu lên nhờ kinh doanh dầu và khí đốt trong khi người giàu nhất California là nhờ kinh doanh dịch vụ truyền thông và giải trí.

Số người siêu giàu của Mỹ được dự báo sẽ tiếp tục tăng một phần nhờ nền kinh tế đa dạng và khả năng hấp dẫn những cá nhân tài giỏi. “Khả năng thu hút nguồn lực tri thức toàn cầu vào Mỹ là nhân tố chính trong sự thành công của nước này”, ông Friedman nói. 

2. Đức

Số người siêu giàu năm 2013: 58.065
Tăng so với năm 2012: 13%
Tổng tài sản: 7,6 nghìn tỷ USD




Đức được coi là điểm sáng duy nhất khi hầu hết các nước khu vực đồng euro đều phải đối phó với suy thoái kinh tế suốt 2 năm qua. Đó cũng là lý do tại sao số người siêu giàu tại Mỹ tăng nhanh hơn bất cứ quốc gia châu Âu nào.

Tài sản của giới siêu giàu chủ yếu từ lĩnh vực xuất khẩu, Sigrid Seibold, giám đốc điều hành công ty quản lý tài sản Accenture tại New York cho biết. Đức hiện là nước xuất khẩu lớn thứ 3 thế giới và có thể sớm trở thành lớn thứ 2 thế giới.

Một trong những điểm khác biệt lớn nhất giữa Đức và Mỹ đó là tài sản của người giàu Đức tăng từ từ. “Ở Đức, người ta thường đi theo con đường nghề nghiệp lâu dài trong khi ở Mỹ linh hoạt hơn người ta muốn thử cái gì đó khác lạ”, Seibold nói.

Người Đức cũng luôn là những người tiết kiệm hơn ở các nước khác, điều này giúp họ tích trữ được của cải. Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân của người Đức (thu nhập tiết kiệm được so với thu nhập khả dụng) là 10%, trong khi Mỹ là 3,9%, Anh là 5,4%.

Tài sản của người giàu Đức chủ yếu từ ngành sản xuất. Một trong những người giàu có nhất nước Đức là bà Susanne Klatten với tài sản 14,3 tỷ USD, một phần từ cổ phần trong tập đoàn sản xuất xe hơi BMW. 

3. Nhật Bản

Số người siêu giàu năm 2013: 14.270
Tăng so với năm 2012: 3,8%
Tổng tài sản: 6,6 nghìn tỷ USD




Bất chấp gần 2 thập kỷ gần như không tăng trưởng, Nhật Bản vẫn là nước có nhiều người siêu giàu thứ 3 thế giới. Nếu như ở nhiều nước khác, giới giàu có phất lên nhờ chứng khoán thì giới giàu Nhật Bản không chuộng chứng khoán, David Wilson, chuyên gia quản lý tài sản tại công ty tư vấn Capgemini cho biết.

Một nửa số tài sản của giới siêu giàu Nhật Bản dưới dạng tiền mặt do đó không chịu ảnh hưởng bởi những biến động thị trường trong nước.

Nếu chương trình cải cách kinh tế của Thủ tướng Shinzo Abe có hiệu quả thì phương thức làm giàu của người Nhật Bản có thể thay đổi. “Chúng tôi nhận thấy thị trường sẽ đi lên… Cải cách có thể giúp tài sản của người giàu tăng hơn nữa”, ông Freidman nói. 

4. Anh

Số người siêu giàu năm 2013: 10.910
Tăng so với năm 2012: 3,8%
Tổng tài sản: 1,3 nghìn tỷ USD




Qua nhiều thế kỷ, người Anh tích lũy được một khối tài sản lớn. Tuy không ai biết chính xác bao nhiêu của cải đã được truyền từ thế hệ này cho thế hệ khác và số tiền mà người Anh kiếm ra trong thời đương đại nhưng Friedman cho rằng, ở Anh có nhiều cái gọi là “tiền cổ” hơn là Mỹ.

Tài sản của giới giàu Anh thời nay chủ yếu tạo ra nhờ lĩnh vực tài chính, ngân hàng. London là thành phố có số người siêu giàu nhiều nhất châu Âu. “Khi kinh tế toàn cầu tiếp tục phục hồi, chúng tôi cho rằng số người giàu ở Anh sẽ tiếp tục tăng. Kinh tế là động lực lớn đối với ngành tài chính Anh do đó nó cũng hưởng lợi từ đà phục hồi chung của kinh tế”, ông Friedman nhận định. 

5. Trung Quốc

Số người siêu giàu năm 2013: 10.675
Giảm so với năm 2012: 5,1%
Tổng tài sản: 1,5 nghìn tỷ USD



Mặc dù số người siêu giàu Trung Quốc có xu hướng giảm do thị trường chứng khoán năm 2013 đi xuống, nhưng theo xu thế dài hạn, Trung Quốc có thể trở thành nước giàu thứ 2 hoặc thứ 3 thế giới chỉ trong 2 năm nữa. Với việc GDP Trung Quốc tiếp tục tăng nhanh hơn các nước phát triển, ông Friedman dự báo, số người siêu giàu Trung Quốc sẽ nhiều hơn tất cả các nước châu Âu vào năm 2017, và vượt Mỹ vào năm 2025.

Chủ yếu trong số này là triệu phú tự thân, ông Seibold cho biết. Nhiều người làm trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu, hoặc trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, công nghệ. Trong hầu hết thập kỷ trước, GDP của Trung Quốc tăng với tốc độ 2 con số.

Ngoài tăng trưởng kinh tế, giá bất động sản tăng vọt cũng là yếu tố hỗ trợ giới siêu giàu ở nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Giai đoạn từ năm 2000 đến 2010, giá mỗi mét vuông đất tại Bắc Kinh tăng khoảng 180%, theo hãng nghiên cứu kinh tế BBVA.

Tài sản của người giàu chủ yếu tạo ra nhờ quan hệ kinh doanh với chính quyền để có được các hợp đồng lớn. “Ở đây muốn thành công bạn phải biết cách tiếp cận doanh nghiệp nhà nước và các cơ quan chính phủ”, ông Friedman nói.



Một trong những người giàu nhất Trung Quốc là nhà sáng lập kiêm giám đốc điều hành tập đoàn Baidu, ông Robin Li với tài sản 11,1 tỷ USD, theo Forbes.

>> Thói quen tằn tiện của giới siêu giàu  

Theo Fica

Share:

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2017

Quỹ quản lý 1.000 tỷ USD cảnh báo 3 rủi ro mà nhà đầu tư đang mất cảnh giác

PGIM – quỹ đầu tư hiện đang quản lý 1.000 tỷ USD trực thuộc tập đoàn Prudential – đã liệt kê những sự kiện hiện đang ít được nhà đầu tư chú ý nhưng nhiều khả năng sẽ xảy ra và nhà đầu tư nên thận trọng với chúng.


Rõ ràng 2016 không phải là một năm dễ dự đoán. Quyết định rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) của người Anh và chiến thắng của Tổng thống Donald Trump – những sự kiện đã xảy ra theo hướng ngược lại so với kết quả thăm dò trước đó – khiến không ít nhà đầu tư “ngã ngửa” và thua lỗ.

Luôn nhớ đến những sự kiện này, các nhà quản lý tại PGIM – quỹ đầu tư hiện đang quản lý 1.000 tỷ USD trực thuộc tập đoàn Prudential – đã liệt kê những sự kiện hiện đang ít được nhà đầu tư chú ý nhưng nhiều khả năng sẽ xảy ra và nhà đầu tư nên thận trọng với chúng.

Fed

Đối với Mike Lillard, CIO bộ phận đầu tư trái phiếu của PGIM, phản ứng của Cục dự trữ liên bang Mỹ đối với đà tăng trưởng nhanh hơn của nền kinh tế có thể là một rủi ro lớn trong vài năm tới.

“Điều đáng lo lắng là trong những năm tới Fed sẽ thắt chặt chính sách tiền tệ”, Lillard phát biểu tại một buổi thảo luận ở New York hôm 15/2 vừa qua.

Trong buổi điều trần trước Quốc hội, Chủ tịch Fed Janet Yellen đã nói rằng nếu lãi suất tăng quá chậm các thị trường tài chính sẽ rơi vào trạng thái bất ổn và nền kinh tế có thể lâm vào cảnh suy thoái. Nhưng ở chiều ngược lại, lãi tăng quá nhanh còn là một kịch bản đáng sợ hơn.

Lillard nói rằng nguy cơ kinh tế Mỹ suy thoái sẽ tăng lên trong 3 năm tới.

Nước Pháp

Các cuộc bầu cử sẽ bùng nổ ở châu Âu chỉ trong vài tháng tới, nhưng Pháp là điều thực sự đáng lo ngại, theo Eric Adler – một trong những CEO của PGIM.

Marine Le Pen, nữ lãnh đạo của đảng Mặt trận dân tộc (là đảng đi theo chủ nghĩa dân túy), ủng hộ nước Pháp thực hiện một cuộc trưng cầu dân ý về tư cách thành viên EU. Hồi đầu tháng bà đã có bài phát biểu nêu rõ tầm nhìn về một nước Pháp khiến thị trường tài chính châu Âu suy nhược.

“Ý tưởng Marine Le Pen có thể chiến thắng sẽ khiến đồng euro nổ tung”, ông Adler nhận định về sự kiện địa chính trị đầy rủi ro này. Sau khi Anh đã rời đi, Đức và Pháp thực sự đã trở thành 2 trụ cột duy nhất còn lại giúp Liên minh châu Âu gắn kết với nhau.

“Nếu Pháp rút khỏi EU sau một cuộc trưng cầu dân ý được giật dây bởi bà Le Pen, đó là dấu chấm hết cho euro – đồng tiền vốn đang mong manh”.

Tuy nhiên đó không phải là kịch bản mà Adler cho rằng có nhiều khả năng xảy ra nhất. “Tôi thực sự quan tâm đến nó bởi trong năm qua đã có tới 2 lần tôi đoán sai về những thứ được cho là chắc chắn sẽ xảy ra”.

Ngày hôm qua, trên thị trường cá cược, bà Le Pen có 34% khả năng chiến thắng, so với con số 43% của đối thủ Emmanuel Macron. Đây là tỷ lệ tương tự so với ông Trump trong ngày toàn dân Mỹ đi bầu cử.

Trung Quốc

Hiện nay mọi sự chú ý đang đổ dồn về những diễn biến trên chính trường Mỹ và sự lan tỏa của chủ nghĩa dân túy ở châu Âu. Sau Trump và Brexit, nhà đầu tư lại thấp thỏm với các cuộc bầu cử ở lục địa già. Do đó dường như tạm thời không có ai chú ý đến Trung Quốc.

Những theo các chuyên gia của PGIM, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới có thể gây bất ngờ. Năm ngoái nước này đã phải tung ra một loạt các biện pháp để kích thích nền kinh tế, cắt giảm lãi suất và tăng chi tiêu.

Ngoài ra nhà đầu tư cũng nên lưu ý về Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ diễn ra vào mùa thu năm nay – sự kiện có thể dẫn đến nhiều sự thay đổi trong bộ máy lãnh đạo nước này.

>> 8 yếu tố nền của thị trường tài chính toàn cầu 2017


Theo Trí thức trẻ/Business Insider
Share:

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2016

Nếu muốn đầu tư chứng khoán ở châu Á, nhất định phải theo dõi quốc gia này

Ảnh hưởng của Trung Quốc lên thị trường tài chính châu Á hiện nay đã có thể sánh với Mỹ.

Từ lâu, các nhà đầu tư đã biết khi Mỹ hắt hơi, thế giới sẽ cảm lạnh. Nhưng giờ đây, họ còn phải trông ngóng tình hình sức khỏe của một gã khổng lồ khác: Trung Quốc. Khi Trung Quốc – nền kinh tế lớn nhất Châu Á gặp vấn đề, các nước khác trong khu vực cũng sẽ lao đao theo. Và điều đáng nói là tốc độ lây lan của “căn bệnh” Trung Quốc đang tăng lên chóng mặt.

Ảnh hưởng của Trung Quốc lên thị trường chứng khoán châu Á hiện nay đã lớn gần bằng Mỹ. Hai báo cáo gần đây của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) cho thấy, ảnh hưởng của Trung Quốc lên châu Á đã tăng mạnh trong một thập kỷ qua.

IMF ước tính, tỷ lệ tương quan giữa thị trường chứng khoán Trung Quốc và các nước Châu Á đã tăng lên mức hơn 0,3 kể từ tháng 6 năm ngoái (1 là tình trạng tương quan “tuyệt đối”), gấp đôi mức trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Con số này vẫn thấp hơn tỷ lệ 0,4 giữa Mỹ và Châu Á, nhưng khoảng cách đang thu hẹp nhanh chóng. Theo BIS, ảnh hưởng của những biến động trên thị trường Trung Quốc lên chứng khoán Châu Á đã tăng hơn 60% kể từ năm 2008.

Khi thị trường chứng khoán Trung Quốc lao dốc trong mùa hè năm ngoái và đầu năm nay, điều tương tự cũng xảy ra ở mọi nơi khác. Và khi Trung Quốc để đồng nhân dân tệ phá giá 2% trong tháng 8/2015, đồng tiền của các thị trường mới nổi khác cũng lao dốc theo. IMF cho biết, tỷ lệ tương quan giữa tiền tệ của nước Châu Á và đồng nhân dân tệ hiện nay là hơn 0,2, gấp đôi mức trước năm 2008.

Cả IMF và BIS đều nhận định, quy mô ngày càng lớn của nền kinh tế Trung Quốc là lý do chính thúc đấy sự tương quan giữa hai bên. Dữ liệu cho thấy, các nước Châu Á có quan hệ thương mại lớn nhất với Trung Quốc bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các biến động trên thị trường nước này.

Tuy nhiên, thương mại không phải là phương tiện duy nhất kết nối các nền kinh tế. Các giao dịch tài chính hiện nay chiếm khoảng 2/5 hoạt động kinh tế giữa Trung Quốc và các thị trường Châu Á, tăng gần như từ con số 0 vào trước năm 2008. Mặc dù vẫn duy trì các biện pháp kiểm soát vốn, Trung Quốc đã cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu của doanh nghiệp trong nước hoặc cho các công ty này vay. Số cổ phiếu và trái phiếu Trung Quốc được nắm giữ bởi nhà đầu tư nước ngoài hiện có giá trị khoảng 2 nghìn tỷ USD, nhiều hơn bất kỳ thị trường mới nổi nào khác.

Các nhà đầu tư Châu Á tỏ ra đặc biệt gắn bó với Trung Quốc. Tổng số tài sản đầu tư của họ ở Trung Quốc và Hồng Kông hiện có giá trị hơn 10% GDP của Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore cộng lại. Một khi các biện pháp kiểm soát vốn được nới lỏng, những kết nối tài chính này sẽ còn mở rộng nữa. Hiện nay, thị trường trái phiếu Trung Quốc vẫn tương đối khép kín. Nhưng khi đồng nhân dân tệ được sử dụng nhiều hơn trong giao dịch quốc tế, tình hình lãi suất của Trung Quốc sẽ ảnh hưởng đến toàn Châu Á.

BIS nhận định, sự thắt chặt trong quan hệ giữa Châu Á và Trung Quốc là điều đáng hoan nghênh. Trong vài năm gần đây, thị trường toàn cầu có xu hướng chuyển động theo cùng một hướng, khiến nhà đầu tư khó đa dạng hóa hoạt động của mình. Khi sự sở hữu chéo phổ biến hơn ở Châu Á, với Trung Quốc là tâm điểm, chu kỳ tài chính của Châu Á sẽ hoạt động theo nhịp điệu của riêng mình, tách ra khỏi các nơi khác trên thế giới. Trung Quốc và Mỹ sẽ còn hắt hơi nhiều lần nữa. Nhưng hy vọng là hai nước này không cảm lạnh cùng một lúc.



Long Nam
Theo Trí thức trẻ/Economist
Share:

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

Đây là bộ ba chính sách khiến nhiều nước lao đao

Một quốc gia buộc phải chọn lựa giữa dòng vốn có thể tự do di chuyển, tỷ giá nằm trong tầm tay quản lý và một chính sách tiền tệ độc lập. Ba điều này không thể xảy ra cùng một lúc mà chỉ có 2 điều có thể đi đôi với nhau.

Trước khi đồng tiền chung châu Âu euro ra đời năm 1999, các thành viên đã neo đồng nội tệ của mình vào đồng mark Đức. Kết quả là họ buộc phải nương vào chính sách tiền tệ của NHTW Đức để điều chỉnh chính sách của riêng mình. Một số nước dễ dàng làm được điều này bởi vì có các ngành kinh tế gắn bó chặt chẽ với Đức và như vậy mối quan hệ giữa hai bên là “nước nổi thuyền nổi’.

Tuy nhiên, có một số nước không thể duy trì chính sách tiền tệ như vậy. Năm 1992, Anh buộc phải “nhổ neo” vì nền kinh tế Anh đang rơi vào suy thoái trong khi kinh tế Đức bùng nổ.

Ngày nay, đồng nhân dân tệ của Trung Quốc cũng đang ở trong thế tiến thoái lưỡng nan. Trung Quốc muốn mở cửa hoàn toàn cán cân vốn để tạo ra một hệ thống tài chính hiện đại trong đó các lực đẩy của thị trường đóng vai trò quyết định thay vì mệnh lệnh của NHTW. Mùa hè năm ngoái, Trung Quốc đã có những bước đi nhỏ trên hành trình này. Tuy nhiên, thả nổi tỷ giá trong thời buổi kinh tế trì trệ không phải là một ý hay, làm dấy lên nỗi lo đồng nhân dân tệ sẽ rớt giá thảm hại. Sau cú sốc mùa hè năm ngoái, Trung Quốc lại thắt chặt kiểm soát dòng chảy của vốn.

Tình huống mà Anh và Trung Quốc gặp phải chính là hệ quả của bộ ba chính sách không thể đồng hành cùng nhau trong điều hành kinh tế vĩ mô, hay còn gọi là bộ ba bất khả thi. Theo đó, một quốc gia buộc phải chọn lựa giữa dòng vốn có thể tự do di chuyển, tỷ giá nằm trong tầm tay quản lý và một chính sách tiền tệ độc lập. Ba điều này không thể xảy ra cùng một lúc mà chỉ có 2 điều có thể đi đôi với nhau.

Ví dụ, một quốc gia muốn cố định tỷ giá và cũng muốn lãi suất không bị môi trường bên ngoài tác động thì sẽ phải kiểm soát dòng chảy vào và ra của vốn. Đó chính là bộ ba bất khả thi trong trường hợp của Trung Quốc. Trong trường hợp của Anh, nếu tỷ giá cố định nhưng vốn được tự do di chuyển, quốc gia đó không thể có chính sách tiền tệ độc lập. Và nếu một quốc gia chọn dòng vốn tự do nhưng cũng muốn tự chủ về chính sách tiền tệ, họ phải thả nổi đồng nội tệ. Đây cũng là mô hình được nhiều nước trên thế giới lựa chọn.

Để hiểu sâu hơn về bộ ba bất khả thi, hãy hình dung về một quốc gia có tỷ giá cố định neo vào đồng USD và mở cửa hoàn toàn đối với dòng vốn ngoại. Để giảm lạm phát, NHTW sẽ phải để lãi suất ở mức cao hơn so với lãi suất cơ bản mà Cục dự trữ liên bang Mỹ đưa ra. Vì dòng vốn tự do chảy từ nơi có lãi suất thấp đến nơi có lãi suất cao, dòng vốn sẽ ồ ạt đổ vào đây, gây áp lực tăng giá lên đồng nội tệ. Cuối cùng thì quốc gia đó không thể neo đồng nội tệ vào USD được nữa.

Nhiều nước thuộc nhóm mới nổi cho rằng đồng USD là một cái mỏ neo ổn định và do đó chính sách tỷ giá cố định bám vào đồng USD sẽ đem lại nhiều tác dụng. Đó cũng chính là lý do khiến Anh neo đồng bảng vào đồng D-mark trong những năm 1990. Cái giá phải trả là mất tự do về tiền tệ: phải điều chỉnh lãi suất sao cho vẫn giữ được mức tỷ giá cố định và các nước này cũng không thể điều chỉnh chính sách linh hoạt để ổn định nền kinh tế.

Vì vậy các quốc gia thường được khuyên là nên thả nổi đồng tiền khi muốn duy trì lạm phát ở mức thấp. Khi đó đồng tiền được điều chỉnh theo dòng chảy của vốn, cho phép lãi suất phản ứng tốt nhất với các chu kỳ của nền kinh tế.

Trên thực tế, nhiều nước mới nổi rất lo sợ tỷ giá biến động quá mạnh, do vậy họ chọn cách hi sinh dòng vốn (bằng cách kiểm soát chặt cán cân vốn hoặc tăng giảm dự trữ ngoại hối) hoặc hi sinh chính sách tiền tệ (bằng cách đặt yếu tố ổn định tỷ giá lên hàng đầu).

Trung Quốc muốn cuối cùng thì cán cân vốn sẽ tự do hoàn toàn, đánh dấu một cột mốc quan trọng trên con đường tiến tới một hệ thống tài chính hiện tại. Để làm được như vậy, Trung Quốc sẽ phải chung sống với đồng nhân dân tệ tăng giảm thất thường theo các lực đẩy của thị trường. Đạt được cả ba là không thể, nhưng 2/3 cũng không phải là một điều tồi tệ quá sức chịu đựng.
Thu Hương
Theo Trí thức trẻ/Economist

 

Share:

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2016

Vì sao Trung Quốc không phải là trung tâm tài chính toàn cầu?

Trong khi những dư âm về hội nghị thượng đỉnh G20 ở Hàng Châu, Trung Quốc, còn chưa chấm dứt, một sự kiện khác có ý nghĩa quan trọng với tài chính thế giới vừa diễn ra nhưng ít được quan tâm đúng mức. Tuần trước, Ngân hàng Thế giới (WB) đã phát hành trái phiếu được định giá bằng Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) ở thị trường liên ngân hàng của Trung Quốc. Bắt từ tháng 10 tới, NDT sẽ được đưa vào rổ tiền tệ định giá SDR, gồm USD, euro, yên và bảng Anh.

Chừng nào nhân dân tệ (NDT) còn chưa được định giá theo cơ chế thị trường, Trung Quốc sẽ không thể trở thành trung tâm tài chính toàn cầu. 

Đối với Trung Quốc, động thái trên mang ý nghĩa biểu tượng cho vị thế cường quốc mới nổi của họ. Nhưng nó cũng chỉ ra vì sao Trung Quốc chưa thể trở thành một trung tâm tài chính của thế giới.

Bắc Kinh xem việc đưa NDT vào SDR là một chiến lược mang tính nước đôi. Nước này muốn hệ thống tiền tệ toàn cầu ít phụ thuộc vào đồng USD và tiến tới sử dụng NDT nhiều hơn. Nhưng Trung Quốc vẫn muốn tiếp tục áp đặt các biện pháp kiểm soát tài chính, điều làm giới hạn hoạt động sử dụng NDT ở nước ngoài. Đồng thời, nước này không muốn thả nổi giá trị đồng nội tệ, một điều kiện tiên quyết để nó trở thành đồng tiền dự trữ đích thực.

Vì thế, Trung Quốc muốn dùng SDR để đạt được cả hai ý định của mình: biến NDT hành đồng tiền cạnh tranh với USD, đồng thời vẫn duy trì tỷ giá cố định của nó.

Vấn đề là SDR không tồn tại trong lưu thông thực tế. SDR được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tạo ra để làm tài sản dự trữ nhân tạo vào năm 1969, theo hệ thống Bretton Woods. Mặc dù vậy, không nước nào sử dụng SDR cho hoạt động kinh doanh bình thường, và không chính phủ nào phát hành trái phiếu định giá bằng SDR trừ lý do chính trị, như WB đang làm.

Giới doanh nghiệp cũng không muốn sử dụng SDR. Nếu một công ty muốn vay tiền để xây nhà máy ở Nhật Bản, họ sẽ phát hành trái phiếu bằng đồng yên để sau này có thể trả tiền bằng đồng yên. Nếu khách hàng của công ty trên đến từ nhiều nước, một ngân hàng đầu tư sẽ được mời đến và lập một bộ chỉ số danh mục tiền tệ tùy biến để đáp ứng nhu cầu của họ. Thay vì sử dụng SDR, công ty sẽ bán trái phiếu theo bộ chỉ số tổng hợp gồm đồng USD, euro, yên và reals Brazil với tỷ lệ 25% cho mỗi đồng tiền. Sẽ không có khách hàng nào trả bằng SDR.

Lý do Trung Quốc muốn đưa NDT vào SDR là vì, nước này muốn đạt được vị thế đồng tiền toàn cầu mà không phải đối mặt với áp lực thả nổi đồng nhân dân tệ và nới lỏng kiểm soát tài chính. Nói cách khác, Trung Quốc muốn hưởng những lợi ích của một đồng tiền toàn cầu, nhưng lại muốn tránh những bất lợi của việc này.

Đây chính là lý do làm kìm hãm vị thế trung tâm tài chính thế giới của Trung Quốc. Nước này có đầy đủ những điều kiện thích hợp để cạnh tranh với London và New York: một nền kinh tế khổng lồ, điểm đến của hoạt động kinh doanh quốc tế, và sở hữu những ngân hàng đẳng cấp thế giới. Nhu cầu của thế giới với nguồn vốn và dịch vụ tài chính của Trung Quốc cũng đang trên đà tăng mạnh.

Nhưng việc phát hành cổ phiếu và nợ quốc tế ở Trung Quốc gần như không tồn tại. Trong số gần 2000 trường hợp phát hành trái phiếu ở Trung Quốc cho đến nay, chỉ có một đến từ nước ngoài. Các công ty không muốn bán trái phiếu hoặc cổ phiếu ở một nước mà dòng vốn bị kiểm soát chặt và đồng tiền không được định giá theo cơ chế thị trường. Việc đồng nhân dân tệ được đưa vào SDR cũng không thể giúp Trung Quốc giải quyết được hai vấn đề trên.

Nếu Bắc Kinh muốn trở thành trung tâm tài chính toàn cầu, nước này cần tạo ra một thị trường mà dòng vốn được luân chuyển tự do và đồng tiền hoạt động theo cơ chế thị trường. Thay vì theo đuổi các thẳng lợi mang tính biểu tượng như trái phiếu SDR, Trung Quốc nên để các ngân hàng và nguồn vốn của mình hoạt động tự do hơn.

Share:

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2016

Quả bom nghìn tỷ USD đang chờ phát nổ ở Trung Quốc


Một công ty đầu tư ở Thượng Hải đã đưa ra cam kết sẽ đem đến cho nhà đầu tư mức lợi nhuận lên đến 10% một năm - con số làm lu mờ thị trường chứng khoán và lãi suất ngân hàng. Công ty này yêu cầu số tiền đầu tư tối thiểu vào khoảng 15 USD, khiến bất cứ ai cũng có thể tham gia. Các nhà đầu tư có thể rút tiền chỉ sau 7 ngày. Quan trọng nhất, tiền đầu tư được bảo lãnh. 

Các ưu đãi trên nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng có một vấn đề: nhà đầu tư không biết tiền của mình sẽ được rót vào đâu.

Công ty nói trên, State Gold Treasure, cho biết tiền sẽ được đầu tư vào một công ty bất động sản đang xây một tổ hợp chung cư cao cấp ở Thượng Hải. Nhưng công ty này không cung cấp thêm thông tin chi tiết nào, kể cả điều đơn giản như địa chỉ của tổ hợp chung cư.
Trường hợp trên chỉ là một trong vô vàn những khoản đầu tư mờ ám, không được quản lý, nhưng đang trở thành mối đe dọa ngày càng lớn cho hệ thống tài chính Trung Quốc. Các chuyên gia lo ngại rằng, khi nền kinh tế nước này giảm tốc, nhiều quỹ đầu tư sẽ sụp đổ. Và chính phủ có thể không biết làm thế nào để xử lý cú sốc này với hệ thống tài chính.

Trong 5 năm qua, nhà đầu tư Trung Quốc đã rót ít nhất 2,8 nghìn tỷ USD vào các quỹ đầu tư thuộc sở hữu của ngân hàng. Sau khi tăng gấp 5 lần kể từ năm 2011, những khoản đầu tư này, còn được gọi là sản phẩm quản lý tài sản, hiện nay có giá trị bằng 1/3 GDP cả nước. Hoạt động đầu tư trên vẫn tiếp tục tăng trưởng bất chấp nền kinh tế Trung Quốc đang giảm tốc.

Đấy là mới nói đến những quỹ đầu tư được quản lý bởi các ngân hàng. Còn nhiều công ty khác như State Gold Treasure đang bán sản phẩm quản lý tài sản, nhưng vẫn chưa được biết đến.
Vấn đề của Trung Quốc là phần lớn số tiền trên đang đổ vào các ngành làm ăn yếu kém như xây dựng và bất động sản. Sự sụp đổ của các khu vực này có thể gây ra những chấn động kinh hoàng cho nền kinh tế.

Cho đến nay, chính phủ Trung Quốc đã ra tay để ngăn chặn sự đổ vỡ của các sản phẩm quản lý tài sản, nhằm tránh hiệu ứng dây chuyền và xoa dịu cơn giận dữ của nhà đầu tư. Nhưng không phải tất cả nhà đầu tư đều được giải cứu.

Li Wenyuan, một bác sĩ ở Bắc Kinh, cho biết năm ngoái cô đã đầu tư gần 140.000 USD vào một sản phẩm quản lý tài sản gắn với một công ty thép. Sau khi công ty làm ăn thua lỗ, cô được trả lãi chưa đến 2.000 USD. Trước đó, cô đã lên kế hoạch dùng toàn bộ tiền đầu tư gốc để gửi con trai đến học cấp 3 ở Canada, nơi có không khí sạch hơn và giúp con cô cải thiện tiếng Anh.

“Đó là một tổn thất lớn cho gia đình tôi. Chúng tôi vẫn có thể xoay xở được. Nhưng đó là một số tiền lớn và tôi ngờ rằng mình sẽ không bao giờ lấy lại được tiền. Tôi rất lo lắng”, cô chia sẻ.
Sản phẩm quản lý tài sản là một phần trong hệ thống đầu tư và ngân hàng ngầm khổng lồ của Trung Quốc. Nhiều người tìm đến hệ thống này để vay vốn làm ăn. Ngày càng có nhiều quan ngại về việc điều gì sẽ xảy ra nếu hệ thống này sụp đổ và chính phủ có thể phản ứng lại như thế nào.

“Rủi ro trong hệ thống này đang lớn dần lên, và quan trọng hơn, nhiều hệ lụy nghiêm trọng sẽ xảy ra nếu hệ thống sụp đổ”, David Daokui Li, kinh tế gia của đại học Thanh Hoa, đồng thời là thành viên ủy ban chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Trung Quốc cho biết. “Nhiều khả năng sẽ có một cuộc khủng hoảng xảy ra. Câu hỏi là khủng hoảng sẽ lớn hay nhỏ”.

Sản phẩm quản lý tài sản của Trung Quốc không phải là chứng khoán, trái phiếu hay quỹ tương hỗ. Một sản phẩm quản lý tài sản điển hình thường cam kết lợi nhuận cố định trong một kỳ hạn định trước. Nhiều nhà đầu tư Trung Quốc xem chúng như tài khoản tiền gửi ở ngân hàng vì chúng được bán bởi các ngân hàng quốc doanh. Các ngân hàng sẽ chống lưng cho các quỹ này trên danh nghĩa. Nhưng không giống như tài khoản tiền gửi, chúng không được bảo lãnh. Chúng được cơ cấu sao cho ngân hàng không phải chịu trách nhiệm nếu các khoản đầu tư này sụp đổ.

Các nhà phát hành sản phẩm quản lý tài sản lớn nhất là hàng trăm ngân hàng và tổ chức tài chính ở các tỉnh nghèo nằm sâu trong nội địa của Trung Quốc. Chính quyền địa phương đang gây sức ép lớn, buộc các ngân hàng này phải tiếp tục cho vay và bơm tiền cho các doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh toàn nền kinh tế đang giảm tốc.

Để có tiền cho vay trên quy mô lớn, các ngân hàng này đã tăng cường phát hành sản phẩm quản lý tài sản. Họ đã bán 187.000 sản phẩm quản lý tài sản vào cuối năm ngoái, tăng 56% so với một năm trước đó.

Công nghệ đã giúp các công ty như State Gold Treasure bán sản phẩm của mình qua Internet và ứng dụng smartphone dễ dàng hơn so với ngân hàng. “Trong quá khứ, bạn cần tới ngân hàng hoặc một công ty quỹ để mở tài khoản. Giờ đây, với ứng dụng smartphone, bạn chỉ cần đăng ký thông tin cá nhân và mua sản phẩm quản lý tài sản qua Internet”, He Zhirui, một nhân viên tài chính ở Bắc Kinh, đồng thời cũng là một nhà đầu tư vào sản phẩm quản lý tài sản cho biết.

Sự phổ biến của sản phẩm quản lý tài sản đã làm chính phủ lo lắng. Trong tháng 5, ủy ban ngân hàng của Trung Quốc cảnh báo rằng, ngành kinh doanh này đang gặp nhiều vấn đề, trong đó có các sản phẩm không được cấp phép.

Sự chuyển hướng của dòng tiền từ tiền gửi ngân hàng sang sản phẩm quản lý tài sản đã làm lung lay hệ thống tài chính của Trung Quốc. Trung Quốc đã chống đỡ được cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 nhờ dòng tiền gửi ổn định của các hộ gia đình và doanh nghiệp vào bốn ngân hàng quốc doanh lớn. Nhưng nếu tính tổng thể, các ngân hàng nhỏ hiện nay đã lớn gần bằng 4 ngân hàng trên cộng lại. Sản phẩm quản lý tài sản chiếm gần 1/3 số vốn của các ngân hàng vừa và nhỏ.

Các quan chức và chuyên gia kinh tế Trung Quốc cho biết, chính phủ có đủ nguồn lực để trang trải các khoản lỗ nếu hệ thống sản phẩm quản lý tài sản sụp đổ. Họ cũng cho biết việc thắt chặt giới hạn gửi tiền ra nước ngoài sẽ giúp duy trì dòng tiền trong nước trong trường hợp hệ thống trên sụp đổ.

“Hệ thống tài chính Trung Quốc có thể khắc phục được vấn đề thanh khoản - tiền không thể chạy ra nước ngoài”, Chang Chun, giám đốc Viện tài chính cấp cao Thượng Hải ở Đại học giao thông Thượng Hải nhận định.

Nhưng một số chuyên gia về tài chính Trung Quốc cho rằng khủng hoảng sẽ xuất hiện nhanh và nghiêm trọng hơn dự đoán. Các nhà hoạch định chính sách và nhà đầu tư có thể trở tay không kịp nếu hệ thống sụp đổ.

Long Nam
Theo Trí thức trẻ/New York Times
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán

Share:

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2016

Vốn lại chảy vào thị trường mới nổi


Liệu sự khởi sắc ở các thị trường mới nổi có báo hiệu sự quay trở lại thời kỳ hoàng kim của thập niên 2000?  


Khi công ty quản lý quỹ lớn nhất thế giới “đổi giọng” thì tất cả mọi người đều chú ý. Đó là điều mà BlackRock, tập đoàn quản lý 4.600 tỉ USD giá trị tài sản, đã làm trong năm nay. Từng ngoảnh mặt đối với các thị trường mới nổi, gần đây BlackRock đã quay sang cổ vũ cho trái phiếu thị trường mới nổi, cho rằng chúng sẽ tạo ra mức sinh lời 2 con số trong năm 2016.

Sergio Trigo Paz, đứng đầu bộ phận quản lý danh mục đầu tư thu nhập cố định thị trường mới nổi, đang nói đến một cuộc “di cư” rầm rộ: đó là xu hướng các nhà đầu tư tổ chức lớn tháo chạy khỏi mức tăng trưởng ì ạch và lãi suất âm của thế giới phát triển sang các nền kinh tế mới nổi, vốn đang có dấu hiệu hồi phục và đem lại mức sinh lời hấp dẫn hơn. “Không chỉ những người chơi chiến thuật, mà còn có các quỹ hưu bổng, quỹ đầu tư quốc gia. Các tổ chức lớn đang chuyển hướng”, ông nói.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế lạc quan hơn ở các thị trường mới nổi là một lý do cho sự chuyển hướng này. Dự báo mới nhất của Quỹ IMF cho thấy GDP ở các thị trường mới nổi sẽ tăng trưởng mỗi năm trong 5 năm tới, trong khi các thị trường phát triển thì trì trệ.

Những tín hiệu lạc quan này là sự đảo ngược so với trước đó. Có thể thấy chứng khoán thị trường mới nổi đã trải qua phần lớn năm 2015 trong đà giảm tự do, mất hơn 1/3 giá trị kể từ mức đỉnh đạt được vào tháng 4 cùng năm, kéo dài đến tháng 1.2016. Tăng trưởng kinh tế ở các nước này cũng là một chuỗi những ngày thất vọng. Theo số liệu của IMF, tăng trưởng GDP tính chung tại các thị trường mới nổi đã giảm mỗi năm kể từ năm 2010, trong khi thế giới phát triển trải qua 3 năm phục hồi sau khủng hoảng.

Nhưng giờ nhiều nền kinh tế mới nổi đã phục hồi sau cơn bạo bệnh. Các nền kinh tế lớn như Nga và Brazil, chẳng hạn, rơi vào suy thoái sâu trong 2 năm qua, giờ đang trên đường quay lại tăng trưởng. “Năm ngoái, tất cả chỉ là một màu ảm đạm, nhưng các thị trường mới nổi nhìn chung dự kiến sẽ đạt được mức tăng trưởng GDP mạnh nhất trong vòng 4 năm”, Peter Kinsella, đứng đầu mảng nghiên cứu thị trường mới nổi ở Commerzbank, nhận xét.

Nhiều nền kinh tế mới nổi đang cho thấy dấu hiệu hồi sinh thực sự như Ba Lan, Cộng hòa Séc ở Đông Âu, Mexico ở Mỹ Latinh và phần lớn các nước châu Á như Việt Nam, Philippines, Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, thậm chí Pakistan. Điều này một phần là nhờ chính phủ các nước đã sắp xếp lại tài chính công một cách tốt hơn và một số quốc gia, đặc biệt là Mexico và Ấn Độ, bắt đầu thực hiện các chương trình cải cách đầy tham vọng.
Trong khi đó, phía các nền kinh tế phát triển lại chứng kiến những bất ổn mới, khiến giới đầu tư càng thêm dao động. Không chỉ là sự kiện Brexit (việc Anh rời khỏi EU) đã kéo đồng bảng Anh giảm xuống mức thấp kỷ lục, mà còn là các cuộc bầu cử ở Mỹ, Pháp và Đức trong vòng 12 tháng tới cũng như các đợt tấn công khủng bố đã khiến cho thế giới phát triển trở thành điểm đến đầu tư ít an toàn hơn. Mặt khác, các chính sách nới lỏng tiền tệ những năm gần đây phần lớn đã thất bại trong việc tạo ra lực đẩy tăng trưởng cho các nước phát triển, ít nhiều làm nản lòng nhà đầu tư.

Sự khởi sắc của các thị trường mới nổi là điều đáng mừng. Tuy nhiên, Ruchir Sharma, đứng đầu bộ phận cổ phiếu thị trường mới nổi và là trưởng chiến lược gia toàn cầu tại Morgan Stanley Investment Management, lại tỏ thái độ thận trọng. Ông cho rằng nhà đầu tư vào các thị trường mới nổi ít quan ngại về việc liệu các nền kinh tế có tăng trưởng nhanh hơn những nước phát triển. Thay vào đó, điều khiến họ hứng thú là liệu khoảng cách trong tăng trưởng GDP giữa hai khối này có gia tăng.

“Thị trường mới nổi đã và đang tăng trưởng nhanh hơn các nước phát triển trong 5 năm qua. Tuy nhiên, các thị trường mới nổi đang sa sút phong độ vì khoảng cách đã thu hẹp. Năm nay khoảng cách này đã ổn định trở lại”, ông nói.

Mặt khác, vẫn còn nhiều dấu hỏi lớn đang treo lơ lửng đối với triển vọng của các thị trường mới nổi liên quan đến chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sắp tới, nợ cao ngất ngưỡng của Trung Quốc và cuộc tìm kiếm chưa có kết quả của các nền kinh tế mới nổi trong việc săn tìm mô hình tăng trưởng bền vững có thể thay thế cho mô hình tăng trưởng dựa trên hàng hóa và tín dụng trước đó.

Chính Sharma cũng bác bỏ ý kiến cho rằng tăng trưởng tại các thị trường mới nổi gần đây báo hiệu sự quay trở lại thời kỳ hoàng kim của thập niên 2000, khi các thị trường mới nổi liên tục vượt mặt các thị trường phát triển với khoảng cách rất lớn và vốn đầu tư nước ngoài thì ồ ạt chảy vào.

Vào năm 2007, đỉnh điểm cơn sốt bùng nổ của các thị trường mới nổi, có tới 60 nền kinh tế trên toàn cầu tăng trưởng hằng năm với tốc độ hơn 7%, theo Sharma. “Ngày nay, con số này đã giảm xuống còn chỉ 8 hoặc 9 nước mà thôi”, ông nói.
IMF dự báo GDP ở các thị trường mới nổi sẽ tăng trưởng mỗi năm trong 5 năm tới. Ảnh: wsj.com

Trong suốt giai đoạn bùng nổ ấy, Trung Quốc là động cơ tăng trưởng khi “ngốn” hàng xuất khẩu từ các thị trường mới nổi khác, đặc biệt là các nhà sản xuất hàng hóa, nhằm duy trì tốc độ đầu tư và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tại nước này. Giờ Trung Quốc đang nỗ lực chuyển hướng sang mô hình dựa vào tiêu dùng, nhưng chưa thấy nhiều kết quả. Theo Sharma, đường tăng trưởng của Trung Quốc tương tự như một quả bóng bàn đang tưng xuống cầu thang. “Cứ mỗi lần tăng trưởng quá chậm, Chính phủ lại bơm tiền kích thích kinh tế, thế là quả bóng tăng trưởng lại nảy lên và rồi lại đi xuống. Mỗi lần phục hồi thì lần sau lại phục hồi chậm hơn. Nhưng ít nhất là quả bóng này đến nay vẫn chưa xì hơi”, ông nói.

Vấn đề là nỗ lực Chính phủ Trung Quốc bỏ ra để nền kinh tế “nảy” lên sau mỗi lần mỗi nhiều hơn. Trước khủng hoảng tài chính toàn cầu, theo Sharma, Trung Quốc cần 1 đồng tín dụng mới tạo được 6 đồng tăng trưởng, nhưng giờ tỉ lệ này là 6:1. “Họ đang nhận ra rằng không thể nào tăng trưởng mà không tăng một lượng nợ lớn. Sự ngọt ngào chết người của vay nợ chính là ở chỗ đó”, ông nói.

Trong cuốn sách của mình tựa đề The Rise and Fall of Nations, Sharma đã nhấn mạnh mối nguy hiểm đằng sau việc nợ tăng quá nhanh tại Trung Quốc. Bằng cách phân tích số liệu về các đợt vay tín dụng ồ ạt nhất ở 150 quốc gia trở lại năm 1960, ông đã nhận thấy những con số quan trọng: đó là thời gian bành trướng nợ kéo dài 5 năm và mức tăng trong tín dụng tư nhân tương đương với hơn 40 điểm phần trăm GDP. Điều này, theo khám phá của ông, đã xảy ra ở 30 trường hợp.

“Trong tất cả các trường hợp, trong 5 năm tiếp theo, nền kinh tế đã giảm sâu”, Sharma nói. Ông nói thêm, Trung Quốc, vốn đang chứng kiến tăng trưởng chững lại, ít có khả năng tránh được kết cục này.

Trong 5 năm kết thúc vào tháng 3.2016, theo Viện Tài chính Quốc tế (IIF), nợ khu vực tư nhân tại Trung Quốc (nợ bởi hộ gia đình và các công ty khu vực phi tài chính) đã tăng thêm 62,1 điểm phần trăm GDP. Nếu Sharma đúng thì tương lai không hề đẹp đẽ gì cho Trung Quốc, cho các thị trường mới nổi khác và cả thế giới.

Nhưng mặc cho những khuyến cáo như vậy, nhà đầu tư vẫn bị hút vào mức sinh lời mà nợ Trung Quốc mang lại. Anthony Chan, chiến lược gia châu Á tại AllianceBernstein ở Hồng Kông, mô tả thị trường trái phiếu chính phủ Trung Quốc “rất hấp dẫn”. Chẳng hạn, trái phiếu 10 năm hiện mang lại mức sinh lời 2,74%, cao hơn nhiều so với mức lãi suất âm ở những nơi khác.

Cho dù nhà đầu tư thận trọng đối với trung Quốc, thì các nhà quản lý quỹ khác cho rằng vẫn còn nhiều câu chuyện tăng trưởng ở châu Á, Đông Âu và Mỹ Latinh. Theo Trigo Paz, thuộc BlackRock, các tổ chức lớn nhận ra rằng họ không còn có thể phớt lờ mức sinh lời tại các thị trường mới nổi, vốn ở mức cao tới 13% từ đầu năm đến nay. 
Đàm Hoa
Nhịp Cầu Đầu Tư/  FT
Share:

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2016

George Soros: Trung Quốc đang giống với Mỹ thời kỳ trước khủng hoảng 2008

Theo "thiên tài bán khống" Soros, nền kinh tế phụ thuộc vào nợ như hiện nay của Trung Quốc giống với kinh tế Mỹ giai đoạn 2007 - 08, trước khi thị trường tín dụng gặp rắc rối và gây nên khủng hoảng toàn cầu.
Nhà đầu tư đại tài Soros đã nhìn thấy điềm báo không mấy tốt lành trong báo cáo tăng trưởng tín dụng tháng 3 của Trung Quốc. Theo thước đo rộng nhất, lượng tín dụng mới trong tháng 3 của Trung Quốc đạt 2.340 tỷ NDT (362 tỷ USD), bỏ xa mức dự báo 1.400 tỷ NDT. Đồng nghĩa với việc chính phủ đang thúc đẩy tăng trưởng bằng nợ.

Soros, người kiếm được 24 tỷ USD nhờ tài năng dự đoán thị trường gần đây đã tham gia vào một cuộc tranh luận với chính phủ Trung Quốc. Hồi tháng 1, ông phát biểu tại Diễn đàn kinh tế thế giới tại Davos rằng ông đánh cược chống lại các loại tiền tệ châu Á vì khả năng Trung Quốc hạ cánh cứng là không thể tránh khỏi. Đáp lại, Tờ Tân hoa xã đưa tin, trước đây ông Soros đã có một vài dự báo tương tự nhưng đều không chính xác.

Ông cảnh báo một thảm họa sắp đổ bộ xuống Trung Quốc tương tự cuộc khủng hoảng 2008. Tháng 9/2011 tại Washington, ông nhận định khủng hoảng nợ công Hy Lạp còn nguy hiểm hơn cả khủng hoảng tài chính 2008.

Tiếng tăm của nhà đầu tư người Hungary vang danh toàn cầu sau sự sụp đổ của Ngân hàng Anh (bank of England) năm 1992 do người ta tin rằng ông là người đứng đằng sau sự kiện này. Ông kiếm được 1 tỷ USD bằng cách đặt cược Anh sẽ buộc phải giảm giá đồng bảng.

Soros bắt đầu sự nghiệp của mình tại New York trong những năm 1950. Ông chứng kiến quỹ đầu tư của mình tăng lợi nhuận hàng năm khoảng 20% trong suốt giai đoạn 1969-2011

Quý trước nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu ổn định, bắt kịp đà tăng trưởng trong tháng 3. Bên cạnh đó tăng trưởng tín dụng giúp hồi phục khu vực nhà nước dù trong sự nghi ngờ của giới đầu tư. GDP tăng 6,7% trong 3 tháng đầu năm, khá hòa hợp với mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm 6,5-7% của chính phủ.

Nhà kinh tế trưởng Ma Jun thuộc nhóm nghiên cứu của NHTW nhận định, số liệu gần đây về tăng trưởng trong ngành bất động sản, công nghiệp và hàng hóa cho thấy triển vọng kinh tế Trung Quốc tốt hơn dự báo.

Tuy nhiên, tăng trưởng ổn định không đủ làm dịu lòng nhà đầu tư do Trung Quốc vẫn dựa vào đầu tư chính phủ tại các công ty nhà nước để kích thích nền kinh tế.

Chính phủ đã mạnh tay can thiệp vào thị trường tài chính sau khi cơn hoảng loạn trên thị trường chứng khoán làm thất thoát 5.000 tỷ USD chảy ra khỏi thị trường trong khi đồng nhân dân tệ mất giá.

Phong trào chống tham nhũng và những bất ổn trong nền kinh tế khiến cho giới đầu tư hoang mang lo sợ dẫn đến dòng vốn tháo chạy khỏi Trung Quốc. Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng 10,3 tỷ USD lên 3.210 tỷ USD trong tháng 3, nhưng năm ngoái nguồn này đã giảm 517 tỷ USD.
(Theo Trí thức trẻ/Bloomberg)
>> George Soros: Trong đầu tư, hãy im lặng mà làm


Share:

Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2016

Chao đảo thị trường toàn cầu và 5 lý giải

http://www.blogchungkhoan.com/p/tu-van-dau-tu-chung-khoan.html
Biến động chóng mặt của giá cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa và tỷ giá các đồng tiền từ đầu năm đến nay đang khiến nhiều nhà đầu tư không thể hiểu nổi điều gì đang diễn ra.

Tuần này, mức độ biến động của các thị trường được đẩy lên một ngưỡng cao hơn, trong đó chứng khoán thế giới trải qua một đợt bán tháo mới.

Trong phiên giao dịch ngày 11/2,  chứng khoán Mỹ giảm 1,2%, nâng tổng mức giảm của chỉ số S&P 500 từ đầu năm đến nay lên 10,5%. Giá dầu thô WTI có thời điểm giảm về sát ngưỡng 26 USD/thùng. Vừa mở cửa trở lại sau kỳ nghỉ vào sáng 12/2, chứng khoán Nhật đã sụt 3,2%.

Trái lại, tỷ giá đồng Yên tăng lên mức cao nhất 15 năm, giá vàng đạt đỉnh của 1 năm, và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm giảm xuống mức 1,63%, thấp nhất kể từ tháng 5/2013. Bán tháo cổ phiếu, giới đầu tư mua mạnh 3 loại tài sản này để tìm kiếm sự an toàn.

Dưới đây là 5 giả thiết về nguyên nhân dẫn tới sự chao đảo chóng mặt của thị trường tài chính toàn cầu từ đầu năm đến nay mà tờ Wall Street Journal đưa ra:

1. Các dòng tiền nóng

Năm ngoái, khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tiến tới động thái tăng lãi suất đầu tiên sau gần 1 thập kỷ, giới đầu tư tin rằng các ngân hàng sẽ kiếm đậm từ khoảng cách bị nới rộng giữa lãi suất cho vay và lãi suất trả cho người gửi tiền.

Tuy nhiên, năm nay, cổ phiếu ngành tài chính sụt giảm mạnh khi các nhà đầu tư tin rằng lãi suất sẽ ở mức thấp trong thời gian dài - đồng nghĩa với việc lãi suất sẽ không tăng nhiều trong vài năm tới. Từ đầu năm đến nay, nhóm cổ phiếu tài chính thuộc chỉ số S&P 500 đã giảm 18%, dẫn đầu sự giảm điểm của chỉ số này.

Mới đây, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) còn gây sốc khi cắt giảm lãi suất xuống mức dưới 0% nhằm kích thích tăng trưởng và lạm phát.

Kỳ vọng lãi suất cho thấy triển vọng u ám không chỉ của kinh tế toàn cầu mà còn của cả những giao dịch dựa trên những đồn đoán về lãi suất tăng của thời gian qua.

“Dòng tiền nóng chảy vào cổ phiếu ngân hàng cuối năm 2015 do dự báo lãi suất tăng, và giờ thì tiền nóng lại chảy khỏi lĩnh vực này”, nhà quản lý danh mục cấp cao Diane Jaffe thuộc TCW Group nhận định.

2. Nỗi lo về đồng Nhân dân tệ

Một số người cho rằng biến động thị trường toàn cầu hiện nay bắt nguồn từ Trung Quốc.

Nhiều nhà đầu tư tin Trung Quốc sẽ không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phá giá đồng Nhân dân tệ - một động thái có thể sẽ làm trầm trọng thêm những thách thức của kinh tế toàn cầu, bởi các quốc gia khác có thể cũng sẽ phá giá đồng nội tệ của mình để giành giật nguồn thu xuất khẩu trở nên khan hiếm hơn.

Quan chức các nước vẫn nói không có ý định phá giá đồng tiền, nhưng một số quỹ đầu cơ đang tìm cách buộc các chính phủ phải làm vậy bằng cách dùng hàng tỷ USD để đầu cơ giá xuống đối với các đồng tiền mục tiêu.

Diễn biến tỷ giá đồng Nhân dân tệ được các nhà đầu tư toàn cầu theo dõi chặt chẽ kể từ sau động thái phá giá bất ngờ của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) hồi tháng 8 năm ngoái. Gần đây, có nhiều ý kiến cho rằng kinh tế Trung Quốc sẽ “hạ cánh cứng”.

3. Do các quỹ đầu tư quốc gia (sovereign-wealth  fund)

Trong thời gian giá dầu cao, các nước sản xuất dầu đã đổ nhiều tỷ USD vào các quỹ đầu tư quốc gia của mình. Theo một số ý kiến, giờ đây, các quỹ này đang thanh lý cổ phiếu mua vào ở thời kỳ hoàng kim, khiến thị trường chứng khoán toàn cầu, đặc biệt là chứng khoán Mỹ, sụt giảm nhanh hơn.

Một số cổ phiếu Mỹ được nhiều quỹ đầu tư quốc gia vùng Vịnh nắm giữ là Nasdaq, Tiffany, ALFAC, BlackRock... Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, dù lớn, các quỹ đầu tư quốc gia không đủ mạnh để gây ảnh hưởng đáng kể đến thị trường chứng khoán Mỹ.

Theo dự báo của JP Morgan Chase, các quỹ đầu tư quốc gia sẽ buộc phải bán ra 75 tỷ USD cổ phiếu trên toàn cầu trong năm nay. Trong khi đó, tổng giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán Mỹ gần đây lên tới 20,95 nghìn tỷ USD.

4. Kinh tế Mỹ có thể gặp khó

Nhiều nhà đầu tư lo ngại rằng Mỹ - nền kinh tế tăng trưởng mạnh nhất mấy năm gần đây trong số các nền kinh tế phát triển - sẽ bị kéo thụt lùi bởi các lực lượng toàn cầu trong đó có sự tăng giá của đồng USD.

Tháng 1 vừa qua, sản xuất công nghiệp của Mỹ giảm tháng thứ 4 liên tục. Tăng trưởng việc làm cũng chậm lại. Giới chức FED cũng bắt đầu thể hiện sự lo ngại.

“Rủi ro lớn nhất là mọi người đều tin rằng sự giảm tốc mạnh của các nền kinh tế mới nổi sẽ có ảnh hưởng tới Mỹ”, ông David Lefkowitz, chiến lược gia chứng hoán cấp cao thuộc UBS Weal Management Americas, nhận định.

5. Nhu cầu toàn cầu giảm xuống

Sự giảm giá chóng mặt của dầu thô kể từ tháng 6/2014 đến nay chủ yếu do dư cung, khi các nước sản xuất dầu trên toàn cầu tiếp tục đẩy mạnh khai thác bất chấp giá giảm sâu. Tuy nhiên, khi giá dầu xuống dưới 30 USD/thùng đầu năm nay, các nhà đầu tư bắt đầu nói về sự giảm tốc của nhu cầu tiêu thụ dầu trên toàn cầu.

“Nếu giá hàng hóa cơ bản nói chung đi xuống, thì điều đó có nghĩa là nhu cầu toàn cầu đang yếu”, nhà quản lý danh mục Paul Nolte thuộc Kingsview Asset Management phát biểu.  
(Vneconomy)


Share:

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2016

Lời khuyên của người kiếm được lợi suất 6.200% trên TTCK Trung Quốc

Huang Weimin, chủ sở hữu quỹ đầu cơ đã ghi nhận mức lợi suất 6.200% trên TTCK Trung Quốc trong năm ngoái, có một vài lời khuyên dành cho nhà đầu tư trong năm 2016: hãy bán cổ phiếu của bạn ngay bây giờ, trước khi quá muộn.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VpX8fE-AZFo
Năm nay 45 tuổi, Huang từng là công nhân tại một nhà máy quốc doanh và chỉ trở nên nổi tiếng từ năm ngoái, sau khi đột ngột trở thành “ngôi sao” của thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai. Những dự đoán đúng hướng đã giúp quỹ Yourong lọt vào danh sách những quỹ hoạt động tốt nhất trên TTCK Trung Quốc.

Bước vào năm 2016, Huang cũng đang có được thành tích ấn tượng khi đạt được mức lợi suất 35% kể từ đầu năm đến ngày 22/1. Ông đã bán ra các hợp đồng chỉ số tương lai chỉ vài ngày trước khi thị trường bước vào giai đoạn điều chỉnh. Trong khi đó chỉ số Shanghai Composite đã giảm tổng cộng 18% kể từ đầu năm đến nay.

Thành lập quỹ Yourong từ năm 2014, Huang nhận định chỉ số cơ bản của chứng khoán Trung Quốc sẽ giảm thêm 15% trong nửa đầu năm nay, vì nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang tiếp tục giảm tốc và dòng vốn bị rút ra ồ ạt. Dù vẫn dùng các hợp đồng phái sinh để tận dụng biến động của thị trường, ông khuyến nghị các nhà đầu tư trên TTCK Trung Quốc nên ngừng chơi và chuyển sang nắm giữ tiền mặt.

“Tôi không cảm thấy lạc quan về năm nay. Lời khuyên của tôi là giữ tiền mặt, chờ đợi và quan sát”, Huang nói.

Có vẻ như rất nhiều trong số 99 triệu nhà đầu tư Trung Quốc đang làm đúng như lời khuyên của Huang. Khối lượng giao dịch trên TTCK có tổng giá trị vốn hóa 5.600 tỷ USD đã rơi xuống mức thấp nhất 3 tháng, trong khi khối lượng giao dịch trên thị trường tương lai giảm tới 99% so với tháng 6 năm ngoái.

Khả năng tìm kiếm lợi nhuận khổng lồ khi thị trường lao dốc khiến Huang nổi bật trong các quỹ đầu cơ của Trung Quốc. Hơn 700 quỹ đã phải bán tháo tài sản trong năm 2015 và sự ảm đạm của thị trường trong năm mới khiến nhiều quỹ có nguy cơ phải đóng cửa.

Để kiếm tiền trong năm ngoái, Huang đã phải rất nhanh trí. Trong suốt nửa đầu năm, ông đặt cược thị trường sẽ tăng điểm, xây dựng các vị thế mua vào cổ phiếu cũng như hợp đồng chỉ số tương lai và đã thắng lớn khi Shanghai Composite tăng vọt lên mức cao nhất 7 năm.

Sau khi bán bớt cổ phiếu trong tháng 5, ông ngay lập tức đặt cược vào chiều ngược lại. Đến cuối tháng, khi mức độ biến động trên thị trường tăng cao, ông tập trung vào những khoản đầu tư ngắn hạn.

2 tháng sau đó Huang liên tục ra vào thị trường, có được khoản đầu tư lãi nhất vào cuối tháng 8 và bán ra ngay trước khi Shanghai Composite giảm 25% chỉ trong 2 tuần. “Giai đoạn đó giống như lươt sóng, bạn phải biết nhảy trên đỉnh của những con sóng”, Huang nói.

Ngoài khả năng đoán đúng thời điểm, Huang còn sử dụng đòn bẩy một cách điêu luyện. Giao dịch bán hoặc mua một hợp đồng tương lai thường yêu cầu nhà đầu tư có khoản ký quỹ ban đầu, điều này cũng có nghĩa là biến động rất nhỏ về giá cũng có thể giúp nhà đầu tư lãi hoặc lỗ lớn trên thị trường phái sinh.

Nhận định về thị trường năm nay, Huang nhìn thấy khá nhiều áp lực từ cả sức khỏe nền kinh tế và nguồn cung cổ phiếu tăng đột biến. Có tới 660 công ty đang chờ niêm yết trên TTCK Trung Quốc. Nguồn cung có thể tăng mạnh hơn nữa nếu các nhà hoạch định chính sách nước này thông qua kế hoạch triển khai hệ thống đăng ký – động thái sẽ làm giảm bớt tác động của Chính phủ tới tốc độ IPO trên TTCK.

Cuối tuần trước Phó Chủ tịch Trung Quốc Lý Nguyên Triều đã công bố Chính phủ nước này sẵn sàng can thiệp vào TTCK để đảm bảo lợi ích cho đại đa số nhà đầu tư. Tuy nhiên sự can thiệp này lại khiến Huang gặp khó khăn. Năm ngoái ông đã phải giảm bớt vị thế sau khi cơ quan quản lý tuyên bố sẽ trừng trị những nhà đầu tư bán khống “với mục đích độc hại”.
(Theo Trí thức trẻ/Bloomberg)


Share:

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

George Soros dự đoán Trung Quốc sẽ “hạ cánh cứng”

Hôm qua (21/1), trong một buổi phỏng vấn với phóng viên Francine Lacqua của truyền hình Bloomberg bên lề Diễn đàn kinh tế thế giới đang diễn ra tại Davos, nhà đầu tư George Soros cho rằng “một cú hạ cánh cứng [đối với kinh tế Trung Quốc] là điều khó có thể tránh khỏi. Thậm chí Soros nói rằng ông đang quan sát sự kiện này chứ không phải đang dự đoán về nó.

Theo Soros, mặc dù Trung Quốc có những nguồn lực để có thể kiểm soát tốt tình hình, sự giảm tốc của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới ảnh hưởng lớn đến kinh tế toàn cầu. Do đó ông dự đoán chỉ số S&P 500 sẽ tiếp tục sụt giảm và thời điểm này vẫn còn là quá sớm để mua cổ phiếu. Cũng trong tuần này, một số nhà đầu tư nổi tiếng khác cũng đã cảnh báo rằng thị trường vẫn chưa chạm đáy.

George Soros cũng chia sẻ cuối năm ngoái ông đã mua trái phiếu Kho bạc Mỹ, bán những tài sản có liên quan đến các nước sản xuất hàng hóa và đặt cược rằng các đồng tiền châu Á sẽ giảm giá so với USD.

“Vấn đề chủ chốt hiện nay là giảm phát, đó là một môi trường mà chúng ta vẫn chưa thể làm quen”, Soros nói, đưa ra những yếu tố làm tăng áp lực giảm phát là giá dầu giảm và nguy cơ chiến tranh tiền tệ.

Những nhà quản lý quỹ như Scott Minerd của Guggenheim Partners và Jeffrey Gundlach của DoubleLine Capital cũng đã cảnh báo rằng thị trường sẽ tiếp tục giảm điểm mạnh trong thời gian tới. Theo CIO Minerd của Guggenheim Partners, chỉ số S&P 500 có thể giảm xuống mức 1.650 điểm (đóng cửa phiên hôm qua chỉ số này ở mức 1.868 điểm) và giá dầu chỉ còn 20 USD/thùng do nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường và tìm tới những tài sản an toàn.

Trong khi đó Jeffrey Gundlach - người đồng sáng lập của quỹ DoubleLine - nhận định chỉ số S&P 500 sẽ kéo dài đà giảm điểm. “Nhà đầu tư nên tận dụng những phiên tăng điểm chớp nhoáng để bán ra”.

Thị trường đang tỏ ra hoài nghi về triển vọng lạm phát trong bối cảnh giá dầu đã mất khoảng 20% chỉ trong chưa đẩy 1 tháng và kinh tế Trung Quốc có nhiều dấu hiệu giảm tốc. Rất có thể Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ không thể đạt được mục tiêu lạm phát 2% và do đó khó có thể tuân theo lộ trình nâng lãi suất đã đề ra.

Nhận định về vấn đề này, Soros cho biết ông sẽ rất ngạc nhiên nếu như Fed nâng lãi suất 1 lần nữa sau động thái hồi tháng 12/2015. Thậm chí Fed còn đang đứng trước nguy cơ phải cắt giảm lãi suất, nhưng kể cả như vậy hiệu quả trong việc kích thích kinh tế sẽ không được như mong đợi.

Theo ông, Fed đã mắc sai lầm khi chờ đợi quá lâu và đã bỏ lỡ cơ hội. Khi Fed thay đổi lãi suất, giảm phát đã hình thành và người tiêu dùng không muốn chi tiêu vì họ hi vọng rằng có thể mua hàng hóa với giá rẻ hơn trong tương lai.

“2016 sẽ là một năm đầy khó khăn”, ông nói.

* “Hạ cánh cứng” là thuật ngữ phản ánh tình huống xảy ra khi nền kinh tế một nước nhanh chóng chuyển từ tăng trưởng cao sang tăng trưởng thấp, và sau đó là suy thoái.
Theo Trí thức trẻ/Bloomberg
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán

Share:

Goldman Sachs: Thị trường phản ứng thái quá trước vấn đề Trung Quốc

Vấn đề của Trung Quốc không chỉ là tình trạng nền kinh tế giảm tốc, mà còn là việc giới đầu tư có xu hướng phản ứng thái quá trước những tác động của vấn đề này lên toàn cầu, theo báo cáo của Goldman Sachs Group.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VqHDd0-AZFo
 “Chúng tôi tin rằng các thị trường tài chính phát triển dường như đang phản ứng thái quá trước tình trạng tăng trưởng trì trệ của Trung Quốc. Chúng tôi kết luận rằng, nền kinh tế và lĩnh vực ngân hàng của Trung Quốc có tác động trực tiếp và gián tiếp nhưng không phải là tác động lớn tới nền kinh tế và thị trường tài chính toàn cầu”, Sharmin Mossavar-Rahmani, giám đốc đầu tư tại Goldman Sachs Private Wealth Management cho biết.

Vấn đề rằng, thật khó để bắt thị trường, giới đầu tư phải bình tĩnh trước mỗi lo ngại không ngừng tăng lên về nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trung Quốc đang phải đối mặt với quá nhiều thách thức, từ tham nhũng cho tới số liệu kinh tế không đáng tin… Các chuyên gia của Goldman Sachs cho rằng, quốc gia này sẽ tiếp tục gây tác động bất ổn tới các thị trường đang nổi khác trong 5 năm tới. 
Bên cạnh đó, đội ngũ chuyên gia đầu tư tại Goldman Sachs còn cho thấy tác động của việc nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại đối với nền kinh tế thế giới đang bị “cường điệu hóa”, bằng cách thống kê tỷ trọng xuất khẩu tới Trung Quốc trên GDP. Theo đó, tại Mỹ, xuất khẩu hàng hóa tới Trung Quốc chỉ chiếm 0,7% GDP, con số này đối với các thị trường mới nổi vào khoảng 2,3% và riêng Hàn Quốc là 10,3%.
 5 thị trường mới nổi xuất khẩu nhiều nhất tới Trung Quốc
Lam Phong-ĐTCK/Theo Bloomberg

>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán
Share:

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2016

Đảo chiều cuối phiên, chứng khoán châu Á lại lao dốc

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VqDneE-AZFp
Sau khi chứng khoán châu Âu và Mỹ trải qua một phiên biến động mạnh, cơn “rung lắc” lại tiếp tục lan sang thị trường châu Á trong phiên hôm nay (21/1).

Đến cuối phiên sáng nay, sắc xanh vẫn bao trùm chứng khoán châu Á với gần như tất cả các chỉ số chính đều tăng điểm mạnh mẽ. Tuy nhiên, đến chiều nay cũng gần như tất cả các thị trường đều đã đảo chiều.

Chỉ số Nikkei 225 của chứng khoán Nhật Bản chào ngày mới với mức tăng 2% nhưng đã chuyển sang giảm điểm vào buổi chiều và mất 2,43% khi đóng cửa. Biểu đồ dưới đây thể hiện sự đảo chiều ngoạn mục của chỉ số Nikkei chỉ trong vài giờ giao dịch cuối cùng.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VqDneE-AZFp
Theo số liệu từ Reuters, tổng cộng trong tuần kết thúc vào ngày 16/1 nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng 358,3 tỷ yên sau khi bán 746,4 tỷ trong tuần trước đó.

Giống như khi chứng khoán Trung Quốc lao dốc, tâm trạng bất an lại lan ra toàn khu vực. Chứng khoán Trung Quốc cũng kết thúc một phiên giảm điểm với mức giảm 3,22%. Chỉ số Shanghai Composite đã chạm đáy thấp nhất kể từ tháng 12/2014, trong khi chỉ số Hang Seng rơi xuống mức thấp nhất 3 năm.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VqDneE-AZFp
Tú Anh
Theo Trí thức trẻ/BI, CNBC
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán


Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?