Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn chỉ số IQ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chỉ số IQ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

Tại sao thái độ quan trọng hơn là IQ?

Khi nói đến thành công, thật dễ dàng khi mọi người có suy nghĩ rằng những người may mắn có bộ não tốt hơn chắc chắn sẽ bỏ xa phần còn lại trong chúng ta. Nhưng nghiên cứu mới từ Đại học Stanford sẽ thay đổi suy nghĩ và thái độ của bạn.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.ViTEnm5mqsW
Nhà tâm lý học Carol Dweck đã dành toàn bộ sự nghiệp của mình nghiên cứu thái độ và hiệu suất làm việc. Theo nghiên cứu mới nhất của bà cho thấy: thái độ của bạn là một yếu tố dự báo tốt hơn về sự thành công của bạn hơn là chỉ số IQ.

Dweck thấy rằng thái độ cốt lõi của con người rơi vào một trong hai loại: tư duy cố định (a fixed mindset) hay tư duy tăng trưởng (a growth mindset)

Với những người có tư duy cố định, họ tin rằng họ là một người sinh ra đã như vậy, và họ không thể thay đổi. Suy nghĩ đó tạo ra vấn đề khi họ bị thách thức khả năng bởi bất cứ điều gì xuất hiện vượt quá tầm xử lý của họ. Điều này dẫn đến việc họ cảm thấy tuyệt vọng và choáng ngợp.

Những người có tư duy tăng trưởng tin rằng họ có thể cải thiện với sự nỗ lực. Họ thể hiện tốt hơn những người có một tư duy cố định, ngay cả khi họ có chỉ số IQ thấp hơn, bởi vì họ nắm lấy những thách thức, xem chúng như những cơ hội để học hỏi những điều mới mẻ.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.ViTEnm5mqsW
Thông thường chúng ta nghĩ rằng những người có khả năng như thông minh sẽ truyền cảm hứng cho sự tự tin. Đúng là như vậy nhưng điều đó chỉ diễn ra khi mọi việc có vẻ dễ dàng. Sự thật các yếu tố quyết định trong cuộc sống lại là làm thế nào để bạn xử lý những trở ngại và thách thức. Những người có tư duy tăng trưởng hoan nghênh những trở ngại với vòng tay rộng mở.

Theo Dweck, thành công trong cuộc sống là cách bạn đối phó với thất bại. Bà mô tả cách tiếp cận thất bại của những người có tư duy tăng trưởng như sau: “Thất bại là nguồn thông tin mà chúng ta đặt tên cho nó là –thất bại- Nó giống như: -Tôi là một người giải quyết vấn đề. Cách này không hiệu quả và tôi sẽ thử một cách khác!” Bất kể việc bạn đang rơi vào phần nào của biểu đồ trên, bạn vẫn có thể rèn luyện để thay đổi và phát triển tư duy tăng trưởng. Sau đây là những chiến lược sẽ tinh chỉnh tư duy của bạn, giúp bạn phát triển tư duy tăng trưởng:

1. Không cảm thấy bất lực và tuyệt vọng

Chúng ta luôn phải đối mặt với những thời điểm khiến mình cảm thấy bất lực. Nhưng điều quan trọng là cách chúng ta xử lý nó như thế nào. Chúng ta có thể học tập từ thất bại và tiến về phía trước hay để nó kéo chúng ta xuống vực.

Có vô số người nổi tiếng đã có thể không bao giờ thành công nếu họ không thể chống lại cảm giác bất lực: Walt Disney đã bị sa thải khỏi một tòa soạn vì ông "thiếu trí tưởng tượng và không có ý tưởng tốt", Oprah Winfrey đã bị sa thải khỏi công việc của mình khi là một người dẫn chương trình truyền hình ở Baltimore vì “đầu tư quá nhiều tình cảm vào câu chuyện của cô", Henry Ford đã có hai công ty xe hơi thất bại trước khi thành công với Ford, và Steven Spielberg đã bị từ chối bởi trường Nghệ thuật điện ảnh USC nhiều lần.

Hãy tưởng tượng những gì sẽ xảy ra nếu một trong số họ có tư duy cố định. Họ có thể đã qua đời vì bị từ chối và tuyệt vọng. Những người có tư duy tăng trưởng sẽ không cảm thấy bất lực và tuyệt vọng vì họ biết rằng để thành công, bạn cần phải sẵn sàng để thất bại nhưng sau đó sẽ bật lên mạnh mẽ hơn.

2. Hãy đam mê

Những người mạnh mẽ và quyền lực là những người theo đuổi đam mê của mình không ngừng nghỉ. Sẽ luôn có ai đó mà sinh ra đã tự nhiên tài năng hơn bạn. Nhưng những gì bạn thiếu ở tài năng có thể được bù đắp bằng sự đam mê của mình. Niềm đam mê sẽ dẫn lối cho những người mạnh mẽ theo đuổi quyết liệt sự xuất sắc. Warren Buffet khuyên nên tìm kiếm niềm đam mê đích thực nhất của bạn bằng cách sử dụng những gì ông gọi là kỹ thuật 5/25 : Viết ra 25 điều mà bạn quan tâm nhất. Sau đó gạch bỏ 20 điều dưới cùng. 5 điều phía trên còn lại là niềm đam mê đích thực của bạn. Mọi thứ khác chỉ đơn thuần là một sự xao lãng.

3. Hãy hành động

Không phải những người có tư duy tăng trưởng có thể vượt qua nỗi sợ hãi của họ vì họ dũng cảm hơn phần còn lại của chúng ta. Mà chỉ là họ biết sợ hãi và lo lắng đang làm tê liệt cảm xúc và cách tốt nhất để khắc phục tình trạng tê liệt này là phải hành động. Những người có tư duy tăng trưởng được trao quyền lực, và những người quyền lực biết rằng không có khoảnh khắc thật sự hoàn hảo để tiến về phía trước. Vì vậy tại sao phải chờ đợi? Hãy biến tất cả lo lắng của bạn về thất bại thành năng lượng tích cực và tập trung.

4. Cố gắng hơn nữa

Những người mạnh mẽ luôn cố gắng hơn sức ngay cả trong khoảnh khắc tồi tệ nhất của họ. Họ luôn cố gắng để đạt được cao hơn giới hạn của mình. Một đệ tử của Lý Tiểu Long cùng chạy mỗi ngày 3 dặm với ông. Một ngày nọ khi họ sắp hoàn tất quảng đường, Lý Tiểu Long bảo: “Hãy chạy thêm 2 dặm nữa!” Đệ tử của ông nói: “Tôi sẽ chết mất” – “Vậy cứ chết đi!” Ông đáp lại.

Sau khi hoàn thành 5 dặm, người đệ tử giận dữ và kiệt sức muốn biết lý do tại sao sự phụ lại bảo mình như thế. Lý Tiểu Long giải thích: “Bỏ cuộc và rồi ngươi cũng sẽ chết. Nếu ngươi luôn đặt giới hạn cho việc mình làm, dù là thể lực hay bất cứ gì khác thì rồi nó cũng sẽ lan truyền vào mọi mặt cuộc sống của ngươi. Nó sẽ lây lan vào công việc của ngươi, vào đạo đức của ngươi, vào toàn thể con người. Không có giới hạn! Có cao điểm, nhưng ngươi không ở lại đó; ngươi phải đi xa hơn. Nếu nó giết chết ngươi thì để nó giết chết ngươi. Một người đàn ông phải thường xuyên vượt qua giới hạn của mình!”

Nếu bạn không tốt lên một chút mỗi ngày thì không khác gì bạn đang tệ đi từng chút.

5. Mong đợi kết quả

Những người có tư duy tăng trưởng biết rằng họ có thể thất bại nhiều lần nhưng họ không bao giờ để điều đó cản trở việc mong đợi kết quả tốt. Mong đợi kết quả giúp bạn có động lực và cảm nhận được chu kỳ của quyền lực. Hơn nữa, nếu bạn không nghĩ rằng bạn sẽ thành công thì làm sao có thể thành công?

6. Hãy linh hoạt

Mọi người đều có lúc gặp nghịch cảnh không lường trước được. Nhưng những người có tư duy định hướng tăng trưởng nắm lấy nghịch cảnh như một phương tiện để cải thiện, họ đi ngược lại những khó khăn đang kéo họ lại phía sau. Khi một tình huống bất ngờ thách thức người được trao quyền lực, họ gồng cho đến khi họ có được kết quả tốt.

7. Không phàn nàn

Khi mọi thứ không đi theo cách của bạn mong muốn. Phàn nàn là một dấu hiệu rõ ràng của tư duy cố định. Một người có tư duy tăng trưởng tìm kiếm cơ hội trong mọi sự việc, vì vậy không có chỗ cho các phàn nàn, khiếu nại.

8. Kết hợp tất cả lại với nhau

Bằng cách theo dõi cách bạn phản ứng với những điều nhỏ bé, bạn có thể rèn luyện mỗi ngày để giữ cho mình ở phía bên phải của biểu đồ tư duy phía trên.
 Triệu Vân
Theo Trí Thức Trẻ 

Share:

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

Steve Jobs vs. Bill Gates: Khi hai thiên tài trở thành địch thủ

Cùng sinh năm 1955, bỏ học giữa chừng để khởi nghiệp và cùng đạt chỉ số IQ “ngất ngưởng” 160 - tức là ngang với nhà bác học Albert Einstein nhưng Steve Jobs và Bill Gates “ai cũng cho rằng mình thông minh hơn người kia”.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VhdeT25mqsW

Trên thế giới, người ta biết đến Bill Gates và Steve Jobs như những “cây đại thụ” trong lĩnh vực công nghệ. Trong khi tỷ phú Bill Gates là người sáng lập ra Microsoft, người tạo ra cuộc cách mạng máy tính cá nhân thì Steve Jobs lại chính là người mang đến iPhone cho nhân loại.

Tuy nhiên, có lẽ ít người biết rằng giữa 2 người đàn ông đại tài đó vốn luôn tồn tại một cuộc chiến tranh ngầm. Cùng sinh năm 1955, bỏ học giữa chừng để khởi nghiệp và cùng đạt chỉ số IQ “ngất ngưởng” 160 - tức là ngang với nhà bác học Albert Einstein. Tuy nhiên, trong cuốn tiểu sử Steve Jobs của Walter Isaacson, cựu nhân viên Andy Hertzfield của Apple tiết lộ rằng, Steve Jobs và Bill Gates “ai cũng cho rằng mình thông minh hơn người kia”.

“Hai kẻ thù chuyên nghiệp”

Dù xuất thân là một cậu bé thuộc tầng lớp lao động nghèo từ bang California nhưng Steve Jobs đã sớm bộc lộ tài năng thiên bẩm. 21 tuổi, ông đã cùng người bạn của mình là Wozniak (lúc này 26 tuổi) thành lập nên công ty Apple Computer trong gara ô tô nhà mình.

Chỉ trong 1 năm, họ đã cùng tạo nên tiếng vang cho công ty còn non trẻ với hai sản phẩm Apple 1 và Apple 2. Đến năm 1980, Jobs và Wozniak trở thành triệu phú. Họ đã phát triển công ty chỉ 2 người thành một công ty tầm cỡ quốc tế với cả ngàn nhân viên khắp toàn cầu.

Trong khi đó, với nền tảng xuất thân trong gia đình khá giả, hành trình khởi nghiệp của tỷ phú Bill Gates có phần dễ dàng hơn. Ngay từ khi còn nhỏ ông đã tỏ ra đam mê và có tài năng trời phú về lập trình.

Trong quá trình học tập ở Harvard, ông quen với Steve Ballmer và sau này 2 người đã cùng nhau tạo lập nên Microsoft. Thành công mang tính chất lịch sử của Microsoft có lẽ phải kể đến là Window - hệ điều hành từng có thời kỳ được cài đặt trên 90% số lượng máy tính toàn thế giới.
Dù cùng tham gia vào lĩnh vực công nghệ nhưng giữa Steve Jobs và Bill Gates lại có những quan điểm hết sức đối lập. Họ thậm chí công khai chỉ trích nhau với những lời lẽ hết sức kịch liệt.

Trong lần ban lãnh đạo Apple có ý định mua lại NeXT - công ty mà Steve Jobs thành lập sau khi mâu thuẫn nội bộ khiến ông bị “hất cẳng” ra khỏi Apple, Bill Gates đã nói với CEO Apple lúc đó là Amelio như sau: “Ngài nghĩ Jobs có gì trong đó? Tôi biết công nghệ của ông ta, chẳng có gì ngoài UNIX được tô vẽ lại và ngài sẽ không thể khiến nó hoạt động trên hệ thống của ngài. Chẳng lẽ ngài không hiểu Jobs không biết gì về công nghệ? Ông ta đơn giản chỉ là một tay bán hàng siêu hạng. Không thể tin ngài lại đưa ra một quyết định ngớ ngẩn đến thế. Ông ta chẳng biết gì về kỹ thuật, 99% những gì ông ta nghĩ và nói đều sai cả. Ngài mua đống rác đó làm gì vậy?"

Steve Jobs cũng không chịu thua, ông luôn cho rằng Bill Gates chưa thực sự phát minh ra bất cứ thứ gì và rằng "Bill Gates bòn rút ý tưởng của người khác một cách trơ trẽn”.

Ngoài ra, theo chính Wozniak - nhà đồng sáng lập Apple, người bạn thân thiết của Steve Jobs thì sự khác biệt lớn nhất giữa 2 người là Jobs sở hữu “tầm nhìn tương lai, có hơi hướng khoa học viễn tưởng”, trong khi Gates lại có năng lực xây dựng những thứ cần ngay, tạo dựng một công ty ngay, kiếm lợi nhuận ngay… trong ngắn hạn. Hiểu đơn giản là Jobs có thể tạo ra những sản phẩm thật sự cuốn hút người tiêu dùng, còn Bill Gates thì có tầm nhìn về xu thế của nền công nghệ tương lai.

Giai đoạn khác biệt điển hình trong suy nghĩ, tầm nhìn về chuyên môn của Steve Jobs và Bill Gates là vào năm 2007. Trong khi Steve Jobs một mực tin rằng PC sẽ vẫn là thiết bị nòng cốt trong thế giới số thì Bill Gates lại nói: “Tôi nghĩ bạn sẽ có một thiết bị với màn hình lớn để có thể mang theo đi khắp nơi. Bạn sẽ làm được nhiều thứ với nó hơn là chỉ đọc... Ý tôi muốn nói là tôi tin vào một thiết bị có hình thức như máy tính bảng... Và bạn sẽ có một thiết bị cất vừa trong túi với một loạt các chức năng kết hợp trong đó. Nó sẽ như là máy tính, thiết bị truyền thông, là điện thoại”.

Theo suy nghĩ đó, Bill Gates đã nhanh chóng tạo ra những chiếc máy tính bảng đời đầu từ những năm 2000 nhưng đáng tiếc nó vẫn bị gắn với hệ điều hành Windows. Trong khi đó, Steve Jobs cũng sớm nhận ra rằng Bill Gates đã đúng và máy tính bảng sẽ là tương lai của PC truyền thống.

Cùng với suy nghĩ cần phải tạo ra được trải nghiệm tốt nhất cho người dùng, Steve Jobs đã lần lượt tạo ra những sản phẩm iPhone, iPad với hệ điều hành riêng iOS. Chính điều này đã giúp Apple vươn xa và vượt lên trên cả Microsoft.

Microsoft đã thua lần đầu tiên không phải vì không biết đến xu thế của tương lai mà họ đã không tạo được văn hóa và những sản phẩm tốt như của Apple. Và một điều đáng ngạc nhiên, chính những gì ban đầu Apple từng làm "một thiết bị có phần cứng riêng, hệ điều hành riêng" đến gần 3 thập kỷ sau lại giành chiến thắng.

Cuộc gặp gỡ cuối cùng…

Luôn so sánh và dành cho nhau những lời nhận xét nặng nề như vậy. Tuy nhiên, trong một bài phỏng vấn với CBS News vào năm 2013, người ta đã thấy một khía cạnh rất khác trong mối quan hệ đầy phức tạp của Bill Gates và Steve Jobs.

Khi đó, Bill Gates đã kể về những kỉ niệm trong chuyến thăm Steve Jobs của ông những ngày cuối cùng của cuộc đời cố CEO Apple. Gates cho biết 2 người đã cùng nhau nói về rất nhiều chuyện, từ những thứ họ đã học được trong đời đến chuyện gia đình...
Bill Gates trong chương trình của CBS News nói về lần gặp gỡ cuối cùng với Steve Jobs:
Gates thừa nhận rằng Apple "đã kết hợp được những tính năng tốt và đưa nó lên tablet, còn Microsoft thì không". Khi người phỏng vấn hỏi Gates rằng "điều gì chỉ có ở Jobs mà ông mong muốn nhất", Bill Gates trả lời: "Đó chính là hiểu biết của Steve Jobs về thiết kế".

"Jobs biết cách kết hợp những thứ khác nhau vào trong một thiết kế thẩm mỹ nhất định. Có một sự thật là nền tảng kiến thức về kỹ thuật của Jobs không mạnh, nhưng điểm mạnh về thiết kế đã giúp cho ông ấy thành công".

Rõ ràng, sự đối địch giữa 2 thiên tài công nghệ đã không còn nữa, nhường chỗ cho những cảm xúc và kỷ niệm thật.

Trong những ngày Steve Jobs đang cận kề cái chết, Bill Gates đã tiết lộ ông từng viết một lá thư gửi tới Jobs: “Tôi kể cho Jobs về cách làm thế nào để ông ấy cảm thấy hài lòng về những gì đã làm và công ty mình xây dựng. Tôi viết về những đứa con của Jobs…”. Lá thư sau đó đã nhận được sự cảm kích vô cùng từ Steve Jobs và ông giữ nó bên mình trong những giây phút cuối cuộc đời.
 Tri Thức Trẻ

>> 50 bài học quản trị từ Jobs, Gates, Buffett và Branson
>> 10 lời khuyên tài chính vô giá từ Bill Gates 
>> 10 lời khuyên đầu tư tài chính từ Steve Jobs

Share:

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

Vì sao người Do Thái thông minh nhất thế giới?

Từ ngàn xưa, người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được.
Trong lịch sử, người Do Thái được biết đến là một sắc tộc tôn giáo có nguồn gốc từ Israel. Dù hiện nay người Do Thái sống rải rác tại nhiều quốc gia khác nhau, nhưng chỉ có Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái.

Dân số người gốc Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng gần 13,8 triệu người (khoảng hơn 0,19% dân số thế giới – số liệu năm 2013), tức là cứ khoảng 517 người thì có 1 người Do Thái. Thế nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy, có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0,19% dân số đảm nhiệm. Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch… đều là người Do Thái.

Vậy tại sao các thế hệ người Do Thái lại có được trí tuệ như vậy (chỉ số IQ trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới)? Trong cuốn “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu” có đưa ra lời giải thích cụ thể cho vấn đề này.

Vai trò của bà mẹ Do Thái 

Bà mẹ Do Thái dạy con từ khi mang thai. Các bà mẹ thường nghe nhạc, chơi đàn, hát và… làm toán cho đến khi sinh con ra. Các thai phụ làm vậy vì tin rằng cách đó sẽ làm đứa bé sau này trở nên thông minh. Người mẹ chọn ăn hạnh nhân, chà là, uống dầu cá và ăn cá nhưng tránh ăn đầu cá vì tin rằng tất cả điều đó sẽ giúp cho con trở nên thông thái.

Từ lúc còn ẵm ngửa đứa bé, bà mẹ đã tạo cho con thói quen thích sách bằng cách dùng mẹo nhỏ vài giọt mật lên cuốn sách và cho bé liếm. Khi đó, trong nhận thức non nớt của đứa trẻ, sách là cái gì đó rất ngọt ngào, hấp dẫn.

Ủy ban công nghiệp thành phố New York (Mỹ) có cuộc điều tra nguồn nhân lực vào năm 1950 và nhận thấy có sự khác biệt lớn về việc đi làm công nhân giữa phụ nữ Ý với phụ nữ Do Thái. Phụ nữ Ý thường phải đi làm và còn bắt con nghỉ học để đi làm phụ cha mẹ, các bà mẹ Do Thái thì ngược lại. Dù kinh tế khó khăn, họ vẫn ở nhà để nuôi dạy con, dồn hết trách nhiệm kiếm sống cho chồng - người ban ngày đi làm nhưng tối về có nghĩa vụ học và dạy cho con học.

Nhờ sự chăm sóc, động viên của cha mẹ mà học sinh Do Thái nổi tiếng trong trường về thành tích học tập và tính chuyên cần, khác hẳn với học sinh nhiều dân tộc khác. Vào năm 1954, hệ thống trường công của thành phố New York thống kê được 28 học sinh có chỉ số IQ cực cao lên tới 170 điểm, thì trong đó 24 là học sinh Do Thái. Ngoài ra, những người này còn quan niệm điểm không quan trọng bằng cách học, mà đã học thì phải hỏi. Chính vì vậy, học sinh Do Thái được khuyến khích đặt thật nhiều câu hỏi cho giáo viên.

Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái…

Hệ thống giáo dục phổ thông 

Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em gồm kinh doanh, toán học, khoa học. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biệt nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học.

Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái.

Xã hội Do Thái từ rất sớm đã coi trọng việc xóa mù chữ, sách và người có học thức

Dân tộc Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới - từ năm 64 đầu Công nguyên - mà nhà thờ quy định tất cả nam giới phải biết đọc viết và tính toán; sang thế kỷ thứ 2 thì bắt buộc mọi đàn ông phải có nghĩa vụ dạy con trai mình đọc, viết, tính toán. Như vậy họ đã thực hiện phổ cập giáo dục cho nam giới trước các dân tộc khác mười mấy thế kỷ.

Israel cũng là nước đứng đầu thế giới về dân số từ 14 tuổi đọc sách, đứng đầu về số đầu sách xuất bản theo đầu dân. Không một người Do Thái thành đạt nào lại không tranh thủ thời gian để đọc, để học, để làm giàu hiểu biết.

Như vậy, từ ngàn xưa người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được. Và đây nhân tố quan trọng giúp người Do Thái đạt được trí thông minh vượt bậc so với phần còn lại của thế giới.
Theo Trí Thức Trẻ


Share:

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015

Khi thiên tài thất bại

Để thành công trên thị trường chứng khoán, thì cái mác “thiên tài” vẫn không đủ.

Bài học từ sự phá sản của quỹ đầu tư khổng lồ Long-Term được dẫn dắt bởi những thiên tài và hai trong số đó từng đoạt giải Nobel đã gióng hồi chuông cảnh báo về công việc nguy hiểm là dự đoán thị trường chứng khoán. Qua đó, thất bại này còn nhấn mạnh tầm quan trọng của “chìa khóa thành công” trong lĩnh vực đầu tư: khuôn mẫu trí tuệ.

Nhà đầu tư Warren Buffett từng viết: “Việc đầu tư thành công trong cuộc đời không đòi hỏi một chỉ số IQ cao chót vót, tầm hiểu biết kinh doanh sâu sắc khác thường hay thông tin nội bộ. Những gì cần có là một khuôn khổ trí tuệ sáng suốt để đưa ra quyết định và khả năng khiến cho cảm xúc không phá hủy nền tảng đó. Bạn phải tự đưa ra kỷ luật cho cảm xúc.”

Để trở thành một nhà đầu tư thông minh, chỉ số IQ cao hay có được nền giáo dục tốt hơn đều không đủ. Dẫn chứng là sự thất bại của công ty quỹ đầu tư Long-Term Capital Management L.P vào năm 1998.

Nhìn vào hồ sơ và thành tích của các nhà quản lý quỹ Long-Term, chúng ta sẽ tự hỏi ngoài tầm hiểu biết kinh doanh khác thường và chỉ số IQ cao thì chỉ số nào đóng vai trò quan trọng để chiến thắng thị trường chứng khoán.

Và câu trả lời đã được đưa ra bởi nhà hiền triết xứ Omaha, bạn phải hình thành được kỷ luật về cảm xúc. Bài học từ sự thất bại của các thiên tài tại quỹ LTP càng củng cố rằng để trở thành nhà đầu tư thông minh thì phẩm chất của tính cách quan trọng hơn là bộ não.

Đế chế Long-Term Capital Management L.P sụp đổ

Qũy đầu tư Long-Term được điều hành bởi một tiểu đoàn các nhà toán học, các nhà khoa học máy tính và hai nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel đã mất hàng tỷ đô la vốn trong một thời gian ngắn vì một vụ cược khổng lồ rằng thị trường trái phiếu sẽ trở lại “bình thường”. Nhưng mọi tính toán của các thiên tài tại đây đều trật bánh răng và Long-Term đã vay nhiều tiền để rồi mất nhiều đến nỗi sự phá sản của công ty đã ảnh hưởng lớn lên hệ thống tài chính quốc tế.

Công ty được thành lập năm 1994 bởi John Meriwether, nguyên tổng giám đốc của Tập đoàn buôn bán chứng khoán Salomon Brothers. Vốn ban đầu của công ty là 1,25 tỷ đô la, được huy động chủ yếu nhờ uy tín và sự hỗ trợ của hai đối tác quan trọng là các nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel: Robert Merton và Myron Scholes.

Ban đầu, công ty đã hoạt động rất tốt, kiếm được lợi nhuận cao từ việc để vốn vào trái phiếu được bảo đảm. Hệ thống đầu tư này được Long-Term tuân thủ rất chặt chẽ và mức lợi nhuận 50% trên vốn trong năm đầu hoạt động là minh chứng rằng lĩnh vực trái phiếu nằm trong phạm vi năng lực của họ.
Công ty tiếp tục phát triển cho đến năm 1997, dù đã thanh toán cổ tức cho các nhà đầu tư, lượng tiền mặt dồi dào đã thúc đẩy các nhà quản lý tại đây bắt đầu bước ra khỏi vùng an toàn của mình. Bên cạnh đó, lãi suất từ trái phiếu bắt đầu giảm, trong khi những nơi khác tại Phố Wall hồ hởi vì đang thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ. Điều này càng làm các nhà quản lý tại Long-Term nóng lòng và vội vã trong việc tìm kiếm nguồn lợi nhuận mới.

Là những người có bằng tiến sĩ về kinh tế học hay tài chính, được hỗ trợ bởi những thiên tài từng đoạt giải Nobel, Long-Term bắt đầu xây dựng những mô hình vi tính hóa về lĩnh vực trái phiếu và khai thác những khía cạnh thiếu hiệu quả của thị trường này.

Nhưng thành công chớp nhoáng trước đó, những khoản lợi nhuận lớn đã gây hại cho công ty. Long-Term bắt đầu chủ quan và quyết định nhảy vào những lĩnh vực khác không nằm trong phạm vi sở trường của mình.

Long-Term mở rộng lĩnh vực kinh doanh bằng cách buôn bán tiền tệ trên các thị trường như Nga, Brazil và còn mở rộng cả việc buôn bán các hợp đồng tùy chọn, đầu cơ. Thậm chỉ, công ty còn “bán non” cổ phiếu của Berkshire Hathaway, và Warren Buffett đã khiến họ mất khoản 150 triêu đô la.

Qúa tự tin vào năng lực của mình và phớt lờ mọi cảnh báo, Long-Term, với độ chính xác trong toán học cùng niềm tin không thể mắc sai lầm, các nhà quản lý đã dự đoán trong tương lai thị trường sẽ bùng nổ. Long-Term đã cá cược rất nhiều số vốn của quỹ.

Cuối cùng, trái bóng Long-Term đã nổ tung vào tháng 8/1998, khi Nga không trả được nợ và các thị trường trở nên hỗn loạn. Sau khi tăng từ 1,25 tỷ đô la lên 5 tỷ đô la trong vòng bốn năm, thì vào tháng 10/1998, Long-Term đã phá sản.

Sai lầm đầu tiên của Long-Term là đã vượt ra khỏi phạm vi năng lực của mình. Nhưng điều đó cũng hẳn là sai nếu công ty quyết định mở rộng phạm vi năng lực bằng cách học hỏi, kiểm soát cảm xúc và thử nghiệm hệ thống trước khi nhảy cả hai chân vào.

Sự thất bại của Long-Term được quản lý bởi những “thiên tài” kinh tế không hẳn do thiếu năng lực hay thiếu may mắn. Những nhà quản lý tại công ty đã rất thành công trong vai năm đầu với phạm vi đầu tư ở mảng trái phiếu. Nhưng cái các “thiên tài” này còn thiếu, như Buffett từng nhấn mạnh, là một khuôn khổ trí tuệ chuẩn mực để không bị cảm xúc phá hủy.
(Theo Tri Thức Trẻ)

>> 7 gợi ý làm giàu từ Warren Buffett
Share:

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

Khám phá điểm chung chỉ có ở những người tài giỏi

Làm việc 10 tiếng/ngày, thường xuyên nói “Không”, kiên trì đến mức lì lợm… là những điều bạn chỉ gặp ở vĩ nhân và những người thành công trong cuộc sống.

Warren Buffett, Bill Gates hay Mark Zukerberg... là những cái tên nổi danh toàn cầu bởi sự thành công vang dội trong sự nghiệp của họ. Từ đôi bàn tay trắng, họ xây dựng nên những đế chế khổng lồ và trở thành vĩ nhân mà mọi người đều ngưỡng mộ, noi gương. 

Và hầu như tất cả chúng ta đều từng đặt ra câu hỏi, dù khác nhau nhưng vì sao họ lại cùng có được thành công như vậy? Theo các nhà khoa học, đó là bởi họ cùng sở hữu những điểm chung mà người thường chưa làm được.

1. Làm việc như con ong chăm chỉ

Trong cuốn sách How Artists Work, tác giả Mason Currey đã tiến hành khảo sát khoảng 150 nhà văn, nghệ sĩ và nhà khoa học có tiếng. Kết quả chung mà ông nhận thấy giữa họ, đó chính là nhịp độ làm việc liên tục mà không biết mệt là gì.

Khám phá điểm chung chỉ có ở những người tài giỏi 1
Đồng tình với quan điểm trên, giáo sư Jeffrey Pfeffer sau nhiều năm nghiên cứu những vĩ nhân của thế giới cho biết, 60 – 65 giờ làm việc mỗi tuần (tương đương gần 10 tiếng/ngày) đối với họ là chuyện nhỏ. 

Với những người thành công, họ sẵn sàng và yêu thích làm việc nhờ nguồn năng lượng nội sinh vô cùng bền bỉ. Chính khả năng này góp phần tạo nên thành tựu phi thường trong cuộc đời của họ.

Khám phá điểm chung chỉ có ở những người tài giỏi 2
Mihaly Csikszentmihalyi – tác giả cuốn Creativity chia sẻ thêm, nếu cho rằng người có IQ càng cao càng thành công thì bạn đã nhầm. Trên thực tế, những vĩ nhân trên thế giới không ai có IQ dưới mức 130. Tuy nhiên khi vượt trên mức này thì người IQ 200 vẫn thất bại như thường nếu không có sự chăm chỉ.

2. Thường xuyên nói “Không!”

Theo Csikszentmihalyi, mọi thành công đều cần có sự tập trung cao độ. Vì vậy, người thành đạt luôn biết cách nói “Không” với những phiền nhiễu gây ảnh hưởng tới sự nghiệp của họ. 

Khám phá điểm chung chỉ có ở những người tài giỏi 3
Bạn sẽ thấy rất hiếm khi những người này đi chơi, mua sắm hay tán gẫu với bạn bè hàng tối ngoài quán bar…

Csikszentmihalyi cũng từng kể lại, trong quá trình viết nên cuốn Creativity, ông đã tìm tới rất nhiều người nổi tiếng và thành đạt với mong muốn đưa họ vào cuốn sách của mình. Tuy nhiên, phần lớn họ đều từ chối vì bận bịu với những dự án của riêng bản thân.

Khám phá điểm chung chỉ có ở những người tài giỏi 4
Chính tỷ phú nổi tiếng Warren Buffett cũng từng nói “Sự khác biệt giữa những người thành công và những người rất thành công là những người rất thành công nói ‘không’ với gần như tất cả mọi thứ!”.

3. Thích tạo ra may mắn

Những vĩ nhân trên thế giới đều không tin may mắn chỉ là sự ngẫu nhiên. Thay vào đó, họ luôn cố gắng để tạo ra “may mắn” cho bản thân.

Khám phá điểm chung chỉ có ở những người tài giỏi 5
Thực tế, các nghiên cứu khoa học cũng chỉ ra may mắn là điều con người kiểm soát được. Trong cuốn Luck Factor, nhà nghiên cứu Richard Wiseman đã chỉ ra, chính hành động và cách ứng xử hàng ngày sẽ quyết định bạn có may mắn hay không. 

Theo ông, những vĩ nhân duy trì các thói quen tốt và biết cách đối nhân xử thế nên họ tạo ra được nhiều cơ hội cho bản thân - thứ mà những người bình thường cho rằng đó là “may mắn”.

Khám phá điểm chung chỉ có ở những người tài giỏi 6
Để kiểm chứng kết luận này, Wiseman thậm chí còn mở lớp học dạy “may mắn” và phân tích kết quả dựa trên sự thay đổi của các học viên trong lớp này. Thật đáng ngạc nhiên, 80% học viên thừa nhận cuộc sống họ vui vẻ và may mắn hơn trước rất nhiều nhờ vào các kĩ năng được rèn luyện và đào tạo.

4. Kiên trì đến lì lợm

Thông minh và sáng tạo là hai yếu tố tạo nên thành công - nhưng chúng không phải yếu tố quan trọng nhất. Theo các nhà khoa học, sự kiên trì tới mức lì lợm mới thực sự là chìa khóa mở cánh cửa bước vào ngôi đền vĩ nhân.

Khám phá điểm chung chỉ có ở những người tài giỏi 7
Chuyên gia Daniel Pink trong cuốn "Drive: The suprising truth about what motivates us" cho hay, kiên trì tuy là khái niệm khó xác định nhưng lại góp phần quan trọng hơn cả chỉ số IQ trong việc đánh giá sự thành công của một con người.

Khám phá điểm chung chỉ có ở những người tài giỏi 8
Các vĩ nhân đặc biệt ở chỗ, họ kiên trì và đam mê theo đuổi những mục tiêu dài hạn. Theo nhà nghiên cứu Howard Gardner, họ yêu thất bại nhiều khi còn hơn cả sự thành công và điều này được kiểm chứng trong chiều dài lịch sử. 

Isaac Newton, Albert Einstein hay thậm chí Bill Gates, Warren Buffett đã không ít lần vấp ngã trước khi có được sự nghiệp lẫy lừng, vang dội. 

5. Luôn có một “cố vấn” bên cạnh

Thực tế đã chứng minh, con người không thể sống đơn độc hay một mình để thành công. Trên con đường trở nên vĩ đại, những người nổi tiếng luôn tìm cho mình một quân sư bên cạnh.

Khám phá điểm chung chỉ có ở những người tài giỏi 9
Lý giải thói quen này, giáo sư Adam Grant thuộc Wharton Business School danh tiếng cho rằng: những người thành công nhận ra được giá trị của việc học tập và thời gian. 

Khám phá điểm chung chỉ có ở những người tài giỏi 10

Vì vậy, để tiết kiệm thời gian học tập nhưng vẫn đem lại kết quả thực tế, họ chọn cách học từ các cố vấn, quân sư của mình. Phương pháp này giúp việc trau dồi kiến thức trở nên nhẹ nhàng, thú vị và hấp dẫn hơn.

Nguồn: Bakadesuyo
Share:

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

Cần phải thông minh bao nhiêu để thành công?

Điều gì dẫn đến một thiên tài sáng tạo? Liệu Picasso và Mozart có sử dụng trí thông minh siêu phàm của họ để tạo ra những tác phẩm vĩ đại hay không? 
Một câu hỏi tương tự là…

Cần phải thông minh bao nhiêu để trở thành một doanh nhân thành công? Cần phải trải qua bao nhiêu khóa huấn luyện để trở thành một vận động viên thành công? Hay chương trình giảm cân hoàn hảo nào cần để đốt cháy được năng lượng trong cơ thể?

Đây là những câu hỏi mà chúng ta thường ít khi thắc mắc nhưng lại luôn tin tưởng và hành động theo rất nhiều cách khác nhau. Chúng ta thường nghĩ lý do không thành công là bởi không tìm ra chiến lược chính xác hoặc bởi chúng ta không sinh ra với những tài năng vượt trội.

Điều này có thể là sự thật. Hoặc có thể nằm ở một trong những vấn đề được nêu dưới đây:

Những manh mối

Vào năm 1921, có một nhà tâm lý học đến từ Đại học Stanford có tên là Lewis Terman đã thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu không giống với bất kỳ nghiên cứu nào trước đó.

Terman bắt đầu tìm kiếm 1.000 sinh viên thông minh nhất tại California (Mỹ) đạt cấp 3 và cấp 8 trong thang đo chỉ số IQ. Sau rất nhiều lần kiểm tra và nghiên cứu, Terman thu thập được mẫu cuối cùng gồm 856 sinh viên nam và 672 nữ. Những đứa trẻ này được gọi là “The Termites”.

Terman và các cộng sự bắt đầu kiểm tra các sinh viên này bằng rất nhiều cách. Họ theo dõi IQ, thống kê xem bao nhiêu quyển sách các sinh viên có tại nhà, xem xét lịch sử bệnh lý của từng người và rất nhiều cách khác nữa. Tuy nhiên, đây chỉ là những bước bắt đầu.
Vậy điều gì khiến nghiên cứu của Terman trở thành độc nhất? Đó là bởi đây là nghiên cứu theo chiều dọc đầu tiên được thực hiện, nghĩa là Terman tiếp tục theo dõi và kiểm trả những đối tượng nghiên cứu trong nhiều năm sau đó.

Nghiên cứu hiện tại nổi tiếng với tên gọi “Genetic Studies of Genius”, thu thập dữ liệu từ những sinh viên thông qua toàn bộ cuộc sống của họ. Terman thu thập thêm dữ liệu vào những năm 1928, 1936, 1940, 1945, 1950 và 1955. Sau khi Terman chết vào năm 1956, các đồng nghiệp của ông ấy tiếp tục theo dõi The Termites vào năm 1960, 1972, 1977, 1982 và 1986.

Tổng kết lại, nghiên cứu bắt đầu với một nhóm sinh viên thông minh nhất trong toàn bang California và sau đó theo dõi thành công của họ trong suốt cuộc sống. Vài thập kỷ sau đó, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một số điều hết sức thú vị.

Lý thuyết ngưỡng

Khám phá đáng ngạc nhiên nhất đến từ nghiên cứu của Terman được miêu tả: “Mặc dù nhiều người tiếp tục đánh đồng sự thông minh với thiên tài, một kết luận quan trọng của Terman cho thấy có chỉ số IQ cao không đồng nghĩa với việc có chỉ số sáng tạo cao”. Những nghiên cứu tiếp theo bởi các nhà nghiên cứu khác đã củng cố thêm kết luận của Terman, dẫn tới “lý thuyết ngưỡng”.

Lý thuyết này cho rằng ở mức cao hơn mức hiện tại, sự thông minh không có nhiều ảnh hưởng tới sự sáng tạo. Hầu hết những người sáng tạo đều khá thông minh nhưng họ không phải bắt buộc thông minh, ít nhất là theo sự đo lường bởi bài kiểm tra sự thông minh thông thường. “Một người có chỉ số thông minh 120 cho thấy họ rất thông minh nhưng không thể kết luận họ là một tiên tài sáng tạo”.

Hãy nhớ tới câu hỏi ban đầu của bài báo là: “Liệu Picasso và Mozart có sử dụng trí thông minh siêu phàm để tạo ra những kiệt tác hay không?”.

Theo như “Lý thuyết ngưỡng” thì câu trả lời dường như là không. Đứng trong top 1% những người thông minh nhất không tương quan với sự sáng tạo tuyệt vời. Hơn thế, có một ngưỡng tối thiểu của sự thông minh mà bạn cần có và sau đó bạn cần tiếp tục luyện tập và phát triển các kỹ năng.

Lý thuyết ngưỡng xuất hiện hàng ngày trong cuộc sống

Nếu nhìn quanh, bạn sẽ thấy “Lý thuyết ngưỡng” áp dụng trong rất nhiều phần của cuộc sống. Thành công hiếm khi đơn giản như chúng ta vẫn nói là “chỉ cần chăm chỉ là đủ”. Có một nguyên tắc cơ bản: Có một ngưỡng tối thiểu về năng lực mà bạn cần để phát triển trong bất kỳ nỗ lực nào.

Sau cùng, sự khác biệt giữa những người chăm chú vào công việc và những người bị phân tâm. Một khi bạn đã nắm bắt được những điều cơ bản phải làm, nó sẽ trở nên phù hợp để làm những điều đúng đắn thường xuyên hơn. Một khi bạn hiểu những nguyên tắc cơ bản, nó sẽ trở thành thói quen.
 Theo Infonet
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?