Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn nhà lãnh đạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhà lãnh đạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

3 thói quen xấu "tàn phá" doanh nghiệp của bạn

Thành công hay thất bại trong kinh doanh cũng như cuộc sống phụ thuộc rất nhiều vào những thói quen hàng ngày của bạn.


Học theo những thói quen của các doanh nhân thành công, bạn sẽ có cơ hội đạt được thành công tương tự. Có hàng trăm thói quen cá nhân và nghề nghiệp giúp bạn tạo dựng doanh nghiệp thành công, nhưng thật không may có vài thói quen xấu ăn sâu đến mức vô cùng khó để loại bỏ.

Dưới đây là những thói quen xấu có thể tàn phá công việc kinh doanh của bạn.

1. Chú ý đến câu chuyện chứ không phải sự kiện và sự thật

Hai tuần trước, bạn nói với nhân viên bán hàng tốt nhất của bạn rằng doanh số bán của cô ấy giảm đôi chút và cô ấy cần nỗ lực để đẩy doanh số bán lên.

Kể từ thời điểm đó, cô ấy không tham dự các cuộc họp hàng tuần về việc bán hàng. Câu chuyện bạn tự nói với mình trong đầu là cô ấy tức giận và có thể đang tìm công việc khác ở một hãng nào đó. Bạn đang tự kể với mình rằng cô ấy không còn quan tâm đến các cuộc họp của bạn nữa.

Đó là câu chuyện và thật may chúng không đúng chút nào.

Sự thật là bạn đã bảo với nhân viên bán hàng rằng cô ấy cần phải tăng doanh số và cô ấy đã không tham gia 2 cuộc họp hàng tuần. Rất dễ nhầm lẫn những câu chuyện chúng ta tự nói với mình với sự thật của tình huống.

Các câu chuyện tạo ra cảm xúc - khiến chúng ta phản ứng, và những phản ứng này được dựa vào kết luận rút ra từ suy luận sai lầm. Việc trở thành một nhà lãnh đạo hiệu quả yêu cầu bạn phải phá bỏ thói quen kể chuyện thường diễn ra trong đầu. Thay vào đó, tách biệt sự thật ra khỏi những câu chuyện và đưa ra quyết định dựa vào những gì bạn biết chắc đó là sự thật.

2. Bạn chỉ tin vào những gì bạn tin


Thông thường những gì bạn tin về một điều gì/sự việc nào đó được in sâu vào tâm trí bạn bởi những người khác trong suốt cuộc đời bạn.

Việc tạo dựng doanh nghiệp yêu cầu bạn phải cải tiến, cải tổ, điều này có nghĩa rằng bạn phải hoài nghi mọi niềm tin bạn có.

Tony Hsieh - giám đốc điều hành Zappo, cửa hàng giầy dép quần áo trực tuyến trụ sở tại Las Vegas, Navada, không tin rằng mọi người sẽ không bao giờ mua giầy trên internet vì họ không thể thử được, do vậy, Zappos ra đời.

Steve Jobs không tin rằng một chiếc điện thoại có thể chỉ là chiếc điện thoại. Ông tin rằng nó phải là một chiếc máy tính, một chiếc máy ảnh và máy nghe nhạc.
Một trong những thói quen khó phá vỡ nhất là tin những gì bạn được chuẩn bị để tin trong suốt cuộc đời. Nếu bạn có thể phá vỡ thói quen này, chưa thể nói được doanh nghiệp của bạn sẽ thành công đến mức nào.

3. Bạn phớt lờ những lời phê bình


Cần có bản ngã lành mạnh để tạo dựng một đế chế. Để tạo dựng doanh nghiệp tầm cỡ như Virgin bạn cần tin rằng bạn hoàn toàn có thể và hành động.

Điều này có nghĩa rằng một trong những thói quen khó phá vỡ nhất là tin rằng bạn giỏi hơn bạn nghĩ và cảm nhận. Khi một nhân viên hay một khách hàng nói với bạn rằng sản phẩm, dịch vụ hay thái độ của bạn dở tệ, thật dễ để quay lại những thói quen cũ và bảo vệ danh tiếng của doanh nghiệp mà bạn đã tốn công gây dựng.

Bạn có 500 khách hàng tuyệt vời và một khách hàng thực sự khó chịu. Thật dễ để loại bỏ phản hồi tiêu cực này trong đầu bạn, nhưng nếu bạn phá vỡ được thói quen phớt lờ những lời chỉ trích và phê bình, đây sẽ là cơ hội tốt để học được nhiều hơn từ một phản hồi tiêu cực so với 500 phản hồi tích cực cộng lại.
(Theo Entrepreneur/NCĐT)

Share:

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2015

21 nguyên tắc để trở thành nhà lãnh đạo tài năng

Cuốn sách “The 21 Irrefutable Laws of Leadership - Follow Them and People Will Follow You” (dịch là 21 luật không thể tranh cãi về tài năng lãnh đạo - Áp dụng chúng và mọi người sẽ đi theo bạn) viết về nghệ thuật lãnh đạo.

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VjAeWG6fdFq

Theo tác giả - diễn giả, mục sư người Mỹ John C.Maxwell (ảnh trên), khi chúng ta thực hiện được 21 nguyên tắc này, chúng ta sẽ thật sự thành công trong việc lãnh đạo. Và khi đó chúng ta sẽ tạo ảnh hưởng sâu sắc đến những người khác. Họ sẽ tự nguyện đi theo sự lãnh đạo của chúng ta.

Và đây là tóm tắt 21 nguyên tắc ấy, trong đó luật số 5(*) và 13(*) là 2 luật tác giả bổ sung cho những lần xuất bản mới:

Luật số 1: Luật nắp chặn. Tài năng lãnh đạo xác định mức độ thành công.

Luật nắp chặn cho chúng ta thấy giá trị của tài năng lãnh đạo. Tài năng lãnh đạo của một người cao thì hiệu quả công việc của người đó cao. Tài năng thấp thì hiệu quả cá nhân thấp. Không có ngoại lệ.

Hai anh em Dick McDonald và Maurice McDonald có tài kinh doanh nhà hàng. Đầu tiên, họ thành công trong việc cung cấp bữa ăn cho những người khách ngồi trên xe hơi. Sau đó họ phát triển thành hệ thống nhà hàng bán hamburger rất phát đạt.

Tuy vậy, hai anh em nhà McDonald đã không thành công trong việc phát triển nhượng quyền cho hệ thống nhà hàng McDonald’s. Họ làm việc chăm chỉ, có đủ quyết tâm, có tài, thông minh và sở hữu nguồn tài chính vững vàng, nhưng họ thiếu điều quan trọng nhất: tài năng lãnh đạo.

Cho đến khi Ray Kroc - một thương nhân và một nhà lãnh đạo tài năng - mua lại McDonald’s và trực tiếp điều hành việc phát triển nhượng quyền thì McDonald’s mới trở thành một tên tuổi nhượng quyền lớn.

Chính tầm nhìn và kỹ năng lãnh đạo của Ray Kroc đã biến hệ thống McDonald’s thành một hiện tượng nhượng quyền thành công vượt bậc.

Hiệu quả cá nhân là tích của 2 thừa số. Thừa số 1: tài năng lãnh đạo; thừa số 2: những yếu tố đóng góp cho thành công.

Do đó nếu những yếu tố đóng góp cho thành công cao, nhưng tài năng lãnh đạo thấp thì hiệu quả cá nhân cũng không thể cao được.

Để đạt hiệu quả cá nhân cao, chúng ta cần tăng cả hai thừa số. Và nói một cách khác, tài năng lãnh đạo là một nút chặn, một mức trần xác định hiệu quả cá nhân của mỗi chúng ta.

Một ví dụ khác để minh họa tầm quan trọng của tài năng lãnh đạo: Công ty Global Hospitality Resource của ông Stephenson chuyên mua lại các khách sạn và khu nghỉ dưỡng kém hiệu quả. Lần nào mua xong một doanh nghiệp, ông cũng đào tạo toàn bộ nhân viên, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, và sa thải các lãnh đạo cũ với lý do “nếu họ là lãnh đạo giỏi thì hoạt động kinh doanh đã không tồi tệ như vậy”.

Cách thực hiện của Don Stephenson có hơi cự đoan nhưng nó thể hiện rõ luật số 1: tài năng lãnh đạo quyết định hiệu quả công việc.

Luật số 2: Luật ảnh hưởng. Thước đo chính xác nhất của tài năng lãnh đạo chính là sự ảnh hưởng.

Chúng ta thường hay ngộ nhận về vị trí quản lý và người lãnh đạo. Chúng ta hay cho rằng nhà quản lý, doanh nhân, nhà khoa học, trí thức, người đứng đầu, người có chức vụ... là nhà lãnh đạo. Điều này chưa chắc đúng.

Những người này dù có vị trí chính thức, hay rất giỏi trong công việc chuyên môn nhưng chưa chắc họ là nhà lãnh đạo. Họ chỉ thật sự trở thành nhà lãnh đạo khi họ có khả năng ảnh hưởng lên người khác và làm cho người khác đi theo sự lãnh đạo của họ.

Không ảnh hưởng được đến người khác, không có ai đi theo thì dù có là quản lý cấp cao, hay có bất cứ chức danh nào khác, chúng ta vẫn chưa phải là nhà lãnh đạo.

Không phải nhờ vị trí Công nương, mà chính sức hấp dẫn và sự ảnh hưởng của cá nhân mình mà Diana đã thành công trong việc thuyết phục rất nhiều người, kể cả chính phủ tham gia vào các chương trình như: nghiên cứu bệnh AIDS, chăm sóc những người bị bệnh phong cùi, và chống việc rải bom mình.

Cuộc trưng cầu của tờ London Daily Mail tổ chức năm 1996 về “người đáng mến nhất thế giới” đã xác nhận sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Công nương Diana.

Mặc dù có chức vụ chính thức, nhưng vì không có kinh nghiệm về chỉ huy và không tạo được sự ảnh hưởng, Đại uý Abraham Lincoln đã không thành công khi lãnh đạo đạo quân của mình. Thế nhưng trong vai trò chính trị gia và sau này là Tổng thống, ông đã rất thành công. Đó là vì ông đã học được bài học kinh nghiệm, trở thành người có tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến mọi người.

Luật số 3: Luật tiến trình. Tài năng lãnh đạo phát triển hằng ngày, chứ không phải trong một ngày.

Cuộc đời của Tổng thống Theodore Roosevelt là một ví dụ minh họa cho luật tiến trình.

Khi còn nhỏ, ông bị bệnh hen suyễn, thị lực yếu, và rất gầy. Cha ông đã nói với ông rằng con có cái đầu nhưng không có cái thân thì cũng khó làm gì được.

Từ đó ông rèn luyện thể lực song song với việc trau dồi trí tuệ bằng cách tập nhiều môn thể thao khác nhau và ngày càng tiến bộ.

Khi tốt nghiệp đại học Harvard ông đã trở thành “một người khác” chứ không còn khiếm khuyết như cha ông đã từng lo nữa. Và sau đó, ông tiếp tục phát triển bản thân và tiến từng bước vững chắc về tương lai.

Ông đã vượt qua mọi chông gai để đến với cương vị tổng tống, và đã làm được nhiều điều vĩ đại cho nước Mỹ.

Ở bất kỳ vị trí nào, ông cũng luôn tiếp tục học hỏi, trau dồi bản thân và nâng cao tài năng lãnh đạo.

Khi Theodore Roosevelt mất,người Anh Hugh Brogan từng nói về ông như sau: “Người đứng đầu Nhà Trắng giỏi nhất sau Lincoln, giàu sức sống nhất sau Jackson và ham đọc sách nhất sau John Quincy Adams”.

Tài năng lãnh đạo không thể phát triển trong một ngày mà là quá trình phát triển của cả cuộc đời. Khả năng phấn đấu, học tập bền bỉ để phát triển và nâng cao tài năng của mình là đặc trưng của những người lãnh đạo.

Quá trình học hỏi của người lãnh đạo được chia làm 5 giai đoạn: (1) Tôi không biết những gì tôi không biết; (2) Tôi biết những gì tôi cần biết; (3) Tôi biết những gì tôi không biết; (4) Tôi biết, tôi phát triển, và bắt đầu thể hiện; (5) Tôi phát triển dễ dàng nhờ vào những gì tôi biết.

Ở giai đoạn 5, những gì chúng ta đã bỏ công sức phát triển, học hỏi - theo Luật tiến trình - bắt đầu đem lại thành quả.
Luật số 4: Luật thuyền trưởng. Ai cũng có thể lái tàu, nhưng không phải ai cũng có thể là thuyền trưởng và vạch ra hành trình.

Lái tàu khó nhưng không quá khó. Việc khó hơn là lập hành trình đúng cho con tàu để con tàu vượt qua những chướng ngại và về đến bến thành công. Đó là công việc của người thuyền trưởng - nhà lãnh đạo.

Bí quyết quan trọng nhất của luật thuyền trưởng là sự chuẩn bị. Công thức chuẩn bị của tác giả: “Xác định những kế hoạch hành động, vạch ra mục tiêu, điều chỉnh những ưu tiên, chia sẻ thông tin với những nhân vật chủ chốt khác và nhận được sự chấp nhận của họ, đi thẳng tới hành động, dự kiến khó khăn, luôn hướng về thành công, xem xét lại bản kế hoạch hằng ngày”.

Luật số 5: Luật được lắng nghe. Khi nhà lãnh đạo thực thụ lên tiếng, người khác lắng nghe.
Khi người lãnh đạo thực thụ lên tiếng, người khác lắng nghe. Nếu chúng ta nói và người khác không nghe thì chúng ta chưa phải là lãnh đạo thật sự.

Khi mẹ Teresa nói chuyện, tất cả mọi người chăm chú lắng nghe. Khi Alan Greenspan phát biểu trước Quốc hội, mọi người đều lắng nghe. Khi Martin Luther King Jr. diễn thuyết, cả người da trắng và người da đen đều lắng nghe. Họ là những nhà lãnh đạo thực thụ.

Người có chức quyền, người cầm trịch cuộc họp chưa hẳn là người lãnh đạo. Họ chỉ trở thành lãnh đạo thực thụ khi có 7 yếu tố sau:

(1) Tính cách: là người như thế nào; (2) Mối quan hệ: quen biết những ai; (3) Kiến thức: biết những gì; (4) Trực giác: cảm thấy điều gì; (5) Kinh nghiệm: trải qua những gì; (6) Thành công: làm được những gì; (7) Khả năng: biết làm những gì.

Luật số 5 (*): Tạo giá trị. Nhà lãnh đạo tạo giá trị bằng cách phục vụ người khác.

Chúng ta thường nghe những định nghĩa sau về công việc của nhà lãnh đạo: nhận lãnh trách nhiệm, điều hành công ty, tạo ra lợi nhuận cho cổ đông, chiến thắng đối thủ cạnh tranh…

Thế nhưng, đó không phải là kết quả cuối cùng của lãnh đạo. Mà đó là mức độ phát triển và thành công của những người làm việc cùng người lãnh đạo. Đó chính là giá trị mà nhà lãnh đạo đã “cộng” cho mối quan hệ giữa họ và những người đi theo sự lãnh đạo của họ.

Nhà bác học Albert Einstein cho rằng nhà lãnh đạo là “những người phục vụ người khác sống một cuộc sống có giá trị”.

Jim Sinegal, người đồng sáng lập và Tổng giám đốc của Costco - chuỗi cửa hàng bán lẻ hàng đầu nước Mỹ và thế giới - là một minh hoạ rõ nét của một nhà lãnh đạo tạo giá trị bằng cách phục vụ người khác. Ông không chỉ trả lương cao cho nhân viên mà còn kết nối, quan tâm, tôn trọng và phát triển họ.

Costco thành công vượt bậc không chỉ nhờ vào những chiến lược kinh doanh giỏi mà còn nhờ vào chất lượng, năng suất làm việc, cũng như sự trung thành của đội ngũ nhân viên.

Luật số 6: Luật nền tảng quan trọng. Niềm tin là nền tảng quan trọng của người lãnh đạo.

Bộ trưởng Mỹ McNamara và Tổng thống Johnson đã nói dối người dân Mỹ về cuộc chiến Việt Nam. Kết quả là McNamara phải từ chức còn Johnson phải từ bỏ sự nghiệp chính trị.

Trong việc lãnh đạo, niềm tin rất quan trọng. Khi làm mất niềm tin ở người khác, chúng ta đã tự loại mình ra khỏi giới lãnh đạo.

Để xây dựng niềm tin, người lãnh đạo phải thể hiện những phẩm chất bao gồm: năng lực, quan hệ, và tính cách. Trong đó tính cách là nền tảng quan trọng nhất.

Mọi người sẽ bỏ qua, không đặt niềm tin vào người có khiếm khuyết trong tính cách. Tính cách là nền tảng của sự kết nối, tạo nên tính kiên định, tạo ra tiềm năng, tạo dựng lòng tôn trọng; tính cách tạo ra niềm tin. Và niềm tin tạo nên lãnh đạo.

Luật số 7: Luật tôn trọng. Mọi người đi theo sự lãnh đạo của những nhà lãnh đạo mạnh mẽ hơn họ.

Những người mạnh mẽ tìm kiếm các nhà lãnh đạo mạnh mẽ hơn. Bà Harriet Tubman là một phụ nữ học thức thấp, gần 40 tuổi, cao chưa đầy 1,5 mét, thiếu hai răng cửa, da màu nâu đen nhưng đã làm cho người khác nhận ra sự mạnh mẽ, quyết tâm của bà đối với công cuộc giải phóng nô lệ mà bà tự cho rằng mình có nghĩa vụ phải làm.

Vào những năm 1850 - 1860, bà đã thực hiện 19 cuộc giải cứu cho hơn 30 nô lệ tại miền Nam nước Mỹ, bất chấp vô vàn nguy hiểm và khó khăn.

Bà Harriet Tubman đã giành được sự tôn trọng không chỉ từ tầng lớp nô lệ mà còn cả từ những người có thế lực, tiếng tăm trong xã hội lúc bấy giờ.

Bà Harriet Tubman đã trở thành nhà lãnh đạo lỗi lạc vì mọi người cảm thấy sức mạnh và tài năng lãnh đạo của bà. Họ tôn trọng bà và có cảm giác bị thôi thúc phải theo bà.

Tác giả khi chuyển công ty Injoy từ San Diego (California) đến Atlanta (Georgia) đã thuyết phục được 100% các nhà lãnh đạo chủ chốt của công ty thay đổi cuộc sống và đi theo mình. Tác giả đã dành cả đời để phát triển khả năng lãnh đạo nên được các thủ lĩnh khác tôn trọng và đi theo.

Luật số 8: Luật trực giác. Nhà lãnh đạo đánh giá được mọi thứ nhờ vào trực giác lãnh đạo của mình.

Trực giác giúp nhà lãnh đạo nhận biết các yếu tố vô hình trong công tác lãnh đạo. Người lãnh đạo dùng trực giác để: dự báo tình huống, nắm bắt xu hướng, hiểu rõ nguồn lực, hiểu mọi người, và hiểu được chính mình.

Khi được mời tái sáng lập Apple, Steve Jobs đã dùng trực giác của mình để có những hành động quyết đoán: thay đổi hệ thống điều hành, chế tạo những sản phẩm mang tính sáng tạo độc đáo.

Tướng Colin Powell - cựu Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ - nhận xét rằng các nhà lãnh đạo sẽ đánh mất cơ hội nếu chờ đầy đủ thông tin và sự kiện. Đối với ông, thu thập được 40-60% thông tin là đã đủ để ra quyết định. Phần 60-40% còn lại, ông dùng trải nghiệm và trực giác để bổ sung.

Có người sinh ra đã có khả năng trực giác bẩm sinh. Nhưng ai cũng có thể trau dồi để phát triển thêm khả năng trực giác của mình. Không có linh cảm trực giác, chúng ta không thể là nhà lãnh đạo xuất sắc.

Luật số 9: Luật thu hút. Nhà lãnh đạo thu hút những người tương đồng với họ.

Một cách tổng quát, những nhà lãnh đạo sẽ hấp dẫn và thu hút những người có sự tương đồng với họ về: thái độ, thế hệ (tuổi), thân phận, giá trị, kinh nghiệm cuộc sống, tài năng lãnh đạo. Tài năng lãnh đạo của nhà lãnh đạo càng cao thì khả năng thu hút người tài giỏi của họ càng cao.

Luật số 10: Luật kết nối. Việc thu phục nhân tâm của nhà lãnh đạo phải được thực hiện trước mọi việc khác.

Những nhà quản lý có chức vụ cho rằng mình không cần phải kết nối. Họ nghĩ rằng nhân viên phải đến với họ. Điều đó không đúng đối với nhà lãnh đạo. Những nhà lãnh đạo thật sự hiểu rằng họ phải là người thực hiện kết nối trước với mọi người.

Napoleon học cách nhớ tên toàn bộ các tướng lĩnh của ông; Robert E.Lee đi thăm tất cả quân lính ở trại vào các đêm trước trận chiến.

Bà Elizabeth Dole - Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Hoa Kỳ - là một người có khả năng kết nối tuyệt vời. Khi bà bước ra sân khấu, mọi người có cảm giác yêu mến và xem bà như bạn. Khi bà kết thúc bài phát biểu, bản thân tác giả muốn theo bà đi khắp nơi.

Những nguyên tắc kết nối: tự tin với bản thân, kết nối với sự thẳng thắn và trung thực, phải thật sự quan tâm đến từng người mà mình tiếp xúc.

Khi đứng trước đám đông, nhà lãnh đạo phải tự nhủ rằng mình đang đứng trước những con người khác nhau, có suy nghĩ, giá trị và kỳ vọng khác nhau.

Nhà lãnh đạo phải kết nối cảm xúc được với đám đông và với từng người. Người lãnh đạo tài năng luôn tâm niệm và hiểu rằng “lãnh đạo bản thân bằng lý trí, lãnh đạo mọi người bằng trái tim”.
Nhà lãnh đạo cần thực hiện việc kết nối và thu phục nhân tâm của mọi người.

Luật số 11: Luật thân tín. Mức độ thành công của nhà lãnh đạo do những người thân tín nhất quyết định.

Nhà lãnh đạo không nên tốn quá nhiều thời gian để thuyết phục, truyền cảm hứng tới những người có thái độ tiêu cực hay chống đối minh. Thay vào đó, nhà lãnh đạo nên truyền năng lượng của mình cho những người tích cực, chia sẻ niềm tin với mình. Họ sẽ cộng hưởng và truyền năng lượng ngược lại cho nhà lãnh đạo.

Nhà quản trị Lee Jacocca, tập đoàn Ford và Chrysler, từng nói rằng thành công không đến từ những gì nhà lãnh đạo biết mà đến từ những người mà nhà lãnh đạo biết và con đường nhà lãnh đạo dành cho họ.

Luật số 12: Luật phân quyền. Những nhà lãnh đạo bản lĩnh chia sẻ quyền lực cho người khác.
Các lãnh đạo thông thường chống lại nguyên tắc chia sẻ quyền lực bởi nhiều lý do: lo sợ mất vị trí, không dám thay đổi, thiếu ý chí…

Cả Henry Ford và Henry Ford II đều không tuân theo luật phân quyền. Họ trừ khử những thành viên xuất sắc vì lo sợ cho sự an toàn của bản thân.

Còn Tổng thống Abaham Lincoln là người lãnh đạo thật sự bản lĩnh. Ông lựa chọn chính những đối thủ chính trị làm thành viên nội các của mình.

Chia sẻ quyền lực là một sức mạnh không chỉ giúp cho người được nhận quyền lực có cơ hội phát triển mà còn giúp cho nhà lãnh đạo - người đã chia sẻ quyền lực - cũng lớn mạnh theo.
Nhà lãnh đạo vì thế phải vượt qua những rào cản và tìm kiếm những người giỏi để phân quyền.

Luật số 13: Luật tái tạo. Nhà lãnh đạo tài năng sinh ra nhà lãnh đạo khác.

Một nghiên cứu về nguyên nhân chính của việc trở thành nhà lãnh đạo cho thấy: Khoảng 10% nhà lãnh đạo có năng lực tự nhiên, 5% được tạo ra từ khủng hoảng, và tới 85% được ảnh hưởng bởi những nhà lãnh đạo khác.

Có nhiều nhà lãnh đạo không thấy được giá trị trong việc tạo ra nhà lãnh đạo khác, và đôi khi còn cố gắng “đì” người khác. Khi làm như vậy, họ đã tự làm giảm đi tiềm năng của chính họ và tổ chức.

Những nhà lãnh đạo có thể tạo ra nhà lãnh đạo khác sẽ dựng nên môi trường dành cho các nhà lãnh đạo và tăng tiềm năng phát triển cho tổ chức.

Luật số 13 (*): Luật tấm gương. Mọi người làm theo những gì họ thấy.

Nhà lãnh đạo tài năng cần phải có hai phẩm chất khác hẳn nhau. Phẩm chất thứ nhất: họ phải là người có tầm nhìn xa trông rộng để có thể dẫn dắt tổ chức, đội ngũ đến thành công.

Phẩm chất thứ hai cũng hết sức quan trọng: họ phải sống với thực tế. Nhà lãnh đạo phải là người có thể làm những việc thực tế và đóng góp cho tổ chức.

Nhà lãnh đạo quân sự không thể chỉ hô hào binh sĩ tập luyện và tiến về phía trước trong khi bản thân mình không tập luyện và khi xông trận thì tìm cách lẩn tránh nguy hiểm.

Giám đốc công ty không thể chỉ rao giảng và thúc giục nhân viên về văn hóa công ty, về tinh thần làm việc tập thể, nhưng bản thân mình lại không làm theo những điều này. Đó không phải là những tấm gương để mọi người noi theo.

Nếu chúng ta nói và làm khác nhau, chúng ta không cho nhân viên một tấm gương nào để nhìn vào và làm theo, chúng ta không phải là một nhà lãnh đạo tài năng.

Luật số 14: Luật làm cho người khác tin. Mọi người tin vào nhà lãnh đạo trước khi tin vào tầm nhìn của họ.

Mahatma Gandhi là một trong những nhà lãnh đạo vĩ đại nhất của mọi thời đại. Ông đã lãnh đạo đất nước Ấn Độ của mình đến độc lập. Chủ trương của ông là đấu tranh bất bạo động.

Nhiều người Ấn Độ không tin vào chủ trương này, nhưng họ tin vào con người ông và sự lãnh đạo của ông, và vì thế họ tin theo tầm nhìn chiến lược và tuân thủ kế hoạch của ông.

Nhà lãnh đạo tìm kiếm ước mơ, sau đó tìm kiếm mọi người. Còn mọi người thì tìm kiếm nhà lãnh đạo, sau đó mới tìm kiếm ước mơ.

Luật ố 15: Luật chiến thắng. Nhà lãnh đạo tài ba tìm ra con đường cho toàn đội giành chiến thắng.

Nhà lãnh đạo chiến thắng là nhà lãnh đạo không chấp nhận thất bại. Họ làm mọi việc để đưa tổ chức đến chiến thắng.

Thủ tướng Anh Churchill là một nhà lãnh đạo chiến thắng. Để chiến thắng trước kẻ thù phát xít, ông đã làm mọi việc mà ông có thể làm: tập hợp nhân dân, dàn quân, liên kết với Liên Xô, thuyết phục tổng thống Mỹ tham gia cuộc chiến…

Herb Kelleher, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc của hãng hàng không SouthWest, đã lãnh đạo bản thân và South West vượt muôn vàn khó khăn để đi đến thành công. Và ông vẫn tiếp tục chiến đấu cho những thằng lợi kế tiếp của SouthWest.

Ba yếu tố cần thiết để chiến thắng: sự đồng thuận và đồng tâm của toàn bộ các thành viên trong tổ chức; kỹ năng cao của từng thành viên; người lãnh đạo cống hiến cho chiến thắng và phát triển từng người trong tổ chức, phát huy tiềm năng của họ.

Luật số 16: Luật quán tính. Quán tính là người bạn tri kỷ của nhà lãnh đạo.

Bất cứ vật thể nào muốn chuyển động cũng cần phải có quán tính. Trong công việc cũng vậy, không có quán tính, không có động lực, mọi việc sẽ bị ngừng tại chỗ.

Nhà lãnh đạo phải biết cách tạo ra động lực, tạo ra quán tính cho người khác. Khi đã có quán tính, mọi trở ngại sẽ được vượt qua.

Luật số 17. Luật ưu tiên. Nhà lãnh đạo tập trung vào công việc được ưu tiên.

Nhà lãnh đạo giỏi không bao giờ tập trung làm những gì ngoài danh sách ưu tiên. Người lãnh đạo áp dụng nguyên lý Pareto và nguyên tắc 3R trong công việc của mình.

Nguyên lý Pareto: Nếu chúng ta tập trung vào 20% những điều quan trọng, chúng ta sẽ đạt được 80% hiệu quả của công việc.

Nguyên tắc 3R: Căn cứ vào yêu cầu (Requirement), kết quả (Return) và phần thưởng (Reward) để xác định những điều cần ưu tiên thực hiện.

Nguyên tắc số 18: Luật hy sinh. Nhà lãnh đạo phải biết hy sinh để tiến tới.

Đôi khi nhà lãnh đạo phải sẵn sàng cho đi một cái gì đó để có thể tiến về phía trước. Trong những hoàn cảnh khó khăn, nhà lãnh đạo doanh nghiệp thậm chí phải hy sinh làm việc 24/24 mà không nhận được tiền lương, thù lao, cũng như sự cảm kích nào. Đó là nguyên tắc hy sinh: lùi 1 bước để tiến 2 bước.

Để đạt được mục tiêu, nhà lãnh đạo phải hy sinh; để giữ vững vị trí, nhà lãnh đạo phải hy sinh nhiều hơn.

Luật số 19: Luật thời cơ. Đối với việc lãnh đạo, thời điểm là cực kỳ quan trọng.

Hầu như không ai có thể dự đoán được ông Jimmy Carter, Thống đốc bang Georgia có thể thành Tổng thống Mỹ năm 1976. Ông đã nhận thấy thời cơ quý báu đến từ sự lo ngại của nước Mỹ về chiến tranh Việt Nam và vụ bê bối Watergate để tiến hành chiến dịch tranh cử và đã chiến thắng.

Hành động đúng vào thời điểm đúng sẽ đem lại kết quả vượt bậc cho nhà lãnh đạo.

Luật số 20: Luật tăng trưởng bùng nổ. Để tăng trưởng, hãy lãnh đạo cấp dưới. Để bùng nổ, hãy lãnh đạo nhà lãnh đạo.

Để đạt sự tăng trưởng bùng phát, nhà lãnh đạo tài giỏi phải là thủ lĩnh của những nhà lãnh đạo khác với nhiều người được lãnh đạo bên dưới. Khi đó, sức mạnh của tổ chức sẽ được tăng lên với cấp số nhân.

Luật số 21: Luật di sản. Giá trị bền vững của một nhà lãnh đạo được đo bằng sự kế thừa.

Ông Roberto C.Goizueta - Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Coca-Cola khi mất đi một cách bất ngờ đã để lại một di sản tuyệt vời cho những người kế thừa ông.

Những nhà lãnh đạo tài ba luôn để lại di sản, nền móng cơ bản tạo nên hiệu quả và thành công của tổ chức cho những nhà lãnh đạo kế tiếp.

Chính vì vậy, khi những nhà lãnh đạo tài ba không còn, tổ chức của họ vẫn tiếp tục thành công và phát triển trên nền tảng di sản mà họ đã xây dựng và để lại.
Share:

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

Nhà lãnh đạo giỏi không nói 5 câu sau với nhân viên

Là một nhà lãnh đạo, đừng nói với những cấp dưới rằng bạn đang có một ngảy tồi tệ. Nó sẽ phá hủy sự tự tin của họ cũng như niềm tin vào bạn.
Quản lý cảm xúc là điều rất quan trọng, đặc biệt là với các nhà lãnh đạo bởi mọi hoạt động của họ đều có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều người khác.

Những nhà lãnh đạo giỏi biết khi nào nên thể hiện và khi nào nên trì hoãn cảm xúc. Đôi khi họ bày tỏ cảm xúc để tìm sự thông cảm và làm lay động người khác. Điều quan trọng là điều gì nên và không nên chia sẻ với nhân viên khi một nhà lãnh đạo như bạn đang gặp căng thẳng hay một ngày tồi tệ. Sau đây là 5 câu mà một nhà lãnh đạo thông thái sẽ tránh lộ ra dù họ đang không mấy dễ chịu.

1. "Tôi không có kế hoạch."

Hãy bắt đầu với những điều cơ bản nhất. Việc thừa nhận là mình không có một kế hoạch với nhà lãnh đạo không khác gì nói rằng tôi đang ở ngã ba đường và không biết đi hướng nào trong khi nhiệm vụ của bạn là dẫn dắt. Đây có thể là câu nói vô định nhưng lại dẫn đến những tác động tồi tệ hơn. Các nhà lãnh đạo thông minh sẽ không bao giờ nói cho ai biết họ đang không có kế hoạch gì. Với họ luôn luôn có một kế hoạch trong đầu mình.Luôn luôn có một kế hoạch. Những gì bạn nghĩ rằng không đủ tin tưởng để có thể thực hiện nhưng bạn cũng đừng bao giờ nói ra với bất kỳ ai về điều đó.

2. "Tôi không chắc chắn."

Những nhà lãnh đạo giỏi xây dựng lòng tin. Đây là những thứ tích cực và nhiệt huyết về tương lai. Không bao giờ có một trường hợp rằng điều này sẽ không thể xảy ra, không thực hiện được. Thậm chí nếu bạn có một số dữ liệu đó cho thấy khả năng không thể vẫn xuất hiện, bạn có thực sự biết trước tương lai? Vì vậy là một nhà lãnh đạo hãy chắc chắn và tin tưởng tích cực để khích lệ nhân viên.

3. "Tôi đang căng thẳng."

Để mọi người đang làm việc cho bạn biết bạn đang căng thẳng không hữu ích cho bất kỳ ai thậm chí chính bạn. Cách giải quyết luôn luôn tốt hơn là để cho chuyên gia cố vấn, người truyền cảm hứng cảu bạn biết về tình trạng của mình. Những người này sẽ giúp bạn nhìn rõ vấn đề, trở nên bình tĩnh và tự tin hơn là chia sẻ chúng với những người không có khả năng giải quyết giúp bạn.

4. "Tiền bạc đang cạn kiệt."

Thật ngạc nhiên là nhiều doanh nhân thường nói với mọi người rằng họ không đủ tiền. Bạn sẽ đưa cho những người hay than thở này thêm tiền không? Bạn có tin tưởng người này không? Hãy trung thực và rõ ràng về những mục tiêu của công ty, giữ những thông tin về báo cáo tài chính cho riêng bạn bởi nếu chia sẻ thêm với nhân viên chỉ khiến họ căng thẳng và khiến họ suy nghĩ liệu có nên tiếp tục ở lại hay rời khởi công ty.

5. "Tôi đang có một ngày tồi tệ."

Đây là có thể là một điều tốt rằng bạn không chỉ có đồng nghiệp mà còn có bạn tốt ngoài công việc ngay tại công sở. Tuy nhiên khi nói với nhiều người hay người mà bạn không chắc chắn tin tưởng thì thực sự là một ý tưởng tồi.  Điều này sẽ phá vỡ sự tự tin. Nó thậm chí còn phá hỏng niềm tin tưởng của nhân viên bởi họ không thích đi theo những người ủ rũ và khó đoán. Mỗi ngày là một ngày tốt, lý do tuyệt vời nhất là bạn có thêm một ngày để làm việc hay một cơ hội tuyệt vời để sửa chữa lỗi lầm ngày hôm qua. Nhà lãnh đạo giỏi là người không chỉ truyền cảm hứng cho người khác mà đầu tiên là phải chính cho bản thân mình.
Theo Trí Thức Trẻ

>> Kỹ năng làm việc bất cứ lãnh đạo nào cũng cần có
Share:

10 giây giúp bạn từ nhà lãnh đạo tốt trở nên vĩ đại

Tất cả chỉ mất 10 giây để bạn nhớ những điều cần làm từ đó biến mình từ nhà lãnh đạo tốt trở nên vĩ đại



Trong bất kỳ thời điểm lịch sử nào đều sinh ra những nhà lãnh đạo vĩ đại. Họ là những người tự tin và dũng cảm, nhất quán trong nghệ thuật lãnh đạo để chỉ cho mọi người đường đi tới thành công. Không dễ dàng để trở thành nhà lãnh đạo vĩ đại nhưng chúng ta có thể học hỏi theo tấm gương, bài học từ họ để trở thành nhà lãnh đạo tốt hơn trong một tổ chức.
1. Tạo một tầm nhìn rõ ràng

Những nhà lãnh đạo vĩ đại tập trung vào tương lai. Họ có một bức tranh rõ ràng về những gì họ muốn và biến nó thành hiện thực. Họ rất phấn khích về tương lai và không lãng phí thời gian bởi việc bị mắc kẹt trong quá khứ.

2. Chia sẻ rõ tầm nhìn của bạn cho người khác

Các nhà lãnh đạo vĩ đại có khả năng mô tả tương lai và tầm nhìn bằng cách sử dụng những từ ngữ, hình ảnh và cảm xúc từ đó quyến rũ và lôi kéo những người xung quanh. Họ thoải mái chia sẻ nghệ thuật lãnh đạo với những người tìm đến họ để có được chỉ dẫn và sự hỗ trợ.

3. Nhất quán trong tính cách

Những nhà lãnh đạo vĩ đại không thay đổi như thủy triều lên xuống. Mặc dù họ linh hoạt và cở mở với những ý tưởng mới nhưng luôn nhất quán với những niềm tin và giá trị của mình. Tất cả mọi người xung quanh đều biết họ có thể dựa vào sự nhất quán trong tư tưởng và hành động này của nhà lãnh đạo để thực thi nhiệm vụ.

4. Khiêm nhường

Những nhà lãnh đạo tuyệt vời biết rằng nếu không có sự khiêm nhường bạn không thể học hỏi được bất kỳ điều gì. Họ sẵn sàng thừa nhận sai lầm, đón nhận phản hồi và cởi mở với những lời gợi ý, đề nghị. Một trong những điều đặc biệt của họ là luôn hứng thú với việc học hỏi và hoàn thiện bản thân.

5. Giữ tập trung và tiến về phía trước

Những nhà lãnh đạo lớn tập trung vào kết quả. Họ là miễn dịch với các yếu tố gây phân tâm, những vòng lặp, các rào cản và họ giữ những người khác tập trung và di chuyển tốt về phía trước.

6. Thể hiện sự kiên trì và lòng can đảm

Những nhà lãnh đạo xuất sắc bắt tay hành động ngay lập tức và làm việc siêng năng. Họ không thay đổi hoặc trở bối rối khi gặp một vấn đề phát sinh thay vào đó luôn kiểm soát mọi việc với sự tự tin. Niềm tin này dẫn dắt họ luôn di chuyển về phía trước.

7. Kết nối các dấu chấm

Đây cũng là đặc điểm của công việc sáng tạo, yếu tố không thể thiếu với các nhà lãnh đạo vĩ đại. HỌ có thể thấy được bức tranh lớn và hiểu được sự kết nối giữa các thành phần- một kỹ năng mà phải cần tới những thói quen làm việc vĩ đại của bộ não để xây dựng được.

8. Suy nghĩ chiến lược

Những nhà lãnh đạo vĩ đại luôn tập trung ánh mắt hướng tới tương lai. Họ có một ý thức rõ ràng về những gì phải làm và dự đoán, vạch ra những kế hoạch chiến lược dài hạn thay vì những phản ứng ngắn hạn, tức thời.

9. Nhanh nhẹn và linh hoạt

Học hỏi nhanh nhạy là yếu tố không thể thiếu với những nhà lãnh đạo vĩ đại. Họ biết cách xem xét mọi thứ xung quanh mình và làm cho chúng có ý nghĩa, họ đặt ra hàng tá câu hỏi. Họ hiểu làm cách nào để thay đổi hành vi của mình nhằm ứng biến với sự thay đổi của hoàn cảnh mà không mất định sự nhất quán trong bản chất.

10. Hãy công bằng

Các nhà lãnh đạo tuyệt vời là những người công bằng và luôn tránh đứng về bên nào trong các cuộc tranh chấp. Ngoài ra những người này sẽ luôn biết nơi họ đứng là ở đâu, điều gì mong đợi ở họ và họ có thể trong chờ phần thưởng là gì.

Việc hoàn thiện nghệ thuật lãnh đạo không phải là điều có thể xảy ra một sớm một chiều nhưng là điều có thể thực hiện được nếu bạn cố gắng học hỏi. Đối với bất kỳ tổ chức nào muốn trở nên vĩ đại, điều không thể thiếu chính là các nhà lãnh đạo tuyệt vời.
Share:

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2015

5 điều kiện của môi trường làm việc hạnh phúc

Một doanh nghiệp mới được thành lập thường dễ dàng tạo ra cho nhân viên một môi trường làm việc vui vẻ. Lý do là số lượng nhân viên của doanh nghiệp trong giai đoạn này còn ít và các thành viên trong một nhóm làm việc nhỏ tuy có thể phải chịu một áp lực công việc khá lớn và mỗi người kiêm nhiệm nhiều việc nhưng có thể dễ dàng trao đổi thông tin, hỗ trợ và hợp tác với nhau. 

Tuy nhiên, khi doanh nghiệp phát triển lớn mạnh và số nhân viên tăng lên đáng kể thì việc tạo ra một môi trường làm việc vui vẻ sẽ là một thách thức lớn.

Cùng với sự phân chia trách nhiệm rõ ràng hơn, các xung đột trong tổ chức cũng bắt đầu phát sinh nhiều hơn. Kết quả là các nhân viên có thể chỉ tập trung vào lợi ích cục bộ của cá nhân hay nhóm của mình và quên đi mục tiêu, sứ mệnh lớn hơn của doanh nghiệp.

Làm thế nào để khắc phục tình trạng nói trên và xây dựng một môi trường làm việc vui vẻ, từ đó cải thiện năng suất lao động khi doanh nghiệp phát triển ở quy mô lớn?

Theo Ken Lin - nhà sáng lập kiêm tổng giám đốc của Credit Karma, tổ chức được thành lập với sứ mệnh thay đổi ứng xử của con người với các vấn đề tài chính - một môi trường làm việc "hạnh phúc" cần phải hội đủ 5 điều kiện sau.

1. Gắn bó

Theo Lin, doanh nghiệp cần phải tạo cho các nhân viên, nhất là những người mới gia nhập tổ chức, niềm tin vào sứ mệnh của công ty. Họ phải có được niềm tự hào rằng bản thân họ đang góp phần vào việc thực hiện một điều gì đó có ý nghĩa. Khi đó, nhân viên sẽ có cảm giác hài lòng với công việc của mình, làm việc chủ động và gắn bó lâu dài với tổ chức.

Tại Credit Karma, khi số lượng nhân viên vượt quá con số 300 người, ban giám đốc đã rất chú trọng việc định hướng cho nhân viên ngay từ ngày gia nhập đầu tiên. Theo đó, trong toàn bộ ngày làm việc đầu tiên, nhân viên sẽ được giới thiệu về sứ mệnh của công ty và tạo điều kiện để làm quen, kết thân với các đồng nghiệp mới.

Bên cạnh đó, truyền thông mở luôn được khuyến khích và duy trì tại tổ chức này. Lin cho rằng, tất cả các nhân viên cần phải biết được mọi mặt trong hoạt động của doanh nghiệp.

Để thể hiện văn hóa này, Credit Karma tổ chức một cuộc họp với toàn thể nhân viên mỗi tháng. Tại cuộc họp này, nhân viên có thể đưa ra bất cứ câu hỏi nào liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp sau khi nghe phần báo cáo của ban giám đốc.

2. Kết nối

Những nhân viên hài lòng không chỉ hiểu và tôn trọng những gì doanh nghiệp đang làm mà còn cảm thấy vui vẻ và tự hào khi mình góp phần hiện thực hóa những điều ấy.

Để được như vậy, Lin khuyên các doanh nghiệp cần xây dựng một môi trường văn hóa tôn trọng lẫn nhau. Sau khi rời công sở, nhân viên luôn cảm thấy vui vẻ với cảm giác những ý kiến của mình luôn được lắng nghe.

Credit Karma thường ưu tiên tuyển dụng những nhân viên có khả năng làm việc hòa đồng, vui vẻ với các đồng nghiệp xung quanh, có tinh thần đồng đội cao và sẵn sàng chia sẻ những công việc khó khăn.

Để nhân viên có nhiều cơ hội kết nối với nhau, Credit Karma thường tổ chức các hoạt động ngoại khóa, các câu lạc bộ dành riêng cho nhân viên.

3. Tin tưởng

Lin khuyên các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần thể hiện cho nhân viên biết rằng họ đang được tin tưởng và khuyến khích họ làm việc độc lập. Nhân viên nên được tạo điều kiện để tự do thực hiện công việc của họ, dù điều đó có thể rủi ro và khiến họ thất bại.

Credit Karma thường tuyển những nhân viên có năng lực tốt ở một lĩnh vực nào đó và có quyết tâm đạt được thành công cao. Để cho nhân viên được tự do thử nghiệm cũng là một cách kích thích sự sáng tạo của họ.

Lin cho biết, nhờ chủ trương này mà các nhân viên tại Credit Karma thường đưa ra được nhiều đề xuất cải tiến chất lượng công việc cũng như nhiều chương trình mới có giá trị.


4. Sức khỏe

Lin khuyên các doanh nghiệp không nên xem thường sức khỏe tinh thần và thể chất của nhân viên vì điều đó có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng trong dài hạn.

Nhân viên cần phải được tạo điều kiện về thời gian và sự tự do để chăm lo cho cuộc sống cá nhân của mình. Khi có được sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân, họ sẽ làm việc hiệu quả hơn.
Credit Karma hiện đang áp dụng chế độ nghỉ ốm không giới hạn cho nhân viên, tổ chức các buổi tư vấn về chế độ dinh dưỡng do các chuyên gia thực hiện, các khóa học về yoga, thiền, các lớp thể dục hay tư vấn chăm sóc sức khỏe cá nhân.

5. Đền bù

Doanh nghiệp không nên chỉ nói suông rằng đang quan tâm và tôn trọng nhân viên mà cần hiện thực hóa điều ấy bằng sự đền bù và tưởng thưởng xứng đáng. Dù cho môi trường làm việc có cởi mở và thú vị đến mấy, nếu doanh nghiệp không đãi ngộ thỏa đáng cho nhân viên, họ sẽ khó thể gắn bó lâu dài với tổ chức.

Tuy nhiên, Lin cũng khuyến cáo rằng nếu các doanh nghiệp chỉ trả lương cạnh tranh, tạo ra các chính sách phúc lợi hay các ưu đãi cổ phiếu hấp dẫn thì điều ấy chưa chắc đã làm cho nhân viên cảm thấy hạnh phúc. Điều quan trọng hơn là sự công bằng trong việc chia sẻ những thành quả mà doanh nghiệp có được cho mỗi thành viên.
Share:

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2015

Đừng là nhà lãnh đạo cô đơn

Từ xưa tới nay vẫn hay tồn tại quan niệm về hình ảnh những nhà lãnh đạo một mình đứng nơi đầu sóng ngọn gió để đưa ra những quyết định sống còn và dẫn dắt tập thể đi theo con đường mình đã chọn. 
 Thế nhưng, theo chuyên viên tư vấn John Coleman thì trên thực tế, những nhà lãnh đạo thành công nhất lại chính là những người huy động được sức mạnh của cộng đồng xung quanh mình và biết cách theo đuổi những mục tiêu vì lợi ích chung.

Làm người của cộng đồng

Theo giáo sư Bill George của trường kinh doanh Harvard, người từng nắm giữ cương vị CEO của tập đoàn thiết bị y tế hàng đầu thế giới Medtronic, nhà lãnh đạo nào cũng cần có một "chòm sao Bắc Đẩu" của riêng mình. Đó là một nhóm những người bạn và cố vấn tin cậy, nơi nhà lãnh đạo có thể chia sẻ những tâm tư của mình và lắng nghe lời khuyên góp ý.

Quan trọng hơn nữa, những người này sẽ là những "trọng tài" giúp cho nhà lãnh đạo giữ được những giá trị của bản thân mình khi cần đưa ra những quyết định đầy khó khăn.

Theo Coleman, việc ở trong một cộng đồng sẵn sàng góp ý, đặt ra thử thách và giám sát trách nhiệm sẽ là điều kiện để cho nhà lãnh đạo trưởng thành hơn và nâng cao năng lực của mình.

Do cộng đồng mà thành công

Một doanh nghiệp có thể được ví như một con tàu, nơi mà dù cá nhân thuyền trưởng có tài giỏi thế nào thì cũng cần phải huy động được toàn bộ sức lực của thủy thủ đoàn nếu muốn con tàu đi đúng hướng.

Theo Coleman, một trong những sai lầm mà giới lãnh đạo dễ mắc phải nhất là quên mất một điều đơn giản: sức mạnh của họ sẽ bị giới hạn khi hành động lẻ loi, nhưng sẽ trở thành vô tận khi được khuếch đại qua tập thể.

Không ai có thể chối cãi rằng Steve Jobs là một thiên tài kinh doanh công nghệ, nhưng ông lại từng bị chính hội đồng quản trị của Apple sa thải vào năm 1985 vì không thể thuyết phục được họ về phương hướng của công ty.

Sự thất bại của một loạt sản phẩm Apple khi ấy, vốn bắt nguồn từ cái tôi quá lớn của Jobs, đã khiến cho ông phải rời khỏi công ty do chính mình thành lập nên.

12 năm sau đó, khi quay trở về cương vị lãnh đạo Apple, Jobs đã trở thành một con người trưởng thành và chín chắn hơn. Bằng cách tập hợp và truyền cảm hứng được cho một đội ngũ xuất sắc: Jonathan Ive, Scott Forstall, Ron Johnson và Tim Cook, Jobs đã làm được "nhiệm vụ bất khả thi": đưa Apple trỗi dậy từ bờ vực phá sản để trở thành tập đoàn giá trị nhất thế giới ngày hôm nay.

Steve Jobs từ thiên tài cô độc...
... trở thành người dẫn dắt một tập thể hùng mạnh

Vì cộng đồng mà phục vụ

Sẽ chẳng có nhân viên nào muốn phục vụ cho vinh quang của cá nhân lãnh đạo, nhưng trái lại họ sẽ sẵn sàng cống hiến đến cùng cho những điều mà họ thấy thực sự có ý nghĩa.

Một nhà lãnh đạo có thể vạch ra cho đội ngũ của mình thấy việc mà họ đang làm có ảnh hưởng tích cực thế nào tới cộng đồng xung quanh sẽ có được những nhân viên cực kỳ trung thành và tận tụy.
Được thành lập bởi anh sinh viên bỏ học John Mackey vào năm 1980, cửa hàng thực phẩm Whole Foods đã có một khởi đầu hết sức khó khăn khi mắc phải một trận ngập lụt vào năm 1981.

Lúc đó Whole Foods tưởng chừng đã phá sản, nhưng cửa hàng ngay lập tức nhận được sự giúp đỡ từ các khách hàng quen và hàng xóm ở xung quanh để mở cửa trở lại.

Điều này đã ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ của John Mackey, và từ đó anh đặt ra một quy tắc kinh doanh cho Whole Foods: không đơn thuần chạy theo lợi nhuận, mà còn phải luôn luôn quan tâm đến đội ngũ nhân viên, khách hàng, môi trường và cộng đồng xung quanh.
Từ khởi đầu đầy khiêm tốn, Whole Foods đã trở thành chuỗi siêu thị thực phẩm hữu cơ thành công nhất thế giới

Ngày nay, Whole Foods là một chuỗi siêu thị khổng lồ chuyên kinh doanh thực phẩm hữu cơ với tổng cộng 419 siêu thị tại Mỹ và Anh, đạt doanh thu 14,2 tỷ USD trong năm 2014.

Whole Foods cũng là một trong những công ty hiếm hoi có 17 năm liền đứng trong danh sách những doanh nghiệp có môi trường làm việc tốt nhất nước Mỹ của tạp chí Fortune. Ngoài ra, chuỗi siêu thị này còn thường xuyên nằm trong danh sách những thương hiệu có uy tín và trong sạch nhất nước Mỹ.
Đó là những tài sản tưởng chừng vô hình nhưng lại là yếu tố then chốt để làm nên giá trị thương hiệu và thành công kinh doanh cho Whole Foods.

Theo kết luận của John Coleman, nhà lãnh đạo nào có thể tuân thủ được 3 quy tắc "của cộng đồng, do cộng đồng, vì cộng đồng" sẽ đạt được thành công vang dội ở bất kỳ đâu dù là thương trường hay chính trường, cũng như sẽ có được một cuộc sống đầy ý nghĩa.

Share:

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

5 việc cần làm mỗi ngày của các nhà lãnh đạo

Đây là những điều các nhà lãnh đạo thực thụ nên làm, lấy cảm hứng từ thuật lãnh đạo của Henry Ford, dựa theo những phát ngôn vĩ đại của ông.

Khi mùa Hè đến, mọi người thường hướng đến các kỳ nghỉ và nhịp độ làm việc dường như bắt đầu chậm lại, nhưng điều này không dành cho doanh nhân, những người biết rằng khi nhiệt độ bên ngoài nóng lên, thì bên trong cũng vậy.

Mùa Hè thời điểm tuyệt vời để mở rộng mạnh mẽ và phát triển không chỉ kỹ năng kinh doanh mà cả kỹ năng quản lý của bạn. Thực tế, mùa Hè năm 1899 nhà công nghiệp nổi tiếng Henry Ford đã từ bỏ vị trí kỹ sư trưởng tại Edison Illuminating Company để tập trung vào việc sản xuất ôtô.

Ông Ford biết rằng ông cần phải từ bỏ vị trí an toàn để sống cuộc đời của một doanh nhân theo cách của riêng mình. Chúng ta đều biết Ford là một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất ở Mỹ, nhưng nếu bạn đã từng nghiên cứu kỹ năng quản lý của ông, bạn sẽ thấy nhiều điều đáng ngạc nhiên.

Sự lãnh đạo, giống như làm chủ doanh nghiệp, thường là vị trí luôn được mong muốn, nhưng phần lớn mọi người hiếm khi đạt được và trình diễn khả năng lãnh đạo thực thụ. Với vai trò ông chủ, người giám sát và doanh nhân, tư cách người sáng lập không có nghĩa là bạn là nhà lãnh đạo giỏi.

Bạn có thể khởi nghiệp nhưng điều đó không có nghĩa bạn có thể dẫn dắt mọi diễn biến và xu hướng hoặc thậm chí nhân viên của bạn. Người lãnh đạo cần duy trì sự cân bằng giữa quyền lực và lòng trắc ẩn, kỷ luật và sự mềm dẻo, thưởng và phạt. Đây có lẽ là vài trò nặng nề nhất mà doanh nhân phải gánh vác khi bắt đầu thuê lao động và đưa doanh nghiệp lên tầm cao mới.

Hãy phát triển và nuôi dưỡng những đặc tính của các nhà lãnh đạo vĩ đại bằng cách thực hiện những hành động nhỏ mỗi ngày. Dưới đây là 5 điều mà các nhà lãnh đạo thực thụ nên làm, lấy cảm hứng từ sự lãnh đạo củ Henry Ford dựa vào những phát ngôn vĩ đại của ông.

1. Lắng nghe

“Nếu có bất kỳ bí mật nào liên quan đến thành công, thì nó nằm ở khả năng nắm bắt được quan điểm của người khác và nhìn nhận vấn đề từ góc độ của người khác và từ chính bạn”.

Cương vị lãnh đạo đòi hỏi lắng nghe nhiều hơn hơn nói. Khi bạn dừng lại để thực sự lắng nghe câu chuyện của người khác, để nắm bắt quan điểm của họ và tự cho phép bạn thoát khỏi định kiến của mình, bạn đang cho thấy phẩm chất thực thụ của người lãnh đạo.

Hãy lắng nghe nhiều hơn nói và hãy học cách lắng nghe những người khác. Điều này không có nghĩa quan điểm của người khác phải luôn đúng, nhưng lắng nghe sẽ giúp bạn hiểu rõ vấn đề. Những nhà lãnh đạo vĩ đại sẽ lắng người khác nói chứ không chỉ dựa vào những gì họ nghe được.

2. Đánh giá

“Một doanh nghiệp không làm được gì ngoài tiền bạc là một doanh nghiệp nghèo”.

Mỗi ngày, các nhà lãnh đạo thực thụ phải đánh giá hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp của họ, hoạt động hàng ngày và đội ngũ nhân viên, sản phẩm và thời gian. Tiền bạc là yếu tố quyết định và cần thiết đối với doanh nghiệp. Bạn cần tiền để vận hành doanh nghiệp, sống sót và phát triển. Đây là điều tuyệt vời. Tuy nhiên, sử dụng tiền bạc chỉ vì lợi ích của tiền mà thôi sẽ không đưa đến những quyết định có lợi cho nhân viên, cộng đồng của bạn hay mang tính nhân văn.

Những nhà lãnh đạo thực sự luôn đánh giá xem lĩnh vực kinh doanh nào có hiệu quả và lĩnh vực nào không, đồng thời cân nhắc quyết định tiền bạc theo nhiều tiêu chí khác. Những quyết định tiền bạc không phải lúc nào cũng đo lường được. Đôi khi chúng cần phải cân bằng với các giá trị như tính toàn vẹn, tầm nhìn và mục đích. Một nhà lãnh đạo thực thụ sẽ đánh giá điểm mấu chốt với định hướng đạo đức, sau đó, đưa ra những điều chỉnh hợp lý.

3+4. Cải thiện và hành động

“Bạn không thể tạo dựng danh tiếng dựa trên cái bạn sẽ làm”.

Sau khi đánh giá, các nhà lãnh đạo sẽ nhắm vào điều họ có thể cải thiện. Khi họ xác định được cách thức tốt hơn để tiến hành công việc, họ hành động. Đây là chu kỳ liên tục: đánh giá, cải thiện, hành động.

Các nhà lãnh đạo thực thụ không chỉ áp dụng chu kỳ này vào hoạt động kinh doanh, họ còn áp dụng cho chính mình. Làm thế nào để bạn có thể trở thành người giao tiếp rõ ràng và dễ hiểu hơn? Làm sao để trở thành nhà lãnh đạo tốt hơn? Bạn có thể cải thiện kỹ năng ở phần nào?
Lãnh đạo là một quá trình liên tục diễn ra và tiến triển dần dần đối với chính bạn và doanh nghiệp của bạn.

5. Kỳ vọng

“Chất lượng nghĩa là luôn làm điều đúng đắn kể cả khi không có ai giám sát”.

Nhà lãnh đạo thực thụ luôn có kỳ vọng lớn đối với người khác, nhưng họ cũng luôn kỳ vọng cao vào chính mình. Người lãnh đạo luôn kỳ vọng vào chính họ nhiều hơn những thành viên khác trong nhóm. Họ lãnh đạo bằng cách lấy mình làm tấm gương chứ không phải dựa vào “quyền lực và đe dọa”. Họ luôn tạo cảm hứng làm việc cho nhóm của mình.

Kỳ vọng nhiều hơn vào chính mình để tạo dựng và duy trì doanh nghiệp của bạn và nhóm làm việc của bạn. Nhà lãnh đạo thực thụ sẽ tiến hành những thay đổi cần thiết và làm điều đúng đắn vì lợi ích chung.
>> Vui vẻ: Điểm mấu chốt để lãnh đạo thành công
Share:

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2015

5 phương thức cạnh tranh mà công ty nào cũng cần biết

Từ cuối thế kỷ 19 cho đến nay, sự cạnh tranh giữa các công ty càng lúc càng trở nên phức tạp và phương thức cạnh tranh càng lúc càng đa dạng.

Chúng ta có thể kể tên năm phương thức cạnh tranh mà các công ty thường sử dụng như sau.

Phương thức đầu tiên là “Sự hiệu quả” (Efficiency). Đây là mục tiêu cơ bản của việc hình thành các tập đoàn nhằm tạo thuận lợi cho việc cho ra đời các sản phẩm và dịch vụ với thời gian, nguyên vật liệu, và nhân công một cách ít lãng phí nhất. Việc cho ra đời “Taylorism” - nỗ lực biến việc kinh doanh thành  khoa học hiệu quả đánh dấu đỉnh cao của phương thức cạnh tranh này. Nhiều công ty vẫn cạnh tranh theo cách đó và tiếp tục sử dụng “Taylorism” trong cả quá trình tái định hình quá trình kinh doanh và sản xuất tinh gọn.

Phương thức thứ hai là quy mô - phương thức “anh em” với phương thức “hiệu quả”. Phương thức này cho phép các công ty khai thác triệt để các quy mô kinh tế mà mang lại chi phí đơn vị thấp hơn, khiến cho giá thành sản phẩm và dịch vụ mang tính kinh tế tốt hơn.

Do đó, vào những năm 1970 khi người ta chuyển đổi nền sản xuất ở Experience Curve và thực hiện việc thay đổi quy mô như một phương tiện chiến lược thì đã tạo đà cho phương thức cạnh tranh quy mô phát triển. Phương thức quy mô đã thúc đẩy sự thống nhất và toàn cầu hóa nhiều nền công nghiệp trong suốt những năm từ giữa thế kỷ 20 và cho đến nay, nó vẫn đóng vai trò quan trọng trong một số ngành công nghiệp như ngành thép, hàng không, dược phẩm và viễn thông.

Phương thức quy mô và hiệu quả là hai phương thức cạnh tranh bằng cách hạ thấp chi phí. Vào đầu những năm 1980, một phương thức cạnh tranh mới đã xuất hiện trên thế giới, đó là phương thức chất lượng mà W. Edwards Deming bằng tất cả sự tôn sùng của mình đã cho rằng “chất lượng như phong cách các công ty Nhật Bản”.

Từ sau Thế chiến thứ hai, các công ty Nhật Bản tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, nhờ thế mà nâng cao thặng dư kinh tế. Cụm từ  “Sản xuất tại Mỹ (“Made in the USA”) đã nhường chỗ cho “Sản xuất tại Nhật Bản” (“Made in Japan”) đã thể hiện được tính ưu tiên dành cho các sản phẩm của Nhật và “Chất lượng miễn phí” đã trở thành “câu thần chú” cho nhiều công ty. Cũng từ đây, quá trình kiểm soát chất lượng Six Sigma đã được phổ biến rộng rãi đặc biệt là sau khi General Electric sử dụng chiến quá trình này.

Ngày nay phương thức cạnh tranh thông qua chất lượng, hiệu quả và quy mô đã trở thành những cách thức cạnh tranh cùng tồn tại song song với nhau. Nếu như Wal-Mart và Ford cạnh tranh chủ yếu nhờ vào giá cả thì Nordstrom và BMW lại cạnh tranh chủ yếu về chất lượng sản phẩm. Một số công ty đã kết hợp Six Sigma và sản xuất tinh gọn (lean production) thành “Six Sigma tinh gọn” (“Lean Six Sigma”) như một phương thức cạnh tranh nhằm giảm chi phí mà vẫn nâng cao được chất lượng.

Tuy vậy, “sự trỗi dậy” của Nhật Bản đã được chứng minh là không phải “một phép màu”. Và cùng với sự phát triển của Internet, người ta bắt đầu biết đến phương thức mới thứ tư trong những năm 1990, đó là “cạnh tranh mạng lưới” (the network). Thay vì tranh giành khách hàng bằng việc đưa ra giá thành thấp hay chất lượng cao (hoặc cả hai), các công ty bắt đầu cạnh tranh dựa trên số lượng người (hoặc doanh nghiệp) sử dụng chúng sản phẩm.

Microsoft có lẽ là một trong những công ty đầu tiên đã thấy giá trị của phương thức cạnh tranh này khi nó phát triển hệ thống điều hành mà có thể tương thích với bất kỳ cấu hình máy tính cá nhân. Google, Facebook, LinkedIn, và nhiều công ty thế hệ tiếp theo đều được xây dựng theo phương thức cạnh tranh này.

Ngày nay, phương thức mạng lưới đã đang dần nhường chỗ cho phương thức thứ năm có tên gọi là “hệ sinh thái”. Đây là phương pháp tiếp cận các bên thứ ba nhằm có thể xây dựng và thúc đẩy các sản phẩm và dịch vụ của bạn theo cách mà đem lại sự thuận tiện cao nhất cho khách hàng.

Lợi thế từ số lượng khách hàng mà bạn có sẽ không cao bằng việc bạn có thể hợp tác với rất nhiều các đối tác hay số lượng các sản phẩm và dịch vụ tiện ích mà công ty của bạn có thể đem lại cho khách hàng. Khi nhân viên của Steve Jobs thuyết phục ông rằng iPhone sẽ đạt được lợi thế không thể vượt qua bằng việc cho phép bất cứ ai xây dựng các ứng dụng dành cho Iphone thay vì mở cửa hàng ứng dụng riêng của Apple.

Bất kể là phương thức cạnh tranh “mạng lưới” và “hệ sinh thái” chỉ mới xuất hiện và được biết đến rộng rãi từ những năm 1990 và 2000 thì thực ra chúng vẫn luôn tổn tại song hành cùng với chúng ta. Ví dụ, báo và tạp chí luôn hỗ trợ “người sử dụng” (độc giả) để nhằm mang đến nhiều lợi ích hơn cho "khách hàng" của họ (chính là những công ty quảng cáo).

Việc hợp nhất các tuyến đường sắt, viễn thông, và các giải đấu thể thao chuyên nghiệp một phần nào đó là kết quả của quá trình tạo ra những mạng lưới lớn hơn dù ít hơn về mặt số lượng, và cứ mỗi mạng lưới trong số đó thì có nhiều khách hàng hơn, do đó mà cũng nâng cao được những lợi ích của những trải nghiệm và dịch vụ khách hàng.

Ngoài ra chúng ta cũng không được quên rằng, các phương thức cạnh tranh “mạng lưới” và “hệ sinh thái” vẫn chưa thể thay thế các phương thức “hiệu quả”, “quy mô”, “chất lượng” và khi các nhà lãnh đạo kinh doanh lựa chọn phương thức cạnh tranh thì cả năm phương thức này đều được họ cân nhắc.
Cơ sở của sự cạnh tranh qua thời gian sẽ luôn được đánh dấu bằng các giai đoạn phát triển, thậm chí qua những quan điểm hiện hữu để làm sao có thể cạnh tranh trong những tình huống cụ thể. Phương thức sự hiệu quả sẽ đóng vai trò trung tâm khi nền kinh tế lâm vào giai đoạn khó khăn; phương thức quy mô sẽ trở thành một chiến lược ưu tiên khi ngành công nghiệp chậm phát triển; phương thức cạnh tranh chất lượng sẽ được đưa lên hàng đầu khi thị trường phát triển mạnh mẽ; và phương thức mạng lưới và hệ sinh thái sẽ nổi lên khi sự khác biệt giữa các sản phẩm và dịch vụ trở nên cần thiết để tạo ra vị thế cạnh tranh nổi bật.

Tất cả các phương thức trên đưa ra một câu hỏi: Liệu rằng sẽ phương thức cạnh tranh mới (phương thức thứ sáu) trong thế giới doanh nghiệp hay không? Chúng ta có một vài “ứng viên” như sau:

- “Sự nhanh nhẹn” (Agility”): bắt nguồn từ thế giới phát triển phần mềm và đang được coi là một khái niệm kinh doanh rộng nghĩa hơn bằng việc đạt được lợi thế thông qua sự nhanh nhẹn trong thay đổi và thích nghi.

- “Sự gián đoạn” (“Disruption”), hay “hình dung lại mô hình kinh doanh nói chung trong một ngành công nghiệp cụ thể” đã đang trở thành phương thức cạnh tranh được nói đến nhiều nhất ở Thung lũng Silicon (Silicon Valley), và ngày càng vượt xa ra khỏi phạm vi đó.

- “Phân tích dữ liệu” (“Data analytics”), hoặc “các công ty đầu tư mạnh vào dữ liệu và phân tích để có hiệu quả hơn trong các hoạt động của mình, và để tận dụng quy mô của mình, nhằm tạo ra chất lượng, sản phẩm, dịch vụ tốt hơn phù hợp hơn và đem đến sự trải nghiệm quý báu cho các khách hàng của họ. (Vị trí “Giám đốc Khoa học” (“Chief Science Officer”) tại AIG - báo cáo trực tiếp cho Giám đốc Điều hành, là một ví dụ cho thấy tầm quan trọng của cách thức này trong các công ty lớn trên thế giới).

- “Tích hợp” (“Integration”), một mô hình biến thể khá cũ của phương thức quy mô và hiệu quả, đang dần quay trở lại cùng với một số công ty "lội ngược dòng" như Netflix (bước chân vào ngành lập trình cơ bản) hoặc Ferrero (mua lại một nhà máy sản xuất hạt dẻ để cung cấp các thành phần quý cho Nutella) - và những công ty “xuôi dòng” như Apple (xây dựng các cửa hàng bán lẻ) hay Google (ra mắt mạng di động riêng của hãng tại Mỹ). (Thậm chí có một khái niệm mới cho quá trình hội nhập theo chiều dọc sắp diễn ra ở Thung lũng Silicon: Mô hình Kinh doanh “Full stack”)

Dù bất kỳ những khái niệm trên có trở thành phương thức cạnh tranh toàn diện hay không, rõ ràng rằng danh mục phương thức cạnh tranh hiện nay nhiều hơn so với một thế kỷ trước đó. Đây cũng là một dấu hiệu tốt cho thấy phương thức cạnh cạnh tranh đang dần trở nên phức tạp trong thế giới kinh doanh.

Và để tận dụng những điều này, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải biết cách sử dụng các chiến lược kinh doanh của công ty mình vì mỗi chiến lược khác nhau sẽ đòi hỏi phương thức cạnh tranh khác nhau. Đừng để bị cuốn theo một cách thức cạnh tranh nào chỉ vì người khác đang sử dụng nó.
Chiến lược của bạn phải là duy nhất dành riêng cho bạn, và điều đó có nghĩa là phương thức cạnh tranh của bạn cần kết hợp với các phương thức khác mà tùy vào từng hoàn cảnh riêng biệt cũng như chiến lược cụ thể của bạn.

Ken Favaro là một đối tác cấp cao trong Công ty Tư vấn Chiến lược & (trước đây có tên là “Booz & Company” ) và ông cũng là người đứng đầu Bộ phận Thực hành Chiến lược Doanh nghiệp.

Share:

15 phẩm chất tương đồng của các nhà lãnh đạo hàng đầu

Không phải ai cũng có thể làm lãnh đạo. Nhưng có một vài phẩm chất ở nhà lãnh đạo khiến họ đáng khâm phục và trở nên khác biệt với những người còn lại.Nếu bạn đang ngưỡng mộ một nhà lãnh đạo nào đó trong công ty, hãy thử xem họ có những phẩm chất dưới đây không nhé, kết quả sẽ khiến bạn bất ngờ đấy!

1. Ít khoe khoang
Một nhà lãnh đạo chân chính ít khi nói về thành tích của mình. Khi một người nào đó luôn khoe khoang về bản thân và cố tỏ ra trên tầm người khác, đó là dấu hiệu của sự bất an, và sẽ cản đường họ đi đến thành công.

2. Đúng giờ
Những nhà lãnh đạo giỏi luôn có mặt đầu tiên trong các buổi họp. Họ hiểu rằng hành động của họ có giá trị hơn lời nói, và biết rằng nếu không đề cao tầm quan trọng của việc đúng giờ, sẽ chẳng ai thấy nó quan trọng.

3. Sử dụng thời gian hiệu quả
Là người đầu tiên đến phòng họp, họ cũng sẽ là người đầu tiên kết thúc khi mọi vấn đề quan trọng đã được thông qua. Những lãnh đạo hàng đầu tận dụng từng giây để tiến lên phía trước. Họ hồi đáp email và duy trì thói quen đọc/viết khi có thời gian.

4. Tôn trọng không gian riêng
Nhà lãnh đạo giỏi hiểu rằng mỗi người đều cần khoảng không riêng để hoàn thành công việc. Họ cho nhân viên thời gian để tạo ra giá trị, và hiểu rằng quản lý tỉ mỉ từng chi tiết sẽ không làm công việc nhanh hơn chút nào.

5. Thân thiện (nhưng không làm bạn)
Một phẩm chất quan trọng của nhà lãnh đạo giỏi là cân bằng giữa việc quan tâm trong khi vẫn giữ khoảng cách với nhân viên. Cách làm đó giúp họ duy trì được mối quan hệ trong công việc và dễ đưa ra những quyết định đúng đắn cho công ty.

6. Không buôn chuyện
Nơi làm việc là một ổ buôn chuyện, nhưng một lãnh đạo hiệu quả không làm vậy. Họ hiểu buôn chuyện không những chẳng giúp gì cho công ty, mà còn khiến tinh thần làm việc đi xuống và ảnh hưởng đến văn hóa chung.

7. Không than phiền
Ngay cả khi gặp khó khăn, những lãnh đạo bản lĩnh không hề than phiền. họ quá rành trách nhiệm của mình là tạo không khí tích cực cho cả tổ chức, tránh hiệu ứng tiêu cực lây lan trong đội ngũ nhân viên. Thay vì than vãn, họ sẽ tìm cách xoay ngược tình thế.

8. Ủy thác
Làm lãnh đạo nhưng họ hiểu rằng họ không thể cáng đáng tất cả mọi việc. Luôn tuyển dụng những người thông thái, và cung cấp cho nhân viên những công cụ và thông tin cần thiết là cách một lãnh đạo giỏi quản lý mọi việc. Đồng thời, họ coi thành công là kết quả của sự nỗ lực của tất cả mọi người.

9. Hướng đến giải pháp
Để thành công, những nhà lãnh đạo giỏi phải tìm cách để giải quyết mọi vấn đề. Họ yêu cầu từng thành viên đề xuất ý tưởng về giải pháp cho các vấn đề còn vướng mắc và coi trọng từng ý tưởng đó.

10. Phản hồi nhanh
Sự chậm trễ có thể dẫn đến lãng phí về thời gian, tiền bạc. Thấu hiểu điều đó, các nhà lãnh đạo luôn cố gắng trả lời nhanh nhất những thắc mắc họ nhận được từ nhân viên hoặc khách hàng.

11. Tích cực trong các hoạt động
Trong một cuộc họp hay phiên làm việc, nhà lãnh đạo luôn là một thành viên tích cực. Không những vậy, họ còn khuyến khích những người xung quanh tham gia và đóng góp ý tưởng, và trân trọng từng ý kiến.

12. Linh hoạt
Trong công ty, nhà lãnh đạo cần tự tin vào trực giác của mình, nhưng khi biết được một cách làm mới hiệu quả hơn, họ sẵn sàng thay đổi kế hoạch cho phù hợp. Mọi nhân viên đều muốn lãnh đạo của mình nhất quán trong công việc, nhưng cũng cần sẵn sàng thay đổi khi cần.

13. Trầm lặng
Trên thế giới có nhiều nhà lãnh đạo có tính cách náo nhiệt như Richard Branson, Donald Trum[ hay Mark Cuban, họ được nhắc tới rất nhiều trên các phương tiện truyền thông. Không giống như những “ngôi sao” này, hầu hết các nhà lãnh đạo giỏi trên thế giới đều khá thâm trầm, khiêm tốn.

14. Nhất quán
Một lãnh đạo giỏi là người nói được – làm được, và luôn nhất quán trong cách tiếp cận và thông điệp đưa ra. Trong một thế giới luôn thay đổi, con người sẽ muốn làm việc cho những lãnh đạo “trước sau như một”.

15. Kiên định

Ai cũng đã từng vấp ngã, nhưng những lãnh đạo giỏi luôn kiên cường vượt qua những khiếm khuyết để vươn tới thành công.
Share:

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

Muốn làm sếp, hãy học cách tự quản lý bản thân trước!

Nếu bạn quản lý bản thân tốt, sếp sẽ xem bạn như một người biết tận dụng tối đa cơ hội và phát huy các ưu điểm cá nhân.


Đối với bất kỳ ai muốn làm quản lý hay thăng tiến, điều cần làm là ghi điểm với cấp trên. Không có gì tạo được ấn tượng tốt với cấp trên hơn là khả năng quản lý bản thân. Nếu cấp trên thường phải tiêu tốn nguồn lực vào việc quản lý bạn, bạn sẽ bị xem là kẻ bòn rút thời gian và năn lượng của họ. Nhưng nếu bạn quản lý bản thân tốt, sếp sẽ xem bạn như một người biết tận dụng tối đa cơ hội và phát huy các ưu điểm cá nhân. Nhờ đó họ sẽ tìm đến bạn mỗi khi cần giúp đỡ hay lời khuyên khi gặp khó khăn.

Dưới đây là 7 điều bạn cần làm để tự quản lý bản thân được bậc thầy nghệ thuật lãnh đạo John C.Maxwell đề cập trong cuốn sách The 360o Leader (Tạm dịch: Nhà lãnh đạo 360o ).

1. Quản lý cảm xúc

Các nghiên cứu khoa học cho thấy những người có các vấn đề cảm xúc dễ bị tai nạn ô tô hơn những người bình thường tới 144% hay cứ 5 nạn nhân của các vụ tai nạn chết người, có 1 người đã cãi nhau với người khác trong 6 giờ trước vụ tai nạn. Quản lý cảm xúc là điều rất quan trọng, đặc biệt là với các nhà lãnh đạo bởi mọi hoạt động của họ đều có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều người khác.

Những nhà lãnh đạo giỏi biết khi nào nên thể hiện và khi nào nên trì hoãn cảm xúc. Đôi khi họ bày tỏ cảm xúc để tìm sự thông cảm và làm lay động người khác. Liệu đây có phải “mị dân” không? John C.Maxwell cho rằng không phải vậy, miễn sao điều đó tốt cho tổ chức và không phải là vì lợi ích cá nhân của họ. Tuy nhiên kiềm chế cảm xúc khác với phủ nhận và chôn vùi nó. Điểm mấu chốt là bạn nên đặt người khác chứ không phải bản thân lên đầu khi giải quyết và xử lý các cảm xúc.

2. Quản lý thời gian

Quản lý thời gian là vấn đề đặc biệt khó khăn đối với những người ở vị trí giữa. Những nhà lãnh đạo cấp cao có thể ủy quyền, những công nhân được trả tiền theo giờ và làm bất cứ điều gì có thể trong khoảng thời gian đó còn những người ở giữa thường chịu áp lực từ 2 nhóm trên và thường được kỳ vọng làm thêm giờ để hoàn thành công việc.

Thời gian là tiền bạc, một chuyên gia tâm thần học từng nói “Chừng nào chưa coi trọng bản thân, bạn còn chưa coi trọng thời gian.” Trong cuộc sống này mọi người không thanh toán mọi thứ bằng tiền mà bằng thời gian của họ. Vì vậy thay vì nghĩ đến việc bạn làm và thứ bạn mua dưới dạng tiền bạc, hãy nghĩ tới chúng dưới dạng thời gian. Hãy nghĩ xem điều gì đáng để bạn dành trọn cả cuộc đời? Từ đó bạn sẽ có cách quản lý thời gian hiệu quả hơn.

3. Quản lý các ưu tiên

Quy luật chung thường cho thấy khi bạn không biết cách quản lý các ưu tiên, công việc của bạn sẽ luôn áp lực và giảm hiệu suất. Đặc biệt với vị trí ở giữa một tổ chức, bạn sẽ có một núi công việc cần xử lý. John C.Maxwell đề xuất cách quản lý các ưu tiên như sau:

80% thời gian- làm những việc bạn giỏi nhất


15% thời gian- làm những việc bạn đang học hỏi

5% thời gian-làm những việc cần thiết khác.

Có thể bạn sẽ gặp khó khăn trong thời gian đầu thực hiện nhưng bạn cần học cách giao quyền, tính kỷ luật và phải “nhẫn tâm” khi quyết định đâu là những việc không nên làm. Thích làm một số công việc không có nghĩa phải đưa nó vào danh sách việc cần làm. Hãy chỉ làm những việc có thể giúp bạn phát triển khả năng hoặc những việc cấp trên yêu cầu đích thân bạn làm. Tất cả những công việc còn lại đều là ứng viên cho danh sách những việc không nên làm của bạn.

4. Quản lý năng lượng

Ngay cả những người giàu năng lượng nhất cũng có thể bị rút cạn năng lượng trong những tình huống khó khăn hoặc không biết cách phân bổ, sử dụng chúng. Có 3 nhóm hao mòn năng lượng mọi người thường mắc phải gồm: Làm những việc không quan trọng, Không có khả năng làm những việc thật sự quan trọng, Không có khả năng ứng phó với vấn đề.

Vì vậy để quản lý năng lượng bản thân tốt nhất, mỗi ngày bạn bên nhìn vào lịch làm việc của mình và tự hỏi “Việc nào là việc chính?” . Từ đó hãy đảm bạn mình có đủ năng lượng để thực hiện việc đó với sự tập trung và xuất sắc.

5. Quản lý suy nghĩ
Kẻ thù lớn nhất của suy nghĩ sâu sắc là sự bận rộn. Khi bạn muốn trở nên xuất sắc, hãy biết cách quản lý sự bận rộn quanh mình. Nếu bạn thấy nhịp độ cuộc sống quá gấp gáp và không có phút nào để suy nghĩ trong cả ngày làm việc, hãy tạo thói quen viết nhanh ra giấy 3 đến 4 điều cần đầu tư thời gian để tìm cách giải quyết. Sau đó tìm thời gian thích hợp để suy nghĩ về những điều đó.

Việc suy nghĩ chỉ mất khoảng 30 phút mỗi ngày, hoạc bạn có thể lưu lịa những điều đó trong một tuần và dành thời gian xử lý trong ngày thứ 7, miễn sao đừng để quá lâu đến nỗi nó lam bạn nản lòng và sợ hãi.

Hãy nhớ một nguyên tắc: 1 phút> 1 giờ. Một phút suy nghĩ đáng giá hơn một giờ nói chuyện phiếm hay làm việc không có kế hoạch.

6. Quản lý lời nói

Các nhà lãnh đạo cấp cao thường không nghe lời bạn nói mà thường đánh giá cao hành động. Nếu họ ngừng việc đang làm lại để lắng nghe, những lời họ nghe sẽ có giá trị. Vì vậy hãy sử dụng ngôn từ hiệu quả nhất. Nếu bạn muốn lời nói của mình có sức nặng, hãy để tâm nhiều hơn đến chúng Nếu bạn quản lý tư duy và tận dụng hiệu quả khoảng thời gian tập trung suy nghĩ, kỹ năng quản lý lời nói của bạn sẽ tiến bộ trông thấy. Đối với cấp trên, nếu bạn có điều gì đáng nói, hãy nói ngắn gọn và súc tích. Nếu không có gì đáng nói, đôi khi việc tốt nhất nên làm là giữ yên lặng.

7. Quản lý cuộc sống riêng

Điều cuối cùng, dù bạn làm việc và quản lý bản thân rất tốt ở chỗ làm nhưng cuộc sống của bạn là một mớ bung bét, cuối cùng mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ. Có ích gì khi leo lên đỉnh cao sự nghiệp nhưng hôn nhân lại tan vỡ, bạn trở thành người xa lạ với con cái?

Không có thành công nào trong sự nghiệp đáng để ta phải hy sinh gia đình của mình”, John C.Maxwell cho biết. Vì vậy, John C.Maxwell định nghĩa thành công là có những người thân thiết nhất luôn yêu thương và tôn trọng mình. Ông muốn có được tình yêu và sự tôn trọng của vợ, con trước khi có sự tôn trọng của bất cứ ai làm việc với mình. Và bạn cũng thế chứ?

Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Muốn nhân viên đi theo, đừng làm nhà lãnh đạo kiểu này

Việc của bạn không phải là sửa sai cho nhà lãnh đạo, mà là gia tăng giá trị. Nếu nhà lãnh đạo không thay đổi, bạn nên thay đổi thái độ hoặc chỗ làm. 
Share:

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2014

Thuật dụng ngôn: Sức mạnh của ngôn từ

Một người lãnh đạo không làm chủ được ngôn ngữ thì không thể lãnh đạo người khác tốt được. Trên thương trường đầy sóng gió, có những người chỉ nhờ cách nói mà trong phút chốc chuyển bại thành thắng, biến mất thành được.

Tài ăn nói chính là việc bạn có thể diễn đạt một cách độc lập, đối đáp một cách tự nhiên, thoải mái.
Share:

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Người sáng lập LinkedIn: "Khởi nghiệp cũng như nhảy từ vách đá"

Reid Hoffman là nhà đồng sáng lập và chủ tịch của LinkedIn. Sản phẩm của Reid đã thay đổi hoàn toàn cách các công ty tìm kiếm nhân viên, cách mọi người tìm kiếm công việc và cách các doanh nhân kết nối với nhau. 


Share:

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Hé lộ thói quen ăn uống 'khác người' của Mark Zuckerberg, Steve Jobs,...

Có một điều khá thú vị là khi nhìn vào thói quen của các nhà lãnh đạo trong quá khứ là một cách tuyệt vời để hiểu sâu hơn về phẩm chất của họ. 


Share:

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

Tại sao Israel lại được gọi là quốc gia khởi nghiệp?

Nhiều người gọi đây là 1 điều kỳ diệu. Những người khác thì coi đây là một sự khó hiểu. Nhưng số lượng các startup công nghệ từ Israel là rất đáng kinh ngạc.



Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?