Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn internet. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn internet. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

CEO POPS Worldwide: Tương lai nằm trong chính hành trình mình đi

Chỉ hai ngày sau khi quyết định trở về Việt Nam để "làm cái gì đó”, Esther Nguyễn, người phụ nữ mang dòng máu Việt lớn lên trên đất Mỹ, đã bước lên máy bay. Hành trang của Esther khi ấy là một lô ý tưởng nhưng chẳng cái nào ra cái nào, bởi lần nào về thăm quê Esther cũng cảm thấy có nhiều thứ để làm. Bà biết và tin mảnh đất chứa rất nhiều cơ hội này sẽ định đoạt tương lai lẫn vận mệnh của mình.
Bà Esther Nguyễn - CEO Công ty CP Phong Phú Sắc Việt (POPS Worldwide) - Ảnh: Quý Hòa

Esther Nguyễn từng sáng lập và gặt hái thành công với một số công ty khởi nghiệp ở Mỹ. Năm 1998, công ty đầu tiên của bà ra đời, hoạt động trong lĩnh vực thương mại điện tử về chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp. Đến năm 2001, bà bán công ty này, chuyển sang lĩnh vực công nghệ xanh và bắt đầu về Việt Nam làm việc từ năm 2004.

Tám năm sau cái ngày "xách ba lô lên và đi", để lại sau lưng nhiều dự định ở Mỹ, Esther Nguyễn đã là CEO của POPS Worldwide, đối tác YouTube được chứng nhận tại Việt Nam và là doanh nghiệp (DN) Việt đầu tiên trong ngành giải trí bước chân ra thế giới với văn phòng đại diện tại Thái Lan và sắp tới là Indonesia và Philippines.

Duyên nợ với internet

* Sinh ra và lớn lên ở thủ phủ của công nghệ internet, khi quyết định về Việt Nam lập nghiệp, sự phát triển của POPS hiện nay đã nằm trong dự đoán của bà?

- Thú thật là hoàn toàn không. Khi chia sẻ với mẹ ý định về nước lập nghiệp và nhận được sự cổ vũ của bà, tôi lên đường nhưng vẫn chưa biết mình sẽ làm gì và sẽ đồng hành cùng ai, tất cả đều chưa được định hình. Cái "có” trong tôi lúc ấy là cảm nhận về một Việt Nam trẻ trung, giàu năng lượng và cực kỳ năng động.

Tôi cho rằng yếu tố này sẽ thúc đẩy nhiều ngành nghề phát triển. Tuy nhiên, nhờ biết được tiện ích của internet nên trong đầu tôi hình thành ý tưởng sẽ khởi phát một dịch vụ gì đó liên quan đến internet tại Việt Nam.

Khi bắt tay vào làm việc gì, tôi ít nghĩ đến mình sẽ thành công như thế nào mà quan tâm hơn đến việc mình sẽ làm ra sao. Tôi nghĩ, tương lai nằm ngay trong chính hành trình mình sẽ đi.

* Dù thời điểm bà trở về, internet ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu tiên? 

- Không chỉ internet mà dịch vụ nghe nhạc bản quyền trực tuyến POPS Worldwide đưa ra lúc ấy cũng rất ít người hiểu. Sở hữu trí tuệ, bản quyền... là điều quá mới mẻ. Các đối tác gặp tôi cứ tròn mắt: "Vì sao phải nghe nhạc bản quyền? Chẳng phải nghe nhạc là miễn phí à?...".

Rất may là càng về sau những câu hỏi ấy càng ít đi. Đến bây giờ, khi nói đến kinh doanh các dịch vụ liên quan đến nghệ thuật, âm nhạc... thì câu hỏi đầu tiên lại là: Có bản quyền chứ?

Rõ ràng, nhận thức của mọi người thay đổi rất nhanh. Với một thị trường hoàn toàn mới như Việt Nam, chỉ cần chịu khó học hỏi và cố gắng tạo sự khác biệt thì không khó nắm bắt cơ hội dẫn đầu ngành.

* Nhưng thay đổi nhận thức của cả cộng đồng là chuyện không đơn giản?

- Không chỉ POPS Worldwide mà rất nhiều đơn vị đều chung tay truyền thông cho việc thay đổi nhận thức của mọi người về sở hữu trí tuệ. Bản thân YouTube đến tận bây giờ cũng vẫn không ngừng tuyên truyền cho người dùng thế giới hiểu về các vấn đề bản quyền. Dù đã có nhiều người hiểu về sở hữu trí tuệ hơn trước nhưng không phải là tất cả.

Lấy ví dụ từ việc kinh doanh của POPS chẳng hạn. Chúng tôi là đơn vị đại diện cho các ca sĩ trong việc khai thác các sản phẩm trên mạng internet nên phải đảm bảo quyền lợi của họ. Do đó, người dùng chỉ được xem, tải về máy tính của mình những music video của ca sĩ chứ không được tải lên các trang khác.

Khi cứ cố gắng làm việc này, họ nhận được cảnh báo bản quyền từ POPS và cảm thấy khó chịu, phản ánh với chúng tôi rất gay gắt. Đội ngũ của POPS đã phải giải thích cho từng trường hợp người dùng như thế.

Dù kinh doanh các sản phẩm nghệ thuật trực tuyến hiện nay đã rất phát triển nhưng nhận thức của người dùng vẫn là thử thách không đơn giản với những người làm nghề.

* Theo bà, phải bao lâu nữa vấn đề ấy mới được khắc phục?

- Sẽ không lâu đâu. Người dùng internet hiện nay phần lớn là người trẻ, mà giới trẻ Việt Nam thì rất thông minh và cởi mở. Các chuyên gia thế giới khi quan sát thị trường Việt Nam đều đánh giá tiềm năng quảng bá trực tuyến ở Việt Nam rất lớn. Quan trọng hơn, tất cả chỉ mới ở giai đoạn bắt đầu. Ngân sách quảng cáo từ những phương tiện truyền thống đang dần đổ về phương tiện kỹ thuật số.
Ngay cả các đài truyền hình lớn như Vĩnh Long, VTV, VTC, HTV... đều đưa các sản phẩm của mình lên internet ngay sau khi phát sóng để phục vụ khán giả. Người dùng trẻ suy nghĩ rất thoáng, họ muốn tất cả phải nhanh và ngay lập tức nên việc xem video trên mạng khiến họ thích thú hơn xem truyền hình.

Ở khía cạnh khác, khi xu hướng số hóa các nội dung phát triển thì nền nghệ thuật nước nhà cũng sẽ phát triển, vì người làm nội dung sẽ có thêm chi phí để tái đầu tư và sáng tạo. Đó là việc đáng mừng. Trong khu vực, các quốc gia như Thái Lan, Indonesia... đều đang đón đầu làn sóng này.

* Và đó chính là lý do POPS quyết định bước ra thị trường thế giới?

- Khi việc kinh doanh ở Việt Nam bắt đầu ổn định, chúng tôi liền chuẩn bị bước ra thế giới. Thái Lan là bàn đạp đầu tiên bởi đây là thị trường giàu tiềm năng. Ngành giải trí Thái Lan đã có những bước phát triển rất tốt trong thời gian qua.

Tuy đã chuẩn bị rất kỹ nhưng chúng tôi cũng gặp những thử thách khá lớn ở thị trường này. Khi biết chúng tôi là công ty đến từ Việt Nam, những đối tác ở Thái Lan khá e dè. Tôi nghĩ việc này sẽ không chỉ dừng lại ở Thái Lan mà còn nhiều nước khác. Thế nên chúng tôi cố gắng thể hiện sự chuyên nghiệp để thuyết phục đối tác.

Hệ sinh thái video

Đầu tháng 8/2015, nhiều người háo hức trước thông tin ca sĩ Sơn Tùng M-TP biểu diễn "live streaming" (truyền hình trực tiếp trên mạng internet). Dù buổi "live streaming" giới thiệu ca khúc Âm thầm bên em của Sơn Tùng M-TP chỉ vỏn vẹn 20 phút nhưng đã thu hút tới 15.000 lượt xem trực tiếp trên kênh YouTube.

Sau sự kiện của Sơn Tùng M-TP, giới nghệ sĩ nhắc nhiều hơn đến "live streaming", nhưng thật ra công nghệ này đã được POPS ứng dụng từ năm 2014, với các chương trình tiêu biểu như: POPS Award 2014, Elle Show 2014, Lễ trao giải Làn Sóng Xanh 2013 cùng các chương trình giao lưu trực tiếp với các nghệ sĩ nổi tiếng...

Esther Nguyễn cho biết, đây sẽ là xu hướng thịnh hành trong thời gian tới. Việc POPS nhanh chân hơn cả trong thực hiện "live streaming" chứng tỏ sự nhanh nhạy và quyết liệt trong việc thu hút người dùng của đơn vị tiên phong trong lĩnh vực phân phối nội dung số tại Việt Nam.

Theo tiết lộ của người đứng đầu POPS, chìa khóa để cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo trực tuyến là phải có một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đó người dùng là yếu tố quan trọng nhất.

* Làn sóng video trực tuyến rõ ràng đang đe dọa ngành truyền hình. Vậy phía DN đón nhận xu hướng này thế nào, thưa bà?

- Hiện đã có rất nhiều DN chọn tiếp thị kỹ thuật số (digital marketing) để quảng bá sản phẩm, dịch vụ, nhất là ở khối sản xuất hàng tiêu dùng nhanh. Có thể thấy sự nhanh nhạy của DN trong việc tham gia tài trợ cho những người làm nội dung. Trong lĩnh vực này, POPS như một chiếc cầu nối, chúng tôi làm việc với đội ngũ nghệ sĩ làm nội dung rồi tìm kiếm DN có nhu cầu quảng bá để kết hợp họ với nhau.

Không ít trường hợp DN đồng ý tài trợ toàn bộ cho một số nghệ sĩ làm nội dung, nhưng cũng có trường hợp POPS tài trợ. Thế mạnh của chúng tôi là có sẵn đội ngũ lẫn hạ tầng cần thiết để sản xuất chương trình nên nhiều nghệ sĩ trẻ đã tìm đến chúng tôi. Ngược lại, vì hiểu người dùng internet không chỉ trong nước mà còn cả khu vực nên POPS có thể hỗ trợ tốt cho DN cần quảng bá ra thị trường.

Tuy lượng DN gắn bó, tài trợ cho nghệ sĩ chưa nhiều so với hàng chục ngàn video đang có trên POPs.vn nhưng con số này đang tăng không ngừng.

Theo Google, xu hướng xem video ở Việt Nam rất phổ biến. Đơn vị này đo được có 6/10 người trưởng thành ở Việt Nam xem video online; và 8/10 khách hàng người Việt lên mạng ít nhất một lần/ngày, những người trẻ, dưới 34 tuổi, lên mạng thường xuyên hơn.

Hình thức quảng bá lồng vào trong nội dung video (video contain marketing) đang được thế giới ưa chuộng sẽ mạnh lên ở Việt Nam trong thời gian tới.

* POPS chắc hẳn phải có sự chuẩn bị về nhân lực để đón đầu sự phát triển của thị trường?

- Ban đầu POPS chỉ có chục người nhưng nay đã có 80 nhân viên và kế hoạch là sẽ tuyển dụng thêm để có hơn 100 nhân viên trong năm nay. Như đã nói, ngành sẽ phát triển nhanh trong thời gian tới nên nhu cầu nhân lực sẽ rất cao, không chỉ với POPS mà còn nhiều đơn vị khác.

* Làm việc với đội ngũ hầu hết là người trẻ, bà có thấy áp lực?

- Ngành trẻ thì đương nhiên cần những người trẻ. Mức độ cạnh tranh của ngành rất lớn nên áp lực tôi chịu không chỉ từ đối thủ cạnh tranh mà còn từ chính nhân viên của mình. Do kỹ thuật thay đổi không ngừng, mình chỉ cần chậm một chút là sẽ trở thành người đi sau. Thế nên tôi học mỗi ngày và cố định thời gian của mình trong việc tiếp cận những công nghệ mới.

Những bạn trẻ ở POPS cũng rất năng động. Ngay trong chuyện làm việc thiện nguyện cũng vậy, các bạn không muốn đến những nơi đã nổi tiếng mà thường xuyên tìm đến những khu vực chưa nhận được nhiều sự chăm sóc từ cộng đồng.

Năm nào cũng vậy, chúng tôi luôn dành thời gian đến với những em nhỏ ở vùng sâu, vùng xa. Sự nỗ lực của các bạn trẻ góp phần chính yếu vào thành công của POPS.

* Vừa làm việc, vừa tranh thủ học hành, bà có còn thời gian dành cho chuyện riêng tư?

- Tôi tin vào khái niệm duyên nợ. Nếu có duyên nợ thì dù mình bận đến mức nào cũng có chuyện đưa đẩy để gặp nhân duyên. Số phận mỗi người hầu như đã được định đoạt từ lúc cất tiếng khóc chào đời, tôi nghĩ vậy!
* Cảm ơn bà về những chia sẻ thú vị. 
(Doanh Nhân Sài Gòn)
Share:

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

Tỷ phú Carlos Slim thành cổ đông lớn nhất của New York Times

Việc nắm giữ 27,8 triệu cổ phiếu New York Times cho thấy ông Slim đang tin tưởng vào tương lai của tờ báo...

Theo hãng tin Bloomberg, tỷ phú viễn thông người Mexico Carlos Slim đã trở thành cổ đông lớn nhất của công ty xuất bản tờ báo danh tiếng New York Times của Mỹ.

Ông Slim đã thực hiện quyền chọn để thâu tóm thêm 15,9 triệu cổ phiếu của công ty báo chí này. Mức giá mà vị tỷ phú phải trả để có được số cổ phiếu này là 6,36 USD/cổ phiếu, chỉ bằng khoảng một nửa so với giá đóng cửa của cổ phiếu New York Times phiên ngày 14/1 là 12,28 USD/cổ phiếu.

Với vụ mua thêm cổ phiếu trên, cổ phần mà Slim nắm giữ trong New York Times tăng lên mức 16,8% cổ phiếu hạng A.

Tỷ phú Slim, người giàu thứ nhì thế giới, đã giành được quyền chọn mua cổ phiếu New York Times sau khi ông cho tờ báo này vay 250 triệu USD vào năm 2009 để giúp tờ báo vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính. Khoản vay này đã được thanh toán đầy đủ cả gốc lẫn lãi.

Ngoài ra, chênh lệch giữa mức giá mà Slim phải trả trong đợt mua cổ phiếu New York Times vừa rồi với mức giá cổ phiếu này trên thị trường đồng nghĩa với việc ông lãi 94 triệu USD.

Việc nắm giữ 27,8 triệu cổ phiếu New York Times cho thấy Slim đang tin tưởng vào tương lai của tờ báo, ít nhất trên phương diện tài chính, bất chấp độc giả và các nhà quảng cáo đang “chạy” từ báo in sang báo mạng. Kể từ sau khi được Slim cho vay vốn, New York Times đã cải thiện bảng cân đối kế toán, áp phí cho nội dung trên website, và đưa ra những sản phẩm mới trên Internet.

New York Times cho biết, công ty này nhận được 101,1 triệu USD từ việc bán cổ phiếu cho Slim theo quyền chọn. Tờ báo dự kiến sẽ dùng số tiền này để mua lại cổ phiếu hạng A.

Giá trị cổ phần của Slim trong New York Times hiện ở mức 341 triệu USD. Quỹ đầu tư Fairpointe Capital hiện là cổ đông lớn thứ nhì của tờ báo này, với mức cổ phần 9,44%.

Cho dù là cổ đông lớn nhất, vị tỷ phú người Mexico cũng khó lòng giành quyền kiểm soát New York Times nếu ông muốn. Gia đình Ochs-Sulzberger kiểm soát tờ báo này đang nắm hầu hết cổ phiếu có quyền bầu trong công ty.

Năm 2014 là một năm nhiều biến động đối với New York Times cả về hoạt động báo chí lẫn kinh doanh. Vào tháng 5, tờ báo sa thải Giám đốc điều hành, và đến cuối năm, tờ báo cắt giảm hơn 100 nhân sự. Trong vòng 12 tháng qua, giá cổ phiếu New York Times giảm 18%.

Tuy vậy, lượng độc giả đăng ký New York Times trên mạng Internet vẫn tăng trưởng tốt. Tính đến cuối quý 3 vừa qua, mức đăng ký đã đạt 875.000 độc giả, bất chấp lượng phát hành bản báo in tiếp tục giảm. Doanh thu quảng cáo báo mạng của New York Times đã tăng lên, nhưng chưa đủ để bù đắp cho sự giảm sút doanh thu quảng cáo báo in.

Khoản vay dành cho New York Times đã đem lại cho tỷ phú Slim lợi nhuận lớn, cho dù nếu ông không nhận được quyền chọn mua cổ phiếu của tờ báo. Khoản vay này đã được New York Times thanh toán đầy đủ vào năm 2011 với mức lãi 14%/năm. Ngoài ra, vị tỷ phú còn được nhận 2,9 triệu cổ tức từ New York Times.

Nếu cứ giữ mức cổ phần hiện nay trong tờ báo, Slim sẽ được hưởng khoảng 1,1 triệu USD tiền cổ tức mỗi quý.

Cổ phần New York Times chỉ là một khoản đầu tư nhỏ trong “đế chế” khổng lồ của Carlos Slim, trải rộng từ ngành ngân hàng, năng lượng tới bán lẻ. Phần lớn tài sản của Slim đến từ cổ phần chính của ông trong America Movil, nhà mạng viễn thông lớn nhất khu vực Mỹ Latin.
Theo Vneconomy
Share:

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015

Uber, Airbnb và sự trỗi dậy của nền Kinh tế chia sẻ

Uber, Airbnb, Spotify... đang dần chiếm lĩnh thị trường và lớn nhanh như vũ bão và trở thành một xu hướng mới của nền kinh tế.

Nếu thế hệ cha chú coi việc phải sở hữu nhà cửa, xe hơi, và những vật dụng nào đó như cách bảo đảm sự thành đạt và một cuộc sống hạnh phúc, thì thế hệ trẻ ngày nay, lại không lệ thuộc vào những quy ước đó. Họ ngày càng ưa thích những phương cách ít tốn kém hơn là sở hữu.

Vì thế, họ có xu hướng đi thuê, đi nhờ, ở nhờ, chia sẻ, mua bán lại những món đồ đã sử dụng thay vì mua và sở hữu mọi thứ. Và chính điều đó đang làm đảo lộn toàn bộ nền công nghiệp bán lẻ và dịch vụ hiện nay.

Các nhà bán lẻ hoặc dịch vụ đã không chú ý tới hoặc coi trọng đặc điểm hành vi tiêu dùng của nhóm này, đã bỏ lỡ một nhịp cơ hội đón đầu xu hướng đó.

Họ đang phải trả giá khi những doanh nghiệp mới khởi nghiệp như Rent The Runway, Spotify, Airbnb, Uber, Lyft... đã chiếm lĩnh thị trường và lớn nhanh như vũ bão chỉ bằng cách thúc đẩy làn sóng thuê, chia sẻ, đi nhờ xe, nhà cửa, vật dụng, trang phục... thành một xu hướng mới của nền kinh tế. Thuật ngữ mới để gọi hiện tượng này là “Kinh tế chia sẻ” hay còn gọi là Sharing economy.

Trên mạng Internet, thứ gì cũng có thể thuê mướn

Theo ước tính, chỉ trong 1 đêm đã có đến 40.000 người thuê chỗ ở từ một dịch vụ cung ứng 250.000 phòng tại 30.000 thành phố ở 192 nước, và mọi thanh toán đều qua mạng Internet.

Điều đáng nói là những căn phòng hay chỗ ngủ này không phải do một chuỗi khách sạn nào đó cung cấp, mà do các cá nhân. Những người cần thuê và chủ cho thuê được “mai mối” nhờ Airbnb - một công ty có trụ sở tại San Francisco (Mỹ).

Kể từ khi được ra mắt năm 2008, đã có hơn 6 triệu người sử dụng dịch vụ này. Đây là ví dụ điển hình nhất cho mô hình “kinh tế chia sẻ” mới mẻ và khổng lồ; một cá nhân có thể cho người lạ thuê bất cứ thứ gì họ đang không sử dụng, như xe cộ, nhà cửa, chỗ để xe... thông qua Internet.

Có thể bạn nghĩ nó chẳng khác gì việc sở hữu một nhà nghỉ kiểu Bed & Breakfast (một hình thức chủ nhà cung cấp chỗ ngủ qua đêm và phục vụ bữa sáng cho khách trọ), sở hữu dịch vụ timeshare hoặc car pool (đi chung xe). Nhưng công nghệ đã giảm thiểu chi phí giao dịch, khiến việc chia sẻ tài sản dễ dàng và nhanh gọn hơn bao giờ hết. Sự thay đổi lớn nhất là thông tin về người và vật được cung cấp đầy đủ hơn, cho phép các tài sản hữu hình trở thành các dịch vụ.


Uber, Airbnb và sự trỗi dậy của nền Kinh tế chia sẻ (1)

Ngày trước, khi chưa có internet, việc thuê ván lướt sóng, trang thiết bị hay chỗ đậu xe từ một người khác là khả thi, nhưng lại hay gặp rắc rối hơn. Giờ đây các trang web như Airbnb hay RelayRides, SnapGoods “bắt cặp” người thuê và người chủ, các smartphones có GPS chỉ cho ta chỗ đỗ xe gần nhất ở đâu, mạng xã hội cho phép ta kiểm tra thông tin của người khác và gây dựng lòng tin, và hệ thống thanh toán online sẽ lo liệu phần chi trả.

Cái gì của tôi cũng là của bạn, đi kèm với phí

Mô hình peer-to-peer như eBay khiến bất kì ai cũng có thể thành một nhà bán lẻ, các trang web chia sẻ cho phép các cá nhân có thể đóng vai trò như một công ty cho thuê xe, dịch vụ taxi, khách sạn thực thụ. Chỉ cần lên mạng và tải ứng dụng về.

Hình thức này phù hợp với các vật dụng đắt tiền mà chủ nhân của chúng không sử dụng hết chức năng. Phòng ngủ và xe hơi là 2 minh chứng rõ ràng nhất, nhưng bạn cũng có thể thuê hẳn một khu cắm trại ở Thụy Điển, sân bãi ở Úc hay máy giặt ở Pháp.

Như những người ủng hộ ngành kinh tế chia sẻ này thường nói: Quyền sử dụng ăn đứt quyền sở hữu.

Rachel Botsman, tác giả của một cuốn sách về chủ đề này, nói rằng thị trường cho thuê peer-to-peer tính riêng đã có giá trị tới 26 tỷ USD. Định nghĩa rộng hơn của ngành kinh tế chia sẻ bao gồm cho vay peer-to-peer, hoặc đặt một panel năng lượng mặt trời trên mái nhà rồi bán lại điện năng cho các nhà sản xuất. Nó không chỉ mang lợi cho cá nhân, internet cũng giúp các công ty dễ dàng cho thuê các phòng làm việc còn trống hay máy móc dư thừa. Nhưng cái cốt lõi của “kinh tế chia sẻ” là mọi người cho nhau thuê các thứ.


Uber, Airbnb và sự trỗi dậy của nền Kinh tế chia sẻ (2)

Ngoài việc chủ sở hữu có thể kiếm tiền từ những tài sản chưa tận dụng hết, mô hình kinh tế chia sẻ còn có ý nghĩa tích cực đối với môi trường. Chẳng hạn một người có thể thuê xe ô tô mỗi khi cần thay vì sở hữu nó. Theo đó, thị trường sẽ không cần nhiều ô tô, đồng nghĩa với không cần khai thác nhiều tài nguyên để sản xuất ô tô.

Việc sử dụng dịch vụ của nhau còn giúp con người trở nên cởi mở hơn. Với những người ưa giao tiếp xã hội, được gặp gỡ những khuôn mặt mới bằng việc nghỉ chân tại nhà của họ thật tuyệt vời. Với những người khác, Internet là nơi gây dựng lòng tin. Mỗi website đều cung cấp thông tin, đánh giá của những khách hàng trước đó, nhận xét và bình chọn cho từng chủ sở hữu. Mạng xã hội như Facebook cho phép ta “thăm dò” trước đối tượng và bạn bè của họ.

Xu thế của tương lai

Ngành kinh tế chia sẻ có chút giống với mua bán online, thứ bắt nguồn từ Mỹ 15 năm trước. Ban đầu, mọi người nghi ngại về tính an toàn của nó, nhưng sau khi hoàn tất thành công một giao dịch, ví dụ như là qua Amazon, họ cảm thấy an tâm hơn. Cũng giống như vậy, sử dụng Airbnb lần đầu tiên sẽ khuyến khích mọi người thử cả những dịch vụ khác.

Tiếp theo, hãy xem eBay, khởi nguồn là một "chợ" buôn bán peer-to-peer, giờ nó đã “bị” chiếm lĩnh bởi các “tay buôn chuyên nghiệp” (nhiều người trong số họ ban đầu chỉ là một eBay user).

Điều tương tự có thể sẽ xảy ra với ngành kinh tế chia sẻ: Mở ra nhiều cơ hội hơn cho các tổ chức kinh doanh.

Các công ty lớn cũng đã bắt đầu tham gia. Công ty cho thuê xe hơi Avis có cổ phần của một công ty đối thủ, 2 hãng sản xuất xe GM và Daimler cũng vậy. Trong tương lai, các công ty có thể sẽ cho ra đời các sản phẩm “lai”, liệt kê các chỗ dư thừa (từ xe cộ, thiết bị tới văn phòng) trên các website cho thuê peer-to-peer.

Trước đây, các phương thức làm việc online mới không hoàn toàn thay thế các phương thức cũ, nhưng lại thường thay đổi được chúng. Giống như mua sắm online đã bắt buộc Walmart và Tesco phải thích ứng, chia sẻ online sẽ gây chấn động tới ngành vận chuyển, du lịch, thuê mướn trang thiết bị, v.v…

Mối lo lớn nhất của mô hình này là tính hợp pháp không ổn định. Chẳng hạn những cá nhân cho thuê nhà, liệu có phải tuân theo quy định về thuế áp dụng cho khách sạn? Tại Amsterdam (Hà Lan), các nhà chức trách vào trang Airbnb để truy tìm những khách sạn chưa được cấp phép. Tất nhiên, những người cho thuê phòng nên đóng thuế, nhưng họ không thể bị quản lý như khách sạn.

Tại một số thành phố ở Mỹ, các dịch vụ taxi chia sẻ như Uber đã bị cấm sau các cuộc vận động hành lang của các hãng taxi truyền thống. Một số luật lệ sẽ phải được cập nhật để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng sử dụng hình thức này, nhưng trở ngại nằm ở chỗ sẽ có những người có quyền thế tìm cách cản trở, hủy hoại sự cạnh tranh.


Uber, Airbnb và sự trỗi dậy của nền Kinh tế chia sẻ (3)

Đổi mới và quy định cũ không hòa hợp đơn giản vì hai bên không làm việc với nhau. Những quy định, luật lệ, chuỗi cung ứng sẽ đi ra ngoài quy luật thị trường nếu cấm cản những yếu tố cạnh tranh mới. Bởi công nghệ và nhu cầu của thế hệ mới sẽ không dừng lại.

Người ta đã quá bám chặt vào những quy định kiểu như “giấy phép hoạt động”, “phá giá”, “cạnh tranh không lành mạnh”... mà không nhận ra rằng, không chỉ trong ngành kinh doanh vận chuyển, mà cả những ngành công nghiệp đã định hình, mô hình chuỗi cung ứng đã tồn tại đủ lâu, đủ già cỗi để đến lúc phải đổi mới và cả thay thế. Và những công ty mới, đại diện của nền kinh tế thuê, nhờ, chia sẻ... cùng với công nghệ mới này, đang thực sự góp phần vào quá trình sụp đổ đó.

Dù có gặp những trở ngại nhưng kinh tế chia sẻ là một ví dụ cho thấy giá trị của Internet đối với người tiêu dùng. Mô hình kinh doanh đang nổi này đã đủ lớn để đánh thức các cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp.

Đó là dấu hiệu của một tiềm năng phát triển khổng lồ. Đã đến lúc chúng ta quan tâm và chia sẻ nó.
 Theo Trí Thức Trẻ/Economist
Share:

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

Nguyễn Hà Đông vào top triệu phú Internet từ tay trắng

Flappy Bird đã mang về cho Nguyễn Hà Đông số tiền khoảng 3 triệu USD, The Richest ước tính...

Trang web chuyên xếp hạng vừa đưa nhà lập trình Nguyễn Hà Đông, tác giả trò chơi gây sốt Flappy Bird, vào danh sách 10 triệu phú Internet phất lên từ con số 0.
Share:

Tác giả 'Flappy Bird' lọt top triệu phú thế giới làm giàu nhờ Internet

Có thể nói Internet là nơi duy nhất mà mọi ý kiến đều có thể được lắng nghe. Ngoài việc tạo nên một thế giới tốt đẹp và thú vị hơn, Internet còn là công cụ biến những ý tưởng trở thành tài sản, và những người đề ra những ý tưởng trở thành triệu phú. 
Dưới đây là danh sách 10 triệu phú đã làm giàu nhờ những ý tưởng trên mạng Internet theo đánh giá của trang therichest.com.

10. Matthew Mullenweg với ý tưởng mã nguồn mở WordPress

Share:

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

Rakuten: Gã khổng lồ thương mại điện tử kín tiếng xứ hoa anh đào

Rakuten có thể xem mẫu hình thành công điển hình nhờ việc am hiểu văn hóa địa phương và thói quen người tiêu dùng. 
Năm 1996, một nhân viên ngân hàng Industrial Bank of Japan có tên Hiroshi Mikitani quyết định từ bỏ công việc có thu nhập và danh tiếng tốt tại Nhật Bản. Đây được xem là hành động phá lệ so với truyền thống người Nhật. Một năm sau đó, Mikitani thành lập nên Rakuten, sau này là một trong những công ty Internet, thương mại điện tử lớn nhất trên thế giới.
Share:

Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014

Jack Ma: Cảm hứng làm giàu từ lần đầu đến Mỹ

Jack Ma đã trở thành người giàu nhất Trung Quốc với khối tài sản ròng trị giá khoảng 22 tỷ USD. Tất cả những gì Jack Ma có được ngày hôm nay là nhờ “đế chế” thương mại điện tử Alibaba mà ông sáng lập cách đây 15 năm.


Năm nay 49 tuổi, tỷ phú Ma đang gấp rút chuẩn bị cho vụ phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) của Alibaba tại Sở Giao dịch Chứng khoán New York (NYSE) trong tháng 9 này.
Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?