Kiến thức chứng khoán - Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán

Hiển thị các bài đăng có nhãn hàn quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hàn quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

Tham lam khi người ta sợ hãi, một doanh nghiệp Hàn Quốc đã thắng lớn với khoản đầu tư vào May Thành Công và Savimex

Đầu tư vào May Thành Công (TCM), Savimex (SAV) vào thời điểm những doanh nghiệp này rơi vào khủng hoảng. Giờ đã đến lúc E.Land thu về trái ngọt sau nhiều năm đầu tư.

Dệt may, đồ gỗ là những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây. Với lợi thế nguồn nhân công giá rẻ, trẻ cũng như được hưởng lợi ưu đãi thuế từ các hiệp định thương mại, đây thực sự là 2 ngành sản xuất kinh doanh đầy tiềm năng và nhận được sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh những hoạt động đầu tư trực tiếp (FDI) thì khối ngoại còn tham gia vào lĩnh vực dệt may, đồ gỗ thông qua hoạt động đầu tư gián tiếp, mua cổ phần doanh nghiệp Việt Nam. Điều này có thể thấy rõ nét thông qua trường hợp E.Land – một đại gia trong ngành thời trang, bán lẻ tại Hàn Quốc đang là cổ đông lớn nhất, nắm quyền chi phối tại May Thành Công (TCM) và Savimex (SAV).

E.Land “tham lam” khi mọi người sợ hãi

Khủng hoảng kinh tế những năm 2008 khiến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp gặp muôn vàn khó khăn. TCM cũng không ngoại lệ khi kết quả kinh doanh năm đó giảm mạnh và chỉ thoát lỗ nhờ đánh giá lại cách tính khấu hao tài sản.

Trên sàn chứng khoán, giá cổ phiếu TCM từ đỉnh cao 111.000 đồng tháng 11/2007 (giá chưa điều chỉnh) đã liên tục lao dốc và giảm xuống chỉ còn khoảng 6.000đ vào đầu năm 2009.

Trong bối cảnh đó, E.Land đã bất ngờ trở thành đối tác chiến lược của TCM. Thông qua 2 đợt phát hành riêng lẻ trong năm 2009, E-Land đã chi 163 tỷ đồng để mua 16,3 triệu cổ phiếu, tương đương 38% cổ phần của TCM.

Sau nhiều đợt nhận thưởng cổ phiếu, mua cổ phần từ các cổ đông công ty, E.land hiện đang nắm giữ 21,3 triệu cổ phiếu TCM (tỷ lệ 43%).

Tương tự là trường hợp của Savimex – một doanh nghiệp chuyên sản xuất, xuất khẩu đồ gỗ đã gặp nhiều khó khăn khi kinh tế toàn cầu suy thoái đã kéo theo nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ của một số cường quốc sụt giảm và ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của công ty.

Trong lúc khó khăn bủa vây với Savimex, E.Land đã mua lại hơn 4 triệu cổ phần từ các cổ đông hiện hữu của Savimex và trở thành cổ đông lớn nhất của công ty. Do giao dịch được thực hiện thông qua VSD nên mức giá không được công bố, tuy nhiên xét theo thị giá SAV khi đó thì có thể ước tính E.Land đã chi khoảng 70 tỷ đồng cho hơn 4 triệu cổ phiếu SAV (khoảng 17.000 đồng/cp).

Tuy vậy, trong 2 năm đầu tiên hiện diện tại Savimex, KQKD công ty vẫn không những không cải thiện mà còn đi xuống rõ nét với việc liên tiếp thua lỗ.

Đã đến lúc E.Land hưởng “trái ngọt”?

E.Land tham gia đầu tư vào TCM và Savimex với tỷ lệ sở hữu gần như tối đa trong phạm vi cho phép của nhà đầu tư nước ngoài. Điều này giúp E.Land có thể trực tiếp tham gia tham gia vào HĐQT và Ban điều hành cũng như quản lý, hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

Có thể thấy rõ như trường hợp TCM khi đầu ra sản phẩm đang được E.land bao tiêu tới 50% và hoạt động xuất khẩu của TCM chiếm đến 90% tổng doanh thu công ty. Sau sự hiện diện của E.Land, KQKD của TCM đã có sự chuyển biến rõ nét. Từ mức 1.000 tỷ đồng trong giai đoạn khủng hoảng năm 2008 thì đến năm 2016, doanh thu TCM đã lên tới hơn 3.000 tỷ đồng. Lợi nhuận công ty cũng duy trì ổn định quanh mức 100 – 200 tỷ đồng.
 May Thành Công (TCM) tăng trưởng ổn định sau sự hiện diện của E.Land

Trong những tháng đầu năm 2017, cổ phiếu TCM đã có cú bứt phá ngoạn mục từ vùng giá 14.000 đồng lên 23.000 đồng. Với mức giá này, giá trị khoản đầu tư của E.Land vào TCM đã lên tới 487 tỷ đồng, tăng gần 3 lần so với vốn đầu tư ban đầu, đó là chưa kể tới khoảng 130 tỷ đồng cổ tức bằng tiền mặt nhận về trong suốt quá trình đầu tư.

Còn với Savimex, sau 2 năm thua lỗ (2014 và 2015), doanh nghiệp này đã có lãi trở lại trong năm 2016. Mặc dù con số lợi nhuận là khá khiêm tốn (2,8 tỷ đồng) nhưng bước đầu đây là những tín hiệu tích cực trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp của E.Land.
 Savimex đã có lãi trở lại

Với sự hỗ trợ của E.Land, Savimex đang đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm, đặc biệt tại thị trường Mỹ, Hàn Quốc. Theo đánh giá của CTCK BSC, tăng trưởng xuất khẩu của Savimex sang Mỹ sẽ đạt 20% năm 2017, 25% năm 2018. Còn thị trường Hàn Quốc với đầu ra được hỗ trợ bởi E.land dự báo tăng trưởng 5% mỗi năm.

Những tín hiệu tích cực từ hoạt động tái cấu trúc đã giúp cổ phiếu SAV tăng gần gấp đôi trong những tháng đầu năm 2017 và hiện đang ở quanh ngưỡng 11.000 đồng/cp. Nếu so với giá vốn đầu tư ban đầu vào Savimex thì E.Land vẫn đang thua lỗ.

Tuy vậy, việc thua lỗ về giá cổ phiếu chỉ là yếu tố thời điểm và việc hồi sinh Savimex hay TCM mới là thành công lớn của E.Land bởi doanh nghiệp ngoại này đã tận dụng được hệ thống sản xuất, nhân công cũng như những ưu đãi thuế tại Việt Nam.



Cổ phiếu TCM, SAV tăng phi mã trong giai đoạn đầu năm 2017

Hoàng Anh
Theo Trí thức trẻ
Share:

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016

Hàn Quốc và “làn sóng” đầu tư thứ ba vào Việt Nam

Các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư khoảng 50 tỷ USD và đang góp khoảng 30% vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam...


Quy mô đầu tư từ Hàn Quốc vào Việt Nam đã vượt qua các đối thủ trong những năm qua. Cụ thể, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong hai năm 2014 - 2015, Hàn Quốc đã chính thức vượt qua Nhật Bản trở thành quán quân đầu tư tại Việt Nam.

Doanh nghiệp Hàn góp 30% xuất khẩu Việt Nam

Hàn Quốc hiện là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất cả về số lượng dự án và tổng vốn đầu tư trong số 112 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với khoảng 50 tỷ USD, 5.593 dự án.

Tính đến nay, doanh nghiệp FDI Hàn Quốc đã đầu tư vào 19 lĩnh vực, chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo (35 tỷ USD), kinh doanh bất động sản (8,2 tỷ USD), xây dựng (2,7 tỷ USD).

Doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư vào 52 tỉnh/thành phố của Việt Nam, lớn nhất là Bắc Ninh (gần 6,2 tỷ USD), Hà Nội (5,8 tỷ USD),  Đồng Nai (5,5 tỷ USD), Hải Phòng (5,4 tỷ USD),Thái Nguyên (5 tỷ USD).

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hàn Quốc ưa chuộng đầu tư vào công nghiệp chế biến, chế tạo, bất động sản, xây dựng, vận tải kho bãi và bán buôn bán lẻ, sửa chữa ôtô xe máy.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận định, các doanh nghiệp Hàn Quốc đã giúp doanh nghiệp Việt nhận thức rõ về ưu và nhược điểm của mình. Chẳng hạn, Samsung - một trong những nhà đầu tư hàng đầu, đã tập trung đầu tư cho điện tử, công nghệ cao và nhiều dự án trọng điểm trong giao thông, điện lực, bất động sản với tổng vốn đăng ký gần 16 tỷ USD.

Việc đầu tư của Hàn Quốc và Samsung nói riêng đã tạo ra sức ép cạnh tranh cho ngành công nghiệp phụ trợ. Trong năm 2015, số lượng doanh nghiệp Việt trở thành nhà cung cấp cho Samsung tăng mạnh lên con số 190. Trong số này có 12 nhà cung ứng ký hợp đồng trực tiếp và 178 doanh nghiệp là nhà cung ứng cấp 2.

Lý giải làn sóng đầu tư Hàn, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), ông Đỗ Nhất Hoàng cho rằng, có nhiều lý do khiến quyết định của các nhà đầu tư vào Việt Nam như tình hình chính trị ổn định và tăng trưởng kinh tế cao ( 5-6,5%/năm).

Hệ thống cơ sở hạ tầng đang ngày càng hoàn thiện và đang được đầu tư mạnh, với 20 sân bay, 39 cảng biển, hệ thống đường bộ được nâng cấp và xây mới. Nguồn nhân lực dồi dào với khoảng 93 triệu dân, trong đó 60% dân số đang trong độ tuổi lao động.

“Tôi cho rằng, việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, những đổi mới về luật pháp chính sách theo hướng minh bạch hoá thủ tục đầu tư và bình đẳng đối với nhà đầu tư nước ngoài. Việc tham gia các FTA thế hệ mới với cam kết giảm thuế sâu, bảo hộ sở hữu trí tuệ,…đã tạo ra động lực thu hút đầu tư”, Cục trưởng Hoàng khẳng định doanh nghiệp FDI Hàn Quốc đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, tạo ra 70 vạn việc làm, góp 30% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam.

Các doanh nghiệp Hàn Quốc được đánh giá là các nhà đầu tư làm ăn nghiêm túc, có hiệu quả. 

Ông Hoàng cho biết, Việt Nam mong muốn doanh nghiệp Hàn Quốc tiếp tục đầu tư vào công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, điện, điện tử, công nghệ thông tin, nông nghiệp chất lượng cao, môi trường, công nghiệp chế tạo, y tế và phát triển hạ tầng…

“Làn sóng” đầu tư thứ ba vào Việt Nam

Các dự án đầu tư tỷ USD của Hàn Quốc trong thời gian gần đây đã góp phần hình thành làn sóng đầu tư thứ ba của Hàn Quốc vào Việt Nam sau những năm 1990 và làn sóng thứ hai vào những năm 2000.

Khác với việc đổ tiền vào các ngành sản xuất, may mặc, điện tử để xuất khẩu, ngày nay các nhà đầu tư Hàn Quốc đã đầu tư phục vụ chính thị trường Việt Nam với dân số đông, trẻ, thu nhập đầu người ngày càng cao.

Đây là động lực khiến các nhà đầu tư Hàn thay đổi tâm thức khi tham gia thị trường. Các nhãn hiệu như Hyundai, Kia Morning, CGV, Lotte, Lotteria hay như sự tham gia của đại gia bán lẻ lớn nhất Hàn Quốc như E-mart...

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho biết, tất cả các công ty lớn của Hàn Quốc có mặt trong danh sách Fortune 500 đều đã có các dự án đầu tư hoặc hoạt động kinh doanh tại Việt Nam như Samsung, LG, GS, Posco, Hyundai, Kepco, SK…

Hàn Quốc là đối tác FDI lớn nhất, khoảng cách với Nhật Bản ngày càng lớn do làn sóng tiếp tục tăng cao nhờ Chính phủ Hàn Quốc khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam giống như một địa bàn chiến lược.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự báo trong thời gian tới, nhà đầu tư Hàn Quốc sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào công nghiệp điện tử đi đầu là Samsung, LG và các doanh nghiệp vệ tinh. Lĩnh vực phân phối bán lẻ (Lotte, Shinseghe, E Mart), tài chính bảo hiểm, bất động sản, dầu khí - hoá chất, may mặc, dịch vụ, du lịch, giải trí, nông nghiệp, thực phẩm…dần hình thành các khu công nghệ chuyên sâu cho doanh nghiệp Hàn Quốc.

Đặc biệt, với các chính sách ưu đãi của Việt Nam đang được định hình, ngành năng lượng được cho là có sức hút với nhà đầu tư Hàn Quốc: nhiệt điện, điện nguyên tử hay năng lượng tái tạo.

Trong dài hạn, tiềm năng thu hút vốn từ Hàn Quốc sẽ có nhiều thuận lợi do Hàn Quốc vẫn coi ASEAN là địa bàn trọng điểm. Về những tồn tại trong công nghiệp hỗ trợ, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng…Việt Nam sẽ tiếp tục khắc phục để tăng sức hấp dẫn với giới doanh nhân Hàn Quốc.

“Khu công nghiệp Keaseong của Hàn Quốc được đặt ở Triều Tiên đã đóng cửa do quan hệ hai nước căng thẳng. Theo đó, cộng đồng các doanh nghiệp tại đây sẽ phải tìm cơ sở đặt nhà máy mới, trong đó Việt Nam là nơi phù hợp nhất. Việc sớm có kế hoạch sẽ góp phần thu hút thêm làn sóng đầu tư từ Hàn Quốc”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho hay.

Vneconomy
Share:

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2016

Hơn 90 quỹ Hàn Quốc đang đầu tư vào chứng khoán Việt


Ngoài Việt Nam, Indonesia và Philippines cũng là điểm nóng thu hút vốn từ Hàn Quốc
 
Theo thông tin mới đây từ Hiệp hội Đầu tư Tài chính Hàn Quốc (KFIA), có 542 quỹ chứng khoán của nước này đang đầu tư vào các quốc gia bên ngoài. Trong đó, có ít nhất 90 quỹ đang đầu tư vào Việt Nam, nhằm kiếm lời từ thị trường chứng khoán Việt vốn đang trên đà tăng suốt 5 năm nay. Theo chỉ số Vietnam Equity Feeder Investment Trust Equity Balanced từ công ty Korea Investment & Securities, thì tỷ lệ sinh lời hiện tại là 21,77%.

Gần đây, vào hôm 17-10, công ty quản lý tài sản Shinhan BNP Paribas Asset Management cũng đã công bố sản phẩm đầu tư Shinhan BNPP VIP Securities Feeder Investment Trust H-Equity, trong đó bao gồm các cổ phiếu doanh nghiệp Việt Nam, Indonesia và Philippines.

Share:

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

Công ty cáp của Hàn lấy Việt Nam làm bàn đạp chiếm ASEAN

Vào cuối tuần qua, tập đoàn sản xuất cáp LS Cable & System (Hàn Quốc) đã tổ chức họp báo tại Hà Nội, nhằm chuẩn bị cho việc sắp đưa công ty con LSCSA ra niêm yết tại Seoul.

 
Đã giành vị trí số 1 tại Việt Nam, công ty LS Cable & System Asia (LSCSA) đang nuôi tham vọng thống lĩnh tiếp thị trường Đông Nam Á 

Được thành lập vào tháng 5/2015, LSCSA là một công ty holding nắm giữ 2 công ty con tại Việt Nam là LS Vina (thành lập năm 1996 ở Hải Phòng) và LSCV (2006, TPHCM). Tổng số nhân viên của 2 công ty này là 740 người. Tổng doanh thu năm ngoái đạt hơn 490 tỷ won (436,5 triệu USD), tăng 15% so với năm 2013 và 258 lần so với năm 1996. LSCSA hiện chiếm 30% thị phần tại Việt Nam. CEO của công ty là ông Myung Roh-hyun, trước đây là phó chủ tịch của tập đoàn mẹ.

Vào ngày 22/9 tới đây, LSCSA sẽ được niêm yết tại sàn chứng khoán Hàn Quốc (KOSPI). Đây là lần đầu tiên công ty con tại Việt Nam của một tập đoàn Hàn Quốc được đưa ra niêm yết ở Seoul. 12,65 triệu cổ phiếu sẽ được chào bán, với giá khoảng 10.000-15.000 won cho một cổ phiếu. Như vậy, LSCSA có thể huy động được tới 169 triệu USD từ đợt IPO này.

Ông Myung cho biết LSCSA cũng có thể sẽ được niêm yết tại Việt Nam, dù hiện tại chưa có kế hoạch gì cụ thể.

Ông Myung Roe-hyun (ngồi giữa) trong buổi họp báo tại Hà Nội. Ảnh: LS Cable & System Asia


Theo ông Myung, “tổng doanh thu của 2 công ty tại Việt Nam là 490 tỷ won trong năm ngoái, chiếm vị trí số 1 thị trường Việt Nam. Chúng tôi đang có tham vọng tăng con số này lên gấp đôi, đạt 1.000 tỷ won trong năm 2021. Xét về đà tăng trưởng của thị trường Việt Nam, chúng tôi nghĩ mục tiêu này không phải là quá tham vọng”.

Nhờ sự tăng trưởng mạnh của nền kinh tế Việt Nam, nhu cầu cáp điện và cáp viễn thông đã tăng trưởng với tốc độ 2 con số trong những năm qua. Ông Myung tin rằng LS sẽ tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu thị trường trong những năm tới, do các đối thủ nội địa đang thua kém tới 10 năm về trình độ kỹ thuật: “Các đối thủ Việt Nam chưa thể làm ra được những sản phẩm cao cấp, trong khi chúng tôi đi trước thị trường nhờ năng lực nghiên cứu mạnh, cũng như khả năng trả giá thấp để mua nguyên vật liệu”.

LSCSA đang có ý định đầu tư thêm 15 triệu USD cho việc mở rộng cơ sở sản xuất tại Việt Nam từ đây cho tới năm 2020. Công ty cũng nuôi tham vọng xuất khẩu sang Myanmar, Lào và Campuchia là những nước láng giềng đang có tăng trưởng mạnh, từ đó sẽ trở thành nhà sản xuất cáp số 1 Đông Nam Á. Hồi tháng 10/2015, công ty đã giành được một hợp đồng 13 triệu USD với Bộ Điện lực Myanmar.

Được biết, LS tiến vào thị trường Việt Nam vào năm 1996, chỉ 4 năm sau khi 2 nước Việt – Hàn bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Mặc dù gặp khó khăn trong những năm đầu tiên, nhưng từ đầu những năm 2000 trở đi thì LS đã có tăng trưởng doanh thu mạnh và hiện được xem là một trong những doanh nghiệp FDI Hàn Quốc thành công nhất ở Việt Nam.

Tuấn Minh
Nhịp Cầu Đầu Tư
>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán - Ủy thác đầu tư

Share:

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

Goldman Sachs: Thị trường phản ứng thái quá trước vấn đề Trung Quốc

Vấn đề của Trung Quốc không chỉ là tình trạng nền kinh tế giảm tốc, mà còn là việc giới đầu tư có xu hướng phản ứng thái quá trước những tác động của vấn đề này lên toàn cầu, theo báo cáo của Goldman Sachs Group.
http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VqHDd0-AZFo
 “Chúng tôi tin rằng các thị trường tài chính phát triển dường như đang phản ứng thái quá trước tình trạng tăng trưởng trì trệ của Trung Quốc. Chúng tôi kết luận rằng, nền kinh tế và lĩnh vực ngân hàng của Trung Quốc có tác động trực tiếp và gián tiếp nhưng không phải là tác động lớn tới nền kinh tế và thị trường tài chính toàn cầu”, Sharmin Mossavar-Rahmani, giám đốc đầu tư tại Goldman Sachs Private Wealth Management cho biết.

Vấn đề rằng, thật khó để bắt thị trường, giới đầu tư phải bình tĩnh trước mỗi lo ngại không ngừng tăng lên về nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trung Quốc đang phải đối mặt với quá nhiều thách thức, từ tham nhũng cho tới số liệu kinh tế không đáng tin… Các chuyên gia của Goldman Sachs cho rằng, quốc gia này sẽ tiếp tục gây tác động bất ổn tới các thị trường đang nổi khác trong 5 năm tới. 
Bên cạnh đó, đội ngũ chuyên gia đầu tư tại Goldman Sachs còn cho thấy tác động của việc nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại đối với nền kinh tế thế giới đang bị “cường điệu hóa”, bằng cách thống kê tỷ trọng xuất khẩu tới Trung Quốc trên GDP. Theo đó, tại Mỹ, xuất khẩu hàng hóa tới Trung Quốc chỉ chiếm 0,7% GDP, con số này đối với các thị trường mới nổi vào khoảng 2,3% và riêng Hàn Quốc là 10,3%.
 5 thị trường mới nổi xuất khẩu nhiều nhất tới Trung Quốc
Lam Phong-ĐTCK/Theo Bloomberg

>> Mở tài khoản chứng khoán - Tư vấn Đầu tư Chứng khoán
Share:

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

Tại sao người gốc châu Á thành công tại Mỹ?

Ở trường học, học sinh gốc châu Á thường đứng đầu về thành tích học tập, và khi đi làm, mức lương trung bình của họ còn cao hơn cả người Mỹ...

http://www.blogchungkhoan.com/2015/09/mo-tai-khoan-tu-van-au-tu-chung-khoan.html#.VhyZ-m5mqsW
Những bất lợi xã hội mà mỗi nhóm chủng tộc phải đối mặt ở Mỹ là khác nhau, và một nhóm thành công không có nghĩa các nhóm khác sẽ có thể có được thành công tương tự - Ảnh: New York Times.
 
Tại khắp các trường học của nước Mỹ, sinh viên Mỹ gốc Á luôn nằm trong nhóm được điểm cao nhất. Tính trên phạm vi toàn xã hội Mỹ, người Mỹ gốc Á thành công hơn phần đông dân số Mỹ.

Thống kê của các công ty tư vấn tuyển dụng còn cho thấy người Mỹ gốc Á cũng nhận lương cao hơn so với tất cả các nhóm chủng tộc khác, kể cả người Mỹ da trắng. Bài viết mới đây trên New York Times đã đưa ra một số lý giải cho thành công của những người Mỹ gốc châu Á.

Truyền thống hiếu học

Nghiên cứu của tác giả Nicolas Kristof công bố vào năm ngoái cho thấy không nên quá quan tâm đến dư luận xã hội cho rằng người da trắng thường được ưu tiên còn người mang các màu da khác bị phân biệt đối xử nặng nề và phải nhận mức lương thấp hơn.

Những thành công mà người Mỹ gốc Á làm được cho thấy nếu có người thuộc nhóm sắc tộc nào đó bị tụt hậu lại thì vấn đề nằm chính ở bản thân họ chứ không phải do định kiến xã hội.

Cộng đồng người Mỹ gốc Á đến từ nhiều nước khác nhau, trong đó thành công nhất phải kể đến người Hàn Quốc và Trung Quốc. Theo nhận xét của nhiều nhà tuyển dụng, người Á thành công tại Mỹ bởi làm việc cực kỳ chăm chỉ.

Chắc chắn rằng sẽ là sai lầm nếu khẳng định rằng nước Mỹ đã không còn tình trạng phân biệt đối xử, nhưng từ thành công của người Mỹ gốc Á, có thể thấy rằng mọi chuyện đã tốt hơn rất nhiều.

Thành công của người châu Á tại Mỹ, theo phân tích của tác giả Jenifer Lee và Min Zhou, trong nghiên cứu mới đây, là do học vấn tốt. Thông thường, người châu Á có trình độ học vấn trung bình cao hơn cả người Mỹ, họ làm rất nhiều ngành nghề khác nhau, có thể là bác sỹ, nhà nghiên cứu hoặc một số nghề khác cần trình độ cao.

Khi bố mẹ có nghề nghiệp tốt và giàu có thì con cái họ cũng sẽ nhờ điều kiện đó mà phát triển. Thế nhưng tác giả Lee và Zhou chỉ ra rằng con cái của những người châu Á trung lưu ở Mỹ cũng có xu thế học hành rất tốt và thành đạt.

Theo nhiều phân tích, truyền thống hiếu học của người châu Á là một yếu tố quan trọng mang đến thành công cho họ. Điều đó cũng giống như người Do Thái rất thành công bởi có học vấn tốt hơn tất cả các chủng tộc khác trên thế giới.

Hỗ trợ hết sức cho việc học

Cha mẹ người châu Á tại Mỹ thường rất cố gắng để đưa được con họ vào những trường học tốt, họ thậm chí chấp nhận hy sinh rất nhiều cho việc học của con, đơn giản nhất là việc dành chỗ tốt nhất trong nhà cho con học.

Yếu tố gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong thành công của con cái họ. Tỷ lệ ly hôn trong nhóm người châu Á tại Mỹ thấp hơn rất nhiều so với người Mỹ da trắng.

Tính toán của các chuyên gia xã hội học cho thấy với những gia đình có đủ cả bố lẫn mẹ, khả năng rơi vào tình trạng nghèo đói sẽ thấp hơn, đó là chưa kể đến việc tâm lý của đứa trẻ sẽ vững vàng ổn định hơn rất nhiều trong học tập.

Kỳ vọng của giáo viên cũng có tác dụng giúp cho học sinh tiến bộ hơn. Nghiên cứu được thực hiện vào thập niên 1960 của giáo sư Robert Rosenthal và Lenore Jacobson cho thấy điều đó.

Sau khi tiến hành đo IQ của học sinh, nhóm nghiên cứu công bố với khoảng 20% học sinh rằng họ thuộc nhóm có IQ đặc biệt và IQ sẽ tăng cao nếu họ tiếp tục cố gắng. Sau khoảng 1 năm, IQ của họ thực sự tăng lên.

Trên thực tế, những học sinh được chọn để thí điểm không hề có gì đặc biệt. Hiệu ứng trên được gọi là Pygmalion, đó là khi con người được động viên, khuyến khích và cảm thấy mình có năng lực, kết quả họ sẽ cố gắng để đạt được kỳ vọng.

Theo hai nhà nghiên cứu Lee và Zhou, những hình mẫu tích cực cũng giúp mang đến thành công cho một đứa trẻ. Ví dụ như trong giao tiếp thông thường, người ta hay nói như sau với một đứa trẻ Trung Quốc: “Ồ cháu là người Trung Quốc hả? Cháu giỏi toán lắm phải không?” Các nhà nghiên cứu chỉ ra với dư luận như vậy, đứa trẻ tự nhiên sẽ muốn cố gắng và tự tạo ra áp lực cho mình để học giỏi môn toán hơn.

Người châu Á tại Mỹ thường thành công tại những ngành thiên về kỹ thuật, toán, hay khoa học, còn đối với những ngành yêu cầu tính sáng tạo cao như nghệ thuật, thành công vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân của điều này, theo các chuyên gia, là do học sinh châu Á thường có kỹ năng ghi nhớ và tính toán tốt hơn là khả năng sáng tạo.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng không nên từ những thành công của người châu Á tại Mỹ mà cho rằng đã không còn tình trạng phân biệt chủng tộc ở Mỹ. Những bất lợi xã hội mà mỗi nhóm chủng tộc phải đối mặt ở Mỹ là khác nhau, và một nhóm thành công không có nghĩa các nhóm khác sẽ có thể có được thành công tương tự.
Share:

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Cậu bé 14 tuổi kiếm hàng nghìn đô mỗi tối chỉ nhờ ăn trước máy quay

Những chương trình như của Kim được biết đến là “Meok Bang,” một từ ghép trong tiếng Hàn của việc phát sóng và ăn uống.

Mỗi buổi tối, cậu bé 14 tuổi Kim Sung-jin đặt gà rán, pizza hoặc đồ ăn Trung Quốc để ăn trong căn phòng nhỏ ở ngôi nhà của cậu tại phía nam Seoul. Cậu ăn hàng tá thức ăn khi cậu đang nói chuyện trước máy quay với hàng trăm, thỉnh thoảng là hàng nghìn thiếu niên đang xem.

Đây là một chương trình giúp Kim kiếm được nhiều tiền: khoảng 2 triệu won (1,700 USD) với một tập thành công nhất.

Nổi tiếng với người xem bằng tên gọi Patoo, cậu là một trong những phát thanh viên trẻ nhất tại Afreeca TV, một ứng dụng phát sóng trực tiếp những video online ra mắt năm 2006.
Kim được phát sóng những hình ảnh ăn tối của mình hầu như mỗi ngày từ khi cậu 11 tuổi. Thỉnh thoảng, cậu còn mời bạn bè đến ăn cùng. Để thêm tính vui nhộn, cậu đã đội tóc giả vàng hoe và ăn mặc như phụ nữ.

Nhiều năm nay, Internet tạo ra rất nhiều ngôi sao- từ những blogger đến các game thủ thu hút hàng triệu người xem trên Youtube- người ngoài sẽ cảm thấy khó hiểu, nếu không nói là kỳ lạ, khi nhiều bạn trẻ dành hàng giờ đồng hồ để xem ai đó ăn uống. Nhưng ở Hàn Quốc, Afreeca TV đã trở thành một phần trong văn hóa Internet và đời sống xã hội cho thanh thiếu niên.

Những chương trình như của Kim được biết đến là “Meok Bang,” một từ ghép trong tiếng Hàn của việc phát sóng và ăn uống. Chúng là những chương trình nổi tiếng và lợi nhuận cao nhất trong số 5,000 chương trình hiện nay ở Afreeca TV.
image02.png
Kim bắt đầu chương trình này chủ yếu để tìm ai đó ăn cùng mình. Cha mẹ cậu làm việc ở một thành phố khác bởi vậy cậu sống cùng ông bà. Họ ăn tối khá sớm nên cậu thường cảm thấy đói vào ban đêm. Cậu nói chương trình này khiến bữa tối của cậu thường xuyên hơn, mặc dù đa số các bữa ăn của cậu trên Afreeca TV đều bắt đầu sau 10h tối. Chương trình cũng mang đến cho cậu những niềm vui bất ngờ: Cậu nói mặc dù cậu chỉ là một thiếu niên bình thường nhưng nhiều người đã chào cậu trên phố.

“Tôi làm những gì tôi muốn. Đó là có một kênh truyền hình cá nhân.”

Những kết nối đến Meok Bang ngày càng tăng, chủ yếu là những người Hàn sống một mình.

“Ngay cả khi nó là trực tuyến, khi có ai đó nói chuyện khi đang ăn, cùng một từ nhưng có ý nghĩa thân mật hơn,” Ahn Joon-soo, một nhân viên tại Afreeca TV nói. Anh cũng lưu ý thói quen của người Hàn Quốc khi chia tay bạn bè, “Hãy dùng bữa cùng nhau lần tới nhé,” ngay cả khi họ không thực sự có ý đó.

Có rất nhiều dịch vụ kỳ quặc khác trên Afreeca TV. Đêm khuya có "Sool Bang" - chương trình phát sóng về đồ uống- trong đó người Hàn Quốc sầu muộn uống rượu một mình thảo luận về cuộc sống khó khăn của họ. Sau đó, có "Study Bang", phát sóng về học tập: Một màn hình hiển thị bàn tay của một người không xác định đang viết ghi chú trong một cuốn sách dày dưới ánh sáng của một ngọn đèn bàn.

Khoảng 60% của 8 triệu người truy cập hàng tháng của Afreeca TV là thanh thiếu niên hoặc ở độ tuổi 20. Điều đó có nghĩa là gần 40% của 12,5 triệu người Hàn Quốc tuổi từ 10 đến 30 xem một chương trình trên Afreeca TV ít nhất một lần một tháng.

“Thế hệ trẻ tin tưởng rằng chương trình như trên Afreeca TV rất tự nhiên, nơi mà họ có thể tương tác với các phát thanh viên,” Ahn nói. Anh tin tưởng rằng truyền hình trong dài hạn sẽ hoàn toàn bị thay thế bởi những ứng dụng như thế này.

Cho Young-min, 12 tuổi đã xem những chương trình game trực tuyến trên Afreeca TV từ khi cậu bé học lớp 3, mong muốn rằng cậu sẽ có chương trình riêng của mình trên Afreeca TV chứ không phải TV trong phòng khách.

Ahn Won-jun, một học sinh trung học 17 tuổi, nói rằng cậu thích ăn tối trong phòng và xem chương trình Meok Bang của Kim hơn là ăn tối cùng cha mẹ.

Kim không phải là một vị khách ăn tối lịch sự. Cậu ợ to trước khán giả của mình và thỉnh thoảng bỏ đi, sau khi thông báo rằng mình cần vào phòng tắm. Cậu thường xuyên bỏ lại người hâm mộ ở lại với một nhiệm vụ, trong thời gian cậu vắng mặt, hứa sẽ có phần thưởng cho người bấm nút “Like” cuối cùng khi cậu quay lại.

Những người xem thường xuyên của Afreeca TV thường thích những chủ chương trình như Kim vì họ có thể tương tác được, không như những ngôi sao truyền hình quá cách biệt. Người hâm mộ nói rằng họ cảm thấy hồi hộp và xúc động khi người chủ chương trình có tương tác với phản hồi của họ, giữa hàng trăm lời nhắn trực tuyến.

"Tôi đã rất xúc động," Lee Yeon-joo, cô bé 15 tuổi nhớ lại thời điểm khi một người đàn ông 26 tuổi đọc tin nhắn của cô ở giữa chương trình của mình. "Bạn có thể không thực sự tiếp cận những người nổi tiếng."

Người dùng Afreeca TV có thể nhận được sự chú ý của các phát thanh viên bằng cách gửi cho họ những "bong bóng ngôi sao ", với chi phí khoảng 10 cent cho mỗi quả. Chủ chương trình giữ phần lớn số tiền đó, mặc dù Afreeca TV đã lấy mất số tiền lên đến khoảng 40%.

Hầu hết các phát thanh viên, bao gồm Kim, không muốn để lộ ra việc họ kiếm được bao nhiêu tiền. Afreeca TV nói khoảng 300.000 người phát sóng chương trình của họ ít nhất một lần mỗi tháng, khoảng 500 người làm việc này toàn thời gian, công ty đã từ chối cung cấp thông tin cụ thể hơn. Trong năm 2013, một mạng truyền hình Hàn Quốc TV Chosun đưa thông tin Afreeca TV kiếm được 298 triệu won (250.000 USD) một năm.
Theo Trí Thức Trẻ/Nypost 
>> Giải mã CaffeBene: Cà phê "sao" Hàn và tham vọng đối đầu Starbucks
>> Tại sao Hàn Quốc phát triển rực rỡ còn Việt Nam thì không?

Share:

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

Hàn Quốc đăng ký đầu tư thêm 5,3 tỷ USD vào Việt Nam, vượt xa Nhật Bản

Nếu như đến thời điểm cuối năm 2014, số vốn đăng ký đầu tư vào Việt Nam của Hàn Quốc và Nhật Bản gần tương đương nhau với mức trên 37 tỷ USD, thì đến tháng 8/2015 Hàn Quốc đã vượt xa Nhật Bản.  

Vốn FDI đăng ký bất ngờ tăng

Theo Cục Đầu tư Nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 8 tháng đầu tiên không chỉ tăng lần đầu tiên kể từ đầu năm nay, mà còn tăng mạnh.
Số liệu cụ thể cho thấy tổng vốn FDI đăng ký cấp mới và tăng thêm trong 8 tháng đạt 13,33 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm 2014.

Tính đến ngày 20/8/2015, Việt Nam đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 1.219 dự án mới với tổng vốn đăng ký 7,87 tỷ USD, tăng hơn 8,7% so với cùng kỳ năm 2014, và cấp phép cho 389 lượt dự án đăng ký tăng vốn với tổng vốn đăng ký tăng thêm 5,46 tỷ USD, tăng 82,8% so với cùng kỳ.

Trong khi đó, vốn FDI giải ngân trong cùng giai đoạn ước đạt 8,5 tỷ USD, tăng 7,6% với cùng kỳ năm trước.

Các nhà đầu tư nước ngoài được ghi nhận đã đầu tư vào 17 ngành lĩnh vực, trong đó nhiều nhất là lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 634 dự án đầu tư đăng ký mới và 290 lượt dự án tăng vốn, với tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 10,35 tỷ USD, chiếm 77,7% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Lĩnh vực thu hút nhiều vốn FDI thứ hai là kinh doanh bất động sản với 18 dự án đăng ký mới và 7 lượt dự án tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,82 tỷ USD, chiếm 13,7% tổng vốn đầu tư. Đứng thứ 3 là lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa với 157 dự án đầu tư mới và 26 lượt dự án tăng vốn, với tổng vốn đầu tư 311,08 triệu USD.

Hàn Quốc chi phối 40% đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 

Nếu như đến thời điểm cuối năm 2014, số vốn đăng ký đầu tư vào Việt Nam của Hàn Quốc và Nhật Bản gần tương đương nhau với mức trên 37 tỷ USD, thì đến tháng 8/2015 Hàn Quốc đã vượt xa Nhật Bản và tiếp tục giữ vị trí quán quân trong đầu tư vào Việt Nam.

Báo cáo cho thấy, trong 8 tháng, đã có 55 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam.
Trong số 13,3 tỷ vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm, riêng Hàn Quốc đã đóng góp tới 5,26 tỷ USD, chiếm 39,5% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam.

Như vậy, tính đến nay, Hàn Quốc có 4.615 dự án tại Việt Nam còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký và tăng thêm đạt 42,9 tỷ USD, vượt xa Nhật Bản – quốc gia hiện đứng thứ hai với 2.725 dự án và vốn đầu tư 37,9 tỷ USD.

Trong 8 tháng, chỉ riêng Dự án Công ty Samsung Display Việt Nam đã nâng số vốn đầu tư thêm 3 tỷ USD, sau khi được cấp phép năm 2014 với số vốn đầu ban đầu là 1 tỷ USD. Đây là dự án sản xuất, lắp ráp, gia công, tiếp thị hoặc bán các loại màn hình, được xây dựng tại Khu công nghiệp Yên Phong 1 tỉnh Bắc Ninh.

Vương quốc Anh là nhà đầu tư FDI lớn thứ 2 vào Việt Nam kể từ đầu năm nay, với số vốn đầu tư 1,25 tỷ USD, chiếm 9,39% tổng vốn đầu tư. Trong đó, riêng Dự án Công ty TNHH liên doanh thành phố Đế Vương đã có số vốn lên tới 1,2 tỷ USD. Dự án này do CTCP bất động sản Tiến Phước và Công ty TNHH bất động sản Trần Thái liên doanh với nhà đầu tư Denver Power Ltd của Anh đầu tư tại TP Hồ Chí Minh.

Với số vốn đầu tư 720 triệu USD trong 8 tháng, Nhật Bản chỉ đứng thứ năm sau BritishVirginIslands (có vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm 973,6 triệu USD) và Hồng Kông (có vốn đầu tư 876 triệu USD).

Tính đến ngày 20/8/2015, cả nước có 18.991 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 265,7 tỷ đồng. Sau Hàn Quốc và Nhật Bản, Đài Loan đứng thứ ba với 2.460 dự án, tiếp đến là Singapore với 1.446 dự án và Trung Quốc với 1.177 dự án.
Share:

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

Văn hóa làm việc "nồi áp suất" tại Hàn Quốc

Nếu những “tân binh” ngỏ lời có thêm ngày nghỉ thì những người khác sẽ nghĩ rằng anh ta đã mất trí hoặc không coi trọng cấp trên của mình”.
Kể từ khi Deuk-soo Lee khai trương quán bar trong mơ của riêng mình thì dường như công việc hàng ngày của anh đã trở nên thú vị hơn. Deuk-soo cho biết việc quản lý quán khá vất vả nhưng không hề giống với những áp lực mà anh phải trải nghiệm trong công việc cũ tại một công ty thương mại.

Đây chính là điều thể hiện cho văn hóa làm việc tiêu tốn nhiều thời gian cùng với áp lực vô hình được ví von như "chiếc nồi áp suất" Hàn Quốc.

Deuk-soo chia sẻ: “Khi được nhận vào công ty, tôi chỉ có được 5 ngày nghỉ trong cả một năm bởi vì văn hóa làm việc tại Hàn Quốc là như vậy. Nếu những “tân binh” ngỏ lời có thêm ngày nghỉ thì những người khác sẽ nghĩ rằng anh ta đã mất trí hoặc không coi trọng cấp trên của mình”.

Deuk-soo cho biết việc làm hài lòng cấp trên là một trong những lý do khiến đồng nghiệp của anh gắn chặt với bàn làm việc và luôn phải quan sát cấp trên còn làm việc không, rồi tự hỏi rằng đến lúc nào anh ta mới có thể rời khỏi phòng làm việc”. Nhân viên tại Hàn Quốc thường tránh việc rời nơi làm việc trước lãnh đạo của mình.

Đó phần nào cũng giải thích lý do năng suất lao động của người Hàn Quốc vẫn tương đối thấp ngay cả khi người dân nước này có số thời gian làm việc dài nhất trong các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), với trung bình một người thường làm 2.057 giờ/năm (theo thống kê năm 2014).

So sánh với thống kê thực hiện trong cùng năm, Mỹ nằm ngoài top 10 quốc gia có thời gian lao động nhiều nhất với mỗi người lao động làm việc trung bình 1.789 giờ/năm.

Trong những năm gần đây, chính phủ Hàn Quốc đã thảo luận rất nhiều biện pháp để cải thiện cuộc sống của người lao động bằng phương pháp ra luật về đặt trần giờ làm việc. Tuy nhiên, việc làm thêm giờ tiếp tục là một trong những chủ đề than phiền phổ biến trên diễn đàn của người lao động Jobplanet.

Người quản lý hàng đầu của trang web này, cho biết người lao động đổ vào các diễn đàn online để thể hiện nỗi niềm mà họ không thể nói thẳng ở nơi làm việc.

“Họ thường không dám thể hiện suy nghĩ thực trước cấp trên. Văn hóa quá coi trọng sự lịch sự đã dẫn đến điều này. Vì vậy chúng tôi từng nghĩ rằng, bạn biết đấy, trang online này có thể không hoạt động. Nhưng ngay khi chúng tôi khởi động, mọi người có quá nhiều tâm tư và họ thể hiện điều đó trong trang web của chúng tôi”.

Hwang tin rằng rất nhiều nam giới Hàn Quốc coi trọng quan điểm thứ bậc trong xã hội từ khi tham gia nghĩa vụ quân sự bắt buộc hay quan hệ giữa khóa trên khóa dưới cùng trường học, độ tuổi…
Chính vì vậy họ thấy thật khó để nói thẳng với lãnh đạo của mình. Điều này thậm chí còn vượt khỏi phạm vi văn phòng. Deuk-soo tâm sự: “Nếu lãnh đạo của họ thích uống rượu thì cả đội ngũ nhân viên cấp dưới cũng phải tham gia cùng trong các buổi ăn uống sau giờ làm thậm chí khi không có lý do đặc biệt nào.
(Theo Tin Tức)

>> Hé lộ 'mỏ vàng vô giá' của tỷ phú Forbes giàu thứ 2 Hàn Quốc

Share:

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Hé lộ 'mỏ vàng vô giá' của tỷ phú Forbes giàu thứ 2 Hàn Quốc

Suh Kyung-Bae dẫn dắt AmorePacific trở thành công ty mỹ phẩm lớn thứ 25 thế giới xét theo doanh thu và đứng đầu Hàn Quốc.

Từ căn bếp của bà nội

“Nguồn gốc của AmorePacific là từ bà nội tôi”, tỷ phú Forbes giàu thứ 2 Hàn Quốc Suh Kyung-Bae từng chia sẻ với tờ Bloomberg Business. Tài sản của ông vua mỹ phẩm xứ kim chi này đạt 9,2 tỷ USD, tăng gần gấp 3 lần trong năm 2014 nhờ sự thăng hoa của cổ phiếu công ty mỹ phẩm AmorePacific.

Từ thập niên 1930s, Yun Dok Jeong- bà của Suh Kyung-Bae dành hàng giờ trong nhà bếp của mình để chiết xuất tinh dầu hoa trà nhằm cung cấp nhu cầu làm đẹp tóc cho phụ nữ Hàn Quốc thời điểm này. Hơn 8 thập kỷ sau, Suh Kyung-Bae dẫn dắt AmorePacific trở thành công ty mỹ phẩm lớn thứ 25 thế giới xét theo doanh thu và đứng đầu Hàn Quốc. Công ty này ăn nên làm ra nhờ vào thị trường Trung Quốc khi doanh số ở đây tăng 30% xuất phát từ nhu cầu giới trung lưu ngày càng ưa chuộng mỹ phẩm Hàn do ảnh hưởng từ làn sóng văn hóa nước này.
Tỷ phú Forbes giàu thứ 2 Hàn Quốc Suh Kyung-Bae.
Tỷ phú Forbes giàu thứ 2 Hàn Quốc Suh Kyung-Bae.

Ông vua mỹ phẩm xứ Hàn hiện 52 tuổi có khuôn mặt trông trẻ hơn nhiều so với tuổi cho biết “Tôi sử dụng tất cả sản phẩm của AmorePacific. Tôi đặc biệt quan tâm tới việc làm sạch và chống nắng cho da”. Công ty này hiện có nhiều nhãn hiệu mỹ phẩm bao gồm AmorePacific, Sulwhasoo, Laneige, Mamonde, Innisfree and Etude House với sản phẩm chăm sóc da và sắc đẹp đa dạng.

Vị tỷ phú này cho biết là nam giới dẫn dắt ngành công nghiệp mỹ phẩm vốn tập trung vào khách hàng nữ giới, ông đặc biệt lắng nghe những người phụ nữ xung quanh mình. “Tôi có mối quan hệ gần gũi với phụ nữ và điều này có thể đến từ việc thành phần gia đình gồm 4 chị em gái, vợ tôi, mẹ tôi và hai cô con gái”, Suh Kyung-Bae chia sẻ.

“Tôi luôn duy trì tình bạn với vợ của những người bạn mình. Tôi có hàng trăm câu hỏi dành cho họ và luôn luôn thích thú lắng nghe những suy nghĩ của họ. Điều này có thể trở thành sự khởi đầu cho việc thấu hiểu khách hàng của chúng tôi”, Suh Kyung-Bae tiết lộ bí mật kinh doanh của ông.

"Đào được vàng" nhờ K-Wave, K-Pop, K-Drama

Sự phổ biến của dòng nhạc pop Hàn Quốc cùng với những bộ phim truyền hình là một yếu tố trong câu chuyện thành công của AmorePacific với ngày càng nhiều phụ nữ muốn sao chép vẻ ngoài của nghệ sỹ Hàn. “Có một sự thật rằng làn sóng Hàn Quốc, K-pop, phim ảnh Hàn Quốc là những thứ giúp cho việc kinh doanh của chúng tôi”, ông vua mỹ phẩm xứ kim chi thừa nhận. “Tuy nhiên điều chúng tôi xem xét lớn nhất chính là nhu cầu của khách hàng. Để hiểu được họ, chúng tôi nghiên cứu từng thị trường, nhìn sâu vào sản phẩm mà khách hàng cần và tiếp tục đổi mới”.

“Tôi yêu công việc kinh doanh này giống như việc theo đuổi làm cho cuộc sống mọi người tươi đẹp và lành mạnh hơn. Nếu tôi có thể chọn lại, tôi vẫn đi theo con đường lãnh đạo một công ty mỹ phẩm”, Suh Kyung-Bae hào hứng chia sẻ với tờ South China Morning Post.

Các nhà phân tích cho biết một yếu tố khác giúp AmorePacific thành công chính là việc sử dụng các thành phần thiên nhiên như nhân sâm, đậu nành và trà xanh. Một số sản phẩm của nhãn hiệu Sulwhasoo chứa thảo dược nhân sâm rất được ưa chuộng bởi khách hàng Trung Quốc cũng như châu Á. Theo đuổi thảo dược truyền thống là gốc rễ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mỹ phẩm 70 tuổi này. Cha của tỷ phú Suh Kyung-Bae thành lập công ty từ năm 1943, tên Pacific Chemical Industry được đặt năm 1945 với phòng thí nghiệm phát triển sản phẩm mỹ phẩm.

Suh Kyung-Bae tham gia AmorePacifiec từ những năm 1980s sau khi học xong MBA trường đại học Cornell, Mỹ và làm việc tại nhiều phòng ban khác nhau trước khi được bổ nhiệm vào vị trí giám đốc điều hành năm 1997. Kể từ năm 2002 tỷ phú này sáng suốt mở rộng thị trường ra quốc tế đặc biệt là khu vực châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Nhật Bản, Việt Nam, Philippines, Hong Kong.

Hiện AmorePacific có hơn 7.600 nhân viên trên khắp thế giới trong đó có hơn 6.000 nhân viên tại Hàn Quốc- nơi công ty này nắm giữ 40% thị phần mỹ phẩm. Theo Euromonitor, người Hàn Quốc đứng thứ 3 thế giới về chi tiêu các sản phẩm chăm sóc da, sau Nhật Bản và Hong Kong. Trung bình mỗi người nước này dành 99,4 USD cho các sản phẩm chăm sóc da trong năm 2014, so với con số 64,4 USD của người Pháp hay 43 USD của người Mỹ. Suh Kyung-Bae cho biết mục tiêu của AmorePacific là trở thành thương hiệu mỹ phẩm lớn toàn cầu vào năm 2020.

Tỷ phú này cho biết khách hàng phương Tây và phương Đông có nhu cầu khác nhau về chăm sóc sắc đẹp. “Thị trường sản phẩm làm đẹp toàn cầu hiện tại tập trung vào vẻ đẹp lý tưởng và tiêu chuẩn phương Tây nhưng chúng tôi nghĩ rằng giá trị mới của vẻ đẹp phương Đông sẽ dẫn dắt thị trường toàn cầu trong những năm tới”, Suh Kyung-Bae cho biết. “Những đặc trưng riêng của làn da phụ nữ châu Á và những thói quen làm đẹp của họ là trọng tâm nghiên cứu của chúng tôi. Và kết quả là chúng tôi đang phát triển những công nghệ chăm sóc da tiên tiến dành cho người châu Á.”

Trong khi các nhãn hiệu mỹ phẩm phương Tây hiếm khi cung cấp các sản phẩm uống và thay vào đó tập trung vào các sản phẩm mặt nạ hoặc kem thì AmorePacific nghiên cứu thấy rằng khách hàng châu Á thích những sản phẩm uống được để cải thiện sắc đẹp. Công ty này đã phát triển những sản phẩm chức collagen trong một số sản phẩm của thương hiệu Laneige và trở nên phổ biến từ năm ngoài. Doanh thu của những sản phẩm này đạt 10.000 đơn vị mỗi tháng tại thị trường Trung Quốc đại lục và Hong Kong.

Năm 2014, thu nhập ròng của AmorePacific tăng 36% đạt mức kỷ lục 222,4 tỷ won (204 triệu USD) với doanh thu tăng 21% khi đạt con số khổng lồ 4,7 nghìn tỷ won. Tỷ phú Suh Kyung-Bae muốn doanh thu của công ty này tăng hơn gấp đôi đạt mức 12 nghìn tỷ won trong 5 năm tới. Hiện chỉ có 2 hãng mỹ phẩm Nhật Bản Shiseido và Kao có doanh thu lớn hơn AmorePacific tại khu vực châu Á.
Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Giải mã CaffeBene: Cà phê "sao" Hàn và tham vọng đối đầu Starbucks

Cuộc trò chuyện với Phó Giám đốc sinh năm 1986 của Công ty CaffeBene Vina - Trương Tuấn Anh đã giúp tôi giải đáp những thắc mắc về thương hiệu cà phê mới nhưng đang khá đình đám trong giới trẻ Sài Gòn với chiến lược “star marketing” bằng "sao" phim Hàn Quốc và tuyên bố đối đầu Starbucks.
Mức độ tương tác với khách hàng qua truyền thông xã hội của CaffeBene khiến tôi khá hài lòng khi đề nghị được gặp người đại diện của công ty để phỏng vấn thông qua trang fanpage Facebook được phản hồi rất nhanh bằng điện thoại của chuyên viên PR. Cuộc trò chuyện với Phó Giám đốc sinh năm 1986 của Công ty CaffeBene Vina - Trương Tuấn Anh đã giúp giải đáp những thắc mắc về thương hiệu cà phê đang khá đình đám đối với giới trẻ Sài Gòn.

Cà phê "sao" phim Hàn Quốc

CaffeBene là tên gọi được bắt nguồn từ tiếng Ý và ghép bởi 2 từ “Caffe” và “Bene”, trong đó hậu tố “Bene” có nghĩa là tốt hoặc ngon. Công ty CaffeBene Co. Ltd mở cửa hàng cà phê đầu tiên vào năm 2008 tại Hàn Quốc – một đất nước không trồng được cây cà phê. Tuy vậy, chỉ sau 1 năm, số lượng cửa hàng CaffeBene tại Hàn Quốc đã lên đến 100 và đạt mốc 1.000 cửa hàng chỉ sau 5 năm hoạt động của công ty. Tính đến thời điểm này, có tất cả 1.657 cửa hàng CaffeeBene ở 15 quốc gia trên khắp thế giới. Mục tiêu đến năm 2020 của CaffeBene là 10.000 cửa hàng trên toàn cầu.

Chuỗi cà phê Hàn Quốc này chính thức có mặt tại Việt Nam từ tháng 8-2014 thông qua nhà nhượng quyền là Công ty CaffeBene Vina. Hiện công ty này đã trực tiếp mở và quản lý 2 cửa hàng cà phê mang thương hiệu CaffeBene tại Quận 1, TP Hồ Chí Minh. Trương Tuấn Anh cho biết trong thời gian đầu tại Việt Nam, CaffeBene có chiến lược không phát triển mạnh về số lượng cửa hàng mà tập trung đầu tư chất lượng, ổn định dịch vụ để tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

Menu thực đơn CaffeBene tập trung vào sản phẩm cà phê rang xay pha chế kiểu Ý, sử dụng kỹ thuật "Rang trước - Trộn sau" cho phép giữ lại những hương vị riêng biệt của các loại hạt cà phê. Chuỗi này có hợp đồng cung cấp chuyên biệt với IPANEMA - nông trại cà phê lớn nhất ở Brazil và nhà cung cấp trực tiếp hạt cà phê từ Bolivia và Pipua New Guinea.
Lee Kwang Soo và fan hâm mộ trong buổi khai trương CaffeBene Lê Lợi
Lee Kwang Soo và fan hâm mộ trong buổi khai trương CaffeBene Lê Lợi

Về khía cạnh văn hóa, người Hàn Quốc quan niệm quán cà phê không chỉ là nơi để uống cà phê mà còn là nơi thư giãn, thoải mái nhất. Học sinh, sinh viên có thể đến quán để học bài. Bạn bè gặp nhau có thể ngồi hàng giờ bên nhau để trò chuyện. Cà phê hay các thức uống là một “công cụ” để làm câu chuyện đậm đà hơn.

Vì lý do này, CaffeBene chọn biểu tượng là chiếc đồng hồ, ở mỗi quốc gia, sẽ có một thời gian, thời tiết dịch chuyển, thay đổi khác nhau nhưng tại các cửa hàng của CaffeBene trên thế giới, chiếc đồng hồ là biểu tượng đồng nhất, như nhau và không bao giờ chạy. Đó là biểu tượng cho thời gian đứng yên một chỗ, nơi những người thân, bạn bè có thể thoải mái, trò chuyện, tâm tình với nhau thật lâu.

Đối đầu Starbucks ở Việt Nam

Công ty Caffe Bene Vina do cặp đôi CEO Hồ Minh Hoàng và Trương Tuấn Anh là những người thuộc thế hệ 8X sáng lập. Hồ Minh Hoàng là một người Hàn Quốc chính gốc nhưng đã theo ba mẹ sang sinh sống ở Việt Nam cách đây 20 năm và anh đã xin nhập quốc tịch Việt Nam. Còn Phó Giám đốc Trương Tuấn Anh trước khi tham gia CaffeBene cũng khởi nghiệp trong nhiều lĩnh vực như viễn thông, xuất nhập khẩu … Ngoài dự án CaffeBene, cặp đôi này cũng đang xúc tiến một dự án mới về dược phẩm mà mục tiêu là giúp chữa trị hiệu quả bệnh ung thư cổ tử cung.

“Đội ngũ quản lý của CaffeBene đều nằm ở độ tuổi trên dưới 30. Hiện nay chúng tôi hoàn toàn dựa vào năng lực viết dự án và quản lý của mình để thu hút nguồn vốn, không có nhà đầu tư hay quỹ “bí ẩn” nào đứng sau lưng. Tham vọng đối đầu Starbucks của CaffeBene không chỉ tại thị trường Việt Nam mà là chiến lược đang được công ty mẹ thực hiện trên toàn cầu và ngay cả thị trường Mỹ”, Trương Tuấn Anh chia sẻ.

Theo Trương Tuấn Anh, mục tiêu của CaffeBene Việt Nam là nhắm đến phân khúc khách hàng trung cao cấp, khách du lịch quốc tế với mục tiêu 100 cửa hàng trong vòng 5 năm tới. Lý giải về việc giảm mục tiêu số cửa hàng so với con số 300 như tuyên bố ban đầu, Trương Tuấn Anh cho biết thị trường cà phê Việt Nam không đồng nhất về khẩu vị và đang có nhiều ông lớn cạnh tranh trong cùng một phân khúc, cuộc chiến mặt bằng cũng là một vấn đề khá nan giải cho các nhà điều hành của CaffeBene.

Bên cạnh đó, dù là tại cửa hàng trực tiếp kinh doanh hay cửa hàng nhượng quyền, công ty CaffeBene Vina đề cao việc quy chuẩn hóa chất lượng sản phẩm theo đúng tiêu chuẩn của hệ thống CaffeBene toàn cầu, đồng thời hoàn thiện hệ thống dịch vụ và quy tắc vận hành để phục vụ khách hàng tại Việt Nam được tốt nhất. Chiến lược này có ưu điểm là bảo đảm được chất lượng thương hiệu CaffeBene nhưng cũng sẽ gây khó chịu cho nhà đầu tư thứ cấp khi phải giao toàn quyền thiết kế cửa hàng và điều hành cho công ty CaffeBene Vina.

Mức tăng trưởng doanh thu vào khoảng 50% mỗi tháng của cửa hàng trên đường Đồng Khởi khiến chúng tôi khá hài lòng. Và với việc bắt đầu chiến lược nhượng quyền thương hiệu thứ cấp tại Việt Nam từ tháng 6-2015, chúng tôi hướng đến trở thành công ty dẫn đầu trong việc vận hành và phát triển thương hiệu CaffeBene, đem thương hiệu này đến gần với khách hàng trong nước hơn nữa. Trong năm nay, chúng tôi có kế hoạch sẽ trực tiếp mở thêm 2 cửa hàng và nhượng quyền cho 6 cửa hàng khác”, Trương Tuấn Anh chia sẻ.
Tùy theo khẩu vị của từng quốc gia và nhu cầu của khách hàng trong mỗi thời điểm, menu của Caffe Bene sẽ được điều chỉnh cho phù hợp chứ không cố định. Như điểm nhấn chiến lược trong thực đơn mùa hè năm 2015 này là sản phẩm snowflake bingsu đa dạng về hương vị như Fresh Mango, Strawberry, Cheese, Tiramisu, Injeolmi, Choco và Milk. Trong đó, Fresh Mango snowflake bingsu với đá bào làm từ bột xoài và được dùng kèm với xoài tươi hiện tại đang là sản phẩm bán chạy nhất (best seller) tại các cửa hàng CaffeBene ở Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan.
Duy Khánh

Share:

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Cà phê Hàn Quốc bùng nổ khắp thế giới

Trào lưu này thành công tới mức một chuỗi cà phê kiểu Pháp của một công ty Hàn cũng đang cực kỳ ăn nên làm ra tại chính Paris. 


Tại tiệm cà phê Ullabong ở tỉnh Gyeongsangnam của Hàn Quốc, mỗi ly latte được phục vụ cho khách, người pha chế sẽ viết thêm một câu... chửi trên lớp bọt sữa. Trong khi đó, hai chú cừu được nuôi trong khuôn viên một tiệm cà phê dành cho giới học sinh ở thủ đô Seoul và cũng chẳng thiếu những cửa tiệm có dịch vụ tư vấn pháp lý hay dịch vụ ngâm chân tại chỗ.

Những tiệm cà phê kỳ quặc này cho thấy sự phóng khoáng của người Hàn trong quá trình du nhập phong cách cà phê kiểu Tây. Việc hãng Starbucks lần đầu bước chân vào Hàn Quốc cách đây 16 năm đã chính thức châm ngòi cho ngành công nghiệp cà phê của Hàn Quốc. Từ một nước có truyền thống uống trà, ngày nay, người Hàn uống cà phê trung bình 12 lần mỗi tuần - thường xuyên hơn cả việc ăn kimchi.

Hàn Quốc đã có những quy định nhằm làm chậm sự tăng trưởng của những chuỗi cà phê và tiệm bánh lớn, bao gồm cả quy định về khoảng cách tối thiểu giữa những cửa tiệm. Điều này lại thúc đẩy các thương hiệu cà phê tại Hàn Quốc bước chân ra thị trường thế giới. Không chỉ quanh quẩn tại châu Á, các công ty này còn tìm kiếm và mở rộng ra xa hơn nữa.

Được thành lập năm 2008, Caffé Bene đang là thương hiệu thống trị ngành công nghiệp cà phê Hàn Quốc với hơn 900 cửa tiệm. Caffé Bene cũng đang đi tiên phong trong việc bành trướng ra nước ngoài, đặc biệt là tại thị trường Trung Quốc. Tại đây, liên doanh của công ty này ghi nhận doanh thu tăng trưởng tới gấp rưỡi trong năm ngoái.

Chuỗi cửa hàng Caffé Bene cũng đã tiến vào thị trường Mỹ. Và để tạo sự khác biệt với những chuỗi cà phê của Mỹ, Caffé Bene đã thêm vào menu của mình những món kiểu Hàn như bánh waffle và bingsu, kem tuyết hay món misugaru (latte pha với gạo đen và nâu).

Wan Hui, một nhà phân tích tại Euromonitor cho rằng, nhiều chuỗi cà phê Hàn Quốc đang khôn khéo tận dụng sức mạnh từ ngành công nghiệp giải trí của nước này - vốn thu hút sự hâm mộ cuồng nhiệt từ giới trẻ Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Cô cho rằng nhân tố chính dẫn tới sự tăng trưởng của Caffé Bene tại Trung Quốc là nhờ sản phẩm này xuất hiện trong bộ phim truyền hình Hàn Quốc nổi tiếng 'Secret Garden'. Trong phim, một cảnh hôn cực kỳ lãng mạn đã được khơi mào từ việc nhân vật nữ chính để bọt sữa trong ly Caffé Bene dính trên môi.

Nhờ biến được giới hâm mộ trào lưu văn hóa K-Pop và K-drama trở thành các khách hàng trung thành, những tiệm cà phê và nhà hàng kiểu Hàn gsẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh trong ngành dịch vụ thực phẩm tiêu dùng của Trung Quốc, Wan Hui cho biết thêm.

Tuy nhiên, với thị trường cà phê đang ngày càng chật chội ở những thành phố lớn của Trung Quốc, các thương hiệu Hàn đang tìm cách mở rộng xa hơn nữa. Tiên phong trong số đó chính là Tous Les Jours, một chuỗi bánh ngọt và cà phê thuộc sở hữu của tập đoàn CJ.

Hiện nay Tous Les Jours đang có 70 cửa hàng tại Trung Quốc, cộng với 73 cửa hàng ở Đông Nam Á. Mặc dù mang cái tên Pháp và sở hữu bởi người Hàn, nhưng Tous Les Jours đã khôn khéo thiết kế các cửa hàng của mình để phù hợp với văn hóa địa phương như bố trí bãi đậu xe máy ở Việt Nam hay phục vụ bữa ăn tối nhẹ trong tháng Ramadan ở Indonesia.

Ông Ahn Hun-soo, trưởng bộ phận kinh doanh toàn cầu của CJ Foodville cho biết, công ty đã hưởng lợi từ những thành công của các thành viên khác trong tập đoàn CJ, trong đó bao gồm cả ngành kinh doanh âm nhạc, truyền hình và điện ảnh. "CJ đã xuất hiện tại các nước châu Á được một thời gian dài và chúng tôi hiểu rất rõ thị trường này", ông Ahn nói.

Một đối thủ khác có tên gốc Pháp là Paris Baguette đã phát triển mạnh mẽ đến tận ...Paris, nơi họ vừa khai trương thêm cửa hàng thứ nhì. Paris Baguette đang có tổng cộng 178 cửa tiệm tại các thị trường nước ngoài, chủ yếu ở Trung Quốc và Mỹ. SPC Group - công ty sở hữu chuỗi Paris Baguette - cho biết, cửa hàng đầu tiên của họ ở Paris hiện đạt doanh số cao hơn 25% so với giai đoạn mới khai trương vào mùa hè năm ngoái, thu hút tới 850 lượt khách mỗi ngày.

Những quy định của Hàn Quốc có thể làm chậm sự tăng trưởng của những quán cà phê lớn nhưng cũng tạo điều kiện cho các tiệm cà phê nhỏ lẻ được mở rộng. Những thương hiệu mới xuất hiện vẫn có thể phá vỡ luật chơi trên thị trường.

Điển hình trong số đó là Ediya Coffee. Thương hiệu này đang tìm cách tăng số lượng các cửa hàng tại Hàn Quốc từ 1.360 tiệm lên đến 3.000 tiệm trong vòng ba năm tới.

"Chúng tôi đã mở cửa hàng tại Bắc Kinh năm 2005 nhưng vì không hiểu văn hóa Trung Quốc nên đã thất bại. Vì vậy, phương châm của chúng tôi là: Đừng vội vàng!", ông Shin Seong-il, Phó Giám đốc điều hành của Ediya cho biết. "Ngành công nghiệp này đang bùng nổ nhưng vẫn còn không gian để phát triển", ông Shin cho biết thêm.

Cũng giống như những chuỗi khác, chuỗi cà phê của ông Shin thường mở cửa trễ vào ban đêm để phục vụ cho những người làm việc khuya. Ông cho biết: "Đây là một đặc điểm văn hóa của chúng tôi. Người Hàn có xu hướng làm việc trễ và thức khuya. Có những cửa hàng cà phê luôn mở cửa 24 giờ một ngày và họ đang khá thành công".
Trường Văn-Nhịp Cầu Đầu Tư
Share:

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015

Chuyện khởi nghiệp của CEO thạo 6 ngoại ngữ

Simon Lee (32 tuổi) có thể nói 6 thứ tiếng -  Hàn Quốc, Anh, Pháp, Ảrập, Trung, Nhật, và anh vẫn có ý định học thêm.

Với năng khiếu ngôn ngữ, rõ ràng Lee chẳng mấy khi cần tới các dịch vụ dịch thuật, nhưng khi bạn bè ở trường đại học của anh tại Seoul nhờ làm bài tập môn tiếng Anh, thì ý tưởng thành lập một công ty dịch thuật bắt đầu nhen nhóm. Ra mắt tháng 9/2012, trang web của anh - Flitto hiện đã có hơn 5 triệu người người dùng trên khắp thế giới, doanh thu hàng năm khoảng 2,1 triệu USD. Tuy nhiên, không giống các công ty dịch thuật khác, dịch vụ của Lee không trực tiếp thuê nhân viên.

Thay vào đó, Flitto là nơi quy tụ những người biết từ 2 ngoại ngữ trở lên, có khả năng dịch thuật và cung cấp dịch vụ này qua website cùng ứng dụng smartphone của hãng. Hiện Flitto có danh sách dịch thuật viên lên tới 1 triệu người đến từ 170 quốc gia khác nhau với 17 thứ tiếng. Flitto sẽ được hưởng một phần thù lao của những người này.

Simon Lee - CEO website dịch vụ dịch thuật Flitto. Ảnh: BBC
 
Cha Lee làm việc cho một công ty đa quốc gia, nên tuổi thơ của anh chủ yếu là ở nước ngoài. Anh sinh ra ở Kuwait. Tới năm 4 tuổi, cả gia đình lại chuyển tới sống ở Anh. Ba năm sau, họ chuyển tới Mỹ rồi đến Ảrập Xêút.

Theo học tại các ngôi trường quốc tế từ nhỏ, Lee nhanh chóng thông thạo tiếng Anh, Pháp và Ả rập, ngoài tiếng Hàn Quốc là tiếng mẹ đẻ.

"Tôi học những ngôn ngữ này khi sinh sống ở các quốc gia khác nhau. Tôi nhận ra rằng tất cả mọi người đều như nhau cả thôi, chỉ là do sự khác biệt về ngôn ngữ đôi khi khiến chúng ta hiểu sai về nhau". Lee cho biết.

Sau 7 năm ở Ảrập Xêút, gia đình Lee về lại Hàn Quốc - nơi anh hoàn thành bậc phổ thông và được nhận vào một trường đại học danh tiếng. Tại đây, bạn bè thường nhờ anh giúp dịch bài tập về nhà sang tiếng Anh - một phần bắt buộc trong chương trình học.

"Bạn tôi thường bảo: 'Simon, dịch hộ tớ bài này, tớ sẽ mời cậu bữa tối'. Rồi ngày càng có nhiều người tới giúp, đến nỗi tôi chẳng còn thời gian nữa", anh nhớ lại.

Nhận thấy tiềm năng của dịch vụ dịch thuật, Lee bắt đầu liên hệ với một vài người bạn giỏi ngoại ngữ khác, và ý tưởng khởi nghiệp bắt đầu từ đó.
flitto-8335-1436065138.jpg
Simon Lee (phải) cùng các nhân viên trong công ty. Ảnh: BBC

Flitto ra đời vào tháng 9/2012, nhưng thay vì bắt đầu ở Hàn Quốc, Lee quyết định chuyển tới London (Anh). Anh cho biết mình muốn tạm thời rời xa bạn bè - những người đang nhận mức lương cao ở các tập đoàn lớn tại Hàn Quốc, và London cũng là một thành phố đa văn hóa. Lee chia sẻ: "Khi ấy tôi đang khởi nghiệp, và vẫn chưa có tiền. Nếu còn ở Seoul, tôi sẽ lại tự so sánh mình với đám bạn bè và cảm thấy buồn mất. Vì thế, tôi chỉ muốn tới nơi nào đó yên tĩnh. London nằm ở trung tâm châu Âu, và người dân nơi đây nói vô số ngôn ngữ khác nhau".

Ban đầu, Lee tìm tới một tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp có tên Techstars để được giúp đỡ về tài chính cũng như kiến thức kinh doanh. Chỉ có số vốn nhỏ để quảng bá công ty, Lee đành suy nghĩ sẽ phải nghĩ ra cách nào đó để người ta chú ý tới trang web và ứng dụng Flitto, hướng tới cả dịch thuật viên lẫn khách hàng.

Cuối cùng, anh là thu thập những dòng trạng thái của người nổi tiếng trên Twitter và các mạng xã hội khác, rồi khuyến khích mọi người dịch chúng sang các ngôn ngữ khác nhau. Cách này đã có hiệu quả, và Flitto nhanh chóng được biết đến. Ngày càng có nhiều khách hàng và dịch thuật viên quan tâm tới trang web.

Hiện Flitto có trụ sở chính ở Seoul, với 34 nhân viên và nhận được 70.000 yêu cầu dịch thuật mỗi ngày, cả cá nhân lẫn doanh nghiệp. Tất cả khách hàng đều được cung cấp một thang điểm 5 để đánh giá chất lượng bản dịch.

Ngoài ra, trang web của Flitto còn có một mục riêng để khách hàng có thể mua mọi thứ từ quần áo cho tới bọc iPhone. Và để tăng lượt truy cập, họ còn có hẳn một thư viện sưu tập các mẩu truyện và tranh ảnh từ khắp nơi trên thế giới.

Lee cho biết việc Flitto không thuê trực tiếp nhân viên dịch thuật sẽ giúp cắt giảm đáng kể những chi phí mà một công ty dịch thuật truyền thống phải chịu. Anh cũng khẳng định mình không hề e ngại trước sự phát triển của các công cụ dịch tự động, vì anh tin chắc rằng chúng sẽ không bao giờ dịch chính xác được như con người.

Dĩ nhiên, trong quá trình khởi nghiệp, Lee cũng từng thất bại. Năm 2007, anh mở Flyingcane, mô hình hoạt động cũng tương tự như Flitto.

Lee vẫn cho rằng đó là một ý tưởng đúng đắn, chỉ là do sai thời điểm mà thôi. "Vấn đề của tôi là vào năm 2007 thì chẳng có ai dùng smartphone cả". Điều đó có nghĩa là không có ứng dụng điện thoại để hỗ trợ cho trang web, việc dịch thuật sẽ chậm và các dịch thuật viên sẽ không có được sự linh hoạt về mặt thời gian.

Sau thất bại này, Lee làm việc vài năm cho một mạng viễn thông ở Hàn Quốc, trước khi nhen nhóm lại ý tưởng của mình vào năm 2011 và thành lập Flitto năm 2012.
Khi nói tới công việc, Lee đánh giá bản thân là người nghiện việc, và có thể không nghỉ lễ trong 6 năm. Các nhà đầu tư của Flitto từng phải nhắc nhở anh hãy đi du lịch để nghỉ ngơi và thư giãn, nếu không muốn sức khỏe suy sụp.

Nhưng Lee thì cho rằng những người muốn khởi nghiệp phải nhận thức rõ ràng họ sẽ phải hy sinh cái gì. Dù vậy, anh vẫn khuyến khích mọi người nên thử một lần. "Lời khuyên của tôi là hãy cứ kiên trì theo đuổi giấc mơ và tin tưởng vào bản thân. Nếu ngày nào bạn cũng cảm nhận được nhịp đập con tim, tức là bạn đang sống rất đúng nghĩa", anh nói.
Hà Tường (theo BBC)
Share:

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2015

“Dị nhân” Phil Zadro: Chân dung ông vua mắc-ca thế giới

Khi xế chiều, người ta thường nghĩ đến thú vui câu cá hoặc ngồi chờ đến lúc khuất núi?...
Để biết về ai đó chưa gặp, đôi khi nghe từ những người khác kể lại, cũng có thể định hình một góc nhìn tương đối. Khi đến một số nhà máy hay trang trại mắc-ca vùng Queensland, Australia, người viết chú ý đến một nhân vật, được nhiều người nói tới, với niềm tự hào.

Ở đây, họ xem ông vua mắc-ca Phil Zadro như một dị nhân.

Khởi đầu mới ở tuổi tri thiên mệnh
Là một người Ý nhập cư, Phil Zadro lập nghiệp ở Úc từ hai bàn tay trắng. Khi đặt chân đến xứ sở của chuột túi, chàng trai này không bao giờ nghĩ mình sẽ là một nông dân, rồi tiếp đó lên ngôi ông vua mắc-ca của thế giới.

Phil bắt đầu từ lĩnh vực xây dựng. Ông thành công khi trở thành một ông chủ ở Sydney. Nhiều năm sau đó, để có cả một gia tài từ tính toán kinh doanh, ông phải trả giá bằng cú rơi vào căng thẳng tâm lý nghiêm trọng. Liệu pháp bác sỹ đưa ra, cần tìm một thú vui tiêu khiển.

Bang New South Wales là điểm đến mới. Phil mua một trang trại, thả niềm vui theo đàn bò và dòng sữa. Thế nhưng công việc này cũng không mấy nhẹ nhàng và không xem là thú tiêu khiển được.

Có lẽ khi luống tuổi, công việc nhẹ nhàng và thư thái hơn là trồng cây và chăm bón. Cơ duyên với mắc-ca đến với Phil từ đây.

Với nhãn quan của một doanh nhân, từng lăn lộn từ hai bàn tay trắng, người đàn ông khá gầy guộc này nhận thấy mắc-ca là loại cây tiềm năng, sẽ phát triển được cả một ngành công nghiệp chế biến.

Đó là 35 năm về trước, khi Phil mới có... 51 tuổi. Ở thời điểm đó, các vùng Gympie, Bundaberg ở Queensland, các nông trại rất chuộng cây mía - cây truyền thống.

Khi thấy một số trang trại bỏ mía làm mắc-ca, rồi một ông chủ xuất hiện thành lập doanh nghiệp trực tiếp trồng và lập nhà máy chế biến, người trong vùng nhìn ông chủ Phil bằng cặp mắt khó hiểu, nghi ngại, dù khi đó là cây thương mại bản địa duy nhất của họ.

Bỏ qua những xì xào, theo lời ông Jim Wilson, quản lý nhà máy Pacific Gold Macamadia, khi kể lại với VnEconomy, Phil đã nhanh chóng gây dựng vùng nguyên liệu, xây dựng nhà máy và tổ chức thị trường tiêu thụ sản phẩm. Và rồi, “sự bất ngờ có tính toán” xảy đến.

Cho đến nay, Phil Zadro là người sở hữu chi phối nhà máy sản xuất mắc-ca lớn nhất thế giới tại Úc, cùng hệ thống công nghệ hiện đại. Tự bỏ vốn đầu tư, tư tìm cách làm, bỏ qua những xì xào, người đàn ông tự tạo nên bất ngờ khi ngay năm đầu tiên đã có lãi với nhà máy đó, thay vì trù tính chấp nhận lỗ vài năm đầu.

Từ chối tiết lộ về lợi nhuận và doanh số khi trả lời VnEconomy, song ông Jim Wilson cho biết, tốc độ tăng trưởng “rất, rất tốt”.

Sau thành công của một người gốc Ý nhập cư, nhiều chủ trang trại vùng Queensland, New South Wales và một số tờ báo bản địa gọi đó là “ông vua mắc-ca điên rồ”, một cách trìu mến.

Nhiều người làm theo ông, sau khi được thuyết phục bằng kết quả đầu tư, cùng nhận định: “Mắc-ca là loại cây hoàn hảo để trồng và xuất khẩu hạt ở Úc. Loại hạt này có khối lượng thu hoạch nhỏ nhưng giá trị cao, đòi hỏi ít chi phí nhân công. Hạt mắc-ca lại có thời hạn bảo quản dài, tốt cho sức khỏe và nguồn cung hạn chế”.

“Người khác biệt”

Nguồn cung hạn chế. Nhưng tầm nhìn của Phil lại mở rộng. Do chi phí đầu tư ở Úc cao, ông nhìn tới Nam Phi, và đến nay đã có khoảng 2.000 ha mắc-ca ở nước này. Cộng với khoảng 3.000 ha tại Úc, Phil Zadro chính là cá nhân sở hữu diện tích trồng và số cây mắc-ca lớn nhất thế giới.

Tầm nhìn mở rộng đó gắn với xu hướng nhu cầu mắc-ca ngày một mở rộng. Một tờ báo của Úc nhận định, trong bối cảnh châu Á ngày càng có nhiều người giàu, nhu cầu tiêu thụ những loại hạt cao cấp như mắc-ca cũng tăng lên ở nhiều nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, và đặc biệt là Trung Quốc.

“Nhu cầu tiêu thụ mắc-ca mạnh dần, mà nguồn cung từ ba nguồn xuất khẩu chính là Australia, Nam Phi và Hawaii lại rất hạn chế. Bởi vậy, mức giá trả cho sản phẩm của 750 nhà trồng macadamia đã tăng 20% trong năm nay. Khách Trung Quốc chiếm 15-20% sản lượng mắc-ca hàng năm 40.000 tấn của Australia”, cũng theo thông tin từ tờ báo nói trên.

Ông Jim Wilson cho biết thêm, hiện Pacific Gold Macadamia cũng phải cạnh tranh giá mua từ các nông trại, vì đã bắt đầu xuất hiện các thương lái Trung Quốc tìm đến tận vườn mặc cả. Tâm lý chung của các chủ trang trại là muốn có tiền mặt ngay từ những thương lái này, thay vì phải chờ các kỳ thanh toán với các doanh nghiệp nội địa.

Không dừng lại đó, gần Bundaberg, một trong những nhà chế biến và phân phối hạt mắc-ca lớn nhất của Trung Quốc là Chacha Food đã mua một trang trại để tự đảm bảo nguồn cung.

Từ cây thương mại bản địa duy nhất bị hoài nghi, đến nay đã có thể chạy xe mải miết để lướt qua những khu vườn mắc-ca rộng lớn dọc theo các xa lộ vùng Queensland, cùng nhiều đồn điền đang trồng mới.

Trước khi có sự mở rộng đó, Phil Zadro từng có một chia sẻ được nhiều báo ở Úc trích dẫn lại: “Mong muốn gần đây nhất của tôi là trở thành nhà trồng và chế biến mắc-ca lớn nhất thế giới, nhưng tăng trưởng là một tiến trình tự nhiên nếu thị trường vẫn có nhu cầu. Thực lòng mà nói, tôi không hiểu quan niệm cho rằng khi đã nhiều tuổi rồi là anh nên đi câu cá và ngồi chờ đến lúc chết”.

Gắn với câu nói đó, chuyên gia lâm nghiệp Úc Martin Novak, người từng đến Tây Nguyên (Việt Nam) tư vấn về kỹ thuật trồng mắc-ca, nói với VnEconomy rằng: “Phil Zadro là một người khác biệt. Tôi khâm phục ông ấy, như ở thói quen dậy từ 4h sáng để tập thể dục, rất đều đặn”.

“Còn với mắc-ca, khi đã 86 tuổi, dù đã là vua mắc-ca thế giới, đã có cả một gia tài lớn, nhưng dường như với ông ấy, tất cả vẫn mới chỉ là bắt đầu”, Martin nói.
(Vneconomy)
Share:

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2015

Hàn Quốc muốn xây chợ đầu mối khổng lồ tại Việt Nam

Sau khi chỉ ra “tử huyệt” của nông sản Việt Nam, Tổng Thư ký Phòng Thương mại Hàn Quốc tại Việt Nam cũng cho biết phía Hàn Quốc đang đề xuất xây dựng một trung tâm chợ đầu mối khoảng 300ha tại Hà Nội. Quy mô này lớn gấp 6 lần chợ Garak – chợ đầu mối hiện đại nhất thủ đô Seoul.
Mặc dù là một trong những mặt hàng có lợi thế nhất trong Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA), nhưng nông sản Việt Nam có một điểm bất lợi, theo ông Hongsun - Tổng Thư ký Phòng Thương mại Hàn Quốc tại Việt Nam (Korcham), là Việt Nam chưa có một chợ đầu mối hiện đại – nơi tập trung nông sản của cả nước để đấu giá và bán lẻ, phân phối đi các nơi.

Tận dụng cơ hội này, ông Hongsun, cho biết một số tập đoàn Hàn Quốc đang đề xuất hợp tác với Chính phủ Việt Nam xây dựng một trung tâm chợ đầu mối hiện đại.

Mô hình chợ đầu mối này phải ở quy mô 200 - 300 ha, đi cùng với các khu chức năng khác để cho hệ thống phát triển như khách sạn dành cho thương nhân mua sắm và những nông dân đến bán hàng, một trung tâm thương mại không chỉ dành cho 100% bán buôn mà còn bán lẻ... cùng rất nhiều khu chức năng khác. Mô hình đầu tiên tại Việt Nam phải làm như thế thì chúng tôi cho rằng mới có thể thành công” – ông Hongsun cho biết.

* Trung tâm đầu mối phía Hàn Quốc đề xuất dự định sẽ xây ở đâu và bao giờ sẽ xây?

Dự án chợ đầu mối hiện vẫn đang trong quá trình làm thủ tục. Chủ trương lãnh đạo Việt Nam đã đồng ý, nhưng về mặt thực tế còn rất nhiều vấn đề phức tạp vì đây không phải là một tòa nhà nhỏ, mà là diện tích khá rộng. Chúng tôi đang thực hiện khảo sát, tuy chưa xác định rõ ràng nhưng địa điểm xây sẽ nằm trong địa bàn Hà Nội.

* Hàn Quốc xây dựng mô hình chợ đầu mối như thế nào?

Chợ đầu mối Hàn Quốc là mô hình rất phát triển và hiện đại. Mô hình chợ đầu mối không dừng lại ở một cái chợ bình thường với diện tích một vài ha, mà đi cùng với nó là các chức năng ICT, tức công nghệ - thông tin và truyền thông, và đi kèm hệ thống đấu giá. Các sản phẩm thì có xuất xứ tại Việt Nam, cũng có thể đầu mối ở tại cả Seoul, Bắc Kinh hoặc Tokyo.

Hệ thống đấu giá giúp chúng ta quyết định giá cả theo thị trường, theo cung cầu.
Hiệu quả của mô hình này là tập trung hết các sản phẩm nông nghiệp, sau đó phân loại sản phẩm: Các sản phẩm tốt thì chuẩn bị các công đoạn tiếp theo để xuất sang nước ngoài, sản phẩm bình thường có thể để lưu thông ở siêu thị, chợ truyền thống; những sản phẩm khó để được lâu như cà chua có thể phân phối tới các nhà máy làm tương cà.

Đây là cách mạng trong nông nghiệp. Nếu ngày xưa chỉ đơn thuần là cách mạng về sản lượng, thì giờ là cách mạng trong phân phối hàng hóa.

Chi phí phân phối hàng hóa của Việt Nam khá đắt so với các nước tiên tiến khác. Trong khi ở các nước tiên tiến, chi phí logistics vào khoảng 10%, chi phí này ở Việt Nam là hơn 20%, tức tôi mua 1 sản phẩm giá 100 USD thì mất tới 20 USD cho vận chuyển. Điều đó rất bất lợi cho người tiêu dùng và người sản xuất. Việc cải thiện phân phối hàng hóa sẽ tạo điều kiện cho năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam.

Bây giờ, chợ đầu mối của Việt Nam chỉ là Long Biên hoặc một số chợ nhỏ khác, trong đó đa số sản phẩm không biết nguồn gốc, xuất xứ ở đâu. Người bán hàng mở thùng hàng rồi bán lẻ bên ngoài chứ người tiêu dùng không thể biết đấy là sản phẩm an toàn hay không. Nhưng ở mô hình chợ đầu mối hiện đại, phải đưa ra được xuất xứ của sản phẩm đó ở đâu, để đảm bảo chất lượng sản phẩm và an toàn cho người dùng.

* Hiện Hàn Quốc có bao nhiêu chợ đầu mối?

Seoul có vài chợ như vậy. Trong đó, Garak là mô hình chợ đầu mối phát triển nhất, hiện đại nhất và thành công nhất của cả thế giới. 50% tổng sản lượng của Garak đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho dân Seoul, 50% sản lượng còn lại sẽ đưa tới các cơ quan hải quan hàng ngày để kiểm dịch ngay tại chỗ. Chúng ta có thể truy ra sản phẩm ấy từ đâu đến và có an toàn hay không.

* Quy mô chợ đầu mối sắp xây ở Hà Nội so với các chợ đầu mối ở Hàn Quốc thế nào?

Quy mô các chợ đầu mối Hàn Quốc chưa đủ lớn. Những năm 1970s, chúng tôi chưa hình dung chợ đầu mối sẽ lớn lên bao nhiêu. Còn bây giờ, quy mô chợ đầu mối Hàn Quốc là 58 ha, nhưng chúng tôi rất hối hận vì không giữ được nhiều đất xung quanh. Nếu xây tại Việt Nam, quy mô chợ phải khoảng 200 - 300 ha. Bởi chỉ riêng chợ đầu mối không có tác dụng nhiều, mà phải đi cùng với các khu chức năng khác để cho hệ thống phát triển như khách sạn dành cho thương nhân mua sắm và những nông dân đến bán hàng, một trung tâm thương mại không chỉ dành cho 100% bán buôn mà còn bán lẻ... cùng rất nhiều khu chức năng đi cùng mới thành công.

Mô hình đầu tiên tại Việt Nam phải làm như thế thì chúng tôi cho rằng mới có thể thành công được.

* Với quy mô lớn như vậy, doanh nghiệp Hàn Quốc nào sẽ tham gia đầu tư dự án?

Đầu tư dự án này không chỉ là một công ty mà cần sự phối hợp với Tổng Công ty Nhà nước, và một số công ty tư nhân. Đây không đơn giản là một tòa chung cư hay một cái chợ, mà là một cái chợ khổng lồ. Chính vì thế, dự án phải được sự hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Hàn Quốc. Dự án không chỉ đơn thuần là đầu tư tư nhân vì xây dựng chợ đầu mối là một thiết kế công cộng, vì vậy phải có hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt của Chính phủ Việt Nam mới có thể thành công được.

Bây giờ, một vài tổng công ty về nông nghiệp, một số tập đoàn nông nghiệp của Chính phủ Hàn Quốc và một số công ty tư nhân đang tham gia chuẩn bị dự án này.

* Xin cảm ơn ông!
Theo Trí Thức Trẻ
>> Tại sao Hàn Quốc phát triển rực rỡ còn Việt Nam thì không?


Share:

Trang

Nổi bật

Giới siêu giàu kiếm tiền từ đâu?